1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật thương mại việt nam năm 2005 những vấn đề lý luận và thực tiễn doc

82 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Tài Bồi Thường Thiệt Hại Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Theo Luật Thương Mại Việt Nam Năm 2005 Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 382,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích Dựa trên việc phân tích chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng muabán hàng hóa, trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá một cách khách quan thực trạng,thực thi các quy định của Luật

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mua bán hàng hóa có một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sốngkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trong hoạt động thương mại thì mua bánhàng hóa là hoạt động chính, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng Nó khôngchỉ kích thích sức sản xuất mà còn góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tếcủa đất nước Hiện nay, mua bán hàng hóa không đơn thuần dừng lại trongphạm vi quốc gia mà còn nhanh chóng lan nhanh sang các quốc gia khác trênthế giới

Ở nước ta, trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung nền kinh tế mang tính

tự cung tự cấp là chính, diễn ra nhỏ lẻ và tương đối giống nhau về bản chất,hoạt động thương mại nói chung và mua bán hàng hóa nói riêng diễn ra trongmột khuôn khổ chật hẹp, với việc được điều chỉnh bằng một hệ thống có hiệulực pháp lý thấp, nhằm giải quyết các vấn đề do thực tiễn cơ chế quản lý kếhoạch hoá tập trung

Hiện nay, với việc được điều chỉnh bằng một khung hệ thống pháp luậtmang tính chặt chẽ, hiệu lực pháp lý cao đã tạo bước ngoặt trong hoạt độngthương mại của thương nhân

Với nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, các vấn đề nảy sinhkhi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ngày càng lớn với sự phức tạp ngàycàng gia tăng Nếu như trước đây, các quan hệ diễn ra đơn thuần chỉ mangtính tự phát và nhỏ lẻ thì hiện nay các quan hệ mua bán hàng hóa ngày càng

đa dạng và phức tạp hơn

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam Đại hội hoạch định đường lối đổi mới, khởi xướng công cuộc đổi mới kinh tế,

Trang 2

-tạo ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng pháp luật ở Việt Nam Trong đó

hệ thống pháp luật thương mại được đặc biệt chú trọng

Luật thương mại được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua ngày 10/05/1997 đã đánh dấu bước phát triển mới của hệthống pháp luật thương mại Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật đồng bộ, khoa học phù hợp với định hướng xây dựng nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Có thểnói Luật thương mại năm 1997, trong đó có các quy định về thương mại đãthực sự tạo ra khuôn khổ pháp lý quan trọng trong hoạt động thương mại pháttriển, trên cơ sở đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng của cácthương nhân, bước đầu phù hợp với pháp luật và tập quán thương mại quốc

tế Khi nhà nước bắt tay xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nềnkinh tế mới đa hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh thì vấn đề pháp lýgiải quyết các tình huống đó lại gặp nhiều vấn đề khó khăn cả về chiều rộng

và chiều sâu Tự do, năng động, sáng tạo, nhạy bén là thuộc tính khách quan

và là yêu cầu của nền kinh tế thị trường nhưng gắn liền với nó lại là nguy cơgian lận trong kinh doanh, thương mại…Hơn thế nữa, một nền kinh tế khôngchỉ bó hẹp trong phạm vi của quốc gia mình mà nó còn lan rộng và phát triển

ra các quốc gia khác nữa Để tạo một hành lang pháp lý chặt chẽ đủ sứcthuyết phục, buộc các nhà kinh doanh, các thương nhân phải hành xử theo đó,ngày 14/11/2005 Quốc hội đã ban hành Luật thương mại số 36/2005- QH 11quy định về Luật thương mại chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm

2006, thay thế cho Luật thương mại năm 1997

Khác với Luật thương mại năm 1997, Luật thương mại năm 2005 quyđịnh đầy đủ và chi tiết về mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa vàcác vấn đề khác xung quanh vấn đề bồi thường thiệt hại trong hợp đồng muabán hàng hóa… Nhưng, với nền kinh tế sôi động như hiện nay việc thực hiện

Trang 3

hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng córất nhiều khía cạnh cần phải quan tâm chú ý

Trong nội dung của Luật thương mại thì bồi thường thiệt hại trong hợpđồng mua bán hàng hóa là vấn đề vô cùng quan trọng Bồi thường thiệt hạitrong hợp đồng mua bán hàng hóa là thể hiện mối quan hệ vật chất giữa cácbên trong hợp đồng, là vấn đề rất khó giải quyết trong nhiều trường hợp ảnhhưởng đến lợi ích của các bên Việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm khôi phục lại những lợi ích đã bịxâm phạm, và bù đắp những thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm pháp luật gây

ra Đây là công cụ pháp lý được nhà nước sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích

và giáo dục ý thức tuân theo pháp luật của các chủ thể Để có được cách giảiquyết chung cho các trường hợp này Luật thương mại đã có những quy định

về vấn đề bồi thường như thế nào, tạo một cơ sở pháp lý cho hoạt độngthương mại của thương nhân đi vào khuôn khổ hơn Thế nhưng mỗi trườnghợp thì vấn đề bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa này lạiđược giải quyết khác nhau căn cứ vào mức độ và phạm vi của hành vi viphạm Do đó, với sự phong phú của các quan hệ mua bán thì kéo theo sự đadạng trong cách giải quyết các vấn đề phát sinh xung quanh nó

Với tất cả các lý do trên mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại Việt Nam năm 2005 Những vấn đề lý luận và thực tiễn” nhằm góp phần làm

sáng tỏ và hiểu rõ hơn những quy định của Luật thương mại năm 2005 vềtrách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và chế tài bồithường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng

Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận cũngnhư thực tiễn

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Với sự quan trọng và tính thực tế cao, chế tài bồi thường thiệt hại tronghợp đồng mua bán hàng hóa đã thu hút sự quan tâm và thu hút được rất nhiềucác nhà khoa học cũng như các nhà nghiên cứu Trong những năm qua, giớinghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình nghiên cứu, bài nghiêncứu có liên quan đến vấn đề này với mức độ và phạm vi khác nhau như:

- Luận án tiến sĩ của Trương Văn Dũng năm 2003 “Trách nhiệm do vi

phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”.

- Luận án tiến sĩ của PGS.TS Phạm Hữu Nghị năm 1996 “Chế độ hợp

đồng trong nền kinh tế thị trường Việt Nam ở giai đoạn hiện nay”.

- Bài viết của tác giả Phạm Thị Trong “Vi phạm hợp đồng được dự

đoán trước - sự cần thiết phải điều chỉnh trong pháp luật hợp đồng của Việt Nam”.

- Bài viết của tác giả Đỗ Văn Đại “Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp

luật thực định Việt Nam”, tạp chí tòa án nhân dân số 19/ 2007.

- Bài viết của tác giả Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ “Một số ý

kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, tạp chí khoa học pháp lý số 01/2005.

- Bài viết “Tác động của hình thức lỗi đến việc xác định hợp đồng nhìn

từ góc độ nguyên tắc trung thực và thiện chí”, tạp chí khoa học pháp lý số

01/2007

Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã tập trung nghiêncứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh yêu cầu xây dựng và hoànthiện pháp luật thương mại của Việt Nam Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứucủa các công trình đặt ra khác nhau nên các công trình đó không đi sâu vàovấn đề chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy

Trang 5

vậy, các công trình nói trên là những tài liệu rất quý giá cho tôi cũng nhưnhững người muốn nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến trong quátrình nghiên cứu của riêng mình.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

3.1 Mục đích

Dựa trên việc phân tích chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng muabán hàng hóa, trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá một cách khách quan thực trạng,thực thi các quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về bồi thườngthiệt hại, cùng với việc tìm ra những khó khăn, bất cập trong quá trình giảiquyết các vấn đề xung quanh chế tài này, khóa luận có đề xuất những giảipháp nhằm giúp cho quá trình thực thi pháp luật và giải quyết được đúng đắn

và chính xác, phù hợp với các quy định của pháp luật cũng như với thực tiễntrong đời sống kinh tế của nước ta hiện nay

Cùng với nền kinh tế hiện nay, việc hiểu rõ và tuân thủ pháp luật là mộttrong những vấn đề hàng đầu giúp cho các quy định của pháp luật được hiệnthực hóa trong đời sống là vô cùng quan trọng Chính vì vậy, qua việc nghiêncứu, tìm hiểu chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa sẽgiúp cho chúng ta hiểu rõ hơn, đồng thời với các chế tài như vậy sẽ tạo tâm lýcho các thương nhân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật

Trang 6

- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng những quy định về chế tài bồithường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại ViệtNam năm 2005.

- Phân tích, đánh giá một cách sâu sắc những bất cập, hạn chế trong cácquy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 về chế tài bồi thường thiệthại trong hợp đồng mua bán hàng hóa

- Đề xuất những phương hướng và những giải pháp cụ thể nhằm tiếptục hoàn thiện các quy định của Luật thương mại Việt Nam về chế tài bồithường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa, trên cơ sở đó giúp chothực tiễn thi hành những quy định này được hiện thực hóa và đạt hiệu quảcao hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài, tác giả khóa luận sử dụng phương pháp luận củachủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chủ trương,đường lối của Đảng và nhà nước và pháp luật Đặc biệt, khóa luận được thựchiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam vànhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần, vận dụng theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong xu thế hội nhập kinh tếquốc tế

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:Phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp sosánh luật học, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp điều tra xã hội Trong đó, phương pháp tổng hợp và phân tích là phương pháp chủ yếu đượctác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu hoàn thành đề tài này

Trang 7

5 Những đóng góp khoa học của khóa luận

- Khóa luận nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơbản về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung

và chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêngtheo Luật thương mại Việt Nam năm 2005

- Khóa luận phân tích, đánh giá một cách khách quan thực trạng ápdụng Luật thương mại 2005 về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồngmua bán hàng hóa, từ đó chỉ ra những bất cập, khó khăn để từ đó có cách giảiquyết phù hợp hơn với tình hình thực tế của xã hội Việt Nam

- Khóa luận đã đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể để tiếp tụchoàn thiện các quy định của Luật thương mại năm 2005 về chế tài bồi thườngthiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng

và phát triển kinh tế nói chung cũng như yêu cầu phát triển của hoạt độngmua bán hàng hóa và pháp luật về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng muabán hàng hóa trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt trước xu thế hội nhập kinh tếquốc tế

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

* Về mặt lý luận: Đề tài đã nghiên cứu, làm rõ và đánh giá một cáchđúng đắn về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng, trong đógiúp cho chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa đượcthực hiện một cách nghiêm túc theo khuôn khổ của pháp luật Giúp bổ sungnguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành luật kinh tế, giúp ngườinghiên cứu có thêm nguồn tài liệu để tham khảo

* Về mặt thực tiễn: Các tài liệu trong lĩnh vực nghiên cứu học thuậtliên quan đến chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóanhư: trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa, lỗi trong phạt hợpđồng hay bồi thường thiệt hại trong thương mại quốc tế, vi phạm hợp đồng…

Trang 8

có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài Trên cơ sởphân tích, đánh giá, bình luận khóa luận chỉ ra những bất cập, những tìnhhuống khác nhau của chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bánhàng hóa theo Luật thương mại năm 2005, để từ đó đưa ra một số giải phápgóp phần hoàn thiện hơn nữa chế tài bồi thường thiệt hại này, trên cơ sở đógiúp cho quá trình thực thi và hiện thực hóa các quy định của pháp luật.

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dungluận văn bao gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp

đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại Việt Nam năm 2005.

Chương 2 Thực tiễn áp dụng các quy định về chế tài bồi thường thiệt

hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

Chương 3 Giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Luật thương

Việt Nam năm 2005 về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

Trang 9

B NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG

MẠI VIỆT NAM NĂM 2005

1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.

1.1.1.Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa

Quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thôngqua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bánhàng hóa có bản chất chung của hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thayđổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán

“Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại theo đó bên bán có nghĩa

vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu theo thỏa thuận” (Khoản 8 điều 3 Luật thương mại năm 2005).

Hợp đồng mua bán hàng hóa là công cụ pháp lý quan trọng và có hiệuquả nhằm thúc đẩy quan hệ giao lưu mua bán hàng hóa phát triển, đảm bảocho các quan hệ tài sản khi trao đổi được thực hiện trong hành lang pháp lý antoàn theo những nguyên tắc đặc trưng của pháp luật thương mại Hợp đồngmua bán hàng hóa cũng là phương tiện pháp lý quan trọng để các chủ thể củapháp luật thương mại thỏa mãn nhu cầu vật chất trong sản xuất kinh doanh,góp phần xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa

Luật thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợpđồng mua bán hàng hóa song có thể xác định bản chất pháp lý của hợp đồngmua bán hàng hóa trong thương mại trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự vềhợp đồng mua bán tài sản Một hợp đồng mua bán có thể thỏa thuận về việcmua bán hàng hóa ở hiện tại hoặc mua bán hàng hóa sẽ có ở một thời điểm

Trang 10

nào đó trong tương lai Bất cứ khi nào một người mua bán bằng tiền hoặcphương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hóa thì khi đó hìnhthành nên quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa.

Như vậy, có thể thấy hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữacác thương nhân với nhau, hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác vềviệc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bêntrong quan hệ mua bán hàng hóa

1.1.2.Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Có thể xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợpđồng mua bán tài sản trong dân sự theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cáichung và cái riêng Bên cạnh đó, để phù hợp với bản chất thương mại của hợpđồng mua bán hàng hóa một số vấn đề như chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa

vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa, chế tài và giải quyết tranhchấp hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định trong pháp luật thươngmại có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyềnthống về hợp đồng mua bán tài sản Với tư cách là hình thức pháp lý của hợpđồng mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhấtđịnh xuất phát từ bản chất thương mại của hợp đồng mua bán hàng hóa

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập chủ yếu giữacác chủ thể là thương nhân Theo quy định của Luật thương mại năm 2005,thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạtđộng thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh.Thương nhân là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thươngnhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài (trong hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế) Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải

Trang 11

là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa.

Thứ hai, về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thiết lập theocách thức nào mà các bên thỏa thuận được sự mua bán hàng hóa giữa cácbên Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lờinói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trongtrường hợp nhất định pháp luật bắt buộc các bên thiết lập hợp đồng muabán bằng hình thức văn bản Điều 24 Luật thương mại năm 2005 cũng quy

định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn

bản hoặc được xác định bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”.

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một ví dụ bắt buộc hình thứccủa hợp đồng phải được lập thành văn bản Theo quy định của Luật thươngmại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được thể hiện dưới hình thứcvăn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như: điện báo,TELEX, FAX, thông điệp dữ liệu

Thứ ba, về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa

Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng mua bán làhàng hóa Hiểu theo nghĩa thông thường hàng hóa là sản phẩm lao động củacon người, được tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Cùng với sựphát triển của xã hội hàng hóa ngày càng phong phú và đa dạng Luật thương

mại năm 2005 quy định: “Hàng hóa bao gồm: (i) Tất cả các loại động sản, kể

cả động sản hình thành trong tương lai; (ii) Những vật gắn liền với đất đai”.

Với cách hiểu về hàng hóa như vậy, hàng hóa là đối tượng của mua bán có thể

là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa

có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại

Trang 12

Thứ tư, về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa

Nội dung của hợp đồng mua bán thể hiện quyền và nghĩa vụ của cácbên trong quan hệ mua bán, được quy định tại Điều 402 BLDS 2005:

“Tùy theo từng loại hợp đồng các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây:

1 Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm;

2 Số lượng, chất lượng;

3 Giá, phương thức thanh toán;

4 Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

5 Quyền, nghĩa vụ của các bên;

6 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

7 Phạt vi phạm hợp đồng;

8 Các nội dung khác”.

1.2.Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa

Khi một hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định có hiệu lực phápluật, các bên có nghĩa vụ thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận Việc vi phạmcác nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán (không thực hiện, thực hiện không đúng,không đầy đủ các nghĩa vụ), sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài

do pháp luật quy định Về bản chất, trách nhiệm do hợp đồng mua bán là dạng

cụ thể của trách nhiệm pháp lý phát sinh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa

Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặcđiểm cơ bản là: (i) Được áp dụng trên cơ sở hành vi vi phạm hợp đồng muabán có hiệu lực pháp luật; (ii) Nội dung gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụtheo hợp đồng hoặc trách nhiệm về tài sản; (iii) Do cơ quan, tổ chức có thẩmquyền áp dụng hoặc do bên bị vi phạm áp dụng trên cơ sở pháp luật

Trang 13

1.3 Căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa

Với tính chất là một loại trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm do vi phạmhợp đồng mua bán hàng hóa được áp dụng khi có những căn cứ do pháp luậtquy định Với mỗi hình thức chế tài căn cứ áp dụng có những hình thức khácnhau nhất định, phù hợp với tính chất và mục đích của hình thức chế tài đó

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn khoa học pháp lý về lỗi trong quan hệ

mua bán, Điều 230 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Căn cứ phát sinh

trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định bốn yếu tố cấu thành trách nhiệm

do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra, hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại thực tế, có lỗi của bên vi phạm”.

1.3.1 Có hành vi vi phạm hợp đồng

Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý để áp dụng đối với tất cảcác hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng Hành vi vi phạm hợp đồng muabán hàng hóa là cách xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp vớinghĩa vụ hợp đồng

Biểu hiện cụ thể của vi phạm hợp đồng mua bán là việc không thựchiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ hợp đồng.Vì vậy,khi xem xét hành vi có vi phạm hợp đồng mua bán hay không phải căn cứ vàohợp đồng và các quy định về hợp đồng mua bán

Trong mua bán hàng hóa, việc người bán không giao hàng, người muakhông trả tiền hàng sẽ bị coi là hành vi không thực hiện hợp đồng, và như vậynếu hợp đồng được ký kết theo đúng quy định của pháp luật thì hành vi viphạm pháp luật này sẽ được coi là hành vi vi phạm pháp luật Mặt khác, việcngười bán không thực hiện đầy đủ, thực hiện không tốt hợp đồng như giaohàng thiếu, giao hàng chậm, giao hàng không đúng phẩm chất quy cách đã

Trang 14

thỏa thuận và người mua thiếu tinh thần thiện chí trong thực hiện hợp đồngnhư không chịu nhận hàng cũng bị coi là vi phạm hợp đồng.

Như vậy, chỉ khi nào các chủ thể hợp đồng thực hiện đúng nguyêntắc chấp hành mua bán hàng hóa sau thì mới được coi là không vi phạmhợp đồng:

+ Thực hiện đúng hợp đồng, đúng số lượng, đối tượng, chất lượng,chủng loại, thời hạn, phương thức và các hình thức thỏa thuận khác

+ Thực hiện một cách trung thực theo tinh thần hợp tác và có lợi nhấtcho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau

+ Không được xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền vàlợi ích chính đáng của người khác

1.3.2 Có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra

Thiệt hại vật chất thực tế do vi phạm hợp đồng mua bán gây ra là yếu

tố cần thiết, đăc biệt trong trường hợp muốn quy trách nhiệm đòi bồi thườngthiệt hại thì đây là căn cứ bắt buộc phải có Đối với các hình thức chế tàikhác, thiệt hại thực tế có thể coi là tình tiết để xác định mức độ nặng nhẹ củachế tài được áp dụng Thông thường thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánhchịu có thể là thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần Song, Luật thươngmại năm 2005 cũng như luật các nước thường chỉ thừa nhận thiệt hại tài sản(thiệt hại vật chất) mới là yếu tố để quy trách nhiệm

Thiệt hại thực tế là những thiệt hại có thể tính được thành tiền màbên bị vi phạm phải gánh chịu Thiệt hại thực tế được chia làm hai loại làthiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp Trong đó, thiệt hại trực tiếp lànhững thiệt hại đã xảy ra trên thực tế, có thể tính toán một cách dễ dàng vàchính xác

Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại phải dựa trên những phán đoánkhoa học (trên cơ sở những chứng cứ, tài liệu) mới có thể xác định được Biểu

Trang 15

hiện cụ thể của thiệt hại gián tiếp là thu thập thực tế bị mất, bị giảm sút, khoảnlợi đáng lẽ được hưởng mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu Đây chính

là những khoản mà khi ký kết hợp đồng các bên đều mong đợi Những khoảnlợi này dù trên thực tế nếu không có vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm cónhận được hay không không quan trọng mà cứ có vi phạm gây thiệt hại làmmất khoản lợi dư trước đó, bên bị vi phạm vẫn được quyền đòi bên vi phạm

Về nguyên tắc, bên bị vi phạm chỉ được đòi bồi thường những khoảnthiệt hại trong phạm vi do pháp luật quy định Đối với hợp đồng trong lĩnhvực thương mại, Luật thương mại năm 2005 quy định về các khoản thiệt hại

do vi phạm hợp đồng bao gồm: giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị viphạm phải gánh chịu do bên vi phạm gây ra, và những khoản lợi trực tiếp màbên bị vi phạm lẽ ra được hưởng Nếu trường hợp bên vi phạm chậm thanhtoán tiền thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền trả chậmtương ứng với thời gian chậm trả (Điều 306 Luật thương mại năm 2005)

1.3.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế

Về phương diện triết học, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạmhợp đồng và thiệt hại thực tế được xác định bằng hành vi vi phạm và thiệt hạithực tế có mối liên hệ nội tại, tất yếu; hành vi vi phạm là nguyên nhân trựctiếp gây ra thiệt hại Bên có hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thườngthiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng

Trong trường hợp thiệt hại xảy ra không phải do hành vi vi phạm gâynên thì bên có hành vi vi phạm không phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó

Trên thực tế một hành vi vi phạm hợp đồng có thể gây ra nhiều khoảnthiệt hại và một khoản thiệt hại có thể được sinh ra do nhiều hành vi vi phạmhợp đồng Trong khi đó các chủ thể hợp đồng, đặc biệt là các chủ thể kinhdoanh, có thể cùng lúc tham gia nhiều quan hệ hợp đồng khác nhau Vì vậy,

Trang 16

việc xác định chính xác mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng

và thiệt hại thực tế không phải bao giờ cũng dễ dàng, sẽ rất dễ nhầm lẫn nếuchỉ dựa vào suy nghĩ chủ quan Điều này đòi hỏi bên bị vi phạm khi đòi bồithường thiệt hại cũng như các cơ quan tài phán khi áp dụng chế tài bồi thườngthiệt hại đối với bên vi phạm phải dựa trên những chứng cứ rõ ràng, xác thực

và hợp pháp

1.3.4 Có lỗi của bên vi phạm

Lỗi của bên vi phạm hợp đồng là căn cứ bắt buộc phải có để áp dụngđối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng Vì vậy, khi xác địnhlỗi của chủ thể là tổ chức vi phạm hợp đồng để xác định trách nhiệm hợpđồng phải căn cứ vào lỗi của người đại diện cho tổ chức đã giao kết và thựchiện hợp đồng Trách nhiệm hợp đồng được xác định dựa trên nguyên tắc lỗisuy đoán, theo đó mọi hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợpđồng đều bị suy đoán là có lỗi (trừ trường hợp bên vi phạm chứng minh được

là mình không có lỗi) Khi áp dụng chế tài đối với bên vi phạm, bên bị viphạm cũng như cơ quan tài phán không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên

vi phạm Pháp luật Việt Nam đã có sự phân biệt giữa hai hình thức lỗi là lỗi

cố ý và lỗi vô ý Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồngthì hình thức lỗi hoàn toàn không ảnh hưởng đến giới hạn và phạm vi củatrách nhiệm, hay nói đúng hơn là không ảnh hưởng đến mức độ bồi thườngthiệt hại

Khi bị quy trách nhiệm, bên vi phạm muốn thoát trách nhiệm phảichứng minh là mình không có lỗi, chừng nào không chứng minh được thìđương nhiên vẫn bị coi là có lỗi và phải chịu trách nhiệm

Trang 17

1.4 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại Việt Nam năm 2005

Khi vi phạm hợp đồng trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên vi phạmphải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm thông qua các hình thức tráchnhiệm gọi là chế tài

Tùy thuộc vào các vi phạm và các quy định khác nhau trong hợp đồng

mà các chế tài khác nhau được áp dụng Luật thương mại Việt Nam năm 2005dành hẳn mục 1 chương VII để quy định các chế tài áp dụng cho việc vi phạmhợp đồng trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Theo điều 292, Luật thương mại Việt Nam năm 2005, các chế tài trongthương mại bao gồm:

+ Buộc thực hiện đúng hợp đồng+ Phạt vi phạm

+ Bồi thường thiệt hại+ Tạm ngừng thực hiện hợp đồng+ Đình chỉ thực hiện hợp đồng+ Hủy hợp đồng

1.4.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng

Buộc thực hiện đúng hợp đồng mua bán là hình thức chế tài, theo đóbên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theoyêu cầu của bên bị vi phạm

Căn cứ để áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là có hành

vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm Biểu hiện cụ thể của việc

áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêucầu bên vi phạm thực hiện đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc dùng cácbiện pháp khác để hợp đồng thực hiện (tự sửa chữa khuyết tật của hànghóa, thiếu sót của hàng hóa, dịch vụ, mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ

Trang 18

của người khác theo đúng hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng ) và bên

vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh Những trường hợp bên bị vi phạm vàbên vi phạm thỏa thuận gia hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc thỏa thuận thay thếnghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác không được coi là áp dụng chế tài buộcthực hiện đúng hợp đồng

Theo điều 297, Luật thương mại khi áp dụng chế tài buộc thực hiệnđúng hợp đồng bên bị vi phạm có thể lựa chọn hoặc yêu cầu bên vi phạm thựchiện đúng hợp đồng hoặc lựa chọn các hình thức khác để hợp đồng được thựchiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh Chế tài buộc thực hiện đúnghợp đồng theo Luật thương mại được đặt ra khi có vi phạm về số lượng, chấtlượng hàng hóa, yêu cầu kỹ thuật của công việc Bên bị vi phạm cũng có thể

tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ và yêu cầu bên viphạm phải trả các chi phí hợp lí

Trên thực tế khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, để bảo vệ quyềnlợi cho mình, bên bị vi phạm không phải lúc nào cũng cứng nhắc đòi bên kiathực hiện đúng nghĩa vụ như giao hàng thêm (nếu như giao hàng thiếu), haytìm biện pháp khắc phục khuyết tật của hàng hóa hoặc thay thế bằng hàng hóakhác (nếu giao hàng kém chất lượng), nhất là trong trường hợp bên vi phạmgặp nhiều khó khăn và chi phí để làm được như vậy và thậm chí bên bị viphạm cũng có thể bị thiệt hại hơn

Trong trường hợp này, tức là khi bên vi phạm không thực hiện các quyđịnh nói trên, tại khoản 3, 4 điều 297 của Luật thương mại năm 2005 cũng thểhiện sự linh hoạt khi quy định cụ thể rằng: Bên có quyền lợi bị vi phạm cóquyền mua hàng hay nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theođúng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng, khi đó bên vi phạm phải bùchênh lệch nếu có Đây cũng là giải pháp mà Công ước viên 1980 đưa ra khibên bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu Ví dụ, khi bên vi phạm giao

Trang 19

hàng thiếu, bên bị vi phạm không nhất thiết phải chờ bên vi phạm giao hàng

đủ mà có thể mua ngay hàng khác cùng chủng loại của người cung cấp khác

để không mất thời cơ kinh doanh của mình Tất nhiên để bảo vệ cho quyền lợicủa bên bị vi phạm bên vi phạm phải có trách nhiệm đền bù chi phí phát sinh

Nếu bên có quyền lợi vi phạm tự sửa chữa khuyết tật, thiếu sót củahàng hóa, dịch vụ thì bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý Rõ ràng

là giải pháp này vừa giúp các bên tiếp tục quan hệ hợp đồng, vừa hạn chếthiệt hại Theo quy định này bên vi phạm phải trả “các chi phí thực tế hợp lý”.Nói cách khác nếu bên bị vi phạm viện cớ sửa chữa khuyết tật của hàng hóa

để đòi bên kia các chi phí không liên quan đến việc sửa chữa khuyết tật đóhoặc đòi hỏi các chi phí vô lý quá cao so với thực tế thì bên vi phạm sẽ khôngphải trả các chi phí đó

Khi bên vi phạm đã thực hiện đúng các quy định nói trên tức là giao

đủ hàng với trường hợp giao hàng thiếu và sửa chữa khuyết tật, thiếu sótcủa hàng hóa nếu giao hàng đúng phẩm chất thì “bên có quyền lợi vi phạmphải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, phí dịch vụ” (khoản

4, điều 297)

Để cho bên vi phạm thực hiện được nghĩa vụ nói trên, Luật thương mạinăm 2005 còn cho phép bên có quyền lợi bị vi phạm có thể gia hạn một thờigian hợp lý (Điều 298) Song việc gia hạn này không có nghĩa là thay đổi điềukhoản về thời hạn giao hàng Thời hạn giao hàng nếu có sự thay đổi là do haibên thỏa thuận, còn việc gia hạn chỉ là quyết định đơn phương của bên bị viphạm nhằm bảo vệ lợi ích của mình Nếu hết thời hạn ấn định mà bên mà bên

vi phạm vẫn không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị viphạm được thực hiện các chế tài khác để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình(khoản 2, điều 299) Tuy nhiên, khoản 1, điều 299 của Luật thương mại năm

2005 lại quy định rõ rằng: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, trong thời

Trang 20

gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyềnyêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng cácchế tài khác”.

Như vậy, buộc thực hiện đúng hợp đồng là chế tài nhẹ nhất trong cácloại chế tài và là tiền đề để thực hiện các chế tài khác Biện pháp này bảo vệquan hệ hợp đồng và giúp các bên đạt được những lợi ích mà họ hướng đếnkhi giao kết hợp đồng

1.4.2 Phạt hợp đồng

Phạt hợp đồng mua bán là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo

đó bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhấtđịnh do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận trên cơ sở quy địnhcủa pháp luật Chế tài phạt hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tácđộng vào ý thức của các chủ thể hợp đồng nhằm giáo dục ý thức tôn tronghợp đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng Với mục đích như vậy, phạt hợpđồng được áp dụng một cách phổ biến đối với các vi phạm hợp đồng

Theo điều 300, Luật thương mại năm 2005 quy định như sau: “Phạt vi

phạm là bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền nhất định do

vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm do pháp luật quy định tại điều 294 của luật này”.

Từ định nghĩa trên ta thấy, phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi tronghợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định sẽ áp dụng chế tài này chonhững vi phạm nhất định và không phụ thuộc vào bên bị vi phạm có thiệt hạihay không

Như vậy, phạt hợp đồng là việc bên vi phạm trả cho bên bị vi phạmmột khoản tiền do đã có hành vi vi phạm và nó chỉ được áp dụng nếu tronghợp đồng đó có thỏa thuận về vấn đề này Đây là một chế tài rất hay được sửdụng trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hợp đồng kinh tế Chế

Trang 21

tài phạt hợp đồng được quy định nhằm mục đích chủ yếu là trừng phạt, răn đetác động vào ý thức của các chủ thể hợp đồng nhằm giáo dục ý thức tôn trọngthực hiện hợp đồng, buộc các chủ thể phải triệt để tuân thủ nghĩa vụ theo hợpđồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng.

Phạt vi phạm thực hiện hai chức năng: Thứ nhất, phạt vi phạm được

xem là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi

vi phạm nghĩa vụ, nó thúc đẩy các bên thực hiện nghĩa vụ dưới sự đe dọa phải

chịu hậu quả bất lợi do không thực hiện nghĩa vụ; Thứ hai, khi có sự vi phạm

thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, bởi vì bản chấtcủa việc trả tiền phạt vi phạm là sự đề bù vật chất cho bên bị vi phạm

Theo Luật thương mại năm 2005, chế tài phạt chỉ được áp dụng nếutrong hợp đồng có thỏa thuận về việc áp dụng chế tài này Mặt khác, để ápdụng hình thức chế tài này cần phải có hai căn cứ là có hành vi vi phạm hợpđồng và có lỗi của bên vi phạm hợp đồng

Ở đây, Luật thương mại năm 2005 không quy định rằng, khi áp dụngchế tài phạt vi phạm bên có quyền lợi bị vi phạm phải có nghĩa vụ chứngminh được là bên kia vi phạm và vi phạm đó thuộc diện áp dụng chế tài phạt

vi phạm theo hợp đồng hoặc pháp luật quy định thì hoàn toàn có thể yêu cầubên vi phạm trả tiền phạt

Về mức tiền phạt, pháp luật Việt Nam quy định tối đa mức phạt viphạm, không phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên Theo điều 301 Luậtthương mại năm 2005 thì “mức phạt đối với vi phạm hợp đồng hoặc tổng mứcphạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuân trong hợp đồng, nhưngkhông quá 8% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm” Có thể thấy trong trườnghợp các bên có thỏa thuận mức phạt vi phạm thì dù thiệt hại có lớn bao nhiêu

đi chăng nữa thì bên vi phạm chỉ phải trả tiền tối đa trong giới hạn đó Nhưvậy, Luật thương mại năm 2005 cho phép các bên trả một số tiền cụ thể hoặc

Trang 22

theo tỷ lệ phần trăm đối với việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng lại khôngquá tám phần trăm giá trị của phần hợp đồng bị vi phạm Điều khoản này chothấy, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 coi chế tài phạt vi phạm như mộtbiện pháp trừng trị về mặt vật chất đối với bên vi phạm, nhưng chỉ giới hạn ởmức tối đa tám phần trăm giá trị phần hợp đồng vi phạm là nhằm tránh cácbên sẽ lạm dụng điều khoản này Có thể thấy chế tài phạt hợp đồng khôngnhững bảo vệ bên bị vi phạm mà còn bảo vệ bên vi phạm hợp đồng.

Quan điểm của các nước về chế tài phạt đều cho rằng, phạt là tiền bồithường ước tính (tính trước) Như vậy, điều quan trọng là các bên phải có sựthỏa thuận, dự kiến trước về mức phạt trong hợp đồng mua bán Tuy nhiêncác nước lại có quy định khác nhau về mối quan hệ giữa thiệt hại và số tiềnphạt Các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam thì thừa nhận tiền phạt

là tiền thừa nhận tính trước

Như vậy, có thể thấy các điều khoản phạt hợp đồng thường được ápdụng và phát huy tốt tác dụng nhằm ngăn ngừa, giáo dục các bên nâng cao ýthức trách nhiệm chấp hành tốt nghĩa vụ hợp đồng

1.4.3 Bồi thường thiệt hại

Khác với phạt vi phạm bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài được

áp dụng nhằm mục đích khôi phục những lợi ích vật chất bị mất của bên bị

vi phạm hợp đồng mua bán Với mục đích này bồi thường thiệt hại chỉđược áp dụng khi có thiệt hại xảy ra Theo Luật thương mại để áp dụngtrách nhiệm bồi thường thiệt hại phải có các căn cứ: Có hành vi vi phạmhợp đồng; có thiệt hại thực tế; hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhântrực tiếp gây ra thiệt hại; có lỗi của bên vi phạm (không thuộc các trườnghợp được miễn theo quy định của pháp luật) Về nguyên tắc, bên vi phạmphải bồi thường toàn bộ những thiệt hại vật chất cho bên bị vi phạm Tuy

Trang 23

nhiên, như đã phân tích, các khoản thiệt hại đòi bồi thường phải nằm trongphạm vi được pháp luật ghi nhận.

Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổnthất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng

lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng Khi xảy ra vi phạmhợp đồng, bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý

để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng

do hành vi vi phạm gây ra Nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không ápdụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giátrị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được

Khi áp dụng trách nhiệm bồi thường cần lưu ý mối quan hệ giữa phạthợp đồng và bồi thường thiệt hại Với bản chất của hợp đồng, các bên tronghợp đồng có quyền thỏa thuận về hình thức chế tài phù hợp với quy định củapháp luật Các bên có quyền thỏa thuận về việc bên vi phạm chỉ cần nộp tiềnphạt vi phạm hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại, hoặc là vừa phảinộp tiền phạt vi phạm hợp đồng và vừa phải bồi thường thiệt hại

Theo Luật thương mại trong trường hợp các bên của hợp đồng mua bánkhông có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồithường thiệt hại; trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị viphạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại

1.4.4 Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng

Theo luật thương mại năm 2005, “Tạm ngừng thực hiện hợp đồng mua

bán” là hình thức chế tài theo đó, một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ

hợp đồng mua bán Khi hợp đồng mua bán bị tạm ngừng thực hiện thì hợpđồng vẫn còn hiệu lực

Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng được áp dụng trong nhữngtrường hợp sau:

Trang 24

+ Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạmngừng thực hiện hợp đồng;

+ Một bên vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng (Điều 308)

Việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng nghĩa là các bên sẽ không phảithực hiện nghĩa vụ của mình trong một thời hạn cụ thể nào đó, thông thườngthời hạn này do các bên thỏa thuận, luật không quy định cụ thể

“Đình chỉ thực hiện hợp đồng mua bán” là hình thức chế tài theo đó

một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mua bán Khi hợp đồng muabán bị đình chỉ thực hiện hợp đồng thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực kể từ thờiđiểm một bên nhận được thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tụcthực hiện nghĩa vụ hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầubên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng

“Hủy bỏ hợp đồng mua bán” là hình thức chế tài theo đó, một bên

chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và làm cho hợp đồng không có hiệulực kể từ thời điểm giao kết Hủy hợp đồng là chế tài nặng nhất áp dụng choviệc mua bán hàng hóa Chế tài này chỉ được áp dụng khi các bên đã sử dụngnhững biện pháp khác song không mang lại kết quả Luật pháp của các nướcchưa quy định thống nhất trường hợp vi phạm nào được quyền hủy hợp đồng

Đề cập đến chế tài này, Điều 302, Luật thương mại Việt Nam năm

2005 quy định như sau:

“1 Hủy bỏ hợp đồng bao gồm: hủy toàn bộ hợp đồng và hủy một phầnhợp đồng

2 Hủy toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cáccác nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng

3 Hủy một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụhợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực

Trang 25

4 Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại điều 294 của luậtnày, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau:

a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy

bỏ hợp đồng;

b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”

Như vậy, theo quy định của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 để cóthể hủy bỏ hợp đồng, có hai trường hợp:

Thứ nhất, khi các bên có thỏa thuận sẵn rằng việc vi phạm đó sẽ ápdụng chế tài hủy hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận bằng điều khoản hợpđồng hoặc bằng văn bản bổ sung hợp đồng

Thứ hai, chế tài hủy hợp đồng thường được áp dụng khi một bên có sự

vi phạm cơ bản các nghĩa vụ của hợp đồng

Việc áp dụng chế tài hủy hợp đồng để lại cho các bên những hậu quảpháp lý nhất định Theo điều 314, hậu quả của việc hủy hợp đồng là:

+ Sau khi hủy hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểmgiao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận tronghợp đồng (trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng

và về giải quyết tranh chấp)

+ Mỗi bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ

đã thỏa thuận trong hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa

vụ của họ phải được thực hiện đồng thời

+ Bên bị thiệt hại có quyền đòi bên kia bồi thường

Quy định “không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận” cónghĩa là nếu các bên chưa thực hiện hợp đồng thì không thực hiện nữa, nếuđang tiến hành thì phải dừng lại, nếu đã thực hiện xong rồi thì thôi Còntrường hợp hai bên đã nhận được quyền lợi của nhau thì phải hoàn trả songsong bằng hiện vật (trả lại hàng) hoặc bằng tiền

Trang 26

Việc hủy hợp đồng không có nghĩa là hai bên có thể trở lại trạng tháinhư ban đầu như khi chưa ký hợp đồng Về mặt pháp lý thì có thể coi các bênđương sự không còn nghĩa vụ gì với nhau, do đó trở lại trạng thái ban đầu.Song, nếu đã có vi phạm hợp đồng hoặc một bên gặp bất khả kháng dẫn đếnhợp đồng bị hủy bỏ thì ít nhất một bên của hợp đồng đã chịu thiệt hại cho bênkia thì không thể coi là vẫn ở trạng thái ban đầu được Trên thực tế việc hủyhợp đồng còn dẫn đến một hậu quả nữa là gây sự mất tín nhiệm đối với nhau,ảnh hưởng đến quan hệ làm ăn sau này là điều mà không bên nào muốn

Như vậy, khác với các hình thức chế tài khác, tạm ngừng, đình chỉ, hủy

bỏ hợp đồng là hình thức chế tài hợp đồng mà theo đó bên bị vi phạm hợpđồng áp dụng chế tài bằng cách không thực hiện nghĩa vụ như theo hợp đồng.Việc áp dụng các hình thức chế tài tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồngđược xem như sự “tự vệ” của bên bị vi phạm trước hành vi vi phạm hợp đồngcủa bên kia Cả ba hình thức này đều được áp dụng khi có các điều kiện: xảy

ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng, đìnhchỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng; một bên vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng.Khi bị áp dụng chế tài này, sự bất lợi mà bên vi phạm phải gánh chịu cơ bảnthể hiện ở chỗ, bên vi phạm không được đáp ứng các quyền theo hợp đồng dobên vi phạm không phải thực hiện các nghĩa vụ tương xứng Mặt khác, bên bị

vi phạm khi áp dụng chế tài này vẫn có quyền yêu cầu bên vi phạm bồithường thiệt hại theo quy định của pháp luật

1.5 Chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.5.1 Khái niệm chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa

1.5.1.1 Khái quát về quá trình phát triển của trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 27

Trước khi được hiểu là một trách nhiệm pháp lý chịu sự điều chỉnh nhưluật tư hiện nay thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã trải qua một quá trìnhphát triển với nhiều giai đoạn thể hiện bản chất khác biệt Có thể khái quátcác giai đoạn cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

Giai đoạn thứ nhất: Trong thời kỳ cổ đại khi chính quyền trong xã hộicòn chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân mỗi khi bị xâm phạmvào quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đốiphương làm nô lệ, hay lấy tài sản của họ Chế độ này còn dược gọi là chế độ

tư nhân phục thù

Trong giai đoạn thứ hai, người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiềnchuộc hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù Chế độ này còn được gọi làchế độ thục kim Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển:

1) Khi chưa có sự can thiệp của pháp luật các bên tự thỏa thuận vớinhau về tiền chuộc, đó là chuộc lỗi tự nguyện

2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các bên tranh chấp buộc phải giảiquyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo ngạch giá dopháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc Tiền thục kim này có thểcoi như vừa là tiền phạt, vừa có tính chất bồi thường thiệt hại Vào thời kỳluật 12 bảng, Cổ luật La mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự ý thục kim sangbắt buộc thục kim

Giai đoạn thứ ba, chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự vàdân sự Chính quyền trước hết can thiệp để trừng trị những tội phạm chỉ liênquan đến trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân Sự can thiệp này rất cầnthiết, vì nếu không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp nàykhông được chú ý tới vì không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân Sựcan thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quanđến quyền lợi của các cá nhân liên quan đến các vụ trộm cắp, ẩu đả

Trang 28

Ở Việt Nam, cổ luật cũng không tách biệt trách nhiệm bồi thường thiệthại là một loại thuộc trách nhiệm thuộc luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn

đề thuộc trật tự công

Ở giai đoạn hiện nay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định

và điều chỉnh bởi luật tư và các nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm này đãđược đặt ra ở các nước Ở Việt Nam, bồi thường thiệt hại hiện nay được hiểu

là một loại trách nhiệm dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại chongười khác thì phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra

1.5.1.2 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa

a Khái niệm

Hằng ngày chúng ta tham gia trực tiếp một số giao dịch dân sự khácnhau như vay mượn, cho tặng, mua bán, ký gửi, cầm đồ và nhận chuyểnnhượng tài sản Những giao dịch dân sự này loại nhỏ, đơn giản, thông dụngthì các bên tham gia giao dịch thông qua các hành vi, cử chỉ của mình để biểuđạt sự đồng ý hoặc từ chối từ một giao dịch dân sự cụ thể Các biểu đạt đó cóthể là gật đầu đồng ý, hoặc bằng lời nói, bằng ánh mắt, bằng cái bắt tay thỏathuận Lẽ dĩ nhiên các giao dịch dân sự giản đơn này không được trái quyđịnh của pháp luật, trái đạo đức xã hội Một số giao dịch dân sự cụ thể phápluật còn quy định phải được thực hiện bằng văn bản hợp đồng và có thể cònphải chứng thực xác nhận của cơ quan có thẩm quyền

Trong loại giao dịch này hợp đồng sẽ chỉ rõ quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể Thông thường quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia vàngược lại Khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kếtnghĩa vụ đã thỏa thuận và gây ra thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường theo

sự thỏa thuận đã xác lập Đây là bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Trang 29

Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng ban đầu là sự tự thỏa thuận của cácbên liên quan, có thể nói đó là ý chí tự xác định, tự quyết định, tự định đoạt.Nhưng một khi bên tham gia thiệt hại “xù” thì bên kia phải bằng con đường tốtụng dân sự khởi kiện sự kiện này ra tòa án.

Về lý luận khi nghiên cứu chế tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại thìtìm hiểu khái niệm của nó là một việc làm cần thiết phải được coi trọng Tiếpcận dưới góc độ khoa học pháp lý, chúng ta thấy rằng mỗi người sống trong

xã hội đều phải tôn trọng nguyên tắc chung của xã hội, không thể vì lợi íchcủa mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khimột người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thìchính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra Sự gánh chịumột hậu quả bất lợi do lỗi của mình gây ra bằng việc bù đắp tổn thất chongười khác được hiểu là bồi thường thiệt hại

Trong thương mại bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài nhằm khôiphục, bù đắp những lợi ích vật chất bị mất do bên bị vi phạm hợp đồng Vìvậy, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra Đây là mộtloại chế tài được áp dụng một cách phổ biến khi có vi phạm hợp đồng xảy racho bên vi phạm

Theo khoản 1, điều 302, Luật thương mại năm 2005: “Bồi thường thiệthại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợpđồng gây ra cho bên bị vi phạm”

b Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Là một loại trách nhiệm pháp lý nằm ngoài những đặc điểm của tráchnhiệm pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước áp dụng, áp dụng đối vớinhững người có hành vi vi phạm pháp luật luôn mang đến hậu quả bất lợi chongười bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước thìtrách nhiệm bồi thường thiệt hại còn mang những đặc điểm sau:

Trang 30

- Về cơ sở pháp lý: trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại tráchnhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Khi một người gây

ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệthại chính là một quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh và được quy địnhtrong Bộ luật dân sự

- Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khithỏa mãn các điều kiện nhất định đó là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạmnghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng và ngoài hợp đồng), có mối quan hệnhân quả giữa hành vi vi phạm gây thiệt hại với thiệt hại thực tế xảy ra, có lỗicủa người gây thiệt hại (không phải điều kiện bắt buộc) Đây là những điềukiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người bồi thường nhữngthiệt hại do mình gây ra

- Về hậu quả: trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn mang đến một hậuquả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tổnthất cho người khác thì tổn thất đó phải tính được bằng tiền hoặc phải đượcpháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định, nếu không sẽ khôngthể thực hiện được việc bồi thường Do đó, những thiệt hại về tinh thần, dùkhông thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định củapháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Và cũng chính vì vậy,thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bịthiệt hại

- Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: ngoài người trực tiếp có hành vigây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn được áp dụng cả đối vớicác chủ thể khác đó là cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ củangười được giám hộ, pháp nhân đối với pháp nhân gây thiệt hại

Trang 31

1.5.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng phải dựatrên cơ sở một hợp đồng có trước, tức là giữa người được bồi thường vàngười gây ra thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng Nếu giữa haibên không tồn tại một quan hệ hợp đồng nào thì nếu có thiệt hại xảy ra baogiờ cũng là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng Chính vì vậy, bồithường thiệt hại trong hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng và vi phạm đề nghịgiao kết hợp đồng là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi lẽ, hợp đồngchưa được giao kế giữa các bên hoặc được coi là chưa hề tồn tại

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ phát sinh khi cóhành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thựchiện không đúng gây ra Nếu giữa các bên tồn tại quan hệ hợp đồng nhưnghành vi gây thiệt hại không phải do hành vi vi phạm hợp đồng thì cũng khôngphát sinh trách nhiệm hợp đồng

- Chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan

hệ hợp đồng đó Bồi thường thiệt hại theo hợp đồng được áp dụng khi hành vigây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ có thể làm ảnhhưởng đến lợi ích của các bên tham gia trong hợp đồng đó Do đó, nếu ngườithứ ba có lỗi để gây thiệt hại cho một bên trong hợp đồng hoặc một bên tronghợp đồng gây ra thiệt hại cho người thứ ba thì trách nhiệm dân sự phát sinhchỉ có thể là trách nhiệm ngoài hợp đồng Trường hợp này không áp dụng đốivới hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba bởi lẽ đây là trường hợp ngoại lệ vìngười thứ ba cũng là người có quyền lợi liên quan và được đề cập đến tronghợp đồng

Nếu như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loạitrách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái phápluật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì trách nhiệm

Trang 32

bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sởmột hợp đồng có trước.

So với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp dồng thì trách nhiệmbồi thường thiệt hại theo hợp đồng có một số điểm khác biệt như sau:

Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quyđịnh Khác với các lợi trách nhiệm pháp lý khác thì trách nhiệm dân sự có thểphát sinh trên cơ sở tự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên, trách nhiệm phátsinh trên cơ sở thỏa thuận của các bên chỉ có thể là trách nhiệm theo hợp đồng

ví dụ như: buộc phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, phạt vi phạm và bồithường thiệt hại

Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định.Các điều kiện đó là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật, có mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi Khác vớibồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, do

cơ sở phát sinh trách nhiệm là do các bên thỏa thuận nên các bên cũng có thểthỏa thuận đặt ra các điều kiện phát sinh không bao gồm đầy đủ những điềukiện trên như bên vi phạm hợp đồng không có lỗi cũng phát sinh bồi thườngthiệt hại

Về chủ thể chịu trách nhiệm: trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợpđồng chỉ có thể áp dụng đối với các bên tham gia hợp đồng mà không thể ápdụng đối với bên thứ ba Hay nói cách khác các chủ thể trong hợp đồng khôngthể thỏa thuận bất kỳ ai không tham gia hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệmbồi thường thiệt hại mà không được sự đồng ý của họ Còn trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi

Trang 33

trái pháp luật còn áp dụng đối với người khác như cha mẹ của người chưathành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ

Về mức bồi thường: nếu như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vềnguyên tắc là người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra.Thiệt hại chỉ có thể được giảm trong một trường hợp đặc biệt đó là người gâythiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trướcmắt và lâu dài của họ Còn đối với bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì cácbên có thỏa thuận ngay trong hợp đồng về mức bồi thường bằng, thấp hơnhoặc cao hơn mức thiệt hại xảy ra và khi phát sinh trách nhiệm bồi thườngthiệt hại thì mức bồi thường sẽ áp dụng mức do các bên thỏa thuận

Việc phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc biệt có ý nghĩa trong việc chứng minhcủa đương sự Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồngnguyên đơn chỉ cần chứng minh thiệt hại là do người gây thiệt hại đã khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng gây ra còn trong trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bên bị thiệt hại ngoài việc chứng minhthiệt hại còn phải chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải có các căn cứ nhấtđịnh giúp cho không làm oan người vô tội và mức độ áp dụng được chínhxác hơn

Theo điều 303, Luật thương mại năm 2005, để có thể áp dụng chế tàibồi thường thiệt hại phải có đủ các yếu tố sau:

+ Có hành vi vi phạm hợp đồng

+ Có thiệt hại vật chất

+ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hạivật chất

Trang 34

Nếu thiếu một trong các yếu tố nói trên, chẳng hạn có hành vi vi phạmhợp đồng mà không phát sinh thiệt hại vật chất hay hành vi vi phạm khôngtrực tiếp dẫn đến thiệt hại vật chất thì không thể đòi bên vi phạm bồi thườngthiệt hại.

Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng: bồi thường thiệt hại trong hợp

đồng là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự cũng như luật thươngmại Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng phải

có hành vi vi phạm hợp đồng tức là hành vi trái pháp luật Chỉ những quyền

và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ thì các hành vi xâm phạm đếnquyền, lợi ích đó mới là hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, điều đó không cónghĩa là mọi hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp đều là hành vitrái pháp luật Bởi vì trên thực tế, dưới góc độ pháp lý có những hành vi xâmphạm đến quyền và lợi ích hợp pháp nhưng được pháp luật cho phép thựchiện hoặc bắt buộc phải thực hiện

Thứ hai, có thiệt hại vật chất: nếu như trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng điều kiện tiên quyết là phải có thiệt hại xảy ra thì trách nhiệmbồi thường thiệt hại trong hợp đồng yêu cầu phải có thiệt hại vật chất xảy ramới là căn cứ để áp dụng Trong hợp đồng nói chung các bên thỏa thuận việcphạt vi phạm khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

vụ mà không cần chứng minh có thiệt hại xảy ra hay không Trong hợp đồngmua bán hàng hóa thiệt hại vật chất là điều kiện bắt buộc để áp dụng tráchnhiệm bồi thường thiệt hại

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và

thiệt hại vật chất: tức là hành vi trái pháp luật (hành vi vi phạm hơp đồng) củangười gây thiệt hại phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hạimới phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, trong một số

Trang 35

trường hợp cụ thể rất khó xác định mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại vàmối quan hệ với người gây thiệt hại.

1.5.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Theo điều 605 Bộ luật dân sự:

“1 Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thểthỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, hiện vật hoặcthực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần trừtrường hợp pháp luật có quy định khác

2 Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi

vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dàicủa mình

3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệthại hoặc người gây ra thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan có thẩmquyền khác thay đổi mức bồi thường khác”

Thứ nhất: Xuất phát từ mục đích của chế định này là nhằm khôi phục

tình trạng tài sản của người bị thiệt hại Vì vậy, về nguyên tắc thiệt hại phảiđược bồi thường toàn bộ và kịp thời Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộnghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào xemthiệt hại bao gồm những khoản nào, và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức

độ lỗi của các bên để người gây ra thiệt hai phải bồi thường những thiệt hạitương xứng đó Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, tòa án phải giảiquyết nhanh chóng, kịp thời yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạnluật định Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biệnpháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu bứcbách của đương sự

Tuy về mặt nguyên tắc là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịpthời nhưng các bên có thể hoàn toàn có quyền thỏa thuận khác về mức bồi

Trang 36

thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường Quy định này xuấtphát từ nguyên tắc các đương sự có quyền tự định đoạt Các bên có thể thỏathuận cao hơn hoặc thấp hơn mức bồi thường thiệt hại, có thể thỏa thuận bồithường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng công việc cụ thể nào khác, có thểthỏa thuận phương thức bồi thường là một lần, bồi thường trực tiếp hoặc quangười thứ ba

Tuy nhiên, ở đây cần chú ý là các thỏa thuận này không được trái phápluật và đạo đức xã hội hoặc nếu văn bản cụ thể quy định không được thỏathuận mà phải tuân theo một nguyên tắc bồi thường cụ thể thì các bên phảituân theo nguyên tắc đó mà không được thỏa thuận khác đi Khi giải quyết,tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào thỏa thuận của các bên đểgiải quyết Nếu không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vô hiệu hoặc pháp luậtkhông cho phép thỏa thuận thì phải áp dụng nguyên tắc phải bồi thường toàn

bộ và kịp thời

Thứ hai: Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi

đủ hai điều kiện sau đây:

(i) Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại;

(ii) Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâudài của người gây thiệt hại Có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệmbồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họkhông thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó

Mức giảm là bao nhiêu họ không quy định cụ thể mà tùy vào từngtrường hợp cụ thể tòa án căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, mức độ lỗi, khảnăng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại cũng như mức độgây thiệt hại đã xảy ra mà quyết định mức giảm cụ thể

Quy định này rất khó áp dụng trên thực tế Các thẩm phán không ápdụng quy định này bởi họ khó nắm rõ được khả năng kinh tế của đương sự

Trang 37

Khả năng kinh tế là tài sản mà đương sự đang có hy mức thu nhập hàngtháng? Có bao nhiêu khả năng đương sự có thể vay mượn được của ngườikhác để bồi thường hay không? Việc tìm hiểu khả năng kinh tế của người gâythiệt hại rất công phu, phức tạp vì thiếu tiêu chí cụ thể.

Thứ ba, mặc dù đã có thỏa thuận giữa các bên hoặc đã có bản án có

hiệu lực của tòa án về mức bồi thường cụ thể nhưng khi mức bồi thườngkhông còn phù hợp với thực tế thì các bên có thể thỏa thuận lại hoặc yêu cầutòa án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường Việc thayđổi mức bồi thường thông thường chỉ áp dụng trong trường hợp bồi thườngnhiều lần theo định kỳ, nhất là các khoản thu nhập thực tế bi giảm sút hoặc bịmất

Điều 302, khoản 1, Luật thương mại năm 2005 quy định: “Giá trị bồithường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên vi phạm gây

ra mà khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không cóhành vi vi phạm” Theo đó số tiền bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm hai khoản:

Thứ nhất là bên vi phạm phải bồi thường “giá trị tổn thất thực tế, trựctiếp”, tức là chỉ bồi thường thiệt hại vật chất trực tiếp và thực tế chứ khôngphải bồi thường những thiệt hại tinh thần, gián tiếp, suy đoán Ví dụ, ngườibán xuất khẩu dầu thô nhưng chất lượng kém, do đó người mua phải tái chếlại Sau đó, người mua phải tái chế lại và tính toán được những thiệt hại sau:

1) Tiền công tái chế;

Trang 38

Trong năm loại thiệt hại trên, bên vi phạm chỉ phải bồi thường ba loạithiệt hại đầu vì đây là những thiệt hại tổn thất thực tế, trực tiếp do chính hành

vi vi phạm hợp đồng của thụ trái trực tiếp gây nên; còn lại thiệt hại sau (nhàmáy không có dầu sản xuất, công nhân đình công ) là những thiệt hại giántiếp vì về nguyên tắc nhà máy phải luôn có dầu dự trữ cho sản xuất

Bồi thường “giá trị tổn thất thực tế trực tiếp “cũng có nghĩa là khôngbồi thường những thiệt hại xa xôi, đột xuất mà lúc ký kết hợp đồng các bênkhông lường trước được Chẳng hạn, người bán mang hàng ra cảng để giaocho người mua đưa tàu đến chậm, người bán lưu kho hàng hóa, sau khi đó bịbão lụt nên bị hư hỏng Ở đây, chi phí lưu kho là thiệt hại, người mua phải bồithường, còn thiệt hại hàng hóa do bão lụt là do thiên tai xa xôi, đột xuất màlúc ký kết hợp đồng hại bên không lường trước được nên người mua khôngphải bồi thường

Nguyên tắc bồi thường của các nước có sự khác nhau Đối với các nước

có nền kinh tế phát triển, luật pháp cho phép đòi bồi thường thiệt hại về tinhthần tức là những thiệt hại mà người ta khó có thể tính toán được một cách vậtchất, do tính vô hình nhiều hơn, khó tính toán bằng con số thật mà chỉ tínhtoán được một cách tương đối (do tòa án quy định) Trong khi đó, các nước cónền kinh tế đang phát triển mà Việt Nam là một ví dụ, Luật thương mại năm

2005 quy định bên bị vi phạm chỉ được đòi bồi thường thiệt hại vật chất, làtổn thất thực sự được tính toán bằng những con số

Thứ hai, bên vi phạm phải bồi thường “khoản lợi trực tiếp mà bên bị viphạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm” Chẳng hạn,thương nhân A ký hợp đồng mua gạo của thương nhân B với ý định cung cấpgạo phục vụ dịp Tết cổ truyền Vì vậy, thời hại giao hàng trong hợp đồng quyđịnh là vào tháng 12/ 2008, nhưng B giao hàng chậm (1/2009)

Trang 39

Cơ hội bán hàng của A không còn nữa Do đó, sau tết A mới bán đượchàng Mặt khác, giá trên thị trường vào thời điểm A bán hàng thực tế và thờiđiểm bán hàng dự kiến giảm xuống từ 10.900 đồng/kg xuống 10.500 đồng/kg.Phần chênh lệch này được xem là phần chênh lệch mất hưởng của A do B viphạm hợp đồng về thời hạn giao hàng Tuy nhiên, trên thực tế trường hợp nàycũng thường hay gây tranh cãi Ví dụ, B chậm giao hàng 2 tháng, A tính toáncác khoản thiệt hại bao gồm: tiền công nhân viên hai tháng, ngừng sản xuấthai tháng, thuế nộp trong hai tháng, tiền khấu hao nhà xưởng, các chi phíkhác Song, đây không phải là những khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà chỉ

là những thiệt hại do suy đoán vì nếu như B không giao hàng, B phải giaohàng với giá cao hơn, do đó sẽ được coi là thiệt hại thực tế

Về nguyên tắc, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ những thiệt hại vậtchất cho bên bị vi phạm Tuy nhiên, các khoản thiệt hại phải bồi thường phảinằm trong phạm vi được pháp luật ghi nhận

Mặc dù, lỗi được xác định trên cơ sở suy đoán lỗi nhưng khi áp dụngloại chế tài này bên yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại phải có nghĩa vụ chứngminh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi gây ra và khoản lợi trực tiếp màbên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 304,Luật thương mại năm 2005)

Ngoài nghĩa vụ chứng minh tổn thất và mức độ tổn thất, khi xảy ra vi

phạm hợp đồng “bên yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện

pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, kể cả tổn thất đối với khoản lợi đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm pháp luật gây ra; nếu bên yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được” (Điều 305, Luật thương mại năm 2005).

Trang 40

Riêng đối với trường hợp bên vi phạm chậm thực hiện nghĩa vụ thanhtoán tiền hàng hay chậm thanh toán phí dịch vụ và các chi phí khác, điều 306,Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “bên vi phạm hợp đồng cóquyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trungbình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả,trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Luật Việt Nam và Công ước Viên năm 1980 đều quy định các thiệt hạiđược bồi thường bao gồm tổn thất và những khoản nợ bị bỏ lỡ mà bên kia đãphải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng Về tính chất của thiệt hạiđược bồi thường Công ước Viên 1980 nhấn mạnh tính có thể dự đoán trướccủa thiệt hại đối với bên vi phạm, còn pháp luật Việt Nam lại nhấn mạnh đếntrực tiếp và thực tế (Điều 302, Luật thương mại năm 2005)

1.5.4 Mối quan hệ giữa bồi thường thiệt hại với các hình thức chế tài khác theo luật thương mại Việt Nam năm 2005

Nói đến hợp đồng mua bán hàng hóa không thể không nói đến điềukhoản cơ bản về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Đây cũng là sự thỏathuận của các bên trong trong giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, muabán hàng hóa, đồng thời cũng là chế định của pháp luật Nó tồn tại đã lâunhưng cũng còn những bất cập

Việc lựa chọn hình thức trách nhiệm khi có vi phạm hợp đồng là do cácbên đã thỏa thuận sẵn trong hợp đồng Các chế tài thương mại này được bên

bị vi phạm trực tiếp áp dụng đối với bên kia hoặc do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền (nộp đơn khởi kiện tại tòa án hay trọng tài) Khi lựa chọn cáchình thức trách nhiệm các bên có liên quan cần tìm hiểu kỹ mối quan hệ giữacác chế tài và tính toán kỹ sao cho để giảm thiểu thiệt hại phát sinh nhằm đảmbảo quyền lợi chính đáng của mình Một chế tài thương mại có thể được áp

Ngày đăng: 01/09/2021, 10:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bùi Ngọc Cường (2001), “Vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế ở nước ta hiện nay”, Tạp chí khoa học pháp lý số 04/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồngkinh tế ở nước ta hiện nay
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Năm: 2001
5. Nguyễn Thị Dung (2001), “Áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợpđồng”
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Trương Văn Dũng (2003), “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Dũng
Năm: 2003
7. Đỗ Văn Đại (2007), “Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam”, Tạp chí tòa án nhân dân số 19/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật thựcđịnh Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Năm: 2007
8. Đỗ Văn Đại (2008), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận 1, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận1
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2008
9. Đỗ Văn Đại (2009), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận2, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bìnhluận2
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2009
10. Đỗ Văn Đại (2010), “Vấn đề không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề không thực hiện đúng hợp đồng trongpháp luật thực định Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Năm: 2010
13. Bộ tư pháp - Viện khoa học pháp lý(2009), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộluật dân sự năm 2005
Tác giả: Bộ tư pháp - Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2009
14. Bộ tư pháp - Viện nghiên cứu khoa học pháp lý(1997), “Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2005”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luậnkhoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2005”
Tác giả: Bộ tư pháp - Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Nhà XB: Nhà xuất bảnchính trị quốc gia
Năm: 1997
15. TS. Nguyễn Minh Hằng, “Bồi thường thiệt hại trong và ngoài hợp đồng”, Đại học ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bồi thường thiệt hại trong và ngoài hợpđồng”
16. Nguyễn Thu Phương, “Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa Ammonium Sulphate”,Diễn đàn pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hànghóa Ammonium Sulphate”
17. THS. Nguyễn Minh Oanh - KHPLDS, Đại học luật Hà nội, “Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kháiniệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồithường thiệt hại
18. TS. Phùng trung Lập, “Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Tạp chí tòa án số 10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng
19. Nguyễn Thị Hồng Trinh, “Chế tài bồi thường thiệt hại trong thương mại quốc tế qua Luật thương mại Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu luật pháp điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chế tài bồi thường thiệt hại trongthương mại quốc tế qua Luật thương mại Việt Nam
20. TS. Lê Văn Luyện và THS. Đào Ngọc Chuyền “Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng kinh doanh thương mại của doanh nghiệp và một số liên hệ với các hoạt động ngân hàng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bồi thường thiệthại trong hợp đồng kinh doanh thương mại của doanh nghiệp và một số liênhệ với các hoạt động ngân hàng
21. Tài liệu trong một số trang điện tử:http://chinhphu.vn http://hcmls.net http://luathoc.vn http://sinhvienluat.vn Link
3. Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Khác
11. Giáo trình Luật thương mại, Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm năm 2007 Khác
12. TS. Nguyễn Thị Dung (2009), Pháp luật về Hợp đồng trong thương mại và đầu tư Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w