“Văn học là nhân học” (M. Gorki). Sự khái quát của câu nói này thật lớn, nó bao trùm toàn bộ nội dung, mục đích sáng tác của văn học. Xuyên suốt quá trình lịch sử văn học nhân loại, con người với tất cả đời sống tự nhiên và xã hội, thân phận và cuộc đời của nó chính là đối tượng và cũng là nội dung đặc trưng cơ bản nhất của văn học. Mác đã từng nói rằng: “Con người không chỉ là một sinh thể tự nhiên, mà còn là một sinh thể tự nhiên có tính ngừơi, tức là tồn tại cho chính nó”, “con người phải tự biểu lộ và khẳng định như là một sinh thể đặc chủng trong tồn tại của nó và trong tri thức của nó”. Câu nói của Mác có thể xem là tiêu chí để xác định con người cá nhân. Ngay từ buổi bình minh của văn học nhân loại, văn học dân gian đã đề cập đến vấn đề con người. Họ miêu tả thế giới và con người bằng tưởng tượng và hư cấu. Ở thể loại sử thi, cổ tích, ca dao đều có điểm chung xuất phát từ quan điểm tư tưởng của cộng đồng nhân dân. Trường ca bất hủ Iliat và Odixe, hình tượng Uylix, Asin,… đều thể hiện mẫu anh hùng lí tưởng thời đại. Đến những câu chuyện cổ tích, số phận của nhân vật thể hiện ước muốn, khát vọng của nhân dân lao động. Tuy nhiên, tính cách, tâm lí nhân vật rất ít được khắc họa, miêu tả. Ca dao, dân ca đã bắt đầu đi vào nội tâm con người ở mặt tình cảm riêng tư, ước muốn tự do cá nhân. Con người trong ca dao, dân ca đã dám bày tỏ nỗi lòng của mình, phê phán những thói hư tật xấu của xã hội. Nói chung, khi đề cập đến vấn đề con người, văn học dân gian vẫn mang tính ước lệ, một chiều. Số phận nhân vật trong tác phẩm chỉ là một phương tiện, cách thức để tác giả dân gian thông qua đó bộc lộ quan điểm, tư tưởng thời đại. Con người có xuất hiện nhưng đó là con người tập thể.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 0
1 “Con người cá nhân” trong văn học trước năm 1985: 1
2 Số phận “con người cá nhân” trong văn học giai đoạn từ 1985 đến nay: 42.1 Con người cá nhân với những bi kịch do chiến tranh gây ra 42.2 Con người trong áp lực môi trường sống, không thể là chính mình: 112.3 Con người khát khao hạnh phúc, thèm khát yêu thương nhưng bấthạnh và cô đơn 16KẾT LUẬN 21
Trang 21 1 “Con người cá nhân” trong văn học trước năm 1985:
“Văn học là nhân học” (M Gorki) Sự khái quát của câu nói này thật lớn, nóbao trùm toàn bộ nội dung, mục đích sáng tác của văn học Xuyên suốt quátrình lịch sử văn học nhân loại, con người với tất cả đời sống tự nhiên và xãhội, thân phận và cuộc đời của nó chính là đối tượng và cũng là nội dung đặctrưng cơ bản nhất của văn học
Mác đã từng nói rằng: “Con người không chỉ là một sinh thể tự nhiên, mà còn
là một sinh thể tự nhiên có tính ngừơi, tức là tồn tại cho chính nó”, “con ngườiphải tự biểu lộ và khẳng định như là một sinh thể đặc chủng trong tồn tại của
nó và trong tri thức của nó” Câu nói của Mác có thể xem là tiêu chí để xácđịnh con người cá nhân
Ngay từ buổi bình minh của văn học nhân loại, văn học dân gian đã đề cập đếnvấn đề con người Họ miêu tả thế giới và con người bằng tưởng tượng và hưcấu Ở thể loại sử thi, cổ tích, ca dao đều có điểm chung xuất phát từ quanđiểm tư tưởng của cộng đồng nhân dân Trường ca bất hủ Iliat và Odixe, hìnhtượng Uylix, Asin,… đều thể hiện mẫu anh hùng lí tưởng thời đại Đến nhữngcâu chuyện cổ tích, số phận của nhân vật thể hiện ước muốn, khát vọng củanhân dân lao động Tuy nhiên, tính cách, tâm lí nhân vật rất ít được khắc họa,miêu tả Ca dao, dân ca đã bắt đầu đi vào nội tâm con người ở mặt tình cảmriêng tư, ước muốn tự do cá nhân Con người trong ca dao, dân ca đã dám bày
tỏ nỗi lòng của mình, phê phán những thói hư tật xấu của xã hội Nói chung,khi đề cập đến vấn đề con người, văn học dân gian vẫn mang tính ước lệ, mộtchiều Số phận nhân vật trong tác phẩm chỉ là một phương tiện, cách thức đểtác giả dân gian thông qua đó bộc lộ quan điểm, tư tưởng thời đại Con người
có xuất hiện nhưng đó là con người tập thể
Con người với tư cách con – người – cá – nhân, một con người tự ý thức về cánhân mình thì trong những điều kiện xã hội lịch sử nhất định mới ra đời
Lịch sử dân tộc ta luôn phải đối mặt với nạn ngoại xâm nên con người phảigắn chặt mình với cộng đồng để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, bảo vệ
Trang 3đất nước Trong suốt trường kì văn học trung đại, mặc dù con người vẫn luônxuất hiện trong các tác phẩm nhưng do quan niệm “ con người vô ngã” mà conngười công dân luôn lấn át con người cá nhân Con người vẫn chưa bứt mình
ra khỏi phạm vi tồn tại của tự nhiên và xã hội Thơ văn sơ kì trung đại miêu tả
vẻ đẹp tâm hồn con người phong phú, dạt dào tình cảm trước thiên nhiên, cuộcsống Văn học hướng đến con người nhưng chưa phải đi vào từng cảnh đời,từng số phận cụ thể mà là kiếp người nói chung với những băn khoăn, trăn trởmang ý nghĩa nhân sinh- triết học, hay tập thể “dân đen” chịu nhiều thiệt thòi,đau khổ lúc đất nước gặp cảnh phong ba Đến nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầuthế kỉ XIX, xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn Văn học cũng như vậy.Trong lòng trào lưu nhân đạo chủ nghĩa rộng lớn vấn đề cá nhân con ngườichính thức đựơc đặt ra Văn học thời kì này khẳng định đời sống trần tục vớithế giới nội tâm phong phú và phức tạp với những khát vọng nhiều mặt củacon người
Nhưng mãi đến khi có sự bùng nổ của Thơ mới và văn xuôi Tự Lực văn đoànmới đánh dấu sự hình thành của quan niệm về cá nhân trong văn học “ ChữTôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó như lạc loài nơi đấtkhách Bởi nó mang theo quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cánhân.” Những con người cá nhân mang nỗi buồn, sự cô đơn Con người cánhân tìm sự giải thoát trong tình yêu, trong thế giới nội tâm hay trong nhữngứơc mơ về cải cách xã hội
Do yêu cầu của hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, con người cá nhân trong vănhọc giai đoạn 1945 đến 1975 là con người mang cái “ta” chung Con ngườithường phải tạm thời quên đi cá nhân mình để phục vụ cho nền độc lập dântộc Con người không suy nghĩ riêng tư cho cá nhân mà chỉ dành tình cảm, suynghĩ cho vấn đề lớn lao thuộc vận mạng dân tộc, chế độ đương thời Họ tìmthấy niềm vui, hạnh phúc trong cuộc sống tập thể Vì thế, các nhà văn thườngtập trung thể hiện phương diện tập thể, cộng đồng trong đời sống cá nhân Chị
Sứ (Hòn Đất – Anh Đức), anh Núp ( Đất nứơc đứng lên – Nguyên Ngọc), chị
Trang 4Út Tịch ( Người mẹ cầm súng), Tnú ,… mới chỉ là những “con người chiến sĩ”chứ chưa phải là con người bình thường của cuộc sống thật Các nhân vật ởđây mang vẻ đẹp toàn diện Vẻ đẹp ấy luôn đựơc đặt trong những hoàn cảnhthử thách của cuộc chiến đấu Nhà văn không nhìn họ dưới góc độ của conngười cá nhân mà là con người của dân tộc, đất nứơc Tnú cũng như Mai, Dít,Heng hay những dân làng Xôman đều “muôn ngừơi như một” trong lí tửơng
và lòng yêu nứơc Cái riêng hứơng đến biểu hiện cho cái chung của dân tộc.Trong hoàn cảnh bất bình thừơng – chiến tranh, nhà văn thừơng tránh nói đếnnỗi buồn đau, mất mát mà thừơng hứơng đến ngày mai tươi sáng, tốt đẹp Điều
đó cần thiết trong giai đoạn lịch sử ấy song chưa đủ, nhất là khi thời đại đãkhác Khi hoà bình lập lại, con ngừơi trở về với chính bản thân mình, trở vềvới những đòi hỏi, khát vọng vốn có của mình Văn học cần có sự chuyển đổitrong quan niệm về con ngừơi cá nhân Con người cần đựơc miêu tả với đầy
đủ “ bản ngã” của mình cho dù bức tranh đựơc vẽ ra không còn gam màu tươisáng nữa
Trang 52 Số phận “con người cá nhân” trong văn học giai đoạn từ 1985 đến nay:
Nguyễn Đình Thi từng nhận xét trong văn học kháng chiến “nói chung chúng
ta chưa mô tả đựơc sâu sắc tình yêu và những tình cảm trong đời sống riêngcủa con ngừơi” Nhưng từ năm 1986 trở đi, trong bối cảnh xã hội đã được dânchủ hoá từ sau đại hội VI của Đảng, đời sống văn học đã mang một sắc diệnmới Văn học từng bước trở lại vị trí, chức năng và bản chất của mình Cácnhà văn có cái nhìn mới, đa dạng, nhiều chiều hơn về hiện thực Hiện thực ấykhông chỉ là hiện thực cách mạng mà còn là hiện thực của đời sống hàng ngàyvới tất cả những bề nổi lẫn bề chìm, với tất cả những quan hệ phức tạp của nó
Và con người lúc này là điểm xuất phát, là đối tựơng khám phá chủ yếu, là cáiđích cuối cùng của văn học “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm
mà tâm điểm là con người” Con người cần đựơc khám phá tất cả các mặt tựnhiên của nó: hạnh phúc, khổ đau, cao cả, thấp hèn…trong các mối quan hệphức tạp trong đời sống
Để hiểu rõ vấn đề số phận con người cá nhân trong văn học giai đoạn 1986đến nay, bài viết dựa trên sự tìm hiểu, nghiên cứu về ba tác phẩm: “ Nỗi buồnchiến tranh – Bảo Ninh”, “ Thời xa vắng – Lê Lựu” và “ Cánh đồng bất tận –Nguyễn Ngọc Tư” Con người cá nhân được đề cập trong đó mang những bikịch lớn: lạc lõng trong cộng đồng người, không được là chính mình và hạnhphúc là điều khó nắm bắt nhất mà họ phải trải qua
2.1 Con người cá nhân với những bi kịch do chiến tranh gây ra
Văn học giai đoạn 1986 đến nay vẫn viết về chiến tranh nhưng không phải lặplại quá khứ mà bổ sung cho quá khứ Các nhà văn đã phản ánh không hề nétránh tất cả sự tàn khốc của chiến tranh, đi sâu miêu tả con người với những sốphận khác nhau trong cuộc chiến Nếu đề cập đến khía cạnh này của văn họcViệt Nam từ 1986 trở đi không thể không kể đến tác phẩm “ Nỗi buồn chiếntranh” của Bảo Ninh Một cuốn sách hơi khó đọc – đương nhiên, khi được viết
Trang 6với một kĩ thuật khá lạ, thời gian đồng hiện, hòa trộn giữa quá khứ và hiện tạichứ không theo một trật tự kể chuyện thông thường.
“Nỗi buồn chiến tranh” không chỉ lạ về hình thức mà còn mới mẻ cả về nộidung so với thời điểm nó ra đời Có thể nói, đây có thể là cuốn sách đầu tiêncủa Văn học Việt Nam khai thác chiến tranh dưới góc độ cá nhân Nếu các tácphẩm ra đời trước “Nỗi buồn chiến tranh” được viết với góc độ tập thể, cáiriêng được đặt trong cái chung, hòa tan vào cái chung, ngùn ngụt ý chí cứunước như “Đất nước đứng lên”, “Người mẹ cầm súng”,…thì Bảo Ninh lại cócái nhìn sâu hơn về thân phận con người trải qua trận mạc, sự mất mát của cánhân trong thời chiến
Qua Kiên, cụ thể là qua ý thức và vô thức của anh, người đọc gần như đượctrực tiếp tham gia vào chiến tranh, nhìn thấu những cuộc giết chóc kinh hoàng,đẫm máu, chứng thực sự suy tàn, bản năng khát máu của con người Từ nhữngcảm giác, ấn tượng, mộng mị, hoang tưởng của Kiên, hiện lên một vũ trụ chiếntranh u uẩn, ngột ngạt, một vũ trụ “mưa” mù mịt: “Suối lũ rền rĩ Mưa tầm tãtrong bóng đêm” Bằng một chuyển động từ ngoài vào trong, người đọc rờithực tế cuộc chiến tranh để đi vào thế giới nội tâm của Kiên Đó là thế giới củabuồn bã, cô đơn, mất niềm tin – những tình cảm bị coi là “tiêu cực”, chưa baogiờ tồn tại trong văn học chiến tranh chính thống đã được Bảo Ninh mô tả mộtcách tinh tế “Kiên thu mình trong tấm tơi lá, bó gối nhìn làn nước cuồn cuộn,không muốn gì và không nghĩ ngợi gì cả” và hàng ngày “Kiên có thể ngồi imlìm bên suối hàng giờ, ảm đạm buông mình theo dòng ưu tư buồn ngủ Mùathu não nề lê thê, mùa thu ê ẩm”
Bảo Ninh thể hiện sự bi quan của cá nhân đối với cuộc chiến: chiến tranhkhông chỉ có vinh quang dù đó là cuộc đấu tranh vì chính nghĩa, chiến tranhtóm gọn lại là sự chết chóc, hủy diệt; “chiến tranh đã làm người ta hư đi hơn làlàm người ta tốt hơn” (Cỏ lau – Nguyễn Minh Châu) Vì chiến tranh đẩy conngười về hai phía: ta và địch Con người phải hành động theo một mục đíchrạch ròi Đó là giành chiến thắng cho dân tộc Cho nên “từng có một thời sự
Trang 7chém giết đã trở thành hành động tự nhiên tất yếu của con người” Con ngườiquen với tiếng súng, âm thanh chát chúa đã quá quen tai, siết cò súng trở thànhmột thói quen: “Tôi vẫn tự nhủ là tránh giết người bằng dao và lê, nhưng đãquen mất tay rồi”; “Không phải bắn nữa mà là tàn sát”…Bảo Ninh đã đi vàochiều sâu của con người để hiểu rõ, nắm bắt được một mất mát lớn, một bikịch mà con người phải gánh chịu trong chiến tranh: mất mát nhân tính
Và cho dù nhiều người trở về sau chiến tranh may mắn không phải mangnhững vết thương thể xác nhưng vết thương trong lòng của họ dường như cứ
bị ngoáy sâu mãi và luôn rỉ máu Họ, những con người đã đi qua năm tháng ácliệt của chiến tranh, trở về với cuộc sống hòa bình nhưng dường như họ đãkhông bao giờ còn là chính mình nữa Chiến tranh đã lấy đi của họ tuổi xuân,tình yêu, sự bình yên trong tâm hồn, và cả niềm tin yêu cuộc sống Họ lại đốidiện với một bi kịch mới: trở thành con người lạc lõng, cô đơn trong cộngđồng
Chiến tranh, như đã nói dù có là một cuộc chiến tranh vì chính nghĩa nó cũnggiết chết bao nhiêu điều tốt đẹp trong con người, giết chết bao điều tốt đẹp củamột đời người Trong chiến tranh, con người nhỏ bé và mong manh biết baonhiêu Họ có thể bị hủy diệt trong tích tắc mà có thể không kịp nhắn nhủ lờinào với đồng đội, người thân Và những con người đi qua cuộc chiến tranhkhốc liệt ấy, nếu may mắn được trở về dù nguyên vẹn hay hao khuyết cũngkhó lòng thoát khỏi những ám ảnh ghê rợn của chiến tranh Tâm hồn họ có lẽchẳng bao giờ còn có thể lấy lại được sự bình yên, tĩnh lặng mà đôi khi ta lầmtưởng bởi vẻ ngoài trầm tư của họ Cho nên đôi khi chỉ cần một thứ mùi gì đókhông rõ ràng, một hình ảnh gì đó là cũng có thể kéo ngược tâm trí của họ vềngay giữa những ngày tháng ngập ngụa trong bom đạn, khói súng “Mùi hôihám pha tạp của đường phố bị cảm giác nồng lên thành mùi thối rữa Tôitưởng mình đang đi qua đồi “Xáo Thịt” lê liệt người chết sau trận xáp lá càtắm máu cuối tháng chạp 72” và khi đang xem một nghệ sĩ kịch câm uốn lượnthâm mình một cách quằn quại, gào thét một cách âm thầm, thống thiết nỗi đời
Trang 8tuyệt vọng, Kiên như choàng tỉnh, chợt nhớ lại một cách rành rọt và khôngđúng lúc, nhưng sáng rõ như có đèn rọi câu chuyện tình bi thảm và mông muộigiữa các đội viên trinh sát của anh với ba cô gái.
Trong chiến tranh, Kiên tồn tại hai cái tôi, một cái tôi có khi kiên cường, rắnthép và một cái tôi đôi khi nhu nhược hèn nhát Sau chiến tranh, ở Kiên cũngtồn tại hai cái tôi, một cái tôi đang sống và một cái tôi không ngừng đang nhớlại, trở về quá khứ, có điều hai cái đó thường không đồng nhất Cái tôi đangsống thì dường như đã không còn chút sinh lực, không còn chút niềm tin yêuvào cuộc sống trong khi cái tôi “hồi tưởng” thì hết sức sống động, dạt dào,hừng hực nhưng lại là cái hừng hực tái tê, đau đớn Và cả hai cái tôi ấy gặpnhau ở chỗ “chỉ có nỗi buồn, mênh mang nỗi buồn- nỗi buồn được sống sót”.Hóa ra cuộc sống thật đáng quý nhưng cuộc sống sau khi đã lăn lộn bao nămgiữa chiến trận lại là một điều bất hạnh và cay đắng Chiến tranh luôn ám ảnh,quấy phá tâm trí Kiên, khiến anh vĩnh viễn sống cùng lúc giữa hai đầu của thờigian: quá khứ và hiện tại Nhưng có lẽ dĩ vãng lại có một sức mạnh ghê gớmhơn cả Ngay khi Kiên quyết định tiếp tục sống ‘những ngày tháng phíatrước”, cuộc đời anh vẫn cho ta cái cảm giác như càng ngày càng bị đẩy lùi, bị
xô ngược về với quá khứ qua hình ảnh tuyệt đẹp của “con thuyền bơi ngượcdòng sông” Hơn thế nữa, với Kiên, cái đang diễn ra hay sẽ diễn ra, tất cả đềuthuộc về quá khứ, một thứ quá khứ vĩnh cửu “Đối với tôi, tương lai đã nằm lại
ở phía sau xa kia rồi” Các đoạn đời cứ đan xen, pha trộn lẫn nhau để cuốicùng biến thành những vùng không gian mới, những cùng “quá khứ chưa từngcó” Như một khởi đầu tuyệt đối, chiến tranh là cội nguồn những mất mát hệlụy đời anh Kiên thuộc về loại người mà chính anh gọi là “không tài nào nhấcchân ra khỏi miệng hố của chiến tranh, loại người bị kí ức quá kinh khủng đèbẹp và làm cho suy đốn” Sống ở thời bình nhưng trong cách nhìn thời thế,trong lối sống, niềm vui hay nỗi buồn, hạnh phúc hay đau khổ của anh, đâuđâu cũng nghe tiếng vọng của cuộc chiến giờ đã là quá khứ
Trang 9Trong “Nỗi buồn chiến tranh”, những mất mát và đau thương mà con ngườiphải chịu đựng trở thành một chiều kích không thể quy giản Không lẩn tránhhoặc trừu tượng hóa chiều kích đó, Bảo Ninh cụ thể hóa nó thành những dòngtâm tư dằn vặt khủng khiếp và ám ảnh dai dẳng suốt quãng đời hậu chiến Dẫuvậy trong anh, những đau đớn của cuộc sống hiện tại còn xuất phát từ sự lạclõng của anh trước “nền hòa bình thản nhiên thời hậu chiến” Kiên cảm thấyrằng “cái cảm giác hòa nhập, cảm giác đồng điệu ngày mới rời ngũ trở về anhthường thấy khi đi giữa phố xá, giữa mọi người giờ đây không còn nữa ámảnh cô đơn luôn bám gót Kiên: cuộc sống thời hậu chiến không dung nạp anh.Trong con mắt những người xung quanh, anh chỉ là một gã “nhà văn phường”gàn dở “Càng ngày Kiên càng có cảm giác rằng không phải mình đang sống
mà đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này” Hội chứng chiến tranh đã làm anhkhông thể tách mình với quá khứ
Ngay cả mối tình dường như là hằng số với Phương cũng bị cuộc chiến đóchia đôi “Đời anh chỉ có hai tình yêu thôi Một là mối tình của anh và Phươngtrước chiến tranh Và sau chiến tranh là một mối tình khác, cũng giữa anh vớinàng” Và cả hai mối tình ấy đều chẳng đi đến đâu Kiên không chỉ mất đi tuổitrẻ trong chiến tranh, mất đi sức sống hừng hực của người trai trẻ sau chiếntranh mà còn mất mát nhiều hơn thế thời hậu chiến Mất đi tình yêu vớiPhương có khác chi là mất đi tất cả, sau chiến tranh, không còn ai thân thích,không tìm đâu thấy niềm yêu sống của đời mình, anh chỉ còn Phương như làcứu cánh duy nhất của đời mình nhưng tuyệt nhiên không thể còn có một tìnhyêu đẹp như thế giữa hai người như trước khi Kiên nhập ngũ Tình yêu tan vỡ
là gáo nước lạnh dội vào những tàn lửa sắp tắt cuối cùng của trái tim Kiên VàKiên đã tìm sự giải thoát của mình trong những trang viết, những trang viết vềchính anh, về thế hệ của anh, thời đại của anh
Trong “Nỗi buồn chiến tranh”, ngoài Kiên còn có hình ảnh của cha anh Hìnhtượng Kiên và cha anh trước hết cần được hiểu như những số phận dị thường,những thực thể cô dơn và cá biệt mà một thứ “thiên mệnh vô danh, thiêng
Trang 10liêng và cao cả, song tuyệt đối bí ẩn” đã buộc họ phải trải qua những cảnhhuống đầy trái ngược của lịch sử vì thế cô độc và số phận dị thường ấy lúcgiúp họ nhìn thấy được những góc khuất của lịch sử Cái nhìn của họ khôngphải là sự phản chiếu cái nhìn cộng đồng về lịch sử mà nó là một cái nhìn, mộtsuy nghiệm cá nhân về lịch sử Chỉ có điều, nếu như cha của Kiên sau khi đãthấu thị những đe dọa của một thời đại mới đối với cái đẹp, ông dừng lại ở bênnày cánh cửa của lịch sử (cái chết về tình thần – đốt tranh – và thể xác trướcchiến tranh) thì Kiên lại đi theo một hành trình khác: dấn thân vào chiến tranh,trải nghiệm những cảnh huống kinh hoàng của chiến tranh và ra khỏi chiếntranh với gánh nặng của kỉ niệm đau đớn.
Trong chiến tranh, ngoài số phận của những người lính trở về từ trận mạc cònhiện lên hình ảnh của những người phụ nữ Người phụ nữ là hiện thân củatình yêu – đối âm của chiến tranh Tình yêu gắn liền với cái đẹp, với nhân tính,
là cái đối lập với bạo lực hủy diệt nhân tính Nếu như chiến tranh đánh thứctrong Kiên phần tàn bạo, biến anh thành cỗ máy, “âm thầm và mệt mỏi” –nghĩa là vô cảm – của sự giết chóc thì những người phụ nữ từ Hạnh cho đếnPhương, đến người nữ y tá trong Điều trị 8(một hóa thân của Phương) lại đánhthức trong anh tình yêu, một tình yêu mà cho ông tới tận cuối đời anh, vĩnhviễn không trọn vẹn Người phụ nữ là ánh sáng cứu rỗi cuộc đời con ngườinhưng đồng thời cũng là nạn nhân của sự hủy diệt Điều đó được biểu thị tậptring trong hình tượng Phương, người phụ nữ xuyên suốt cuốn tiể u thuyết đốivới Kiên, Phương là người đánh thức tình yêu trong anh thời tuổi trẻ, là ngườisức mạnh chập chờn trong quãng đời chiến trận của anh, nhưng chiến tranhkhông “bỏ lỡ” bất cứ một người nào tồn tại trong quỹ đạo của nó Phương bịlàm nhục ngay trong giờ khắc khởi đầu của cuộc chiến và mỗi tình của họ mãimãi là một mối tình đau khổ không thành với những vết thương không thểchữa lành trong cuộc sống thời bình Cái chết của những người lính, sự tan vỡcủa tình yêu và sự chà đạp nhân phẩm người phụ nữ là những biểu hiện sứcmạnh hủy diệt của chiến tranh, sức mạnh chà đạp lên đời sống con người