Quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật, đây là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để truyền tải pháp luật vào cuộc sống. Vì thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật hay áp dụng pháp luật thì trước hết đều phải có hiểu biết pháp luật. Bên cạnh đó việc giáo dục pháp luật còn giúp hình thành ý thức pháp luật, tạo lòng tin vào pháp luật, thói quen và ý thức tôn trọng pháp luật cho mọi công dân, nhằm phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật trong cuộc sống..
Trang 1Kỹ năng tuyên truyền văn bản pháp luật của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở - Thực tiễn tại cơ quan Tổng cục Hải
quan và giải pháp, kiến nghịA: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của khóa luận
Quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động tuyêntruyền, phổ biến các văn bản pháp luật, đây là khâu đầu tiên của hoạt động thựcthi pháp luật, là cầu nối để truyền tải pháp luật vào cuộc sống Vì thực hiện phápluật dù bằng hình thức nào như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụngpháp luật hay áp dụng pháp luật thì trước hết đều phải có hiểu biết pháp luật Bêncạnh đó việc giáo dục pháp luật còn giúp hình thành ý thức pháp luật, tạo lòngtin vào pháp luật, thói quen và ý thức tôn trọng pháp luật cho mọi công dân,nhằm phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật trong cuộc sống
Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy công tác tuyên truyền, phổ biến, giáodục pháp luật không ngừng được cơ quan Tổng cục Hải quan đẩy mạnh thựchiện và đặt ra những kế hoạch hoạt động phù hợp với đặc thù riêng của đơn vị.Tổng cục Hải quan là một là một cơ quan chuyên môn với những mục tiêu nhằmtạo thuận lợi cho phát triển xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển
du lịch và giao thương quốc tế, đảm bảo quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác Hải quan Việt Nam đã luôn luôn thực hiện theo khẩu hiệu mà mình đãđặt ra “chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả” Để có thể làm được điều đó thìviệc nắm và hiểu các văn bản quy định pháp luật là vấn đề hết sức quan trọng đốivới từng cá nhân cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan
Do đó đòi hỏi công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luậtcủa đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở phải được tiến hành thường xuyênliên tục với nhiều biện pháp thích hợp
Trang 2Cấp cơ sở là cấp trực tiếp thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của hệ thốnglãnh đạo, quản lý, là cấp nắm thông tin nhanh, trực tiếp và trung thực nên chophép xử lý chính xác và linh hoạt các tình huống thực tiễn Song song với đó,cán bộ, lãnh đạo ở cơ sở thường nắm được tâm tư, nguyện vọng của người laođộng nên có thể đề xuất các phương pháp lãnh đạo quản lý hiệu quả Chính vìvậy khi đảm nhiệm công tác tuyên truyền văn bản pháp luật, theo Chủ tịch Hồ ChíMinh, người cán bộ tuyên truyền có kỹ năng tuyên truyền tốt phải luôn đặt rõ mụcđích, nắm chắc, hiểu sâu nội dung tuyên truyền, biết rõ đối tượng, thuần thục cácphương pháp và cách thức tuyên truyền, phải luôn ghi nhớ rằng: “Công tác tuyêntruyền vận động quần chúng phải cụ thể, thiết thực” Nâng cao chất lượng tuyên truyềnvăn bản pháp luật cho đội ngũ lãnh đạo quản lý ở cơ sở để từ đó nâng cao trình độ hiểubiết pháp luật, củng cố niềm tin, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác cho đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động cơ quan Tổng cục Hải quan
Trong quá trình học tập, bản thân học viên đã được tiếp cận, tìm hiểu vớicông tác tuyên truyền các văn bản pháp luật ở cơ quan Tổng cục Hải quan, qua
đó thấy được phần nào những khó khăn vướng mắc cũng như những kết quả đã
đạt được của công tác này tại đơn vị Do đó học viên chọn đề tài “Kỹ năng tuyên truyền văn bản pháp luật của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở - Thực tiễn tại cơ quan Tổng cục Hải quan và giải pháp, kiến nghị” là nội dung
chính trong khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra giải pháp nâng cao kỹ năng tuyên truyền các văn bản pháp luật của cán
bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở tại cơ quan Tổng cục Hải quan
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khái quát một số vấn đề lý luận về tuyên truyền, thuyết phục cũng những
kỹ năng tuyên truyền thuyết phục của lãnh đạo quản lý cơ sở
Trang 3Mô tả thực trạng công tác tuyên truyền các văn bản pháp luật ở cơ quantổng cục Hải quan, và kỹ năng tuyên truyền văn bản pháp luật của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cơ sở tại cơ quan Tổng cục Hải quan
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng tuyên truyền văn bảnpháp luật của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ sở tại cơ quan tổng cục Hảiquan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Kỹ năng tuyên truyền văn bản pháp luật của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ
sở - Tổng cục Hải quan
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu các biểu hiện, mức độ kỹ
năng tuyên truyền và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tuyên truyền của cán bộ lãnhđạo quản lý cơ sở - Tổng cục Hải quan
Phạm vi khảo sát: khóa luận tập trung khảo sát các khách thể: 20 cán bộ,
công chức, người lao động ở các cơ quan tổng cục Hải quan
Thời gian khảo sát và các số liệu thu thập, xử lí tính từ năm 2020 đến nay.
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận trong hướng nghiên cứu về vấn
đề kỹ năng tuyên truyền thuyết phục nói chung và kỹ năng tuyên truyền văn bảnpháp luật của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cơ sở tại cơ quan Tổng cục Hảiquan nói riêng
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cơ
sở phát triển kỹ năng tuyên truyền văn bản pháp luật, góp phần tích cực vào côngtác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước, quy định của Ngành trong giai đoạn hiện nay
Trang 4Khóa luận có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo phục vụ cho đội ngũcán bộ lãnh đạo quản lý cơ sở tại Tổng cục Hải quan trong quá trình công tác
7 Kết cấu của đề tài:
* Khái niệm tuyên truyền:
Tuyên truyền theo nghĩa rộng là hoạt động truyền bá những kiến thức,những giá trị tinh thần, tác động vào các đối tượng trong xã hội làm chuyểnbiến và nâng cao về nhận thức, hình thành niềm tin, bồi dưỡng và xây dựng tìnhcảm, ý chí, cổ vũ và thôi thúc mọi người hành động một cách tự giác theonhững yêu cầu, nhiệm vụ tuyên truyền đặt ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giảithích: "Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dânlàm Nếu không đạt mục tiêu đó thì tuyên truyền thất bại 1[tr.162] Theo nghĩahẹp, tuyên truyền là hoạt động truyền bá những quan điểm lý luận và đường lốichiến lược, sách lược nhằm xây dựng cho quần chúng thế giới quan, nhân sinh
Trang 5quan nhất định và thuyết phục quần chúng hành động phù họp với thế giới quan,nhân sinh quan ấy
* Khái niệm thuyết phục
Theo Từ điến Tiếng Việt Thuyết phục là làm cho bản thân người ta thấyđúng, hay mà tin theo, làm theo Với cách hiểu như vậy, thuyết phục là một đặctrưng, một mục tiêu cần đạt tới của tuyên truyền Tuyên truyền phải đạt tới trình
độ thuyết phục, phải có sức thuyết phục, cảm hóa, đúng, hay thì người ta mới tin
và làm theo Trong tiến trình xây dựng hệ thống lý luận cách mạng, các nhà kinhđiển của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn chú ý đặc biệt tới nhiệm vụ giáo dục conngười Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp, việc thực hiện nó đòi hỏikhông thể không có biện pháp thuyết phục Theo quan niệm của các nhà kinhđiển Mác - Lênin, thuyết phục là trực tiếp tác động vào quá trình nhận thức, cảmxúc tình cảm và ý chí của đối tượng Mục đích làm cho đối tượng có hiểu biếtđúng đắn, sâu sắc, đồng thời có thái độ tình cảm tích cực, có nỗ lực quyết tâmcao, từ đó hình thành ý thức tự giác tiếp nhận các quan điểm tư tưởng để pháttriển nhân cách Thuyết phục là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, là yêu cầu quantrọng và là nguyên tắc cơ bản trong giáo dục xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin (1870-1924) đã chỉ rõ: “Tài nghệ của mỗi một người tuyên truyền và mỗi một cổ động
là ở chỗ ảnh hưởng một cách tốt nhất đến một thính giả nhất định, làm cho mộtchân lý nào đó đối với họ trở nên có sức thuyết phục mạnh nhất, dễ hiểu nhất, đểlại những ấn tượng rõ ràng nhất, sâu sắc nhất” Tư tưởng này cho thấy, để thuyếtphục được người khác, người đi thuyết phục phải đặt linh hồn và tư tưởng sốngvào trong lời nói cử chỉ, thái độ của mình Đó không đơn thuần chỉ là những từngữ hoa mỹ, máy móc, những công thức có sẵn mà là sự kết hợp nhuần nhuyễngiữa tri thức, cảm xúc và niềm tin của người đi thuyết phục
Trang 6Như vậy, thuật ngữ tuyên truyền, thuyết phục được dùng cùng nghĩa vớituyên truyền, nhưng hàm ý nhấn mạnh tính thuyết phục, cảm hóa đối tượng trongquá trình thực hiện.
* Khái niệm kỹ năng tuyên truyền, thuyết phục
Kỹ năng là một vấn đề phức tạp và được các nhà nghiên cứu bàn luận khánhiều Cho đến nay, khái niệm “kỹ năng” vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm dogóc độ tiếp cận khác nhau
Khi bàn về khái niệm “kỹ năng”, L Đ.Lêvitôv - nhà tâm lý học Liên Xôcho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạtđộng phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, cótính đến những điều kiện nhất định” Theo ông, người có kỹ năng hành động làngười phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thựchiện hành động có kết quả Như vậy, cá nhân có kỹ năng không chỉ nắm lýthuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế
Theo từ điển Oxfort, “kỹ năng” là khả năng để làm tốt một công việc nào
đó thường có được qua đào tạo hoặc kinh nghiệm Theo đó, kỹ năng được hiểu là
sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác trong quá trình hoànthành một công việc cụ thể nào đó2
Tóm lại, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng nhưng các tác giảđều có chung một quan niệm, đó là gắn kỹ năng với hoạt động của cá nhân Nó
là phương thức hành động phù hợp với điều kiện, yêu cầu của hoạt động và giúpmang lại hiệu quả của hoạt động Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lạimột hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó, luôn có chủ đích và địnhhướng rõ ràng Hay nói cách khác, ở đây kĩ năng được hiểu là năng lực hay khảnăng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở
2 Viện ngôn ngữ học (2000) , Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
Trang 7hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong muốn.
Như vậy, kỹ năng tuyên truyền, thuyết phục là khả năng vận dụng kiếnthức, hiểu biết về lĩnh vực này trong thực tiễn tuyên truyền Thuyết phục là khảnăng vận dụng kiến thức, hiểu biết về lĩnh vực này trong thực tiễn tuyên truyền,thuyết phục quần chúng bằng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau
Tuyên truyền, thuyết phục quần chúng, nếu phân chia theo quy mô tác động
có tuyên truyền, thuyêt phục cá nhân (đối tượng tác động là một cá nhân); tuyêntruyền, thuyết phục nhóm (đố tượng tác động là một nhóm người, một tập thể) vàtuyên truyền, thuyết phục đại chúng (đối tượng tác động là công chúng rộn rãitrên quy mô toàn xã hội) Ở cấp cơ sở, người lãnh đạo, quì lý thường sử dụngloại hình tuyên truyền, thuyết phục cá nhân và tuyên truyền, thuyết phục nhóm
để tác động đến đối tượng là cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trên địabàn
1.2 Kỹ năng tuyên truyền, thuyết phục của cán bộ lãnh đạo, quản lý cơ sở
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp, tác giả trình bày các kỹnăng tuyên truyền, thuyết phục cá nhân và nhóm của cán bộ lãnh đạo quản lý cấp
cơ sở
1.2.1 Tuyên truyền thuyết phục cá nhân
* Gặp gỡ trực tiếp
Gặp gỡ trực tiếp là quá trình mà cán bộ lãnh đạo, quản lý trực tiếp gặp mặt một
đối tượng để tuyên truyền, vận động thuyết phục về một vấn đề nào đó Gặp gỡ
trực tiếp là một trong những phương thức có hiệu quả, có tác động rất lớn trongtuyên truyền, vận động, thuyết phục từng nprời dân thực hiện chủ trương, đườnglối, chính sách, pháp luật
Ưu thế của việc gặp gỡ là giao tiếp trực tiếp nên thông tin được trao đổi,bàn bạc, tranh luận kỹ lưỡng để đi đến chấp nhận hay không chấpnhận, đồng tình hay không đồng tình Có thể vận dụng các yếu tố kỹ thuật của
Trang 8loại hình giao tiếp này như ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ và các thủ thuật tâm lý để
tạo ra hiệu quả tác động lớn Cùng với đó, thông tin phản hồi, kết quả gặp gỡ thể
hiện ngay Tuy nhiên, do nội dung giao tiếp bộc lộ trực tiếp ngay nên mức độsâu sắc, mức độ chính xác, chín chắn của thông tin có phần bị hạn chế và vớinhững người mà khả năng tự kiềm chế kém, thiếu linh hoạt thì cảm hóa đốitượng kém thì hiệu quả tuyên truyền, vận động thường không cao
* Thăm tại nhà
Thăm tại nhà là quá trình gặp gỡ, trao đối giữa cán bộ lãnh đạo, quản lýcấp cơ sở với đối tượng và có thể với cả các thành viên trong gia đình, tại nhàcủa đổi tượng với mục đích tuyên tuyền, thuyết phục, cảm hóa đối tượng, chấpnhận và thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật hoặc một hành vitích cực nào đó
Tình huống thăm tại nhà thường là khi trong gia đình có đối tượng cá biệt,khi đối tượng cần có sự giúp đỡ của những người khác trong gia đình để giảiquyết một vấn đề nào đó hoặc khi gia đình đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt(đông con, đời sống khó khăn, có người ốm yếu, V.V.), có hành vi cá biệt(không chấp hành chủ trương của cấp ủy, cơ quan, vi phạm pháp luật, v.v.)
Những việc cần làm khi thăm tại nhà: Giải thích cho đối tượng biết hoặccung cấp tài liệu (sách nhỏ, tờ gấp) về vấn đề mà đối tượng đang quan tâm Traođổi, thuyết phục các thành viên trong gia đình đối tượng để họ ủng hộ đối tượng,chấp nhận thực hiện chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật hoặc một hành
vi tích cực nào đó
* Vận động hành lang
Vận động hành lang là nghệ thuật khai thác các khả năng, các cơ may đểthuyết phục các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ lãnh đạo, quản lý cấptrên, các đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội ủng hộ các chương trìnhcông tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở đồng thời vận động họ có sự tác
Trang 9động làm thay đổi chính sách theo hướng có lợi cho công tác lãnh đạo, quản lý
cẩp cơ sở Mục đích của vận động hành lang không phải là nhằm thay đổi nhận
thức, thái độ và hành vi của đối tượng thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật
mà là tác động nhằm thay đổi các chính sách, các chương trình phát triển
Đối tượng của vận động hành lang là những người tham gia vào quá trìnhchuẩn bị và thông qua các quyết định, các chính sách phát triển Đó là những cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên (cấp ủy, ủy ban nhân dân, đại biểu Hội đồng nhândân, đại biểu Quốc hội, v.v.)
1.2.2 Tuyên truyền, thuyết phục nhóm
* Thảo luận nhóm nhỏ
Thảo luận nhóm nhỏ là phương pháp tuyên truyền, vận động trong đó cán
bộ lãnh đạo, quản lý trực tiếp nói chuyện, thuyết trình, chia sẻ, trao đổi thông tinvới một nhóm nhỏ đối tượng có đặc điếm, hoàn cảnh giống nhau hoặc gần giongnhau
Thảo luận nhóm nhỏ thường được sử dụng khi cần cung cấp ngay cho đốitượng những thông tin kiến thức mới; khi một số đối tượng cùng có nhu cầuhiểu biết về một vấn đê nào đó trong số các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội, v.v khi trong cộng đồng còn một số đối tượng chưa thực hiện một hoặcmột số hành vi nào đó
* Diễn thuyết trước công chúng
Diễn thuyết trước công chúng là nghệ thuật nói chuyện nhằm gây ảnhhưởng hoặc gây cười cho thính giả Trong diễn thuyết, cũng giống bất cứ hìnhthức truyền thông nào khác, có năm yếu tố căn bản thường được biểu thị nhưsau, “ai đang nói điều gì với ai và đang sử dụng phương tiện nào để gây ra kếtquả gì Đối tượng quy định việc xác định nội dung, lựa chọn phương pháp diễnthuyết Đối với những đối tượng khác nhau, nội dung, phương pháp phát biểu,Irỉnh bày phải khác nhau Vì vậy, nghiên cứu về đối tượng là công việc đầu tiên
Trang 10mà người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tiến hành trước khi diễn thuyết Sinhthời, Bác Hồ thường xuyên căn dặn cán bộ tuyên truyền, nhà văn, nhà báo phải
tự đặt câu hỏi “Nói cho ai nghe? Viết cho ai xem” trước khi nói, viết một vấn đềnào đó
Về nội dung nghiên cứu đối tượng:
Nghiên cứu đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu: các đặc điểm về thànhphần xã hội - giai cấp, nghề nghiệp, học vấn, giới tính, tuổi tác v.v của đốitượng
Nghiên cứu các đặc điểm về tư tưởng và tâm lý - xã hội: hệ thống cácquan điểm, chính kiến, động cơ, khuôn mẫu tư duy, tâm trạng và trạng thái thểchất v.v của họ
Nghiên cứu về nhu cầu, thị hiếu thông tin; thái độ của người nghe đối vớinguồn thông tin và nội dung thông tin; con đường, cách thức thỏa mãn nhu cầuthông tin của đoi tượng
Trên cơ sở nghiên cứu về các đặc điểm này và xuất phát từ các đặc điểm này,người cán bộ lãnh đạo, quản lý xác định mục đích, nội dung, phương pháp diễnthuyết phù hợp
Công tác tuyên truyền, thuyết phục của người lãnh đạo, quản lý có mục đích
là cung cấp cho đối tượng những thông tin, kiến thức mới; hình thành, củng cốniềm tin và cổ vũ, khơi dậy tính tích cực hành động của người dân Vì vậy, chủ
đề bài diễn thuyết trước công chúng có thể được chọn từ những vấn đề kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, v.v của đất nước vàcủa địa phương, cơ quan Chủ đề của bài nói cũng có thể được chọn từ nhữngvấn đề thuộc quan điểm, đường lối của Đảng hay chính sách, pháp luật của Nhànước
1.3 Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật và yêu cầu về kỹ năng tuyên truyền văn bản pháp luật đối với lãnh đạo quản lý cơ sở
Trang 111.3.1 Vị trí, vai trò của tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng, thể hiện rõ nét trênhai khía cạnh sau:
Thứ nhất, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản
lý xã hội Vai trò này bắt nguồn từ vai trò và giá trị xã hội của pháp luật Mộttrong những vai trò cơ bản của pháp luật trong đời sống nhà nước, đời sống xã
hội là: pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước Một nguyên lý đã được khẳng định là nhà nước không thể tồn tại thiếu
pháp luật và pháp luật không thể phát huy hiệu lực của mình nếu không có sứcmạnh của bộ máy nhà nước Thông qua quyền lực nhà nước, pháp luật mới cóthể phát huy tác dụng trong đời sống xã hội, phát huy vai trò quản lý Nhà nước,quản lý xã hội Hệ thống pháp luật là “con đường”, là cái “khung pháp lý” doNhà nước vạch ra để mọi tổ chức, mọi công dân dựa vào đó mà tổ chức, hoạtđộng và phát triển Phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần đem lại cho mọi người
có trí thức pháp luật, xây dựng tình cảm pháp luật đúng đắn và có hành vi hợppháp, biết sử dụng pháp luật làm phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội
Thứ hai, giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật, văn hoá
pháp lý của mọi thành viên trong xã hội, nhất là cán bộ, công chức, viên chức vàngười lao động trong các cơ quan nhà nước Trong giai đoạn hiện nay, vấn đềcủng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang là một vấn đề cấpthiết Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, thực hiệnNhà nước quản lý bằng pháp luật, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân lao động, Đảng ta đã khẳng định: “điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật
Trang 12và ý thức pháp luật của nhân dân” Để củng cố và tăng cường pháp chế đòi hỏi
phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ trong đó có việc nâng cao trình độ vănhoá pháp lý, xây dựng ý thức pháp luật ở mỗi người dân Chỉ khi nào trong xãhội mọi công dân đều có ý thức pháp luật, luôn tuân thủ pháp luật và có hành viphù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của hệ thống pháp luật, mới có thể thực hiện quản
lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật và điều này chỉ có thể hình thành vàthực hiện được trên cơ sở tiến hành giáo dục pháp luật
1.3.2 Mục đích của tuyên truyền, giáo dục pháp luật
* Hình thành và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho đối tượng
Thông qua tuyên truyền, giáo dục pháp luật, người giáo dục được trang bịnhững tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị của pháp luật, vai trò điều chỉnhcủa pháp luật, các chuẩn mực pháp luật trong từng lĩnh vực đời sống
Hình thành tri thức pháp luật là nền móng cơ bản để xây dựng tình cảmpháp luật Trên cơ sở kiến thức pháp luật được trang bị đã hình thành mở rộng vàlàm sâu sắc tri thức pháp luật, giúp người học am hiểu hơn về pháp luật và biếtcách đánh giá một cách đúng đắn các hành vi pháp lý Tri thức pháp luật gópphần định hướng cho lòng tin đúng đắn vào các giá trị của pháp luật, tạo cơ sởhình thành hành vi hợp pháp ở mỗi cá nhân Tri thức pháp luật giúp con ngườiđiều khiển, kiềm chế hành vi của mình trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý, tri thứcpháp luật đã nhận thức được Các hành vi phù hợp với pháp luật chỉ được hìnhthành trên cơ sở nhận thức đúng, có niềm tin và có tình cảm đúng đắn đối vớipháp luật
* Hình thành, bồi dưỡng, phát triển niềm tin pháp luật cho đối tuợng.
Niềm tin vào pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng hành
vi Lòng tin vững chắc vào pháp luật là cơ sở để hình thành động cơ của hành vihợp pháp Trong cuộc sống, có nhiều trường hợp những người có kiến thức phápluật nhưng không có lòng tin vào pháp luật, sẵn sàng chà đạp lên pháp luật, lợi
Trang 13dụng kẽ hở của pháp luật để trục lợi Khi con người tin vào tính công bằng củanhững đòi hỏi của quy phạm pháp luật thì không cần một sự tác động bổ sungnào của Nhà nước để thực hiện những đòi hỏi đó Có lòng tin vào tính công bằngcủa pháp luật, con người sẽ có hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật mộtcách độc lập, tự nguyện.
* Giáo dục ý thức nhân cách, rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật cho đối tượng
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ý thức pháp luật trongmỗi công dân Kết quả cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật phải được thểhiện ở hành vi xử sự phù hợp pháp luật của các công dân Giáo dục tri thức phápluật, bồi dưỡng niềm tin pháp luật là tiền đề để giáo dục ý thức nhân cách rènluyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật hình thành động cơ và hành vi tíchcực pháp luật Những hành vi hợp pháp của mỗi người thường biểu hiện qua cácviệc làm như :
+ Tuân thủ các quy phạm pháp luật Kiềm chế không thực hiện các điềupháp luật cấm
+ Thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân.+ Biết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật; biết vận dụng pháp luật
để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân khi bị xâm phạm
Mục đích cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ởmỗi thành viên xã hội ý thức pháp luật bền vững
1.3.3 Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cơ sở làm công tác tuyên truyền văn bản pháp luật
Trang 14biết về đối tượng tuyên truyền ; khi tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần dự kiếntrước được các tình huống, các câu hỏi người nghe đưa ra để chuẩn bị phương ántrả lời thích hợp giúp cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đạt đượchiệu quả, chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu của người được tuyên truyền,phổ biến, giáo dục pháp luật;
- Nắm vững những vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà các văn bản pháp luậtđiều chỉnh;
- Hiểu được ý nghĩa, bản chất pháp lý của vấn đề mà các văn bản điềuchỉnh, sự cần thiết phải ban hành văn bản;
- Hiểu rõ đối tượng, phạm vi, nội dung điều chỉnh của văn bản;
- Hiểu rõ ý nghĩa của các quy phạm, tác dụng điều chỉnh của từng quyphạm, các chế tài…
độ thờ ơ; khuyến khích người nghe phát biểu ý kiến;
- Kỹ năng quan sát: sử dụng các giác quan như mắt nhìn, tai nghe hoặcquan sát một cách kín đáo…
- Kỹ năng truyền đạt: sử dụng ngôn ngữ đơn giản, rõ ràng, phù hợp, kếthợp, nêu các ví dụ cụ thể, gần gũi…
- Kỹ năng động viên : dùng lời nói, ánh mắt để động viên; thông cảm vớingười được truyền thông; động viên, thu hút những người rụt rè tham gia…
Ngoài ra còn những yêu cầu khác như :
- Có sự nhiệt tình, tâm huyết, tận tụy;
- Có khả năng nói và viết;
Trang 15- Có khả năng hòa đồng và giao tiếp;
- Có kiến thức nhất định về tâm lý học tuyên truyền;
- Có hiểu biết về văn hóa, phong tục tập quán, điều kiện xã hội của mỗi địabàn dân tộc, mỗi vùng miền nhất định
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ CƠ SỞ - TỔNG CỤC HẢI QUAN
2.1 Tổng quan về Hải quan Việt Nam
Hải quan Việt Nam được thành lập ngày 10/9/1945 theo Sắc lệnh số 27-SLvới tên gọi là “Sở thuế quan và thuế gián thu” thuộc Bộ Tài chính, đến năm
1954 được đổi thành “Sở Hải quan Trung ương” thuộc Bộ Công Thương.Ngày 20/8/1984, Hội đồng Nhà nước thành lập Tổng cục Hải quan thuộc Hộiđồng Bộ trưởng Tuy nhiên đến năm2002, Thủ tướng Chính phủ ban hànhquyết định chuyển giao Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính như ngàyđầu thành lập
Quá trình hình thành, phát triển qua nhiều tên gọi, vị trí, quy mô khác nhaunhưng Hải quan Việt Nam vẫn thực hiện đầy đủ chức năng như hải quan cácnước Hải quan Việt Nam thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO);
h ệ thống được tổ chức theo ngành dọc từ Tổng cục tới Cục hải quan, Chi cụchải quan Từ năm 2005 bắt đầu thực hiện thủ tục hải quan điện tử
* Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức:
1 Tổng cục Hải quan là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năngtham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về hải quan và tổchức thực thi pháp luật về hải quan trong phạm vi cả nước
2 Tổng cục Hải quan có tư cách pháp nhân, con dấu hình Quốc huy, tài khoảnriêng tại Kho bạc Nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội
Trang 16Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan bao gồm các cơ quan ở Trung ương vàđịa phương
Cơ quan Hải quan ở Trung ương:
a) Vụ Pháp chế;
b) Vụ Hợp tác quốc tế;
c) Vụ Tổ chức cán bộ;
d) Vụ Thanh tra - kiểm tra;
đ) Văn phòng (có đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh);
e) Cục Giám sát quản lý về hải quan;
g) Cục Thuế xuất nhập khẩu;
h) Cục Điều tra chống buôn lậu;
i) Cục Kiểm tra sau thông quan ;
k) Cục Tài vụ - Quản trị ;
l) Cục Quản lý rủi ro;
m) Cục Kiểm định hải quan ;
n) Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan;
o) Viện Nghiên cứu Hải quan;
p) Trường Hải quan Việt Nam;
q) Báo Hải quan.
* Các cơ quan hải quan ở địa phương:
1/ Các Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc Tổng cục Hải quan:
- Cục Hải quan thành phố Hà Nội - Cục Hải quan tỉnh Hà Giang
- Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh - Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh