Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Bài tiểu luận của nhóm sẽ đưa ra những đánh giá về tác động của Vũ khí hạt nhân, những động thái giải quyết hậu quả vấn đề vũ khí hạt nhân sau Chiến tran
Trang 11
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
~~~~~~*~~~~~~
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ VŨ KHÍ HẠT NHÂN TRONG VÀ SAU
CHIẾN TRANH LẠNH
Hà Nội – 02/2021
Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Nguyễn Thị Hạnh
Môn : Lịch sử Quan hệ Quốc tế hiện đại
Trang 22
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu tiểu luận 4
NỘI DUNG 5
Phần 1: Vấn đề vũ khí hạt nhân trong chiến tranh Lạnh 5
I Sơ lược về vũ khí hạt nhân: 5
1 Vũ khí hạt nhân là gì? 5
2 Tác động của vũ khí hạt nhân lên quan hệ quốc tế: 6
II Biểu hiện của những cuộc chạy đua về vũ khí hạt nhân trong chiến tranh lạnh: 6
1 Giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô: 7
2 Ở một số quốc gia khác: 7
III Các cuộc khủng hoảng vũ khí hạt nhân trong Chiến tranh Lạnh: 8
IV Các hiệp ước nhằm hạn chế và kiểm soát VKHN trong Chiến tranh Lạnh: 9
Phần 2: Vấn đề vũ khí hạt nhân sau chiến tranh Lạnh 10
I Chạy đua vũ trang sau chiến tranh lạnh: 10
I Vũ khí hạt nhân thay đổi cục diện chính trị sau Chiến tranh Lạnh ra sao: 11
1 Sự thay đổi trật tự thế giới: 11
2 Tính răn đe của Vũ khí hạt nhân 11
3 Sự xuất hiện của chủ nghĩa khủng bố hạt nhân: 12
II Các cuộc khủng hoảng VKHN sau chiến tranh lạnh: 13
1 Các cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên 13
2 Khủng hoảng hạt nhân: Iran lên tiếng 14
3 Nga cảnh báo Mỹ về khả năng tái diễn 'khủng hoảng tên lửa Cuba' 15
III Các Hiệp ước liên quan tới Vũ khí hạt nhân sau chiến tranh lạnh: 15
1 Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân - Non-Proliferation of Nuclear Weapons 15
2 Hiệp ước Cấm vũ khí hạt nhân toàn diện - CTBT 16
3 Hiệp ước START (Strategic Arms Reduction Talks) 17
4 Hiệp ước New START 17
Phần 3: Tương lai nào cho Quan hệ Quốc tế trong thời kỳ chạy đua vũ trang sau Chiến tranh Lạnh? 18
I Mỹ vẫn tiếp tục là “chiếc ô bảo hộ” của các nước đồng minh 18
II Không loại trừ khả năng Trung Quốc đang củng cố năng lượng hạt nhân nhằm vượt qua Mỹ và Nga 18
III Cơ hội nào cho các “nhà nước bất hảo” sở hữu vũ khí hạt nhân? 18
IV Nỗ lực không ngừng 19
KẾT LUẬN 20
Trang 3ức đau đớn, với sự tức giận và cả nỗi sợ hãi gặm nhấm Họ đã phải chứng kiến người thân lần lượt qua đời, từng người từng người một, vì nhiễm phóng xạ Có thể nói, đó là sự kiện tàn khốc nhất mà vũ khí hạt nhân đã đem đến cho nhân loại trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, nhưng đến nay, vấn đề vũ khí hạt nhân thời kỳ hậu chiến vẫn còn là vấn đề dai dẳng cần giải quyết dứt khoát và hợp lý
Sau Chiến tranh Lạnh, cùng với kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa, ngoại giao, sức mạnh quân sự là một tiêu chí quan trọng xác lập vị thế quốc gia trên trường quốc tế Một số nước lớn phát triển sức mạnh quân sự, nhất là vũ khí hạt nhân, tạo ưu thế tuyệt đối, nhằm bảo
vệ vị thế siêu cường, tranh giành lợi ích chiến lược, răn đe “đánh đòn phủ đầu”, sẵn sàng sử dụng sức mạnh khuất phục, chiếm đoạt lãnh thổ, tài nguyên, buộc nước khác phải tuân theo
sự “dẫn dắt”, áp đặt của mình Tuy nhiên, nếu tăng cường sức mạnh hạt nhân quá mức cần thiết, không chỉ tổn hại kinh tế, xã hội, môi trường của nước mình mà có thể gây lo ngại cho các nước khác, vô hình trung kích thích “cuộc đua không có hồi kết” này
Là những sinh viên của khoa Chính trị Quốc tế và Ngoại giao (Học viện Ngoại giao), chúng em rất quan tâm đến vấn đề mang tính thời sự này Vì vậy, nhóm chúng em đã quyết định chọn chủ đề:
“Vấn đề Vũ khí hạt nhân trong và sau Chiến tranh Lạnh”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Bài tiểu luận của nhóm sẽ đưa ra những đánh giá về tác động của Vũ khí hạt nhân, những động thái giải quyết hậu quả vấn đề vũ khí hạt nhân sau Chiến tranh Lạnh của các quốc gia liên quan, cùng với đó là dự đoán, định hướng về những chiến lược và ảnh hưởng của Vũ khí hạt nhân sau Chiến tranh Lạnh thông qua việc khái quát những yếu tố và kết quả từ sự thỏa thuận trong các Hiệp ước liên quan đến loại “vũ khí huỷ diệt” này
3 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề Vũ khí hạt nhân với mốc thời gian trong và sau Chiến tranh Lạnh, nội dung và quá trình tác động của Vũ khí hạt nhân lên an ninh khu vực và tình hình thế giới Để thực hiện đề tài, một số phương pháp nghiên cứu chính đã được nhóm
sử dụng kết hợp, đó là: thống kê, phân tích, bình luận, tổng hợp,…
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phân tích,
so sánh, phản biện và tổng hợp để có những cái nhìn khách quan và đúng đắn nhất, thuyết phục được người đọc
Trang 44
5 Kết cấu tiểu luận
Ngoài các phần mở đầu, kết thúc và mục lục, tiểu luận gồm 3 phần chính:
Phần 1: Vấn đề vũ khí hạt nhân trong chiến tranh Lạnh
Phần 2: Vấn đề vũ khí hạt nhân sau chiến tranh Lạnh
Phần 3: Tương lai nào cho Quan hệ Quốc tế trong thời kỳ chạy đua vũ trang sau Chiến tranh Lạnh?
Chúng em xin đặc biệt cảm ơn cô Nguyễn Thị Hạnh – Giảng viên môn Lịch sử Quan hệ Quốc tế hiện đại (Học viện Ngoại giao) đã giúp chúng em có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu vấn
đề mang tính thời sự quan trọng của thế giới này Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, chọn lọc và tổng hợp, chúng em không thể tránh khỏi những thiếu sót Nhóm chúng em xin kính mong nhận được những lời nhận xét, đóng góp rút kinh nghiệm của Giảng viên để bài tiểu luận của nhóm thêm hoàn thiện hơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2021
Trang 55
NỘI DUNG
Phần 1: Vấn đề vũ khí hạt nhân trong chiến tranh Lạnh
I Sơ lược về vũ khí hạt nhân:
1 Vũ khí hạt nhân là gì?
Vũ khí hạt nhân (tiếng Anh: nuclear weapon) là loại vũ khí mà năng lượng của nó
do các phản ứng phân hạch hoặc/và nhiệt hạch gây ra Một vũ khí hạt nhân nhỏ nhất cũng
có sức công phá lớn hơn bất kỳ vũ khí quy ước nào Vũ khí có sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ có thể phá hủy hoàn toàn một thành phố Nếu sức công phá là 100 triệu tấn (mặc dù hiện nay chưa thể thực hiện được) thì có thể phá hủy một vùng với bán kính 100 – 160 km Cho đến nay, mới chỉ có hai quả bom hạt nhân được dùng trong Thế chiến thứ hai; quả bom thứ nhất được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6/8/1945
có tên là Little Boy, được làm từ uranium; quả bom thứ hai được ném xuống Nagasaki, ba ngày sau đó, nó có tên là Fat Man và được làm từ plutonium
Những vũ khí hạt nhân đầu tiên được Hoa Kỳ chế tạo cùng với sự giúp đỡ của Anh Quốc trong Đệ nhị thế chiến, đó là một phần của dự án Manhattan tối mật Lúc đầu, việc chế tạo vũ khí hạt nhân là sự lo sợ Đức Quốc xã có thể chế tạo và sử dụng trước quân đội đồng minh Nhưng cuối cùng thì hai thành phố của Nhật Bản là Hiroshima và Nagasaki lại
là nơi chịu sức tàn phá của những quả bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1945 Liên Xô chế tạo và thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên vào năm 1949 Cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều phát triển vũ khí hạt nhân nhiệt hạch vào những năm giữa của thập niên 1950 Việc phát minh ra các tên lửa hoạt động ổn định vào những năm 1960 đã làm cho khả năng mang các vũ khí hạt nhân đến bất kỳ nơi nào trên thế giới trong một thời gian ngắn trở thành hiện thực Hai siêu cường của chiến tranh lạnh đã chấp nhận một chiến dịch nhằm hạn chế việc chạy đua
vũ khí hạt nhân, duy trì một nền hòa bình mong manh lúc đó
Vũ khí hạt nhân từng là biểu tượng cho sức mạnh quân sự và sức mạnh quốc gia Việc thử nghiệm hạt nhân thường để kiểm tra các thiết kế mới cũng như là gửi các thông điệp chính trị Một số quốc gia khác cũng phát triển vũ khí hạt nhân trong thời gian này, đó
là Anh Quốc, Pháp, Trung Quốc Năm thành viên của câu lạc bộ các nước có vũ khí hạt nhân đồng ý một thỏa hiệp hạn chế việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở các quốc gia khác mặc
dù có ít nhất hai nước (Ấn Độ, Nam Phi) đã chế tạo thành công và một nước (Israel) có thể
đã phát triển vũ khí hạt nhân vào thời điểm đó Vào đầu những năm 1990, nước kế thừa Liên
Xô trước đây là nước Nga cùng với Hoa Kỳ cam kết giảm số đầu đạn hạt nhân dự trữ để gia tăng sự ổn định quốc tế Mặc dù vậy, việc phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn tiếp tục Pakistan thử nghiệm vũ khí đầu tiên của họ vào năm 1998, CHDCND Triều Tiên công bố đã phát triển vũ khí hạt nhân vào năm 2004 Vũ khí hạt nhân là một trong những vấn đề trọng tâm của các căng thẳng về chính trị quốc tế và vẫn đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề xã hội từ khi nó được khởi đầu từ những năm 1940
Trang 66
2 Tác động của vũ khí hạt nhân lên quan hệ quốc tế:
Vũ khí hạt nhân được tạo ra với hai đặc điểm Đặc điểm đầu tiên chính là “tính xung đột” Albert Einstein từng nói “Tôi không biết Chiến tranh thế giới thứ III sẽ diễn ra bằng vũ khí gì, nhưng Chiến tranh thế giới thứ IV sẽ diễn ra bằng gậy và đá” Câu nói này
là minh chứng rõ ràng nhất cho sức công phá của vũ khí hạt nhân, thứ mà một khi được đưa vào sử dụng thì hoàn toàn có khả năng đưa toàn nhân loại đến sự diệt vong
Tuy nhiên, chính từ nguy cơ khủng khiếp này mà vũ khí hạt nhân có một đặc điểm thứ hai là “cơ chế bảo vệ” hay còn được biết đến với những tên gọi khác như “cơ chế cân bằng của nỗi khiếp sợ” hay “đảm bảo hủy diệt lẫn nhau (MAD - Mutual assured destruction)” Điều này có nghĩa là khi hai (hoặc nhiều) quốc gia đối nghịch nhau đủ sợ hãi lẫn nhau và không sẵn sàng mạo hiểm bất kỳ hành động nào có thể kích động một cuộc tấn công quân sự của bên kia Đảm bảo hủy diệt lẫn nhau ở đây là do mỗi bên sở hữu vũ khí hạt nhân với số lượng đủ lớn để gây ra sự hủy diệt hoàn toàn cho cả bên tấn công lẫn bên phòng thủ
Thật vậy, đến đầu thập niên 1960, quan hệ giữa Liên Xô và Mĩ trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân đã đạt đến tình trạng nêu trên tức cơ chế “cân bằng của nỗi khiếp sợ” (balance
of terror): không nước nào dám phát động cuộc chiến tranh bằng vũ khí hủy diệt - hạt nhân trước, vì biết rằng bản thân cũng sẽ chịu những tàn phá ghê gớm không kém gì đối phương
Đó là lý do vì sao cuộc khủng hoảng Cuba năm 1962 đã được kết thúc bằng một giải pháp nhân nhượng cho cả hai bên Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Liên Xô đã nhận thức rõ hơn về những giới hạn không được vượt qua, nếu không muốn đặt nước mình và thế giới trước hiểm họa của một cuộc chiến tranh hạt nhân tàn khốc, và những nguy cơ tiềm tàng của một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân vừa không có giới hạn, vừa không được kiểm soát
Sự phát triển của vũ khí hạt nhân có sức hủy diệt cao và các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khác là cũng nguyên nhân tạo ra sự cân bằng về khủng bố trong quan hệ quốc tế Nỗi sợ hãi về sự hủy diệt hoàn toàn được coi là một điều may mắn được ngụy trang cho đến nay khi nó kiểm tra các quốc gia khỏi suy nghĩ về chiến tranh Nỗi sợ hãi do vũ khí hạt nhân tạo ra đã dẫn đến sự cân bằng bấp bênh (về khủng bố) trong quan hệ quốc tế và điều này gián tiếp giúp quá trình gìn giữ hòa bình
Ngoài ra, sự tồn tại của vũ khí hạt nhân trong quan hệ quốc tế chắc chắn đã mang lại một ý nghĩa mới cho khái niệm hòa bình Trước đây, hòa bình được coi là điều kiện tích cực của quan hệ hữu nghị và hợp tác thiện chí lẫn nhau Để chống lại điều này, hòa bình trong kỷ nguyên hạt nhân trở thành “hòa bình trong bóng tối của khủng bố” Đó là một nền hòa bình tiêu cực, tức là một nền hòa bình được áp đặt bởi công nghệ Nó trở thành một nền hòa bình dưới hình thức cân bằng khủng bố và một nền hòa bình chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tổng lực, một nền hòa bình căng thẳng và một nền hòa bình được đặc trưng bởi
sự sợ hãi, bất bình đẳng, rủi ro và mất lòng tin
II Biểu hiện của những cuộc chạy đua về vũ khí hạt nhân trong chiến tranh lạnh:
Trên thực tế, cuộc chạy đua vũ trang thời hậu chiến bắt đầu vào năm 1943, khi Liên Xô bắt đầu chương trình nguyên tử của mình và gài các điệp viên ở phương Tây để
Trang 77
đánh cắp bí mật nguyên tử của Hoa Kỳ Khi USSR từ chối Kế hoạch Baruch vào năm 1946
và quan hệ Mỹ - Xô xấu đi, một cuộc chạy đua công nghệ trở nên không thể tránh khỏi
1 Giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô:
Trong thời gian đầu (từ năm 1945 đến khoảng năm 1955), ưu thế nghiêng hẳn về phía Hoa Kì: là nước nắm giữ độc quyền về vũ khí nguyên tử đến năm 1949, tháng 11.1952 Hoa Kì đã cho nổ thử nghiệm thành công bom nhiệt hạch Không những thế, Hoa Kì còn làm chủ một số lượng không nhỏ các phương tiện mang vũ khí hạt nhân đến mục tiêu (bệ phóng, tàu ngầm, phi cơ oanh kích tầm xa)
Tuy nhiên, những năm độc quyền của Hoa Kỳ thực chất lại là thời kỳ thất vọng của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, những người phát hiện ra rằng bom nguyên tử không phải là
vũ khí tuyệt đối như họ đã từng hình dung Đầu tiên, thế độc quyền về hạt nhân nguyên tử
là một điều gì đó hoang đường Bởi vào cuối năm 1948, kho vũ khí của Hoa Kỳ chỉ bao gồm một số ít đầu đạn và chỉ có 32 máy bay ném bom tầm xa được chuyển đổi để giao hàng Thứ hai, quân đội không biết sử dụng bom như thế nào Cho đến khi kế hoạch chiến tranh "Half Moon" (tháng 5 năm 1948), các Tham mưu trưởng mới hình dung ra một cuộc không kích
"được thiết kế để khai thác sức mạnh hủy diệt và tâm lý của vũ khí nguyên tử." Một số nhà phê bình, đặc biệt là trong lực lượng hải quân, đã hỏi làm thế nào một xã hội dân chủ có thể biện minh về mặt đạo đức cho một chiến lược dựa trên việc tiêu diệt dân thường Câu trả lời, đã được phát triển từ năm 1944, đó là chiến lược của Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công của kẻ thù ngay từ đầu Tướng Hoyt Vandenberg nói: “Cuộc chiến duy nhất mà bạn thực sự chiến thắng, là cuộc chiến không bao giờ bắt đầu.” 1
Quay lại với Liên Xô, Chính phủ Xô viết cũng dồn sức vào cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân với Mĩ, dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Tháng 9/1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử (sau Mĩ 40 tháng), và làm chủ bom nhiệt hạch vào tháng 8.1953, nghĩa là chỉ sau Mĩ không đầy một năm Kể từ đây, ưu thế vũ khí hạt nhân của Mĩ bị thu hẹp dần Tháng 10-1957, Liên Xô đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo Sputnik I đầu tiên của loài người Hoa Kì tăng cường cải tiến tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) và triển khai
kế hoạch đặt tên lửa tầm trung (IRBM) ở vài nước Tây Âu (Anh, Italia) và Thổ Về phần mình, Liên Xô bắt đầu xây dựng các bệ phóng tên lửa, chuẩn bị sản xuất ICBM thế hệ hai
2 Ở một số quốc gia khác:
Cuộc chạy đua về vũ khí hạt nhân không chỉ dừng lại ở quy mô của hai siêu cường
là Hoa Kỳ và Liên Xô mà nó còn lan rộng ra các quốc gia khác Để có đủ nguồn lực đầu tư cho cuộc đua này thì các nước đã nhận được sự hỗ trợ từ nhiều mặt của hai siêu cường Tuy nhiên, đi ngược lại với mong muốn áp đảo phe còn lại về mặt quân sự thì việc sản xuất và
sở hữu vũ khí hạt nhân đã đem lại một số hệ quả không mong đợi cho một số chủ thể nhất định
Hệ quả không mong đợi ở đây chính là việc Liên Xô và Trung Quốc xảy ra xung đột trong khoảng thời gian năm 1969 Nguyên nhân là do Trung Quốc đã có thể sản xuất ra
1 Britannica, “Nuclear weapons and the balance of terror”
the-balance-of-terror
Trang 8https://www.britannica.com/topic/20th-century-international-relations-2085155/Nuclear-weapons-and-8
vũ khí hạt nhân, bắt đầu các cuộc thử nghiệm thả bom từ máy bay vào năm 1964, và có mong muốn trở thành trở thành người lãnh đạo thế giới thứ ba cũng như phe XHCN Trung Quốc thậm chí còn phê phán mô hình của Liên Xô mà điển hình là chính sách hòa hoãn với
Mỹ và còn tuyên bố từ chối thẳng thừng đường lối “Cùng tồn tại hòa bình” do Liên Xô đề
ra Có thể thấy, việc Trung – Xô đã đặt bút ký thỏa thuận chuyển giao công nghệ sản xuất
vũ khí hạt nhân cho Trung Quốc ngày 15/10/1957 đã không giúp nhà lãnh đạo khối Đông
có thêm một đồng minh vững chắc mà ngược lại, gặp phải những trở ngại nhất định và từ
đó dẫn đến thế hòa hoãn với khối Tây trong thời gian 1962-1979
III Các cuộc khủng hoảng vũ khí hạt nhân trong Chiến tranh Lạnh:
Trong Chiến tranh Lạnh, những cuộc "khủng hoảng" mang một ý nghĩa đặc biệt, bởi vì mỗi thời điểm xung đột chính trị đều làm gia tăng khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Liên Xô Các cuộc đối đầu không chỉ tiềm ẩn nguy cơ chiến tranh mà còn có thể dẫn đến sự diệt vong của nền văn minh nhân loại Giờ đây, khi nhìn lại cuốn phim lịch sử thì những giai đoạn này đối với chúng ta giống như những cổ vật trong bảo tàng, còn đối với những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Liên Xô lúc bấy giờ thì chúng lại là những nỗi sợ diệt vong luôn hiện hữu và có thể trở thành hiện thực bất cứ lúc nào
Mặc dù được biết đến như một ví dụ điển hình nhất nhưng trên thực tế, Khủng hoảng tên lửa Cuba 1962 không phải là lần duy nhất mà cuộc Chiến tranh lạnh trở nên
“nóng” hơn, trong số đó tiêu biểu phải kể đến như: Cuộc phong tỏa Tây Berlin (1948 - 1949), Chiến tranh Triều Tiên (1950 -1953), Khủng hoảng Kênh đào Suez (1956), Khủng hoảng tên lửa châu Âu (1977-1987),
Trước hết, dễ dàng nhận thấy rằng các cuộc khủng hoảng này tuy không có sự xuất hiện trực tiếp của vũ khí hạt nhân nhưng chúng cũng đủ khiến cả thế giới điêu đứng và kéo theo những thay đổi nhất định trong trật tự hai cực Bên cạnh đó, khủng hoảng cũng chính
là bằng chứng rõ ràng nhất cho sự khác nhau về ý thức hệ, xung đột về lợi ích, giữa các quốc gia và từ đó dẫn đến những động thái quân sự ở một nước thứ ba hay ở các quốc gia đồng minh
Đơn cử như sự kiện Tây Berlin bị phong tỏa từ năm 1948 - 1949 là do khác biệt trong đường lối giữa Hoa Kỳ và Liên Xô Trong Liên Xô tìm kiếm những khoản bồi thường khổng lồ từ Đức dưới nhiều hình thức: tiền bạc, thiết bị công nghiệp, và tài nguyên cũng mong muốn một nước Đức trung lập và giải giáp quân đội thì các quan chức Mỹ tin rằng sự phục hồi kinh tế của Tây Âu phụ thuộc vào một nước Đức mạnh mẽ, thống nhất Họ cũng nhận thấy rằng chỉ có một nước Đức được vũ trang mới có thể đứng lên chống lại sự bành trướng của Liên Xô sang Tây Âu2 Sau thời gian bị phong tỏa và được hỗ trợ bằng các cuộc không vận thì Berlin đã trở thành biểu tượng cho sự sẵn sàng của Đồng minh chống lại sự bành trướng hơn nữa của Liên Xô ở châu Âu
Một ví dụ điển hình khác cho những cuộc đối đầu diễn ra ở một đất nước thứ ba
đó chính là Chiến tranh Triều Tiên Đây được coi là một bước phát triển quan trọng trong Chiến tranh Lạnh vì đây là lần đầu tiên hai siêu cường là Hoa Kỳ và Liên Xô tiến hành một
2 Nghiên cứu quốc tế, “24/06/1948: Liên Xô phong tỏa Tây Berlin”
http://nghiencuuquocte.org/2018/06/24/lien-xo-phong-toa-tay-berlin/
Trang 99
cuộc “chiến tranh ủy nhiệm” ở một nước thứ ba Chiến tranh ủy nhiệm hay chiến lược “chiến tranh cục bộ” là một đặc điểm của các cuộc xung đột khác trong Chiến tranh Lạnh, ví dụ như ở Chiến tranh Việt Nam
Nói về tác động đến bàn cờ chính trị thì ta có xung đột Kênh đào Suez khi mà về
cơ bản nó đã làm thay đổi cán cân quyền lực giữa hai khối Đông Tây khi Anh và Pháp mất ảnh hưởng trong khu vực và phải chịu đựng nhục nhã sau khi rút quân khỏi Khu Kênh đào Hơn nữa, quan hệ giữa Hoa Kỳ với các đồng minh Anh và Pháp tạm thời xấu đi trong những tháng sau chiến tranh Ngược lại, ảnh hưởng của Liên Xô ở Trung Đông ngày càng lớn, đặc biệt là ở Syria, nơi Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí và cố vấn cho quân đội Syria 3
IV Các hiệp ước nhằm hạn chế và kiểm soát VKHN trong Chiến tranh Lạnh:
Trong khoảng thời gian mà Chiến tranh Lạnh diễn ra, đặc biệt là khi các nước đều tích cực chạy đua vũ trang và xung đột về lợi ích, về ý thức hệ ngày càng trở nên gay gắt thì thế giới nói chung và các quốc gia liên quan cần những hành động cụ thể để ngăn chặn nguy
cơ một cuộc chiến mang tính diệt vong sẽ xảy ra Đây cũng chính là biểu hiện rõ ràng cho
cơ chế bảo vệ của vũ khí hạt nhân
Từ những đối đầu quân sự đã xảy ra, lãnh đạo các nước bắt đầu nỗ lực hơn nữa trong các cuộc đàm phán, các hiệp ước nhằm hạn chế và kiểm soát vũ khí hạt nhân Kết quả
là các hiệp ước như “Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân” ( NPT - Treaty on the Proliferation of Nuclear Weapons) 1968, “Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân Tầm trung” (INF
Non IntermediateNon Range Nuclear Forces Treaty) 1987, “Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược 1” (START 1 - Strategic Arms Reduction Treaty) đã ra đời Tuy nhiên, sự hiệu quả của chúng thì lại bị nghi ngờ bởi những bất cập, thiếu minh bạch hay sự trì hoãn kéo dài để đi được đến sự đồng thuận cuối cùng của các nước
Ví dụ là việc “Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân” bị coi là hoàn toàn không công bằng, vì nó bắt buộc các quốc gia phi hạt nhân từ bỏ việc phát triển vũ khí hạt nhân trong khi vẫn cho phép các quốc gia hạt nhân làm điều đó Tuy nhiên, hiệp ước này đã được chấp nhận bởi vì, đặc biệt là tại thời điểm ký kết, hầu hết các quốc gia phi hạt nhân đều không có năng lực cũng như khuynh hướng đi theo con đường hạt nhân, và họ nhận thức rõ những nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân đối với an ninh của đất nước mình Ngoài ra, vào năm 1968, người ta hiểu rằng, để đổi lại vị thế đặc biệt của mình, các quốc gia hạt nhân sẽ giúp các quốc gia phi hạt nhân phát triển năng lượng hạt nhân dân sự (mặc dù trong trường hợp sự phân biệt giữa công nghệ hạt nhân dân sự và quân sự không quá rõ ràng) và các quốc gia hạt nhân cũng sẽ nỗ lực hết sức để thống nhất các biện pháp giải trừ vũ khí 4
3 Britannica, “Suez Crisis”
https://www.britannica.com/event/Suez-Crisis
4 Britannica, “Treaty on the Non-Proliferation of Nuclear Weapons”
https://www.britannica.com/event/Treaty-on-the-Non-proliferation-of-Nuclear-Weapons
Trang 1010
Phần 2: Vấn đề vũ khí hạt nhân sau chiến tranh Lạnh
I Chạy đua vũ trang sau chiến tranh lạnh:
Hai mươi năm trước Nga và 14 quốc gia mới độc lập khác nổi lên từ những tàn tích của đế chế Xô Viết, với nhiều quốc gia lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ thế giới Cũng như điển hình trong hậu quả của sự sụp đổ của một đế chế, đây là một thời kỳ hỗn loạn, bối rối
và tham nhũng Cùng thời điểm đó, khi Liên bang Xô Viết sụp đổ, 35.000 vũ khí hạt nhân vẫn còn rải rác ở vùng đất trải dài tới 11 múi giờ Khi Liên Xô tan rã, 3.200 đầu đạn hạt nhân chiến lược ở Ukraine, Kazakhstan, và Belarus, hầu hết là các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa đã sẵn sàng bắn vào các mục tiêu ở Mỹ Ngày nay, tất cả các vũ khí hạt nhân ở Ukraine, Kazakhstan, và Belarus đã bị vô hiệu hóa và trở về nga, nơi chúng bị tháo dỡ và vật liệu hạt nhân trong đầu đạn pha trộn với các lò phản ứng dân sự
Cùng với kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa, ngoại giao, sức mạnh quân sự là một tiêu chí quan trọng xác lập vị thế quốc gia trên trường quốc tế Một số nước lớn phát triển sức mạnh quân sự, nhất là vũ khí hạt nhân, tạo ưu thế tuyệt đối, nhằm bảo vệ vị thế siêu cường, tranh giành lợi ích chiến lược, răn đe “đánh đòn phủ đầu”, sẵn sàng sử dụng sức mạnh khuất phục, chiếm đoạt lãnh thổ, tài nguyên, buộc nước khác phải tuân theo sự “dẫn
dắt”, áp đặt của mình Chuyên gia Andreas Klut của Bloomberg viết, “sự ổn định vô lý, nhưng rất logic” trong Chiến tranh lạnh đã là quá khứ, tuy nhiên tại thời điểm này, nguy cơ xảy ra xung đột hạt nhân tiếp tục gia tăng Theo đó, ông Andreas cho rằng, cuộc
chạy đua vũ khí hạt nhân hiện tại tồi tệ hơn cuộc đua trước đó Trong khi sự ổn định của Chiến tranh Lạnh đã là quá khứ, thì nguy cơ chiến tranh hạt nhân vẫn tiếp tục gia tăng
Theo báo cáo mới nhất của Viện Nghiên cứu Hoà bình Quốc tế Stockholm (SIPRI),
số lượng vũ khí hạt nhân: 9 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân bao gồm Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Israel và Triều Tiên có khoảng 13,4 nghìn đầu đạn hạt nhân
và vẫn đang hiện đại hóa - Tuy nhiên, giờ đây Thế giới lại đứng trước nguy cơ một cuộc chạy đua hạt nhân khi các cường quốc sở hữu loại vũ khí giết người hàng loạt này đưa ra chiến lược mới để phát triển nó Các sự kiện chính trị, quan hệ quốc tế gần đây đã cho thấy điều đó:
• Vào đầu tháng 2-2018, Bộ Quốc phòng Mỹ thông báo chiến lược hạt nhân mới nhằm răn đe
2 đối tượng chính là Nga và Trung Quốc Chiến lược hạt nhân mới của Mỹ được cho là ngăn chặn tham vọng địa chính trị của Nga tại châu Âu và tham vọng của Trung Quốc làm thay đổi hiện trạng tại châu Á - Thái Bình Dương
• Sau hơn một tháng, kể từ khi công bố chiến lược hạt nhân mới, những dấu hiệu của một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đã dần hiện rõ Nhiều người lo ngại đây là khởi điểm của một cuộc chạy đua vũ trang mà Tổng thống Donald Trump “chính thức bấm nút” Giáo sư Pierre Grossier, Đại học Chính trị Paris nhận định, quân đội Mỹ sẽ được trang bị vũ khí mới trong đó có tên lửa đạn đạo tầm ngắn với đầu đạn hạt nhân có sức hủy diệt thấp với 2 ưu điểm: uyển chuyển và đa dạng đáp ứng kế hoạch của Mỹ về một cuộc chiến tranh quy ước dưới dạng vũ khí hạt nhân loại yếu và một cuộc tấn công bằng hạt nhân nhưng hạn chế trong một khu vực, như uy hiếp Baltic chẳng hạn
Trang 1111
• Không chỉ có vậy, Mỹ còn e ngại cả Trung Quốc khi nước này trỗi dậy như là một đối thủ lợi hại không kém Thêm vào đó là chương trình hạt nhân của Triều Tiên và Iran Trong đó
Mỹ đặc biệt lo ngại học thuyết quốc phòng của Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin
đề xuất sử dụng vũ khí hạt nhân trong các cuộc xung đột cấp vùng để buộc đối phương phải xuống thang Không chỉ các cường quốc hạt nhân, những nước như Anh, Pháp cũng có động thái mới
• Để đáp lại chiến lược hạt nhân mới của Mỹ, Nga cũng đang tích cực tăng cường sức mạnh hạt nhân, dự kiến đến năm 2026 sẽ triển khai một đơn vị lực lượng hạt nhân với tổng số 8.000 đầu đạn, trong đó vừa bao gồm đầu đạn hạt nhân cỡ lớn, vừa bao gồm hàng nghìn đầu đạn hạt nhân với đương lượng nổ thấp và rất thấp kiểu mới Cho đến nay, Nga rất chú trọng phát triển vũ khí hạt nhân chiến thuật, khiến chúng trở thành một lực lượng răn đe khiến phương Tây không thể xem thường.5
I Vũ khí hạt nhân thay đổi cục diện chính trị sau Chiến tranh Lạnh ra sao:
1 Sự thay đổi trật tự thế giới:
Trong thời đại hạt nhân, công nghệ hạt nhân, năng lượng hạt nhân và vũ khí hạt nhân trở thành những nhân tố rất quan trọng của sức mạnh quốc gia Ngày nay, ngay cả một quốc gia nhỏ, bằng cách có được công nghệ và vũ khí hạt nhân, cũng có thể trở thành một cường quốc đáng gờm trong quan hệ quốc tế Sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân là nguồn gốc tác động đến cơ cấu quyền lực quốc tế Ban đầu, việc Mỹ độc quyền vũ khí nguyên tử chắc chắn đã làm cho quốc gia này trở thành quốc gia mạnh nhất thế giới Sau đó, Liên Xô cũng thành công trong việc phá vỡ thế độc quyền nguyên tử và an toàn vũ khí hạt nhân, điều này dẫn đến sự xuất hiện các mối quan hệ quốc tế mới Với việc phát triển vũ khí hạt nhân của Anh, Pháp và Trung Quốc, cơ cấu sức mạnh lưỡng cực đã biến đổi thành một cấu trúc đa cực Vũ khí hạt nhân hoạt động như một yếu tố quyết định sức mạnh của các khối quyền lực đối địch trong thời đại sau chiến tranh lạnh
2 Tính răn đe của Vũ khí hạt nhân
Nhiều ý kiến cho rằng việc sử dụng tính răn đe của vũ khí hạt nhân giống trong giai
đoạn chiến tranh lạnh là một chiến lược lỗi thời Vì nếu biện pháp răn đe bằng hạt nhân thực
sự có hiệu quả trong thời gian trước đây là do nó đã được áp dụng thành công trong một bối cảnh lịch sử và chính trị khác, với những hoàn cảnh và toan tính lợi ích khác, không giống với hiện nay Do đó, ngày nay, việc phụ thuộc vào lợi ích, sức mạnh của hạt nhân là điều vô nghĩa Cùng với đó là sự gia tăng xuất hiện của các "nhà nước bất hảo”, biện pháp này lại càng không đáng tin cậy hơn bởi nếu các “nhà nước bất hợp pháp” này sở hữu vũ khí hạt nhân, đó là sẽ mối nguy tiềm tàng tới hòa bình thế giới
Như đã nói ở trên, các quốc gia phát triển vũ khí hạt nhân vì có nhiều lý do Lý do răn đe là lý do chính của nhiều quốc gia ủng hộ vũ khí hạt nhân Trong chiến tranh lạnh, vũ khí hạt nhân được sử dụng theo cách này Tuy nhiên, nghịch lý là nó chỉ tồn tại để ngăn ngừa mục đích sử dụng của chính nó Sẽ không có một quốc gia nào dám khởi xướng một
5 Sài Gòn Giải Phóng, “Nguy cơ chạy đua vũ khí hạt nhân mới”
https://www.sggp.org.vn/nguy-co-chay-dua-vu-khi-hat-nhan-moi-667726.html