1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đh điều dưỡng nghiên cứu tình trạng trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ tại hải phòng năm 2016

81 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 603,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (13)
    • 1.1. Đại cương suy thận mạn (0)
      • 1.1.1. Định nghĩa (0)
      • 1.1.2. Nguyên nhân (13)
      • 1.1.3. Cơ chế bệnh sinh của suy thận mạn (0)
      • 1.1.4. Phân loại (0)
      • 1.1.5. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng (0)
      • 1.1.6. Các phương pháp điều trị suy thận mạn hiện nay (0)
    • 1.2. Lọc máu chu kỳ (0)
      • 1.2.1. Đại cương (0)
      • 1.2.2. Kỹ thuật lọc máu chu kỳ (0)
      • 1.2.3. Chỉ định, chống chỉ định ............................... Error! Bookmark not defined. 1.2.4. Biến chứng (0)
    • 1.3. Trầm cảm (0)
      • 1.3.1. Đại cương về trầm cảm (24)
      • 1.3.2. Nguyên nhân (0)
      • 1.3.3. Phân loại trầm cảm (0)
      • 1.3.4. Các giai đoạn của trầm cảm (0)
      • 1.3.5. Triệu chứng (0)
      • 1.3.6. Điều trị trầm cảm (0)
      • 1.3.7. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ (0)
      • 1.3.8. Tác động của trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ (0)
    • 1.4. Phân tích một số yếu tố trong và ngoài nước (0)
      • 1.4.1. Một số nghiên cứu trong nước (28)
      • 1.4.2. Một số nghiên cứu nước ngoài (28)
  • CHƯƠNG 2 (31)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (31)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (31)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn lọai trừ (31)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (31)
      • 2.2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (31)
      • 2.2.2. Thiết kế nghiên cứu (31)
      • 2.2.3. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu (31)
      • 2.2.4. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu (32)
      • 2.2.5. Các biến số nghiên cứu (33)
      • 2.2.6. Tiêu chuẩn đánh giá (37)
        • 2.2.6.1. Đánh giá trầm cảm (37)
      • 2.2.7. Phương pháp phân tích số liệu (38)
      • 2.2.9. Sai số và biện pháp khắc phục sai số (39)
  • CHƯƠNG 3 (40)
    • 1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (40)
    • 2. Đánh giá trầm cảm (42)
      • 2.1. Tỷ lệ trầm cảm (43)
      • 2.2. Mức độ trầm cảm (43)
    • 3. Các yếu tố liên quan (35)
      • 3.1. Yếu tố tác động đến tâm lý cá nhân (47)
      • 3.2. Yếu tố thực thể (50)
      • 3.3. Yếu tố hành vi (51)
  • CHƯƠNG 4 (53)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (53)
      • 4.1.1. Tuổi của đối tượng nghiên cứu (53)
    • 4.2. Thực trạng trầm cảm (56)
    • 4.3. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm (60)
  • KẾT LUẬN (1)
  • PHỤ LỤC (70)

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu về trầm cảm 185 người bệnh suy thận mạn tính lọc máu chu kỳ trong thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 11/2016 tại khoa thận nhân tạo Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải P

Trầm cảm

Lọc máu chu kỳ là phương pháp thông qua bầu lọc đào thải một số sản phẩm của quá trình chuyển hóa các chất, trong đó có ure, creatinin và một số chất điện giải ra ngoài cơ thể [2]

Từ năm 1960, lọc máu chu kỳ đã được áp dụng cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối Cho đến nay, đây được coi là một trong những phương pháp hiệu quả giúp người bệnh giai đoạn cuối kéo dài tuổi thọ và sử dụng rộng rãi trên thế giới [7]

Khoa thận nhân tạo bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng được thành lập năm 2011, cho đến nay đã có 55 máy lọc máu, điều trị khoảng 160 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ hàng tháng với trên 1000 lượt lọc máu, đáp ứng nhu cầu cho người bệnh trong toàn thành phố

1.3.2 Kỹ thuật lọc máu chu kỳ[7]

1.3.2.1 Nguyên tắc chạy thận nhân tạo

Chạy thận nhân tạo được thực hiện bằng máy lọc máu theo cơ chế khuếch tán thụ động và siêu lọc:

- Khuếch tán thụ động: xảy ra khi xuất hiện sự chênh lệch nồng độ của một chất giữa máu người bệnh và dung dịch thẩm tách Chỉ có các chất tan có trọng lượng phân tử thấp và nước mới có thể đi qua màng bán thấm do đó tế bào hồng cầu không bị mất đi

- Siêu lọc đảm bảo cho chất lỏng dư thừa được loại bỏ khỏi cơ thể thông qua sự chênh lệch áp suất, chuyển dịch chất lỏng từ nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp

Thận nhân tạo gồm 3 thành phần chính: bộ lọc, đường tạo dịch lọc và dẫn vào bộ lọc, đường máu tuần hoàn ngoài cơ thể qua bộ lọc

Có 2 loại bộ lọc: bộ lọc sợi rỗng và bộ lọc tấm Hiện nay, người ta dùng bộ lọc sợi rỗng vì lượng máu mồi ít hơn (60-90ml so với 100-120ml ở bộ lọc tấm)

Việc dùng lại bộ lọc cho người bệnh suy thận mạn đang được áp dụng rộng rãi ở các trung tâm lọc máu do quả lọc đắt, dùng lại sẽ giảm giá thành và tốt hơn, còn giảm hoạt tính bổ thể, giảm tỉ lệ những phản ứng dạng phản vệ đối với màng (giảm hội chứng dùng lần đầu) và giảm tỉ lệ chết cho người bệnh lọc máu

Thành phần dịch lọc bicarbonate như sau (mmol/l): natri 137-143, kali 0 – 4, clo 100 – 110, canxi 0 – 3.5, magiê 0.75 – 1.5, acetate 2 – 4.5, bicarbonate 30 – 35, glucose (mg/dl) 0 – 0.25 Dùng đệm bicarbonat thay acetat để ít xảy ra hạ huyết áp khi lọc máu Nồng độ natri trong dịch lọc thấp hay gây nên tụt huyết áp, rét run, nôn, tái nhợt trong lúc lọc nên nồng độ natri dịch lọc được chỉnh lên cao để tạo độ chênh thẩm thấu, cân bằng ngược với độ chênh thẩm thấu do urê tạo ra Dịch lọc chứa 200 mg% glucose để giữ nồng độ tối ưu cho glucose máu

1.3.2.4 Hệ thống phân phối máu

- Hệ thống phân phối máu bao gồm hệ tuần hoàn ngoài cơ thể trong máy thận nhân tạo (bơm máu, hệ thống ống dẫn máu và rất nhiều điểm cảnh báo an toàn ) Tốc độ bơm máu thay đổi từ 200-400 ml/phút

- Có ba cách lấy máu chạy thận nhân tạo: nối thông động-tĩnh mạch, ghép động-tĩnh mạch, lấy qua ống thông (catheter) Nối thông động-tĩnh mạch thường làm ở tĩnh mạch đầu với động mạch quay vùng cổ tay để động mạch hoá tĩnh mạch đầu, tạo thuận lợi cho việc chọc hút máu bằng kim to Biến chứng hay gặp nhất tại chỗ nối thông là nghẽn mạch do tăng sinh nội mạc làm hẹp lòng tĩnh mạch

1.3.2.5 Hoạt động của thận nhân tạo

Máu của người bệnh được chống đông bằng heparin, được bơm vào bộ lọc từ 200-400 ml/phút, dịch lọc được làm nóng lên 37 o C và bơm vào khoang đối diện với máu theo chiều ngược lại, với tốc độ 500-800 ml/phút để hệ số thanh lọc urê từ 200-

350 ml/phút, β2 microglobulin từ 20-25 ml/phút Hiệu quả của việc lọc phụ thuộc vào tốc độ máu, dịch lọc qua bộ lọc và đặc tính của bộ lọc Thời gian lọc máu được xác định dựa vào độ lớn của hệ số thanh thải urê trong cuộc lọc, trọng lượng người bệnh, chức năng còn lại của thận, chế độ protein ăn vào, mức độ chuyển hoá, dị hoá,

17 những biến chứng của bệnh, sự ứ dịch giữa hai lần chạy thận Với đa số người bệnh suy thận mạn đòi hỏi chạy thận từ 9-12 giờ/tuần và thường chia làm 3 lần chạy bằng nhau.Mỗi lần lọc máu được coi là tốt khi urê máu sau cuộc lọc còn tối đa là 65% lúc trước lọc

- Biến chứng tim mạch: trầm trọng hơn suy tim sung huyết, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, tụt huyết áp đặc biệt ở người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp (ở những người bệnh đã có tăng huyết áp trước đó, do chế độ ăn)…

- Rối loạn tiêu hóa: chán ăn, buồn nôn, xuất huyết tiêu hóa do sử dụng heparin

- Thiếu máu: do thiếu hụt erythropoietin, thiếu sắt

- Các bệnh về xương do thiếu vitamin D tự nhiên và cường cận giáp thứ phát

- Biểu hiện thần kinh: viêm dây thần kinh ngoại biên

- Rối loạn chuyển hóa glucid, lipid, điện giải (tăng kali máu)

1.3.4 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ [15],[22]

1.3.4.1 Các yếu tố tâm lý cá nhân

- Stress: khó khăn về tài chính, thay đổi trong các mối quan hệ xã hội và hôn nhân, thất nghiệp, thường xuyên phải nhập viện, tăng sự phụ thuộc vào máy chạy thận, lo sợ về tương lai, lo sợ về cái chết…làm người bệnh căng thẳng, chán nản, mệt mỏi

Phân tích một số yếu tố trong và ngoài nước

Lọc máu chu kỳ là một phương pháp điều trị duy trì sự sống cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối; tuy nhiên, trầm cảm đã được công nhận là một bệnh kèm theo ở những người bệnh này và gây ra các hậu quả như lo lắng, cảm giác mệt mỏi, giảm khả năng tự chăm sóc bản thân và giảm chất lượng cuộc sống Trầm cảm và lo âu làm tăng số lần nhập viện của người bệnh, tăng chi phí cho điều trị, chăm sóc; đặc biệt tự tử là hậu quả trầm trọng nhất ở nhóm đối tượng này [30] Theo nghiên cứu của Kurella và cộng sự năm 2005 ở Mỹ, tỷ lệ tử vong do tự tử là 0.24% trên 1000 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ Bên cạnh đó, Chen và cộng sự

(2010) đã chứng minh rằng trong số 200 người bệnh với lọc máu chu kỳ, 21.5% có ý tưởng tự tử, 3.5% có ý nghĩ và hành vi tự tử trong tháng và 3.5% đã nỗ lực tự tử trong suốt cuộc đời của họ [11] Do vậy, trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ cần được phát hiện và điều trị sớm, động viên và chăm sóc kịp thời để giảm thiểu hậu quả của bệnh, giảm chi phí, cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm tỷ lệ tử vong

1.4 Một số nghiên cứu về trầm cảm ở người bệnh suy thận mạ lọc máu chu kỳ trong và ngoài nước

1.4.1 Một số nghiên cứu trong nước

Trên thực tế, tại Việt Nam cho đến nay rất ít nghiên cứu về trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ

- Trần Trí và Lê Việt Thắng dựa vào thang điểm Beck Depression Inventory (BDI) đánh giá trầm cảm ở 150 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ, kết quả cho thấy: số người bệnh có rối loạn là 134/150 chiếm 89.33%, trong đó có 66% số người bệnh có rối loạn trầm cảm Trong đó trầm cảm trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất 51.52%; có 17.17% người bệnh trầm cảm nặng; 2.02% người bệnh có trầm cảm rất nặng [6]

1.4.2 Một số nghiên cứu nước ngoài

- Chilcot và cộng sự đã tổng hợp 16 bài báo nghiên cứu trầm cảm ở người bệnh lọc máu chu kỳ và đưa ra kết luận: trầm cảm là gánh nặng phổ biến và tốn kém của người bệnh lọc máu chu kỳ [12]

- Andrade và Sesso đã nghiên cứu trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn điều trị bảo tồn và người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ dựa vào thang điểm BDI Kết quả cho thấy: tỷ lệ trầm cảm ở nhóm người bệnh có lọc máu chu kỳ cao hơn (41.6%) so với nhóm người bệnh điều trị bảo tồn (37.3%) Trầm cảm liên quan đến tình trạng hôn nhân, thu nhập, hoạt động thể lực, các bệnh lý tim mạch kèm theo [9]

- Marta Makara-Studzińska và Anna Koślaknghiên cứu triệu chứng trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối và giữa những người bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu dựa trên thang điểm BDI Kết quả cho thấy: nhóm người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối có điểm BDI cao hơn nhóm người bệnh không mắc suy thận mạn giai đoạn cuối Trong nhóm người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối được khảo sát, nhóm người bệnh lọc màng bụng có tỷ lệ trầm cảm là 92.19%, 76.56% ở mức trầm cảm mức độ nhẹ, 15.63% trầm cảm mức độ trung bình; nhóm người bệnh chạy thận nhân tạo có tỷ lệ trầm cảm là 83.49%, 54.85% trầm cảm mức độ nhẹ và 28.64% trầm cảm ở mức độ trung bình [18]

- Gerogian và Babatsikou đã nghiên cứu các khía cạnh ảnh hưởng đến tâm lý của suy thận mạn lọc máu chu kỳ dựa trên tổng hợp các bài báo trên thế giới từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2012 Qua tổng hợp, tác giả cho rằng có 3 nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh là yếu tố tâm lý của người bệnh (lo lắng hoặc căng thẳng về kinh tế, thiếu người chăm sóc, thay đổi các mối quan hệ, không có khả năng làm việc, thất nghiệp…), các yếu tố thực thể (các bệnh lý kèm theo, các biến chứng của lọc máu chu kỳ…) và các yếu tố hành vi (không tuân thủ điều trị, ăn kiêng, không luyện tập, mất ngủ…)[15]

- Kellerman và cộng sự đã nghiên cứu mối liên quan giữa các triệu chứng trầm cảm và nguy cơ tử vong ở người bệnh suy thận mạn Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: trầm cảm ở đối tượng này có thể là do sự chồng chéo trong các triệu chứng của nhiễm độc niệu (suy thận), mệt mỏi, chán ăn, mất năng lượng, và suy giảm nhận thức Các triệu chứng của bệnh trầm cảm dường như dự đoán của bệnh tật và tử vong ở giai

21 đoạn cuối Người bệnh suy thận mạn mắc trầm cảm có nguy cơ tử vong cao hơn 2.7% so với nhóm người bệnh suy thận mạn không mắc trầm cảm [17]

- Chen và cộng sự đã nghiên cứu nguy cơ tự tử trên 200 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ, kết quả cho thấy: trong 200 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ có 70 người bệnh (35%) có dấu hiệu trầm cảm, 47 người bệnh (23.5%) có rối loạn trầm cảm nặng, 43 người bệnh (21.5%) có ý tưởng tự tử Trong 43 người bệnh có ý tưởng tự tử thì có 27 người bệnh (62.8%) có biểu hiện trầm cảm còn 16 người bệnh (37.2%) không có dấu hiệu trầm cảm [11]

- Espahbodi và cộng sự đã nghiên cứu can thiệp trước sau trên 60 người bệnh về ảnh hưởng của giáo dục trên người bệnh chạy thận nhân tạo có triệu chứng lo âu và trầm cảm Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: yếu tố nguy cơ chính gây trầm cảm ở người bệnh lọc máu bao gồm trình độ văn hóa thấp, tình trạng kinh tế xã hội thấp, tăng huyết áp, số lượng lọc máu mỗi tuần và người bệnh là nữ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng tự kiểm soát là có liên quan đến công việc tốt, khả năng nhận thức tối ưu- đây là những yếu tố giảm trầm cảm và lo âu ở những người bệnh có bệnh thận giai đoạn cuối Nghiên cứu cũng đề cập đến giáo dục người bệnh trước khi lọc máu có thể nâng cao tỷ lệ sống còn của họ Giáo dục sớm trước lọc máu có khả năng làm tăng hiệu quả điều trị và tăng cường chất lượng cuộc sống của người bệnh Các điểm của pre-test cho người bệnh trầm cảm trong nhóm lọc máu khi chưa giáo dục tâm lý là 10.22 ± 3.40, trong khi nó giảm xuống còn 8.33 ± 3.72 sau khi cập giáo dục tâm lý [14]

- Thong và cộng sự đã nghiên cứu 528 người bệnh chạy thận nhân tạo ở Netherlands về hỗ trợ xã hội dự đoán tỷ lệ sống của người bệnh chạy thận nhân tạo Nghiên cứu này cho thấy rằng những người bệnh nhận thức về tính đầy sự hỗ trợ xã hội là một yếu tố dự báo độc lập với tỷ lệ tử vong Nghiên cứu này cũng khuyến cáo rằng các nhà chăm sóc lâm sàng cần đưa ra chương trình can thiệp hỗ trợ xã hội dựa trên nhu cầu của người bệnh, hoặc thiết kế chương trình giáo dục tâm lý để thúc đẩy hiệu quả đối phó với lọc máu Ngoài ra có thể cung cấp thêm thông tin y tế liên quan đến lối sống cần thay đổi khi lọc máu để góp phần nâng cao hiệu quả điều trị [26]

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị thay thế bằng phương pháp lọc máu chu kỳ (khi mức lọc cầu thận

< 10ml/p, kali máu > 7mmol/l) tại khoa thận nhân tạo bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng Những người bệnh này có biểu hiện trầm cảm đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo ICD- 10, mục F32 và F33

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn Đối tượng nghiên cứu là:

- Người bệnh suy thận mạn do nhiều nguyên nhân khác nhau đang lọc máu chu kỳ tại khoa thận nhân tạo Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng và chưa điều trị thay thế bằng phương pháp lọc màng bụng hay ghép thận trước đó

- Người bệnh có thể nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng việt Có khả năng tham gia trả lời phỏng vấn

- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Người bệnh không thể giao tiếp được

- Người bệnh không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 11 năm 2016 tại khoa thận nhân tạo Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng

- Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

- Cỡ mẫu: Lấy tất cả người bệnh đang điều trị thay thế thận suy bằng phương pháp lọc máu chu kỳ ngoại trú tại khoa thận nhân tạo bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng đủ tiêu chuẩn trong thời gian nghiên cứu Trong 3 tháng từ

23 tháng 6 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016 chúng tôi thu thập được 185 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ đủ tiêu chuẩn nghiên cứu

- Cách chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện, không xác suất

2.2.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.2.4.1 Công cụ thu thập số liệu

- Bảng hỏi (phụ lục 1): Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc gồm 3 phần:

+ Phần 1: Thông tin chung: từ câu 1 đến câu 10

+ Phần 2: Trầm cảm từ câu 11 đến câu 31

+ Phần 3: Các yếu tố liên quan đến trầm cảm từ câu 31 đến câu 39

2.2.4.2 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu

Thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu được thực hiện 2 tuần trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu Tiến hành điều tra thử 18 đối tượng (10%) phù hợp tiêu chuẩn lựa chọn (18 đối tượng này sẽ không tham gia vào 185 đối tượng nghiên cứu) để xác định tính khả thi của bộ thu thập dữ liệu, khả năng áp dụng của quá trình lấy mẫu và để đánh giá sự hiểu biết, độ dài, khả năng được chấp nhận của bộ công cụ Kết quả được sử dụng để chỉnh sửa và cập nhật bộ công cụ cho phù hợp bằng cách điều chỉnh các câu hỏi và những lựa chọn của câu trả lời mà ban đầu không rõ ràng trong bộ công cụ

2.2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu

- Sau khi được sự đồng ý của hội đồng khoa học trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng, và sự đồng ý tham gia nghiên cứu của người bệnh bắt đầu tiến hành thu thập số liệu

- Thông tin/dữ liệu được thu thập trong 3 tháng từ 1/6/2016 đến 31/8/2016

- Người thu thập số liệu ngồi ở khoa thận nhân tạo sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn trực tiếp người bệnh

- Tiến trình thu thập thông tin/dữ liệu

+ Bước 1: Lựa chọn những đối tượng đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu vào thời điểm trước khi người bệnh chạy thận nhân tạo

+ Bước 2: Những đối tượng đủ tiêu chuẩn được giới thiệu mục đích, nội

24 dung, phương pháp và quyền lợi của người tham gia vào nghiên cứu Nếu đồng ý tham gia nghiên cứu thì ký vào bản đồng thuận (phụ luc 2) và được phổ biến hình thức tham gia nghiên cứu sau đó được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong bộ câu hỏi

+ Bước 3: Những đối tượng tham gia nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng câu hỏi được thiết kế

+ Bước 4: Tiếp theo người điều tra sử dụng mã số quản lý để tìm bệnh án ngoại trú của người bệnh và bổ sung các thông tin cần thiết

2.2.5 Các biến số nghiên cứu Được chia làm 3 nhóm biến số:

- Nhóm 1: Thông tin chung (nhân khẩu học)

- Nhóm 2: Trầm cảm (ức chế toàn diện các mặt hoạt động tâm thần, triệu chứng cơ thể)

- Nhóm 3: Các yếu tố liên quan đến trầm cảm (yếu tố tâm lý cá nhân, vấn đề thực thể, yếu tố hành vi)

STT Mã biến Tên biến Định nghĩa Cách thu thập Loại biến

Tuổi Thời gian đã qua kể từ khi sinh tính bằng năm đến thời điểm hiện tại

Dựa vào phỏng vấn người bệnh

Giới Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và nữ giới

Quan sát, tham khảo hồ sơ bệnh án

BMI (Bo dy Mass Index)

Là chỉ số khối cơ thể được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người

Tham khảo trong hồ sơ bệnh án Định lượng

Huyết áp Là số đo về áp lực của máu lên thành động mạch

Hồ sơ bệnh án Định lượng

Là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát triển cuộc sống cho người bệnh

Tỷ lệ người bệnh phân theo 4 nhóm: học sinh sinh viên, đi làm (lao động chân tay, lao động trí óc), thất nghiệp, hưu trí

Thu nhập Là tổng số tiền thu nhập trung bình hàng tháng

Tỷ lệ thu nhập phân theo 4 nhóm: < 2 triệu VND, 2- 5 triệu VND, 5- 10 triệu VND, >10 triệu VND

BHYT Là việc có tham gia bảo hiểm tự nguyện để giảm chi phí trong thời gian khám, chữa bệnh hay khong

Tham khảo hồ sơ bệnh án

Là lớp học cao nhất đã hoàn tất trong hệ thống giáo dục quốc dân mà người bệnh đã theo học

Tỷ lệ người bệnh phân theo 5 nhóm: tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, trung cấp/ cao đẳng/ đại học, trên đại học

Tỷ lệ người bệnh phân theo 3 nhóm: độc thân, đã kết hôn, ly thân/ly dị/ góa Định danh

2 Trầm cảm Ức chế toàn diện các mặt hoạt động tâm thần

Phản ánh những nhận xét tiêu cực của bản thân, về thế giới bên ngoài và tương lai

Sự ức chế toàn diện trên 3 mặt: cảm xúc, tư duy, hoạt động

Các triệu chứng khi người bệnh mắc trầm cảm

Triệu chứng biểu hiện trên các phương diện: chậm chạp, mệt mỏi, khó tập trung, rối loạn giấc ngủ

3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm

Yếu tố tâm lý cá nhân

Các yếu tố tác động lên tâm lý của người bệnh, làm xuất hiện/ trầm trọng hơn tình trạng trầm cảm:

-Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân

- Thời gian lọc máu: Là khoảng thời gian bắt đầu lọc máu lần đầu tới thời điểm hiện tại

- Hỗ trợ của gia đình người bệnh, xã hội

- Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân:

Tỷ lệ người bệnh được phân theo các nhóm: ít hơn 1 năm, từ 1- 5 năm, nhiều hơn 5 năm

- Hỗ trợ của gia đình, xã hội dựa trên Multidimensional Scale of Perceived Social Support (MSPSS), phân theo các nhóm: không nhận được sự hỗ trợ, có nhận được sự hỗ trợ

Biến thứ tự, định danh, độc lập

Các biến chứng trong quá trình điều trị bệnh suy thận mạn hoặc các bệnh lý kèm theo làm xuất hiện/ trầm trọng hơn tình trạng trầm cảm

-Đau: Đau là một cảm giác khó chịu và sự chịu đựng về cảm xúc, chủ yếu đi kèm theo tổn thương tổ chức

- Thiếu máu: Thiếu máu là hiện tượng giảm huyết sắc tố và số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các mô và tế bào trong cơ thể

- Nhiễm trùng: Phản ứng viêm của tổ chức đối với sự hiện diện của vi sinh vật hoặc sự xâm nhập của vi sinh vật vào các tổ chức bình thường vốn vô trùng

- Đái tháo đường: Đái tháo đường là tên chung của một nhóm bệnh có biểu hiện là cơ thể không thể điều hòa được lượng

-Đau: Tỷ lệ người bệnh được phân theo các nhóm dựa trên thang điểm đau gồm

10 mục (Visual Analog Scale- VAS): chia làm 5 mức: không đau, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng

-Thiếu máu: Tỷ lệ người bệnh được phân theo các nhóm: không thiếu máu, thiếu máu nhẹ, thiếu máu vừa, thiếu máu nặng Thu thập thông tin dựa vào tham khảo hồ sơ bệnh án

-Nhiễm trùng/ đái tháo đường/ tăng huyết áp: tần suất và tỷ lệ người bệnh phân theo các nhóm có mắc, không mắc ( tham khảo hồ sơ bệnh án)

28 đường (đặc biệt là glucose) có trong máu

- Tăng huyết áp: được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu >= 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương >= 90 mmHg

-Mất ngủ: Mất ngủ được định nghĩa là khó đi vào hay duy trì giấc ngủ, giấc ngủ không hoàn toàn hoặc chất lượng kém

-Tỷ lệ người bệnh được phân theo các nhóm: không mất ngủ, mất ngủ nhẹ, mất ngủ mức độ trung bình, mất ngủ mức độ nặng

Dựa trên thang điểm Beck Depression Inventory (BDI) BDI là bảng câu hỏi gồm 21 mục, mỗi mục gồm 4 câu hỏi được tính điểm từ 0- 3 Tổng điểm từ 0- 63 điểm:Từ 1- 10 điểm là bình thường, từ 11- 16 điểm có rối loạn nhẹ, từ 17- 20 điểm là bắt đầu có biểu hiện lâm sàng của trầm cảm, từ 21- 30 trầm cảm ở mức độ trung bình, từ 31- 40 trầm cảm nặng, từ 41- 63 trầm cảm rất nặng [16]

2.2.6.2 Đánh giá các yếu tố liên quan đến trầm cảm Đánh giá sự hỗ trợ của gia đình và xã hội: Đây là bảng câu hỏi dựa trên thang điểm của Zimet, Dahlem, Zimet & Farley, 1988 Bảng câu hỏi gồm 12 câu hỏi Mỗi câu hỏi có 7 sự lựa chọn: Khoanh "1"- rất không đồng ý, "2"- không đồng ý, "3"- hơi không đồng ý, "4"- không có ý kiến gì, "5" - hơi đồng ý, "6" - đồng ý,

"7" - rất đồng ý Tổng điểm từ 12- 84 điểm Tổng điểm càng cao thì mức hỗ trợ của gia đình, xã hội càng cao và ngược lại [36]

29 Đánh giá về mức độ đau: Đây là bảng đánh giá gồm 10 điểm dựa trên Visual Analog Scale- VAS 0 điểm- không đau, 1- 3 điểm: đau nhẹ, 4-6 điểm: đau vừa, 7- 9 điểm: đau nặng, 10 điểm- đau rất nặng Đánh giá về mức độ thiếu máu: Dựa vào các chỉ số cận lâm sàng Thiếu máu nhẹ khi: Hồng cầu (RBC) từ 3,1- 3,9 T/l, Huyết sắc tố (Hb) từ 100- 124 g/l, Hemantocrit (Ht) từ 0,31- 0,36l/l Thiếu máu vừa khi: RBC từ 2,1- 3,0T/l, Hb từ 76- 99g/l, Ht từ 0,21- 0,3l/l Thiếu máu nặng khi: RBC ≤ 2,0T/l, Hb ≤ 75g/l, Ht ≤ 0,2 l/l Đánh giá về tình trạng nhiễm trùng: Nhiệt độ > 37 o 5, WBC >10G/l, CRP > 10mg/l Đánh giá về tình trạng đái tháo đường: Mức glucose huyết tương lúc đói

≥7.0 mmol/l (≥126mg/dl) (theo tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO và IDF, 2012) hoặc HbA1c ≥ 6.5% (48 mmol/l) (theo liên đoàn sinh hóa lâm sàng Quốc tế- IFCC) Đánh giá tình trạng tăng huyết áp: Tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥

140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg Đánh giá về mất ngủ: Đây là bảng đánh giá dựa trên Insomnia Severity Index gồm 7 mục, mỗi mục có 4 sự lựa chọn 0- 7 điểm: tình trạng mất ngủ không có ý nghĩa lâm sàng, 8- 14 điểm: có biểu hiện mất ngủ nhẹ, 15- 21 điểm: mất ngủ mức độ trung bình, 22- 28 điểm: mất ngủ mức độ nặng [10]

2.2.7 Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu sau khi được làm sạch, nhập và phân tích trên phần mềm thống kê y học SPSS 16.0

- Đối với các biến số định lượng liên tục:

 Nếu biến số là hàm phân phối chuẩn, mô tả bằng giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

 Nếu biến số là hàm phân phối không chuẩn, mô tả bằng trung vị, tứ phân vị

- Đối với các biến số định tính (biến nhị phân, biến định danh, biến thứ tự): mô tả bằng tần suất và tỷ lệ

- Tìm yếu tố ảnh hưởng thì dùng thuật toán thống kê khi bình phương (Chi- squared), tương quan pearson

- Nghiên cứu này được thực hiện sau khi được sự cho phép của hội đồng đạo đức trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng

- Nghiên cứu không gây bất cứ thiệt hại gì về sức khỏe và kinh tế cho người bệnh

- Những người bệnh tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích, ý nghĩa, lợi ích của nghiên cứu và nếu đồng ý tham gia, sẽ ký vào bản đồng thuận Người bệnh có quyền từ chối không tham gia phỏng vấn bất cứ lúc nào

- Các thông tin thu thập được chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu

2.2.9 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

- Các sai số về thông tin

Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo nhóm tuổi và giới

Nhận xét: Người bệnh trong nghiên cứu ở nhóm tuổi từ 30- 60 tuổi chiếm 61.6% Nhóm tuổi >60 tuổi chiếm 31.4%, nhóm tuổi 10 triệu VNĐ có tỉ lệ thấp nhất là 2.7%

Bảng 3.5 Phân bố người bệnh theo tình trạng hôn nhân

Người chăm sóc Có người chăm sóc

Không có người chăm sóc Tổng

Nhận xét: Người bệnh có gia đình riêng chiếm tỉ lệ cao nhất 81.6% Người bệnh ly hôn/ góa chiếm tỉ lệ 12.4%, chưa có gia đình riêng chiếm tỉ lệ nhỏ nhất 5.9% 97.8% đối tượng nghiên cứu có người chăm sóc, 2.2% đối tượng nghiên cứu không có người chăm sóc

Bảng 3.6 Phân bố người bệnh theo thời gian lọc máu

Nhận xét: Người bệnh có thời gian lọc máu từ 1- 10 năm chiếm tỷ lệ nhỏ nhất là 4.9% Thời gian lọc máu của đối tượng nghiên cứu ít nhất là 6 ngày, nhiều nhất là 204 tháng Thời gian lọc máu trung bình là 41.3 ± 45.9 tháng

Bảng 3.7 Phân bố người bệnh theo chỉ số khối

Cân nặng bình thường (18.5≤BMI< 23) 107 57.8

Nhận xét: Người bệnh có cân nặng thấp chiếm 30.2%, cân nặng bình thường chiếm 57.8%, tiền béo phì chiếm 6%, béo phì chiếm 6% BMI trung bình 20.2 ± 2.6, BMI thấp nhất là 15, lớn nhất là 32.

Các yếu tố liên quan

tố liên quan đến trầm cảm

Yếu tố tâm lý cá nhân

Các yếu tố tác động lên tâm lý của người bệnh, làm xuất hiện/ trầm trọng hơn tình trạng trầm cảm:

-Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân

- Thời gian lọc máu: Là khoảng thời gian bắt đầu lọc máu lần đầu tới thời điểm hiện tại

- Hỗ trợ của gia đình người bệnh, xã hội

- Tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân:

Tỷ lệ người bệnh được phân theo các nhóm: ít hơn 1 năm, từ 1- 5 năm, nhiều hơn 5 năm

- Hỗ trợ của gia đình, xã hội dựa trên Multidimensional Scale of Perceived Social Support (MSPSS), phân theo các nhóm: không nhận được sự hỗ trợ, có nhận được sự hỗ trợ

Biến thứ tự, định danh, độc lập

Các biến chứng trong quá trình điều trị bệnh suy thận mạn hoặc các bệnh lý kèm theo làm xuất hiện/ trầm trọng hơn tình trạng trầm cảm

-Đau: Đau là một cảm giác khó chịu và sự chịu đựng về cảm xúc, chủ yếu đi kèm theo tổn thương tổ chức

- Thiếu máu: Thiếu máu là hiện tượng giảm huyết sắc tố và số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các mô và tế bào trong cơ thể

- Nhiễm trùng: Phản ứng viêm của tổ chức đối với sự hiện diện của vi sinh vật hoặc sự xâm nhập của vi sinh vật vào các tổ chức bình thường vốn vô trùng

- Đái tháo đường: Đái tháo đường là tên chung của một nhóm bệnh có biểu hiện là cơ thể không thể điều hòa được lượng

-Đau: Tỷ lệ người bệnh được phân theo các nhóm dựa trên thang điểm đau gồm

10 mục (Visual Analog Scale- VAS): chia làm 5 mức: không đau, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng

-Thiếu máu: Tỷ lệ người bệnh được phân theo các nhóm: không thiếu máu, thiếu máu nhẹ, thiếu máu vừa, thiếu máu nặng Thu thập thông tin dựa vào tham khảo hồ sơ bệnh án

-Nhiễm trùng/ đái tháo đường/ tăng huyết áp: tần suất và tỷ lệ người bệnh phân theo các nhóm có mắc, không mắc ( tham khảo hồ sơ bệnh án)

28 đường (đặc biệt là glucose) có trong máu

- Tăng huyết áp: được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu >= 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương >= 90 mmHg

-Mất ngủ: Mất ngủ được định nghĩa là khó đi vào hay duy trì giấc ngủ, giấc ngủ không hoàn toàn hoặc chất lượng kém

-Tỷ lệ người bệnh được phân theo các nhóm: không mất ngủ, mất ngủ nhẹ, mất ngủ mức độ trung bình, mất ngủ mức độ nặng

Dựa trên thang điểm Beck Depression Inventory (BDI) BDI là bảng câu hỏi gồm 21 mục, mỗi mục gồm 4 câu hỏi được tính điểm từ 0- 3 Tổng điểm từ 0- 63 điểm:Từ 1- 10 điểm là bình thường, từ 11- 16 điểm có rối loạn nhẹ, từ 17- 20 điểm là bắt đầu có biểu hiện lâm sàng của trầm cảm, từ 21- 30 trầm cảm ở mức độ trung bình, từ 31- 40 trầm cảm nặng, từ 41- 63 trầm cảm rất nặng [16]

2.2.6.2 Đánh giá các yếu tố liên quan đến trầm cảm Đánh giá sự hỗ trợ của gia đình và xã hội: Đây là bảng câu hỏi dựa trên thang điểm của Zimet, Dahlem, Zimet & Farley, 1988 Bảng câu hỏi gồm 12 câu hỏi Mỗi câu hỏi có 7 sự lựa chọn: Khoanh "1"- rất không đồng ý, "2"- không đồng ý, "3"- hơi không đồng ý, "4"- không có ý kiến gì, "5" - hơi đồng ý, "6" - đồng ý,

"7" - rất đồng ý Tổng điểm từ 12- 84 điểm Tổng điểm càng cao thì mức hỗ trợ của gia đình, xã hội càng cao và ngược lại [36]

29 Đánh giá về mức độ đau: Đây là bảng đánh giá gồm 10 điểm dựa trên Visual Analog Scale- VAS 0 điểm- không đau, 1- 3 điểm: đau nhẹ, 4-6 điểm: đau vừa, 7- 9 điểm: đau nặng, 10 điểm- đau rất nặng Đánh giá về mức độ thiếu máu: Dựa vào các chỉ số cận lâm sàng Thiếu máu nhẹ khi: Hồng cầu (RBC) từ 3,1- 3,9 T/l, Huyết sắc tố (Hb) từ 100- 124 g/l, Hemantocrit (Ht) từ 0,31- 0,36l/l Thiếu máu vừa khi: RBC từ 2,1- 3,0T/l, Hb từ 76- 99g/l, Ht từ 0,21- 0,3l/l Thiếu máu nặng khi: RBC ≤ 2,0T/l, Hb ≤ 75g/l, Ht ≤ 0,2 l/l Đánh giá về tình trạng nhiễm trùng: Nhiệt độ > 37 o 5, WBC >10G/l, CRP > 10mg/l Đánh giá về tình trạng đái tháo đường: Mức glucose huyết tương lúc đói

≥7.0 mmol/l (≥126mg/dl) (theo tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO và IDF, 2012) hoặc HbA1c ≥ 6.5% (48 mmol/l) (theo liên đoàn sinh hóa lâm sàng Quốc tế- IFCC) Đánh giá tình trạng tăng huyết áp: Tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥

140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg Đánh giá về mất ngủ: Đây là bảng đánh giá dựa trên Insomnia Severity Index gồm 7 mục, mỗi mục có 4 sự lựa chọn 0- 7 điểm: tình trạng mất ngủ không có ý nghĩa lâm sàng, 8- 14 điểm: có biểu hiện mất ngủ nhẹ, 15- 21 điểm: mất ngủ mức độ trung bình, 22- 28 điểm: mất ngủ mức độ nặng [10]

2.2.7 Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu sau khi được làm sạch, nhập và phân tích trên phần mềm thống kê y học SPSS 16.0

- Đối với các biến số định lượng liên tục:

 Nếu biến số là hàm phân phối chuẩn, mô tả bằng giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

 Nếu biến số là hàm phân phối không chuẩn, mô tả bằng trung vị, tứ phân vị

- Đối với các biến số định tính (biến nhị phân, biến định danh, biến thứ tự): mô tả bằng tần suất và tỷ lệ

- Tìm yếu tố ảnh hưởng thì dùng thuật toán thống kê khi bình phương (Chi- squared), tương quan pearson

- Nghiên cứu này được thực hiện sau khi được sự cho phép của hội đồng đạo đức trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng

- Nghiên cứu không gây bất cứ thiệt hại gì về sức khỏe và kinh tế cho người bệnh

- Những người bệnh tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích, ý nghĩa, lợi ích của nghiên cứu và nếu đồng ý tham gia, sẽ ký vào bản đồng thuận Người bệnh có quyền từ chối không tham gia phỏng vấn bất cứ lúc nào

- Các thông tin thu thập được chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu

2.2.9 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

- Các sai số về thông tin

- Hạn chế sai số Để các thông tin thu thập được có chất lượng tốt nhất, bộ câu hỏi được thiết kế logic với những ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu để đối tượng có thể dễ dàng trả lời

Và đã được sự tư vấn và chỉnh sửa của các chuyên gia nghiên cứu trước khi tiến hành nghiên cứu Số liệu thu thập được nhập 2 lần độc lập

+ Các khái niệm, thuật ngữ rõ ràng

+ Thiết kế bộ câu hỏi dễ hiểu để đối tượng dễ trả lời

+ Tiến hành phỏng vấn thử để hoàn thiện bộ câu hỏi

+ Trước khi phỏng vấn điều tra viên phải giải thích rõ mục đích và ý nghĩa để đối tượng hợp tác đảm bảo được tính trung thực

+ Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra số liệu trước khi phân tích

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo nhóm tuổi và giới

Nhận xét: Người bệnh trong nghiên cứu ở nhóm tuổi từ 30- 60 tuổi chiếm 61.6% Nhóm tuổi >60 tuổi chiếm 31.4%, nhóm tuổi 10 triệu VNĐ có tỉ lệ thấp nhất là 2.7%

Bảng 3.5 Phân bố người bệnh theo tình trạng hôn nhân

Người chăm sóc Có người chăm sóc

Không có người chăm sóc Tổng

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1 Tuổi của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu trên 185 người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ, đa số người bệnh (61.6%) nằm trong độ tuổi 30- 60 tuổi Tuổi trung bình của người bệnh là 51.59± 13.95 tuổi (thấp nhất là 21 tuổi, lớn nhất là 82 tuổi) Điều này chứng tỏ người bệnh cao tuổi (>80 tuổi) khi được chẩn đoán là suy thận mạn giai đoạn cuối vẫn có cơ hội kéo dài tuổi thọ bằng phương pháp lọc máu chu kỳ So sánh độ tuổi của người bệnh với các nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi thấy tuổi của người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ ở Việt Nam thường trẻ hơn các nước trên thế giới Theo nghiên cứu của Trần Trí và Lê Việt Thắng (Việt Nam) trên 150 người bệnh có độ tuổi trung bình là 43.18 ± 14.86 [6] Nghiên cứu của Chen và cộng sự (Đài Loan) trên 200 người bệnh có độ tuổi trung bình là 58.6 ± 13.9 [11] Một nghiên cứu tại Hà Lan của Thong và cộng sự trên 606 người bệnh có độ tuổi trung bình là 58.8 ± 14.3[26] Nghiên cứu của Tzanakaki và cộng sự trên 123 người bệnh có độ tuổi trung bình là 65.3 ± 15.2[28] Điều này có thể do nguyên nhân suy thận mạn ở Việt Nam do bệnh lý cầu thận gây ra, nguyên nhân này do nhiễm trùng và tiềm tàng khi người bệnh còn nhỏ nên không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời Trong khi đó, nguyên nhân suy thận mạn ở các nước trên thế giới do bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp gây nên, hai bệnh này khởi phát vào giai đoạn trung niên do vậy họ có một quá trình theo dõi và điều trị bảo tồn làm chậm tiến triển của bệnh

4.1.2 Giới của đối tượng nghiên cứu

Tỉ lệ nam, nữ trong nghiên cứu của chúng tôi tương đối đều nhau, nam giới chiếm 49.2%, nữ giới chiếm 50.8% Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Trần Trí và Lê Viêt Thắng (2011) có tỉ lệ nam giới là 63.3% và nữ giới chiếm 36.7% [6]; nghiên cứu Chen và cộng sự (2010) tại Đài Loan có tỉ lệ nam giới là 47%, nữ giới là 53% [11]; nghiên cứu của Tanakaki (2014) tại Hy lạp với tỉ lệ nam

45 giới là 55.3%, nữ giới là 44.7% [28] Tỉ lệ nam giới và nữ giới trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như các tác giả khác đảm bảo độ tin cậy về giới tính cho nghiên cứu

4.1.3 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

Trình độ học vấn của người bệnh khá cao với trình độ THPT trở lên chiếm 77.3%, THCS chiếm 20%, TH chiếm tỉ lệ nhỏ là 2,7% Tỉ lệ trình độ học vấn tiểu học vẫn còn vì trong nghiên cứu có nhiều người là người già sinh trước năm 1945 do điều kiện chiến tranh, khó khăn của cả nước nói chung nên không được đi học Kết quả này chúng tôi không so sánh được với các nghiên cứu trong nước do ở Việt Nam có duy nhất một nghiên cứu của Trần Trí và Lê Việt Thắng trên đối tượng này nhưng không đề cập tới tỉ lệ trình độ học vấn

4.1.4 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm đối tượng thất nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất là 34,1% Sau đó đến nhóm đối tượng nghỉ hưu chiếm 30.3%, nhóm lao động chân tay chiếm 20.5%, lao động trí óc chiếm 14.1% Nhóm đối tượng nghiên cứu là học sinh- sinh viên chiếm tỉ lệ thấp nhất là 1,1% Kết quả này phù hợp với tỉ lệ 77.8% đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn từ THPT trở lên Người bệnh thất nghiệp chúng tôi đề cập đến là tình trạng bị suy thận mạn có lọc máu chu kỳ sau đó không có khả năng làm việc và không có thu nhập chứ không đề cập đến tình trạng người bệnh không có việc làm trước khi mắc bệnh Nhóm người bệnh thất nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất một phần là do thời gian lọc máu kéo dài, lọc máu chu kỳ thường cách ngày do vậy không đáp ứng được thời gian hoàn thành công việc Hơn nữa, việc làm cầu tay để lọc máu chu kỳ làm hạn chế khả năng lao động do đó giảm năng suất lao động Chính vì vậy nên người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ không đáp ứng được công việc hiện tại đang làm nhưng lại không tìm được việc làm phù hợp do vậy họ bị buộc thôi việc hoặc nghỉ hưu non

4.1.5 Thu nhập của đối tượng nghiên cứu

Nhóm đối tượng nghiên cứu sống phụ thuộc chiếm tỉ lệ cao nhất 34,6% Nhóm có thu nhập ít hơn 2 triệu chiếm 17.8%, 2- 3 tháng Điều này có thể do người bệnh mới lọc máu chưa tìm hiểu được về lọc máu, họ chỉ cho rằng lọc máu là đến giai đoạn sắp tử vong, không có khả năng sống và lao động như những người bình thường, họ mặc cảm với những người xung quanh, sống khép kín nên gây ra tỉ lệ và mức độ trầm cảm cao hơn Những người bệnh lọc máu trong thời gian dài hơn, họ thích nghi và chấp nhận tình trạng hiện tại, họ biết cách làm cân bằng cuộc sống bằng các việc nhẹ nhàng như tham gia câu lạc bộ dành cho ngươì suy thận mạn có lọc máu, tham gia tình nguyện giúp đỡ những người có cùng hoàn cảnh nhưng khó khăn hơn, họ mở rộng mối quan hệ xã hội… nên tỉ lệ và mức độ trầm cảm thấp hơn

Những kết quả này của chúng tôi tương đương với các kết quả nghiên cứu của nước ngoài, tuy nhiên các nghiên cứu trong nước chưa đề cập đến vấn đề này nên chúng tôi không so sánh và làm rõ hơn được

4.2.4 Phân bố mức độ trầm cảm theo mức độ hỗ trợ xã hội, mức độ đau và mức độ mất ngủ Để đánh giá mức độ hỗ trợ xã hội chúng tôi sử dụng bảng câu hỏi dựa trên thang điểm của Zimet, Dahlem, Zimet & Farley, 1988 Bảng câu hỏi gồm 12 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 7 sự lựa chọn: Khoanh "1"- rất không đồng ý, "2"- không đồng ý, "3"- hơi không đồng ý, "4"- không có ý kiến gì, "5" - hơi đồng ý, "6" - đồng ý,

"7" - rất đồng ý Tổng điểm từ 12- 84 điểm Tổng điểm càng cao thì mức hỗ trợ của gia đình, xã hội càng cao và ngược lại

Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức độ hỗ trợ xã hội trên người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ có tổng điểm hỗ trợ xã hội thấp nhất đạt 23 điểm, cao nhất đạt 84 điểm, điểm trung bình 52.6±13.1 Kết quả này cho thấy sự hỗ trợ xã hội đối với nhóm người bệnh nghiên cứu đạt mức trung bình và tương đương với kết quả nghiên cứu của Chen và cộng sự năm 2011 tại Australia Để đánh giá mức độ đau chúng tôi sử dụng thang đo Visual Analog Scale- VAS gồm 10 điểm 0 điểm- không đau, 1- 3 điểm: đau nhẹ, 4-6 điểm: đau vừa, 7- 9 điểm: đau nặng, 10 điểm- đau rất nặng

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng người bệnh bị đau nhẹ chiếm tỉ lệ cao nhất 49.4% và chiếm tỉ lệ cao ở hầu hết ở các mức độ trầm cảm Riêng đối với người bệnh bị trầm cảm rất nặng mức độ đau vừa chiếm tỉ lệ cao nhất là 57.1% Điều này có thể giải thích rằng, những người bệnh bị trầm cảm rất nặng thì bị đau nhiều do các bệnh hoặc các biến chứng của bệnh kèm theo như lupus ban đỏ, goute, hoại tử chi do đái tháo đường tuýp 2, tràn dịch màng phổi…Đau về thực thể làm cho người bệnh hạn chế trong di chuyển, vận động, làm việc do vậy hạn chế trong giao tiếp, tăng sự mặc cảm và tự ti nên mức độ trầm cảm càng nghiêm trọng hơn Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Gerogianni và Babatsikou

(2014) tại Hy Lạp chỉ ra rằng, 30- 50% người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ bị đau và trong số đó có 82% bị đau ở mức độ vừa đến nặng[15] Để đánh giá vấn đề mất ngủ, chúng tôi sử dụng thang đo Insomnia Severity Index gồm 7 mục, mỗi mục có 4 sự lựa chọn 0- 7 điểm: tình trạng mất ngủ không có ý nghĩa lâm sàng, 8- 14 điểm: có biểu hiện mất ngủ nhẹ, 15- 21 điểm: mất ngủ mức độ trung bình, 22- 28 điểm: mất ngủ mức độ nặng

Từ bảng 3.14 cho thấy người bệnh bị trầm cảm nhẹ có tỉ lệ không mất ngủ cao nhất chiếm 35.9% Người bệnh bị trầm cảm vừa và nặng có tỉ lệ mất ngủ ở mức độ vừa chiếm cao nhất là 34.9% và 42.4% Người bệnh bị trầm cảm rất nặng có tỉ lệ mất ngủ nặng cao nhất chiếm 71.4% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với

51 nghiên cứu của Gerogianni và Babatsikou (2014) tại Hy Lạp chỉ ra rằng 85% người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ có chất lượng giấc ngủ không tốt [15], và đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến trầm cảm ở người bệnh suy thận mạn có lọc máu chu kỳ Rất tiếc chưa có nghiên cứu tương tự nào của Việt Nam công bố trên đối tượng suy thận mạn lọc máu chu kỳ trước đó để chúng tôi có thể so sánh và nhận xét kỹ hơn.

Ngày đăng: 01/09/2021, 10:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w