Trước thực tế này con người không thể không quan tâm đến việc sưdụng các chế phẩm sinh học để kích thích sự sinh trưởng, phát triển của cácloại cây trồng.. Đinh Thức Huấn 2001 nghiêncứu
Trang 1Më ®Çu
I Đặt vấn đề
Rau đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành nôngnghiệp và có ý nghĩa lớn trong đời sống con người Việt Nam Rau là mộtnhu cầu thiết yếu, nó không thể có một loại thực phẩm nào có thể thay thếđược Rau cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng như lipit, vitamin,muối khoáng, axit hữu cơ,… Rau có ưu thế hơn một số loại khác vềvitamin (như vitamin A, B1, B2, C, E…) và các chất khoáng (Ca, P, Fe,
…) Một số loại rau còn có vai trò quan trọng trong việc chữa bệnh chongười và động vật Đặc biệt khi lương thực và các thức ăn giàu đạm đã đảmbảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau càng gia tăng như một nhân
tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ Bên cạnh đó rauđem lại thu nhập cao cho người dân , góp phần vào sự phát triến kinh tế củagia đình và xã hội
Cùng với sự phát triển của xã hội, đới sống của con người đòi hỏingày 1 cao hơn vì thế nhu cầu về lương thực thực phẩm ngày càng cao,nhất là nhu cầu về rau Rau càng đa dạng chủng loại, năng suất cao, chấtlượng tốt và đảm bảo
Để đảm bảo rau trồng có năng suất cao,chống lại được các dịchbệnh thì con người đã và đang sử dụng các loại thuốc trừ sâu hóa học, cácchế phẩm hóa học có chứa phần lớn các chất hóa học như N,P,K… Việc sửdụng các chế phẩm hóa học này khiến cho môi trường sống ngày càng bị ônhiễm ghiêm trọng bởi các chế phẩm hóa học, trạng thái ô nhiễm khôngkhí, đặc biệt là đất nguồn nước ngày càng trở nên nghiêm trọng ảnh hưởngrất lớn đến cuộc sống con người mặt khác khi phun các chế phẩm kíchthích hóa học lên cây trồng mà cây trồng chưa hấp thụ và chuyển hóa hếtthì khi con người sử dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe
Trang 2Trước thực tế này con người không thể không quan tâm đến việc sưdụng các chế phẩm sinh học để kích thích sự sinh trưởng, phát triển của cácloại cây trồng Những chế phẩm này hoàn toàn vô hại đối với con người,gia súc gia cầm, đặc biệt không làm ảnh hưởng tới môi trường sống củachúng ta.
Trong những năm gần đây, vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như vấn
đề rau sạch, rau an toàn là một trong những vấn đề thu hút của nhiều người.Đây đang là vấn đề bức xúc mang tính thời sự cao trong thời đại ngày nay.Hiện trạng rau chưa sạch, không an toàn gây ra những nghiêm trọng chosức khoẻ của con người “ngộ độc thức ăn, ô nhiễm môi trường” vẫn thườngxuyên xảy ra cho đến nay vẫn chưa có cách giải quyết triệt để Theo thống
kê của tổ chức lao động quốc tế ILO, hàng năm trên thế giới cứ trên 40.000người chết trong tổng số 2 triệu người ngộc độc rau Tại Việt Nam sốngười ngộ độc rau cũng không phải ít An toàn thực phẩm luôn là mặt trậnnóng bỏng, cần sự tham gia quyết liệt, thành công “Chương trình quốc gia
về muối iốt, những đơn vị nào sản xuất muối không iot ( ngoại trừ muốicông nghiệp) là vi phạm pháp luật” Bên cạnh việc hỗ trợ, vận động nôngdân trồng rau an toàn, cũng cần có những văn bản pháp lý quy định, hướngdẫn người dân sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Sản xuất rau an toàn là phương thức sản xuất rau đạt năng xuất cao,chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế cao góp phần giải quyết những bức xúc trên
và nâng cao thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân Vì những lợi ích
và tầm quan trọng của nó mà nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều rau
an toàn trong đó có Nghệ An Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế văn hóa
xã hội khoa học kỹ thuật của khu vực Bắc Trung Bộ Đây là một thành phố
có diện tích tương đối rộng, đông dân cư, có nhiều nhà máy trường học và
có tiềm năng sản xuất rau an toàn để cung cấp cho người dân thành phố va
Trang 3tiến đến xây dựng thương hiệu rau Vinh Nghiên cứu hiệu quả của việctrồng rau sạch đang là việc làm quan trọng dể dần dần khuyến cáo ngườidân sản xuất rau theo hướng an toàn, bền vững.
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi chọn hướng nghiên cứu “tìm hiểuảnh hưởng của chế phẩm BIOMIC lên sự sinh trưởng, phát triển của câybắp cải ở xã Nghi Liên – TP Vinh– Nghệ An
II Mục tiêu nghiên cứu.
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu:
- Thấy được ảnh hưởng của chế phẩm sinh học BIUMIC đối với sựsinh trưởng, phát triển của cây để tim ra giai đoạn tác động phù hợp nhất
- Xác định dược nồng độ, phương pháp tác động phù hợp nhất lên sựsinh trưởng, phát triển của cây bắp cải
III Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu này thì nhiệm vụ cần phải:
- Điều tra thực trạng tình hình sử dụng chế phẩm BIUMIC trong sảnxuất nông nghiệp ở xã Nghi Liên – Nghi Lộc – Nghệ An
- Làm các thí nghiệm về ảnh hưởng của chế phẩm BIUMIC lên sựsinh trưởng, phát triển của cây bắp cải
Trang 4Chơng I: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
1.1 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu rau trờn thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Hiện trạng sản xuất rau ở Việt Nam
Nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ thời xa xưa, trước cả nghề trồnglỳa nước, Việt Nam chớnh là trung tõm khởi nguyờn vủa nhiều loại rautrồng nhất là cỏc loại thuộc họ cải, bầu bớ Song do chịu ảnh hưởng của mộtnền nụng nghiệp lạc hậu và tự tỳc trong nhiều thế kỷ qua, cho nờn sự phỏttriển rau xanh ở nước ta kộm xa so với trỡnh độ canh tỏc của thế giới.Những năm gần đõy mặc dự ngành trồng rau cú nhiều khởi sắc, nhưng trờnthực tế vẫn chưa theo kịp nhiều ngành khỏc trong sản xuất nụng nghiệp
Theo số liệu thống kờ năm 2000 thỡ diện tớch rồng rau cả nước là 445nghỡn ha, tăng 70% so với năm 1990 ( 261.090 ha) Bỡnh quõn mỗi nămtăng 14,8 nghỡn ha (mức tăng 7%/năm) trong cỏc tỉnh phớa Bắc cú 249.200
ha, chiếm 56% diện tớch đất canh tỏc, cỏc tỉnh phớa Nam196.000 ha chiếm44% Năng suất ru xanh núi chung cũn thấp và bếp bờnh Năm 1998 cúnăng suất đạt 144.8 tạ/ha, bằng 80% so với mức trung bỡnh toàn thế giới
So với năm 1990 là 123.5 thỡ năng suất bỡnh quõn cả nước trong mười nămchỉ tăng 11.5 tạ/ha Hà Nội, Vĩnh Phỳc, Hải Phũng, TP.HCM, Đà Lạt, Lõmđồng v v là cỏc tỉnh cú năng suất cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt mức 160tạ/ha Năng suất thấp nhất là cỏc tỉnh miền Trungchir đạt một nửa so vớinăng suất trung bỡnh cả nước
Cú nhiều nguyờn nhõn làm cho năng suất rau ở nước ta cũn thấp,song nguyờn nhõn chủ yếu vẫn là do thiếu đầu tư cho thủy lợi, phõn bún…Ngoài ra nước ta vẫn chưa cú bộ giống rau chuẩn và tốt, hệ thống nhõngiống và sản suất hạt giống vẫn chưa được hoàn thiện Phần lớn hạt giốngrau do dõn tự để giống hoặc nhập nội mà khụng qua kiểm nghiệm kỹ Điều
Trang 5này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng của rau xanh (Phạmthị Thùy, 2006) [10].
Theo số liệu thống kê năm 2003 diện tích trồng rau cả nước đạt577,763 ha, với năng suất bình quân 141,6 tạ/ha, sản lượng đạt 8,18 triệutấn,gấp gần 2,5lần so với năm 1993(3,28 triệu tấn) trong 10 năm mức tăngbình quân đạt 13,57%/năm Với khối lượng rau tươi được sản xuất trên đấtnông nghiệp năm 2003 sản lượng rau xanh bình quân đầu người ở nước tađạt mức 102kg/năm, tương đương với bình quân toàn thế giới và vượt chỉtiêu kế hoạch năm 2010 (85kg/năm)
Theo báo cáo của viện kinh tế nông nghiệp (2005) diện tích trồng rautrên cả nước ta năm 2004 đạt trên 600000 ha, gấp hơn 3 lần so với năm
1991 Vùng đồng bằng sông Hồng là vùng sản xuất lớn nhất chiếm khoảng29% sản lượng rau toàn quốc.Điều này là do đất của vùng này tốt hơn, khíhậu mát mẻ hơn và gần thị trường Hà Nội Vùng đồng bằng sông Cửu Long
là vùng trồng rau lớn thứ hai cả nước, chiếm 23% sản lượng rau cả nước
Đà Lạt cũng là vùng chuyên canh sản xuất rau cho xuất khẩu và cho nhucầu tiêu thụ các thành phố và các vùng lân cận Diện tích và sản lượng rau
cả nước được thể hiện qua bảng 1
Bảng 1: Diện tích và sản lượng rau của Việt Nam.
Trang 6(Nguồn: Bộ NN&PTNT, Viện kinh tế Nông Nghiệp 2005)
Qua bảng 1 cho thấy diện tích trồng rau và sản lượng rau của nước takhông ngừng tăng theo từng năm Đặc biệt trong những năm gần đây sảnxuất rau trong nước có những bước phát triển khá nhanh, đáp ứng nhu cầu
cơ bản về rau xanh cho các bữa ăn hàng ngày, cung cấp các nguyên liệucho công nghiệp chế biến và xuất khẩu rau tươi Do ứng dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật về giống và các biện pháp thâm canh tại các vùng rauchuyên canh, khối lượng rau trái vụ được sản xuất ra nhiều hơn, thời giangiữa hai vụ chính được rút ngắn Tuy nhiên rau xanh chưa đảm bảo yêu cầu
vệ sinh thực phẩm do đó gây tác hại ảnh hưởng đến sức khỏe người nôngdân và môi trường Hàng năm có nhiều vụ ngộ độc do ăn phải rau có lượngtồn dư hóa chất BVTV cao Ở nước ta hiện trạng ô nhiễm môi trường dohóa chất BVTV đã trở thành vấn đề cần được quan tâm Các loại hóa chấtbảo vệ thực vật đã và đang là những nguyên nhân đóng góp vào việc làm
Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng
Trang 7giảm số lượng nhiều loại động vật có ích, làm giảm tính đa dạng sinh học,
có hại cho sức khỏe con người
Chính vì thế trong những năm gần đây vấn đề rau sạch được các nhàkhoa học nghiên cứu, phổ biến ngày càng rộng rãi Đã có nhiều nghiên cứuđóng góp vai trò rất lớn trong sản xuất rau Đinh Thức Huấn (2001) nghiêncứu tình hình sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại trung tâm kỹ thuật rau quả
Hà Nội 2001; Hồ Thanh Sơn, Bùi Thị Thái, Nguyễn Thị Tình (2002) báocáo đánh giá hoạt động sản xuất rau sạch tại huyện Tam Dương, BìnhXuyên năm 2001; Phạm Thị Thùy (2006) đề cập sản xuất rau an toàn theotiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GAP),… Các dự án sản xuất rausạch được mở rộng và tăng cả về số lượng và chất lượng ở Hà Nội, TP HồChí Minh, Đà Lạt và một số khu công nghiệp lớn Tổng diện tích rau antoàn tăng dần qua các năm từ 160 ha (năm 1995) đến 1082,5 ha (năm 1999)đưa sản lượng rau an toàn phục vụ người tiêu dùng từ 250 tấn lên 14000tấn rau an toàn mỗi năm
Năm 1995 quỹ Vifotec thuộc Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam đãthực thi dự án nghiên cứu và điều tra hiện trạng môi trường ở các vùng rau
Hà Nội và áp dụng công nghệ trồng rau sạch đạt kết quả tốt Trong nhữngnăm 1995 – 1999 Cục KNKL, Bộ NN & PTNT, trung tâm KNKL thuộc Sở
NN & PTNT Hà Nội đã phối hợp chỉ đạo tổ chức xây dựng gần 100 ha sảnxuất rau an toàn tại các huyện ngoại thành như Đông Anh, Gia Lâm, TừLiêm…mở lớp tập huấn cho nông dân các vùng trồng rau, phát hành tờhướng dẫn quy trình sản xuất rau an toàn các loại, đẩy mạnh tuyên truyềnsản xuất rau an toàn trên các phương tin đại chúng
Ở Đà Lạt có sự chỉ đạo của liên hiệp khoa học sản xuất thành phố ĐàLạt, áp dụng các phương pháp bón phân vi sinh thay phân xác mắm, dùngthuốc trừ sinh học thay thuốc trừ sâu hóa học,đồng thời sử dụng các biện
Trang 8pháp canh tác tổng hợp với mục tiêu giảm tối thiểu lượng phân bón hóa học
đã mang lại kết quả tốt Tính đến cuối tháng 12 năm 1995 Đà Lật đã xuấtkhẩu được 3500 tấn rau sạch các loại sang Singapore, Đài Loan, NhậtBản…(Dương Minh Báu, 1997) [4]
Tại Vĩnh Phúc với khoảng 8000 – 9000 ha rau xanh hàng cung cấpcho thị trường khoảng 120.000 nghìn tấn Hiện rau xanh Vinh Phúc khôngchỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nội tỉnh mà còn cung cấp cho thịtrường Hà nội và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Vĩnh Phúc đã xâydựng được 10 quy trình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn của BộNN&PTNT cho 10 loại cây rau Xây dựng được 130 điểm trình diễn kỹthuật sản xuất rau an toàn của 10 xã trọng điểm trồng rau Theo kết quảtrình diễn cho thấy từ quy trình sản xuất rau an toàn mặc dù năng suất giảm1- 5% song chi phí phân đạm giảm 15 - 45%, chi phí BVTV giảm 40 -60%, giá thành giảm 3 - 5%, nên lãi tăng 0,5 - 1 triệu đồng/ha Với quyếttâm xây dựng vùng rau an toàn, chi cục BVTV tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựngthương hiệu cho rau an toàn Sông Phan và đăng ký bảo hộ tại cục sở hữu trítuệ Việt Nam với mã vạch theo tiêu chuẩn đăng ký tại tổng cục tiêu chuẩn
đo lường chất lượn Việt Nam, Vĩnh Phúc mã hóa đến từng loài rau, từng hộtác xã và từng hộ nông dân Bước đầu thương hiệu đã có chỗ đứng trongngười tiêu dùng (Báo Nông thôn Việt Nam, 2006)
Tại Hà Tây, xã Tan Minh huyện Thường Tín hiện có gần 80 hachuyên canh trồng rau sạch, bình quân một ngày cung cấp khoảng 40 tấnrau an toàn cho Hà Nội, Hà Đông, Hà Nam Như vậy đảm bảo cho nôngdân trong xã thu nhập từ 4 – 6 triệu đồng/sáo/năm Đây là một trong những
xã đầu tiên ở Hà Tây đề ra mục tiêu xây dựng thương hiệu “rau an toàn TânMinh” Năm 2007 có 1250/1800 hộ nông dân trong xã tham gia sản xuấtrau an toàn theo hướng sản xuất hàng hóa Do nhu cầu thị trường về rau
Trang 9ngày cáng cao do vậy nghề trồng rau của nông dân đem lại thu nhập cao.Trên những cánh đồng rau ở xã Tân Minh các hộ nông dân đã khoan hàngchục giếng do đó đã tạo ra nguồn nước sạch để tưới rau Nông dân trong xãcòn thực hiện chương trình kỹ thuật phòng trừ bệnh, sử dụng thuốc BVTVđúng quy cách để đảm bảo cho rau sạch, an toàn (sản xuất và thị trườngnông nghiệp và phát triển nông thôn, 2006) [2].
Tại Nghệ An xã Quỳnh Lương huyện Quỳnh Lưu đã xây dựng thànhcông mô hính sản xuất rau an toàn và đã có trang web quảng bá thươnghiệu “rau an toàn Quỳnh Lương” trên internet Với thương hiệu này nôngdân xã Quỳnh Lương cung cấp rau an toàn cho thị trường đều đặn hàngngày cho các khách hàng trong và ngoài tỉnh Dân ở đây đều không phải đibán hàng ngoài chợ mà được các thương gia đến đặt hàng mua tận nơi thunhập hàng năm của nông dân trong xã ngày càng tăng vì vậy đời sống củanông dân trong xã được cải thiện và ngày càng nâng cao hơn nhờ nghềtrồng rau an toàn [5]
1.1.2 Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Rau xanh là một trong những loại cây trồng có giá trị dinh dưỡngcao, giàu vitamin và muối khoáng nên rất được con người quan tâm và chútrọng
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về rau, tập trungchủ yếu về các vấn đề: nhu cầu dinh dưỡng của rau, ảnh hưởng của nguyên
tố vi lượng đến năng suất rau, mối quan hệ giữa bón phân và nhu cầu vếcác nguyên tố vi lượng, ngưỡng dư của thuốc bảo vệ thực vật …
AristelA và những cộng tác trong vườn quốc gia vec xay đã nghiêncứu nhu cầu hút N-P-K của rau Trung bình rau hút N-P-K theo tỉ lệ 2,5-1-3,8 nhu cầu này rất lớn thay đổi tùy theo loại [3]
Trang 10Năm 1931, sommer tiến hành thí nghiệm trên cây cà chua, hướngdương và rút ra kết luận: trong điều kiện thí nghiệm trong dinh dưỡng chỉthêm một lượng rất ít cu vào môi trường dinh dưỡng thì cả hai loại cây đềuphat triển tốt và cho năng suất cao hơn [4].
Tiếp đó Beckenback(1914) trên đối tượng là cây cà chua đã nghiêncứu ảnh hưởng của phân đạm đối với sự thu hút Bo đã đi đến kết quả:càngbón đạm thì nhu cầu về Bo của cây cà chua càng tăng nhưng ngược lạicàng bón lân thì nhu cầu về Bo càng thấp [4]
Bốn năm sau hai tác giả khác là Hougland và Martin(1948) đã xácđịnh được trong cà chua chứa khoảng 300mg đl/100g đất khô trong khi đóhàm lượng kali có thể thay đổi từ 25-150 mg đl [4]
Theo số liệu thống kê của FAO (2001)rên toàn thế giới sản xuấtđược 375 triệu tấn rau(1998), 441 triệu tấn (1990) và đạt 602 triệu tấn (năm2000) Lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người là 78kg/năm Riêng châu Ásản lượng rau hàng năm đạt 400 triệu tấn với mức tăng trưởng3%/năm( khoảng 5triệu tấn/năm) Trong các nước đang phát triển thì TrungQuốc có sản lượng rau cao nhất đạt 70 triệu tấn/năm ấn độ đạt 65 triệu tấn/năm(Tạ Thu cúc 2000)[3]
Các tổ chức FAO,WHO khuyến cáo hạn chế sử dụng hóa chất vàonông nghiệp xây dựng các quy trình sản xuất theo công nghệ sạch, côngnghệ sinh học theo WHO mỗi năm mỗi năm có hơn 3% nhân lực lao độngnông nghiêp ở các nước đang phát triển bị nhiễm độc thuốc trừ sâu Côngnghệ sản xuất rau sạch trong nhà kính,nhà lưới, trong dung dịch đã trở nênquen thuộc, phần lớn các loại rau quả trên thị trường đều sản xuất theo quytrình rau sạch (Dương Minh Báu,1997)
Hiện nay có hai quan niệm về một nền nông nghiệp bền vững trongmột hệ sinh thái cân bằng và ổn định Đó là phát triển nền nông nghiệp hữu
Trang 11cơ(dùng toàn phân hữu cơ, giống cổ truyền, các biện pháp canh tác cổxưa…) và phối hợp giữa nông nghiệp hữu cơ với các tiến bộ về giống, hóahọc, công nghệ sinh học,cơ giới hóa có chọn lọc… riêng trong nông nghiệptrồng rau hiện nay có ba phương thức trồng chủ yếu là phương thức sảnxuất rau ngoài trời, phương thức sản xuất rau trong điều kiện bảo vệ vàphương thức sản xuất rau thủy canh Trong ba phương thức sản xuất đó thìphương thức sản xuất rau trong điều kiện bảo vệ có chi phí sản xuất lớn,giá thành sản phẩm cao song tính ưu việt của nó là khống chế được điềukiện khí hậu, chủ động vụ gieo trồng và đáp ứng nhu cấu rau quả của ngườitiêu dùng Đây là một biện pháp sản xuất rau sạch có hiệu quả Tuy nhiênphương thức sản xuất rau thủy canh là phương thức sản xuất ra tiên tiến cóhiệu quả đang được FAO khuyến khích sản xuất phương thức này đangđược áp dụng ở châu Mỹ La Tinh và châu Á Ưu điểm của phương thứcnày là năng suất trên đơn vị diện tích cao, chất lượng rau tốt, phẩm chất raucao đạt chất lượng rau sạch Tuy nhiên chi phí sản xuất cao nên giá thànhsản phẩm cao(Tạ Thu Cúc,2000) [3].
Theo Phạm Văn Hữu (2005)ở Mỹ và Canada đã hình thành các hiệphội sản xuất rau sạch, các hội viên của hội phải thực hiện thật nghiêm ngặtcác quy định về điều kiện sản xuất và quy trình trồng trọt họ được ưu tiên
để vay vốn xây dựng hệ thống cấp nước sạch để tưới, rửa cây và vốn sảnxuất ban đầu, các hội viên được quyền bán sản phẩm với giá cao hơn ởthái lan đã xây dựng mô hình liên kết sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao
ở miền tây, chỉ cung cấp rau quả đạt chất lượng cao được tổ chức bán lẻchâu Âu công nhận và cung cấp cho các siêu thị hàng đầu ở các nước Anh,
Hà Lan, Thụy Sĩ…
1.2 Rau an toàn.
Khái niệm rau an toàn:
Trang 12Rau an toàn là những loại rau ăn lá,củ,thân, thân, hoa, quả có chấtlượng tốt, có hàm lượng chất độc và mức độ nhiễm các vi sinh vật gây hại
ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng vàmôi trường sống
Rau an toàn phải đạt các yêu cầu sau:
- Chỉ tiêu nội chất: chỉ tiêu nội chất quy định cho rau an toàn baogồm: lượng dư thuốc bảo vệ thực vật, hàm lượng nitrat, hàm lượng một sốkim loại nặng chủ yếu cu,pb,cd,As… mức độ nhiễm các vi sinh vật gâybệnh và kí sinh trùng đường ruột
tất cả các chỉ tiêu trong sản phẩm của từng loại rau toàn phải nằmdưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của tổ chức Nông lương thế giới(FAO),
tổ chức y tế thế giới(WHO), hoặc một số nước phát triển trên thế giới
- Tiêu chuẩn về hình thái: sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúngyêu cầu từng loại rau, không giập nát,hư thối, không lẫn tạm chất, sâu bệnh
và có bao gói thích hợp (Phạm thị Thùy, 2006) [10]
Những nguyên nhân dẫn đến rau không an toàn: swr dung thuốc trừsâu không đúng liều lượng, quá mức cho phép, sử dụng thuốc cấm sửdụng… sử dụng phân bón không hợp lý dẫn đến thừa, gần sát thời gian thuhoạch, sử dụng phân chuồng chưa ủ hoai để bón, tưới cho cây…sử dụngnước tưới ở những nguồn nước không sạch, đã ô nhiệm…
Điều kiện sản xuất rau an toàn
Nguồn nhân lực có kỹ thuật là yếu tố hàng đầugiúp phát triển tốt mọihoạt động sản xuất các tổ chức sản xuất rau an toàn phải có cán bộ kỹthuật chuyên ngành hoặc hợp đồng thuê cán bộ chuyên ngành về kỹ thuậttrồng trọt hoặc bảo vệ thực vật từ trung cấp trở lênddeer hướng dẫn kỹthuật RTA Đặc biệt, người sản xuất RAT phải được đào tạo qua lớp huấnluyện kỹ thuật sản xuất RAT
Trang 13Đất quy hoạch để trồng RAT cần đảm bảo các điều kiện sau đây: cóđặc điểm lý, hóa, sinh học phù hợp với sự sinh trưởng, phát triển cây rau.Không bị ảnh hưởng trức tiếp các chất thải công nghiệp, các chất thải sinhhoạt từ các khu dân ¸bệnh viện, các lò giết mổ gia súc tập trung và cácnghĩa trang, đường giao thông lớn Đảm bảo tiêu chuẩn môi trường đấttrồng trọt TCVN 5941:1995, TCVN 7209:2000 Ngoài ra ở các vùng sảnxuất rau an toàn này phải được kiểm tra mức độ ô nhiễm định kỳ hoặc độtxuất.
Phân bón hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại phân bón, do vậyngười sử dụng cần có hiểu biết và sự lựa chọn các loại phân bón trong danhmục phân bón được phép sản xuất kinh doanh ở Việt Nam, phân hữu cơ đãqua sử lý bảo đảm không cón nguy cơ ô nhiễm hóa chất vi sinh vật có hại,không nên sử dụng các loại phân bón có nguy cơ ô nhiễm cao như phânchuồng tươi, nước giải, phân chế biến từ rác thải sinh hoạt, rác thải côngnghiệp để bón trức tiếp cho rau
Nước tưới cho rau cần được lấy từ nguồn không bị ô nhiễm bởi các
vi sinh vật, hóa chất độc hại và bảo đảm chất lượng nước tưới theo tiêuchuẩn TCVN 6773:2000 Nước tưới cho rau tuyệt đối không nên sử dụngnước thải công nghiệp chưa qua sử lý, nước thải từ các bệnh viện, các khudân cư tập trung, các trại chăn nuôi… để trực tiếp cho rau Và đặc biệtnguồn nước tưới cho các vùng rau an toàn cấn được kiểm tra định kỳ và độtsuất bởi các cơ quan có thẩm quyền
Kỹ thuật canh tác: tùy theo tập quán canh tác cũng như điều kiên tựnhiên của vùng sản suất mà người nông dân lựa chộn kỹ thuật canh tác phùhợp Có 2 hình thức chủ yếu là luân canh và xen canh
Chọn giống rau: không được sử dụng các loại rau biến đổi gen khichưa có giấy chứng nhận an toàn sinh học
Trang 14Bón phân:Sử dụng đúng chủng loại,liều lượng, thời gian bón và cáchbón theo quy trình trồng trọt rau an toàn cho từng loại rau, riêng phân đạmphải bảo đảm thời gian cách ly trước khi thu hoạch ít nhất là 10 ngày và ítnhất 7 ngày đối với phân bón lá.
Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ sâu bệnh đúng cách giúp giảm chi phíđầu vào và tăng năng suất cây trồng, do vậy các khu vực sản xuất rau antoàn cần thực hiện những kỹ thuật hợp lý Áp dụng kỹ thuật quản lý,khuyến khích phát triển sản xuất rau theo hướng thực hành nông nghiệp tốt(GAP) Khuyến khích xây dựng nhà lưới, nhà màng cách ly côn trùng phùhợp với nhu cầu sinh trưởng của mỗi loại rau và điều kiện sinh thái củatừng vụ, từng vùng, đặc biệt với mỗi loại rau có giá trị kinh tế cao, rautrồng trái vụ Thường xuyên kiểm tra ruộng đồng, phát triển đối tượng sâubệnh hại để phòng trừ kịp thời Áp dụng biện pháp phòng trừ thủ công, bắtsâu bắt bướm và diệt ổ trứng sâu vào thời điểm thích hợp, tiêu hủy các cây,
bộ phận của cây bị bệnh Sử dụng thuốc trừ sâu bệnh nguồn gốc sinh học,biện pháp phòng trừ sinh học, nhất là các loại rau ngắn ngày Bảo vệ thiênđịch trong các vùng trồng rau, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hóa học đểphòng trừ sâu bệnh cho rau
Rau an toàn trước khi lưu thông trên thị trường phải đảm bảo có giấychứng nhận rau an toàn do cơ quan chức năng cấp Có bao gói thích hợp đểđảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Có nhãn hàng hóa gắnliền với bao gói, dây buộc hoặc gắn trực tiếp vào từng sản phẩm
Khuyến khích tổ chức rau an toàn theo các hình thức phù hợp vớiquy mô sản xuất như tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp Tổ chức sảnxuất rau an toàn phải đăng ký và chấp hành nghiêp túc các quy định về điềukiện sản xuất rau an toàn, chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lýchuyên ngành, chịu trách nhiệm trước pháp luật và người tiêu dùng về chất
Trang 15lượng, tính an toàn của sản phẩm do mình sản xuất và cung ứng (Phạm ThịThùy 2006).
1.3 Đối với cải bắp.
Bắp cải hay cải bắp (Brassica oleracea nhóm Capitata) là một loại rau chủ
lực trong họ Cải (còn gọi là họ Thập tự - Brassicaceae/Cruciferae), phát
sinh từ vùng Địa Trung Hải Nó là cây thân thảo, sống hai năm, và là một
hình gần như hình cầu đặc trưng
Nó đã được biết tới từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại; Cato Già đánhgiá cao loại cây này vì các tính chất y học của nó, ông tuyên bố rằng "nó làloại rau thứ nhất".[1] Tiếng Anh gọi nó là cabbage và từ này có nguồn gốc
nhân tạo diễn ra liên tục để ngăn chặn chiều dài các gióng
Cải bắp có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn nhưng
có bộ rễ chùm phát triển nên chịu hạn và chịu nước hơn su hào và súp lơ
Cải bắp ngoài là món ăn ngon ra còn có tác dụng chữa được nhiềubệnh như: phòng bệnh ung thư vú ở phụ nữ,nước cải bắp tươi chữa bệnhloét da
Trang 16Trong điều kiện nhiệt đới và á nhiệt đới bắp cải được trồng cả băngcây con và trồng trực tiếp bằng hạt thời gian sinh trưởng 70-120 ngày, mật
độ trồng 28.000- 40.000 cây/ ha bắp cải là loài cây ưa đất cát pha thịt, có
độ Ph từ 6-6,5,không chịu được đất chua lượng dinh dưỡng cây hút từ đấtsau mỗi vụ trồng như sau
Bảng 2: Nhu cầu dinh dưỡng của cây bắp cải
ở thời kỳ hình thành bắp Nếu thiếu K có thể gây nên hiện tượng bạc mép
lá và giảm phẩm chất bắp Nhưng thừa K lại có thể gây ra hiện tượng mởbắp Cây có yêu cầu cao đối với S và rất nhậy cảm với sự thiếu hụt Mg vàB
Bón phân cho bắp cải nên giành lại một phần để bón trước gieo Nêncày vùi vôi và phân hỗn hợp trước khi trồng Nên dùng dung dịch men hàmlượng cao, chứa 0,75 kg dinh dưỡng/ 100 lít nước để hồ rễ trước khi mangtrồng Số dinh dưỡng cây cần còn lại có thể dùng bón trong 1 đến 2 lần bónthúc
1.4 Chế phẩm kích thích hóa học.
1.4.1 Khái niệm:
Trang 17Chế phẩm kích thích hóa học là những chất kích thích có nguồn gốc
tự nhiên có tác dụng kích thích sự sinh trưởng phát triển của các loại câytrồng
1.4.2 Tác hại của việc sử dụng chế phẩm hóa học.
- Độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, gia súc,đặc biệt là
sẽ gây ô nhiễm môi trường
- Ảnh hưởng đến chất lượng, phẩm chất nông sản, không ảnh hưởngđến đất trồng, môi trường không khí
- Không tận dụng được nguồn tài nguyên vi sinh vật
1.5 Chế phẩm kích thích vi sinh.
1.5.1 Khái niệm:
Chế phẩm kích thích vi sinh học được sản xuất từ các chủng vi sinhđặc hiệu nuôi cấy trên môi trường khác nhau theo phương pháp thủ công,bán thủ công hoặc phương pháp lên men công nghiệp để tạo ra những chếphẩm có chất lượng cao, có khả năng kích thích cây trồng sinh trưởng, pháttriển mạnh
Trang 18- Không làm mất đi những nguồn tài nguyên sinh vật có ích.
- Nếu sử dụng hợp lý, đúng phương pháp, đúng kỹ thuật trong điềukiện nhiệt độ thích hợp sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Có tác dụng cân bằng hệ sinh thái ( vi sinh vật, dinh dưỡng …)trong môi trường đất nói riêng và môi trường nói chung
- Ứng dụng các chế phẩm sinh học không làm hại kết cấu đất, khônglàm chai đất, thóai hóa đất mà còn góp phần tăng độ phì nhiêu của đất
- Có tác dụng đồng hóa các chất dinh dưỡng, góp phần tăng năngsuất, tăng chất lượng nông sản phẩm
- Có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại, giảm thiểu bệnh hại, tăngkhả năng đề kháng bệnh của cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môitrường như các lọai thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học khác
- Có khả năng phân hủy, chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, cácphế thải sinh học, phế thải nông nghiệp, công nghiệp, góp phần làm sạchmôi trường
Trang 19- Nhóm chế phẩm sinh học dùng cho cải tạo đất, xử lý phế thải nôngnghiệp.
- Chế phẩm kích thích sinh học được đưa vào nước ta từ những năm
1970, tuy nhiên sử dụng nó ở nước ta còn gặp nhiều hạn chế: Trong nghiêncứu triển khai ta còn rất thiếu điều kiện, phương tiện nghiên cứu Bên cạnh
đó các cơ sở thực nghiệm về công nghệ của chúng ta còn nhiều hạn chế sốlượng ít ỏi đang là nguyên nhân lớn dẫn đến sự hạn chế trong việc sản xuất
và sử dụng kích thích vi sinh
- Trong phân phối sản phẩm, chúng ta quá quan tâm quảng bá chocác loại chế phẩm hóa học do vậy không còn đất cho chê phẩm vi sinh Mặtkhác người nông dân lại mong muốn chế phẩm hóa học có hiệu quả tứcthời và sử dụng thuận tiện nên ít quan tâm đến chế phẩm vi sinh
- Chế phẩm kích thích vi sinh là một hướng đi tích cực cho nôngnghiệp sạch Việt Nam nhưng áp dụng rộng rãi hơn nữa chế phẩm này vàonông nghiệp là một bài toán khó giải của cơ quan chức năng
Trang 20Trên thế giới:
- Chế phẩm kích thích vi sinh có mặt từ rất sớm, nhiều nước trên thếgiới đã bắt tay vào việc nghiên cứu tìm ra nhiều giống vi sinh vật và cho rađời hàng loạt các chế phẩm kích thích vi sinh trên dây chuyền sản xuấtngày càng hiện đại
- Đặc biệt với sự phát triến của công nghệ gen đã hỗ trợ đắc lực vàocông tác tạo giống vi sinh vật
- Hiện nay trên thế giới đang có xu hướng áp dụng thành tựu củacông nghệ gen vào sản xuất nông nghiệp
1.5.5 Chế phẩm kích thích vi sinh BIOMIC.
-Chế phẩm kích thích sinh học Biomic do công ty cổ phần Thanh Hàsản xuất
- Dùng cho tất cả các loại rau ăn lá, ăn quả, củ, cây lương thực
* Tác dụng:- Giúp cho cây sinh trưởng, phát triển mạnh, hoa nở
đồng loạt và đúng mùa
- Kích thích ra rễ, dưỡng mầm, siêu quả to, chống vàng lá, bạc lá,rụng lá
- Kích thích lá sinh trưởng làm cho lá xanh và dày hơn
- Chống rụng hoa và quả non, chịu rét và hạn, thích ứng cho câyvùng đất chua, nhiễm mặn và phèn
- Tăng độ đường cho củ, quả,giúp cây trồng đạt năng suất cao, chấtlượng tốt
- Hạn chế được một số bệnh do vi khuẩn, vi rút gây ra
- Sản phẩm dành cho những vùng cao sản: chè, cà phê, tiêu, đặc biệt
là dùng rất tốt cho các loại cây rau màu như:bắp cải, su hào, cà rốt…