1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và những biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm cướp tài sản trên địa bàn quản lý của viện kiểm sát quân sự khu vực 41

26 52 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 158,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thực hành quyền công tố trong giaiđoạn điều tra theo Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự như: Khởi tố vụ án hình sự,khởi tố bị can, hủy bỏ các quyết định khởi tố không có căn cứ trái pháp l

Trang 1

A Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài

rong pháp luật hình sự, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua các quy định

về các tội phạm xâm phạm sở hữu Đây cũng là một trong những nhóm tội đượcquy định sớm nhất trong pháp luật hình sự ở nước ta Từ khi đất nước ta chuyểnđặi nền kinh tế theo cơ chế thị trường, diễn biến của tình hình tội phạm nóichung, cũng như các tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng hết sức phức tạp vàngày càng có chiều hướng gia tăng, gây thiệt hại lớn về tài sản Trong nhữngnăm qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã tích cực đấu tranh ngăn chặn các hành

vi xâm phạm sở hữu, như việc điều tra, truy tố, xét xử tuy nhiên loại tội phạmxâm hại sở hữu ngày càng diễn biến phức tạp, gây dư luận không tốt cho xã hội,làm giảm lòng tin của quần chúng đối với pháp luật

Qua thực tiễn thực tập tại cơ quan, được tiếp xúc đọc tài liệu hồ sơ điềutra, truy tố các tội phạm xâm phạm đến sở hữu luôn chiếm một số lượng lớn vàrất phổ biến tại các địa phương, đặc biệt là các thành phố lớn(Thanh Hóa, NghệAn) Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 ra đời một lần nữa khẳng định chínhsách hình sự của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền sở hữu thông qua các quyđịnh tại chương XIV của Bộ luật Trước những diễn biến phức tạp, hàng loạt cáctội phạm xâm phạm có tính chất nguy hiểm về quyền sở hữu, vấn đề khá bứcxúc được sự giới thiệu thực tập tại Viện Kiểm Sát Quân Sự khu vực 41,tôi đã

chọn đề tài "Thực trạng và những biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm

cướp tài sản trên địa bàn quản lý của viện kiểm sát quân sự khu vực 41”làm đề

tài báo các thực tập nghiên cứu tội phạm cướp tài sản trên địa bàn quản lý củaviện kiểm sát quân sự khu vực 41, lấy thực trạng tình hình tội phạm trên địa bànlàm ví dụ phân tích, các nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này để từ đó

có những biện pháp phòng chống có hiệu quả là rất cần thiết

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: tội cướp tài sản trên địa bàn

quản lý của viện kiểm sát quân sự khu vực 41 tình hình, nguyên nhân và điều

kiện cũng như các giải pháp đấu tranh, phòng chống tội phạm này

Trang 2

- Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu trong phạm vi những vấn đề liênquan đến tội cướp tài sản dưới góc độ Luật hình sự

3 Mục đích của đề tài:

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và thực trạngtình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tội cướp tài sản trên địa bàn đểđưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh

phòng ngừa loại tội phạm này

4 phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở các văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước vềquan điểm đấu tranh chống tội phạm trong quá trình xây dựng nhà nước phápquyền tại Việt Nam

Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống

kê số liệu, phương pháp phân tích và so sánh, phương pháp tổng hợp để làmsáng rõ báo cáo

5 Ý nghĩa của đề tài báo cáo

Trong phạm vi của mình, đề tài nghiên cứu có ý nghĩa tìm ra nguyên nhân

và đề ra những giải pháp đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội cướp tài sảntrên địa bàn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tộiphạm nói chung và tội cướp tài sản nói riêng

6 Kết cấu của bài báo cáo

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa báo cáo gồm 2 chương:

Chương I: Vài nét về viện kiểm sát quân sự khu vực 41 và Tội cướp tài

sản trong pháp luật hình sự Việt Nam

Chương II:thực trạng, nguyên nhân, Các biện pháp đấu tranh, phòng,

chống tội cướp tài sản trên địa bàn quản lý của Viện Kiểm Sát quân Sự khu vực41

Trang 3

a, Cơ cấu tổ chức Viện kiểm Sát Quân Sự khu vực 41

Theo - luật tổ chức viện kiển sát nhân dân 2002

- pháp lệnh tổ chức viện kiểm sát quân sự 2002

Căn cứ K2 Đ33 pháp lệnh tổ chức viện kiểm sát quân sự 2002

* Viện kiểm Sát Quân Sự khu vực 41 là cơ quan tư pháp của quân đội tương đương viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; địa bàn quản lý thuộc 2 tỉnh Thanh Hóa; Nghệ An

Địa chỉ: ngõ số 09 – đường Nguyễn Đức Cảnh – tp Vinh

Cơ cấu tổ chức gồm:

+ 01 Viện trưởng viện kiểm sát

+ 01 Phó viện trưởng

+ 04 kiểm sát viên

+ 01 nhân viên văn thư

+ 01 nhân viên lái xe

- Viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh đạo, chịu sự lãnh đạo của việntrưởng viện kiểm sát cấp trên

- Phó viện trưởng giúp viện trưởng làm nhiệm vụ theo sự phân công củaviện trưởng Khi trưởng vắng mặt phó viện trưởng được viện trưởng ủy nhiệmthay mặt lãnh đạo công tác của viện kiểm sát quân sự

- Kiểm sát viên Viện kiểm Sát Quân Sự được bổ nhiệm theo quy định củapháp luật để làm nhiệm vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp trong quân đội

b, Chức năng nhiệm vụ Viện kiểm Sát Quân Sự khu vực 41

- Thực hiện chức năng nhiệm vụ căn cứ theo Đ 2 pháp lệnh tổ chức viện

kiểm sát quân sự 2002 công tố, kiểm sát theo pháp luật trong điều tra vụ án

Trang 4

hình sự, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử tòa án quân sự, tội xâm phạm hoạt động

tư pháp mà cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp trong quân đội; …các đối tượngkhác gây thiệt hại cho quân đội, quân nhân

Thực hành quyền công tố là việc đưa vụ án ra toà với quyền truy tố và

buộc tội Điều này cũng khẳng định trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quyđịnh về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và việnkiểm sát quân sự nói riêng, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

và nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra được quy địnhtại Điều 112, 113 Bộ luật tố tụng hình sự thực hành quyền công tố trong giaiđoạn điều tra theo Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự như: Khởi tố vụ án hình sự,khởi tố bị can, hủy bỏ các quyết định khởi tố không có căn cứ trái pháp luật của

Cơ quan điều tra và trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như hỏi cung bịcan, ghi lời khai người làm chứng, bị hại, đối chất, nhận dạng…

- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện Kiểm sát quân sự

có trách nhiệm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhândân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do,danh dự và nhân phẩm của công dân bằng cách áp dụng các biện pháp cần thiết

…cơ quan có chức năng bảo đảm cho quyền lực, ý chí thực thi quyền lực, ý chíNhà nước phát huy hiệu lực, hiệu quả trong việc quản lý mọi mặt của đời sống

xã hội;

Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyềncông tố Nhà nước, có một vai trò rất quan trọng Do đó đòi hỏi Viện Kiểm sáttrong hoạt động của mình phải thể hiện tính công minh, khách quan, thực sự là

cơ quan gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

Đảm bảo tính công minh, khách quan khi thực hành quyền công tố Viện

kiểm sát

+căn cứ tiến hành hoạt động: Viện kiểm sát chỉ căn cứ vào các quy định

của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự và các luật khác như: Luật giaothông đường bộ … còn kiểm sát điều tra căn cứ chủ yếu vào quy định của Bộ

Trang 5

luật tố tụng hình sự và các văn bản quy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sựhoặc quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức.

- Về phương thức hoạt động: Thực hành quyền công tố được thực hiện

thông qua việc ban hành các văn bản như: Lệnh, quyết định, cáo trạng… còn khikiểm sát điều tra, Viện kiểm sát thường ban hành các văn bản như: Kiến nghị,công văn, thông báo…

- Về đối tượng tác động: Thực hành quyền công tố có đối tượng tác động

là hành vi phạm tội và người phạm tội, còn kiểm sát điều tra có đối tượng tácđộng là hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, các cơ quan khác được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, người tiến hành tố tụng, ngườitham gia tố tụng hình sự và cả các cơ quan, tổ chức hữu quan khác

- Về hậu quả pháp lý: Khi Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sẽ dẫn

đến việc truy cứu hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự Còn khi kiểm sátđiều tra sẽ dẫn đến xử lý các vi phạm, thiếu sót trong hoạt động điều tra, áp dụngcác biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

*Nhiệm vụ, Công Tác Kiểm Sát Viên Trong Thực Tiễn

Khi tiến hành giải quyết vụ án công tác của kiểm sát viên giữ vị trí hết sứquan trọng xuyên suốt quá trình giải quyết án; kiểm sát viên xác định rõ tráchnhiệm của mình:

 Nhiệm Vụ: - Nắm, quản lý, phân loại, phối hợp xử lý vụ án

Nắm thông tin( thông qua thông báo tin tức tội phạm) không nắm được sẽ

bị bỏ xót tội phạm; quản lý là hoạt động thụ lý vụ án đưa vào sổ thụ lý(trongvòng 20 ngày sẽ đưa ra quyết định khởi tố hoặ không khởi tố; nếu vụ án khóthời hạn 30 ngày); phân loại tội phạm là làm rõ tội phạm, đưa ra quyết định phâncông cán bộ giải quyết, xử lý; phối hợp xử lý là viện kiểm sát phối hợp với cơquan điều tra các cán bộ phân công xử lý có trách nhiệm phối hợp giải quyết vụán

 Thực hành quyền công tố,kiểm sát điều tra vụ án

Trang 6

Thực hành quyền năng của viện kiểm sát, ra quyết định phê chuẩn hoặchủy bỏ quyết định trái điều tra

Ví dụ: cơ quan điều tra khởi tố trong 3 ngày, chuyển quyết định cho việnkiểm sát phê chuẩn căn cứ pháp lý đưa ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy

Kiểm sát hoạt đọng điều tra của cơ quan điều tra hoặ điều tra viên theoquy định của pháp luật tố tụng hình sự á hoạt động như( hỏi cung bị can; khámnghiệm hiện trường; thực nghiệm điều tra… xét thấy cần thiết kiểm sat viên phảitham gia) các hoạt đông bắt buộc kiểm sát viên tham gia( khám nghiệm hiệntrường vụ án, khám nghiệm tử thi) có ý nghĩa là căn cứ đánh giá chứng cứ hợppháp

Ví dụ: biên bản khám nghiệm hiện trường không có kiểm sát viên thamgia sẽ không được làm chứng cứ trong phiên tòa xét xử; khám nghiệm hiệntrường phải đảm bảo có 3 người tham gia điều tra viên được phân công điều tra,kiểm sát viên được phân công tham gia,người làm chứng.( đảm bảo chứng cứthu thập theo đúng trình tự thủ tục tố tụng; khách quan; liên quan)

Ví dụ: bản hỏi cung đối với người chưa thành niên phải có đại diện đảmbảo tính hợp pháp

Trình tự điều tr vụ án: khi có tin báo án trong vòng 20 ngày tối đa khôngquá 2 tháng xác minh tội phạm (có tội phạm không) có tội phạm sẽ ra quyết địnhkhởi tố; do thủ trưởng ơ quan điều tra ra quyết định khởi tố sau chuyển đến việnkiểm sát; viện kiểm sát ra quyết định phân công kiêmr sát viên tham gia; cơquan điều tra ra quyết định phân công điều tra viên tham gia (căn cứ xác địnhthẩm quyền tiến hành đánh giá chứng cứ, tài liệu hợp lệ)

Ví dụ: người không được phân công tham gia vụ án mà thu thập chứng cứthì chứng cứ đó không được sử dụng làm chứng cứ trong vụ án Tuy nhiên trong

trường hợp những tài liệu phát sinh trước như công an làm ban đầu(tai nạn giao

thong)không phải kiểm sát viên,điều tra viên được phân công pháp luật chophép những tài liệu đó làm chứng cư

Trang 7

Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can( quyết định này ra cùng lúcvới khởi tố vụ án hoặc sau) trong thời hạn 3 ngày viện kiểm sát ra quyết địnhkhởi tố, quyết định khởi tố bị can rất quan trọng do vậy kiểm sát rất chặt chẽđảm bảo không bị oan sai.

Quyết định khởi tố bị can sau đưa cho cơ quan điều tra tiến hành điều traThực trạng điều tra(cấu thành tội phạm theo quy định của luật hình sự?)Kiểm sát viên xét thấy vụ án phú tạp, biểu hiện oan sai thì kiểm sát viêntrực tiếp tham hia xét hỏi, hỏi cung

Kết thúc điều tra chuyển vụ án cho viện kiểm sát 20 ngày đến 30 ngàybáo cáo án và dự thảo cáo trạng

 Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phiên tòa sơ thẩm

Kiểm sát viên kiểm sát thủ tục bắt đầu phiên tòa; tiên hành đọc cáo trạngtruy tố tội danh, xét hỏi bị cáo;tiến hành tranh luận luận tội bị cáo

 Kiểm sát thi hành án treo

 Kiểm sát giải quyết đơn thư tố cáo đối với cơ quan tư pháp trong hoạtđộng tư pháp

 Tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo

 Tuyên truyền phổ biến pháp luật

 Thống kê hình sự, thống kê tội phạm

2 Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản theo quy định của BLHS

2.1 Khái niệm

a) tội phạm (theo Đ8 BLHS 1999) tội phạm là hành vi nguy hiểm hội xã

hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thựchiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ

b) Cơ sở pháp lý: Điều 133 BLHS 1999

Trang 8

2.2 dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản theo quy định của BLHS

a) Hành vi tội phạm

Điều 133 BLHS quy định: "Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình

trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, )

Theo quy định dấu hiệu tội “làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm ” là dấu hiệu bắt buộc phải có ở tất cả

các hành vi khách quan được quy định trong điều luật là "dùng vũ lực", "đe doạdùng vũ lực ngay tức khắc" và "hành vi khác”

- Đối với hành vi "dùng vũ lực làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản “được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất (có hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội như dao, súng trợ giúp) tác động đến thân thể người bị tấn công (thường là người chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lí, bảo vệ tài sản làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm Bằng hành vi tấn công như vậy, người phạm tội không chỉ nhằm (mong muốn thể hiện

cả ý trí và lý trí) mà trên thực tế thường đã làm tê liệt sự chống cự của người

bị tấn công, làm cho khả năng thực tế của sự chống cự không thể xảy ra hoặc làm cho người bị tấn công bị tê liệt về ý chí, không dám kháng cự”

Ví dụ: làm cho người bị tấn công bị thương tích, bị trói lại, bị nhốt lại thậm chí

bị giết chết nhằm chiếm đoạt tài sản Khi người bị tấn công đã (bị trói, bị

thương, bị chết, bị tước tự do ) như vậy chính là họ đã "lâm vào tình trạng không thể chống cự được" mà điều luật quy định Đây là dấu hiệu cho phép phân

biệt hành vi dùng vũ lực trong tội cướp tài sản có tính chất nguy hiểm cao so vớihành vi dùng vũ lực nhưng người có hành vi không nhằm “đương đầu” và cũngkhông làm tê liệt ý chí của người bị tấn công mà chỉ để dễ dàng thực hiện hành

vi chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng trong tội cướp giật tài sản (Điều 136BLHS) như đánh vào tay cho rời tài sản rồi nhanh chóng chiếm đoạt, xô ngãngười khác rồi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát Vì vậy

Trang 9

nếu hành vi dùng vũ lực mà không làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng

không thể chống cự được, "không đến mức làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân hoặc làm cho sự phản kháng không thể xảy ra nhằm chiếm đoạt tài sản như định (mong muốn) đánh, bắn, chém bị thương người khác nhằm

chiếm đoạt tài sản của họ nhưng lại bắn chệch hoặc bị người này tránh được vàngăn chặn hay chống lại được và cũng không chiếm đoạt được tài sản là trường

hợp phạm tội chưa đạt “Cướp là dùng bạo lực để chiếm đoạt, dùng bạo lực (nay là dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ hay là làm cho người bị tấn công không thể kháng cự được, như đánh, chém, bắn, trói ” nghĩa là làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không

thể chống cự được là dấu hiệu bắt buộc của tội cướp tài sản

- Đối với hành vi "đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho người

bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” hiểu là trường hợp người phạm tội không dùng vũ lực như trên mà bằng

lời đe doạ (dọa giết chết, dọa gây thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ) hoặc cử chỉ(dí dao, súng vào người) hoặc và thường là kết hợp cả hai (có lời nói, cử chi đedoạ và kèm theo công cụ, phương tiện trợ giúp) dọa sẽ dùng vũ lực ngay tứckhắc nếu người bị tấn công (người chủ tài sản người quản lí tài sản, người thâncủa người chủ tài sản ) chống cự lại Bằng hành vi đe dọa, ví dụ: dọa đâm,

chém hay bắn chết ngay như vậy, người phạm tội (mong muốn) và thực tế

thường đã khống chế được ý chí của người bị tấn công, làm cho người bị tấncông bị tê liệt ý chí kháng cự, người bị tấn công sợ bị giết chết ngay, sợ bị gâythương tích ngay hoặc sợ quá mà bị ngất, bị chết nên không có điều kiện kháng

cự lại Khi đã làm tê liệt ý chí kháng cự hoặc làm cho người bị tấn công bị ngất,

bị chết như vậy, tội cướp tài sản được coi là hoàn thành Và khi người bị tấn

công không có điều kiện để chống cự như vậy chính là họ đã "lâm vào tình trạng không thể chống cự được " mà điều luật có nói tới và đây cũng là dấu hiệu quan trọng cho phép phân biệt hành vi “đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc”trong tội cướp tài sản có dấu hiệu này với hành vi “đe doạ sẽ dùng vũ lực” trong tội

Trang 10

cưỡng đoạt tải sản không có dấu hiệu này mà chỉ có khả năng khống chế ý chícủa người bị đe dọa, người bị đe doạ vẫn có điều kiện suy nghĩ, cân nhắc để lựa

chọn việc chống lại nếu muốn Ví dụ:dùng súng giả dọa bắn chết ngay nhằm nhưng người bị đe doạ nhận thức được đó là súng giả và chống cự lại; hoặc dọa đâm, bắn chết ngay nhằm… nhưng người bị tấn công do có võ đã gạt

được dao, súng vô hiệu hoá và bắt giữ được kẻ tấn công

- Đối với “hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” được hiểu là những hành vi

“tuy không phải là vũ lực cũng không phải là đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng lại có khả năng như những hành vi đó, khả năng làm cho người bị tấn công không thể ngăn cản được việc chiếm đoạt Do vậy, những hành vi này được coi là có cùng tính chất như hành vi dùng vũ lực và hành vi đe doạ dùng

vũ lực ngay tức khắc Chúng đều có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự kháng

cự và được quy định là dạng hành vi khách quan thứ ba của tội cướp tài sản " Ví dụ: Hành vi đầu độc bằng thuốc ngủ, hành vi dùng thuốc gây mê, hành

vi dùng rượu hoặc chất kích thích khác đầu độc làm mất khả năng phản khángcủa người bị tấn công là những trường hợp cụ thể của hành vi khác nói trongđiều luật Cũng như các hành vi dùng vũ lực và hành vi đe doạ dùng vũ lực ngaytúc khắc, hành vi khác này dù dưới hình thức cụ thể nào cũng đều phải làm cho

người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm mới thoả

mãn dấu hiệu hành vi khách quan của tội cướp tài sản và tội phạm được coi làhoàn thành.

Theo quy định của Điều 133 BLHS, tội cướp tài sản được coi là hoànthành khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi: dùng vũ lực, đe doạdùng vũ lực ngay tức khắc, hành vi khác và đã làm cho người bị tấn công lâmvào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản Việc ngườiphạm tội chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải là dấu hiệu bắt buộc củatội phạm này và cũng không phải là dấu hiệu để xác định thời điểm hoàn thànhcủa tội cướp tài sản.theo quy định của Điều 133 BLHS phải hiểu các hành vi: dù

Trang 11

là dùng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hay là hành vi khác thì cáchành vi này đều phải dẫn đến việc làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạngkhông thể chống cự được và việc thực hiện các hành vi và gây ra hậu quả đó lànhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, đây là sự liên kết giữa hành vi và mục đíchcủa hành vi trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội cướp tài sản và cũng là dấuhiệu cho phép phân biệt tội cướp tài sản và các tội phạm khác có hành vi kháchquan giống với hành vi khách quan của tội cướp tài sản nhưng hành vi đó đượcthực hiện không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản nên không phải là cướp tàisản Không phải khi nào hành vi "dùng vũ lực", "đe doạ dùng vũ lực ngay tứckhắc" hoặc "hành vi khác" cũng luôn dẫn đến hậu quả là "làm cho người bị tấncông lâm vào tình trạng không thể chống cự được (trong thực tế do tính chấtnguy hiểm của hành vi thường người bị tấn công đã lâm vào tình trạng khôngthể chống cự được) Bởi vì, việc người bị tấn công có thể "lâm vào tình trạngkhông thể chống cự được, hay không lâm vào tình trạng đó là phải căn cứ vàotính chất và khả năng nguy hiểm của hành vi thực tế, vào hoàn cảnh xảy ra hành

vi và vào khả năng chống cự lại của người bị tấn công và các nguyên nhânkhác… Việc người bị tấn công có chống cự được hay không là nằm ngoài ý thứcchủ quan của người phạm tội Khi người bị tấn công không bị lâm vào tình trạngkhông thể chống cự được thì mong muốn "làm cho người bị tấn công lâm vàotình trạng không thể chống cự được nhằm " của người phạm tội chưa đạt được,đây chính là trường hợp "cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện đượcđến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội" (Điều 18BLHS) Sẽ là sai lầm khi cho rằng vì người bị tấn công chống cự lại mà hành vitấn công mất đi tính chất nguy hiểm của hành vi đó và không phạm tội cướp tàisản hay chuyển sang tội danh khác, hành vi tấn công này vẫn là hành vi phạm tộicướp tài sản và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nếu hành vi tấn công đóđược thực hiện nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Lại càng không thể cho rằng

đã có hành vi tấn công "dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc" hoặc

“hành vi khác” nhằm chiếm đoạt tài sản dù người bị tấn công không bị "lâm vào

Trang 12

tình trạng không thể chống cự được" là đã thoả mãn dấu hiệu hành vi kháchquan của tội cướp tài sản và tội phạm được coi là hoàn thành vì khi người bị tấncông chưa hay không bị "lâm vào tình trạng không thể chống cự được” thì hành

vi đã thực hiện chưa đáp ứng được đòi hỏi của điều luật là " dùng vũ lực đedoạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn cônglâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản" dấu hiệu

“làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được” là mộttrong những dấu hiệu đặc trưng của tội cướp tài sản cho phép phân biệt tội này

và một số tội khác không có dấu hiệu đó như tội cưỡng đoạt tài sản, tội bắt cócnhằm chiếm đoạt tài sản

b Đối tượng mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi

Đối tượng mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạttài sản, mà ta cần làm rõ bao gồm: chủ sở hữu tài sản và người quản lý tài sản

* Chủ sở hữu tài sản: Theo pháp luật dân sự, chủ sở hữu tài sản là người có đầy

đủ 3 quyền năng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sảntheo quy định của pháp luật Có đầy đủ 3 quyền này mới là chủ sở hữu hợp phápđối với tài sản và được pháp luật bảo vệ Hay nói cách khác, chủ sở hữu là người

có quyền: tự nắm giữ, quản lý, chi phối tài sản theo ý mình mà không bị hạnchế, gián đoạn về thời gian; có quyền khai thác các công dụng, lợi ích, giá trịcủa tài sản và quyết định về số phận của tài sản đó.Như vậy, với việc thực hiện 3quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản, thì chủ sở hữu tài sản làđối tượng chủ yếu mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi

*Người quản lý tài sản Có thể chia người quản lý tài sản thành 2 dạng:

trực tiếp và gián tiếp

- Người quản lý tài sản trực tiếp:

+ Là những người được chủ sở hữu phân công quản lý tài sản, giao tài sảncho để quản lý, cho mượn, cho thuê, hoặc có được do ký kết các hợp đồng giaodịch… và những tài sản này đang trong vòng kiểm soát trực tiếp của người đó

Trang 13

+ Là trường hợp người quản lý tài sản giao tài sản cho người thứ 3 đểquản lý.

Ví dụ: Trường hợp mượn tài sản rồi lại cho người khác mượn lại; hoặctrường hợp Công ty A đi thuê tài chính 1 chiếc ô tô của Công ty B, rồi giao lại ô

tô cho lái xe quản lý, sử dụng…

Người quản lý tài sản gián tiếp:

+ Là người do tính chất công việc nên có trách nhiệm bảo vệ, trông coi,canh giữ tài sản nhưng không trực tiếp nắm giữ tài sản

Vấn đề đặt ra Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội cướp tài sảntrên ơ sở quy định pháp luật với thực tiễn xét xử đó là:

Trong thời gian thực tập, được tiếp xúc thực tiễn hồ sơ xét xử vụ án chothấy vấn đề hành vi của đối tượng phạm tội thỏa mãn của nhiều cấu thành tộiphạm mà quy định luật xác định hành vi cấu thành tội cụ thể từng tội do vậy mà

xá định tội danh còn nhiều phức tạp vì vậy việc giải quyết vấn đề này về mặt lýluận có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn, giúp cơ quan bảo vệ pháp luật xét

xử đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòngchống tội phạm

ví dụ hành vi cố ý gây thương tích cho người khác từ 11% trở lên nhằmchiếm đoạt tài sản: đều thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội cố ý gây thương tích vàtội cướp tài sản nhưng chỉ xét xử tội cướp tài sản.tuy nhiên trong trường hợpgiết người cướp tài sản lại xét xử 2 tội: tội giết người( Đ 93BLHS 1999) và tộicướp tài sản (Đ 133 BLHS 1999)

Ngày đăng: 01/09/2021, 10:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo thống kê hình sự, thống kê tội phạm của viện kiểm sát quân sự khu vực 41 Khác
2: Bình luận khoa học bộ luật hình sự phần các tội phạm – nxb Công an nhân dân – 2001 Khác
3: Giáo trình tội phạm học trường đại học luật Hà Nội - nxb Công an nhân dân – 2001 Khác
4: Giáo trình luật hình sự trường đại học luật Hà Nội - nxb Công an nhân dân – 2001 Khác
5: giáo trình luật tố tụng hình sự trường đại học luật Hà Nội - nxb Công an nhân dân – 2001 Khác
6: Bộ luật hình sự - 1999 chỉnh sửa bổ sung năm 2009 7: Bộ luật tố tụng hình sự - 2004 Khác
8: các văn bản pháp luật - luật tổ chức viện kiển sát nhân dân 2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w