1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của tâm lý đám đông đến quyết định của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán việt nam khóa luận đại học chuyên ngành tài chính ngân hàng

81 142 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1 Tính cấp thiết của đề tài (12)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (14)
      • 1.2.1 Mục tiêu tổng quát (14)
      • 1.2.2 Mục tiêu chi tiết (14)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (14)
    • 1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu (14)
      • 1.4.1 Phạm vi nghiên cứu (14)
      • 1.4.2 Đối tượng nghiên cứu (15)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (15)
      • 1.5.1 Phương pháp định tính (15)
      • 1.5.2 Phương pháp định lượng (15)
      • 1.5.3 Dữ liệu nghiên cứu (16)
    • 1.6 Ý nghĩa và ứng dụng của nghiên cứu (16)
    • 1.7 Kết cấu nghiên cứu (16)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN (16)
    • 2.1 Bối cảnh ra đời của tài chính học hành vi (18)
      • 2.1.1 Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng (18)
      • 2.1.2 Lý thuyết thị trường hiệu quả (19)
    • 2.2 Lý thuyết triển vọng (19)
    • 2.3 Tâm lý đám đông (22)
      • 2.3.1 Khái niệm tâm lý đám đông (22)
      • 2.3.2 Đặc điểm của tâm lý đám đông (23)
      • 2.3.3 Phân loại tâm lý đám đông (25)
      • 2.3.4 Nguyên nhân tâm lý đám đông (26)
    • 2.4 Các công trình nghiên cứu có liên quan (35)
      • 2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài (35)
      • 2.4.2 Các nghiên cứu trong nước (36)
      • 2.4.3 Thảo luận các nghiên cứu trước đây và khoảng trống nghiên cứu (38)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (16)
    • 3.1 Quy trình nghiên cứu (40)
    • 3.2 Mô hình nghiên cứu (41)
      • 3.2.1 Mô hình Chang, Cheng, Khorana (2000) (41)
      • 3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu (43)
    • 3.3 Phương pháp nghiên cứu (43)
      • 3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính (43)
      • 3.3.2 Phương pháp định lượng (43)
      • 3.3.3 Mẫu nghiên cứu (44)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (17)
    • 4.1 Tâm lý đám đông trên TTCK Việt Nam (51)
      • 4.1.1 Thời gian hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam (51)
      • 4.1.2 TTCK Việt Nam trong giai đoạn trước khủng hoảng 2008 (52)
      • 4.1.3 TTCK Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng tài chính 2008 đến nay (53)
      • 4.1.4 Biểu hiện tâm lý đám đông trên TTCK Việt Nam (54)
      • 4.1.5 Cơ sở tại ra tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam (55)
    • 4.2 Kết quả nghiên cứu từ khảo sát, điều tra bằng bảng hỏi (56)
    • 4.3 Kết quả thống kê mô tả dữ liệu (59)
    • 4.4 Kết quả hồi quy (60)
      • 4.4.1 Sự tồn tại của tâm lý đám đông trên thị trường chung (60)
    • 4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu (61)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN HÀM Ý CHÍNH SÁCH (64)
    • 5.1 Kết luận (64)
    • 5.2 Hàm ý chính sách (64)
      • 5.2.1 Hệ thống pháp luật cần được cải thiện để tăng tính pháp lý bảo vệ nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường (64)
      • 5.2.2 Minh bạch hệ thống công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn (65)
      • 5.2.3 Tiếp tục xây dựng phát triển thêm những sản phẩm trên thị trường giúp nhà đầu tư có thể giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất (66)
      • 5.2.4 Cải thiện tâm lý giao dịch và kiến thức về thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng cho nhà đầu tư cá nhân (66)
    • 5.3 Những hạn chế của nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo (66)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (68)

Nội dung

TÓM TẮT Trong bài nghiên cứu này xem xét tác động của tâm lý đám đông đến quyết định của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1/1/2016 – 7/2019.. Nghiên

TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

Tính cấp thiết của đề tài

Tâm lý đám đông tồn tại trong mọi mặt của đời sống và ảnh hưởng đến mỗi cá nhân Các quyết định của mỗi cá nhân thường bị chi phối bởi hành vi của đám đông nào đó Tâm lý đám đông đã hình thành từ hàng triệu năm trước lúc con người bắt đầu xuất hiện

Vì thế mà cuộc sống bầy đàn đã ảnh hưởng rất nhiều đến mỗi cá nhân và qua hàng trăm triệu năm đến nay vẫn còn hiện hữu Khi một cá nhân bị chi phối bởi đám đông thì mọi tính cách và quyết định của họ đều hoàn toàn phụ thuộc vào đám đông đó

Trong thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng tâm lý đám đông hay tâm lý bầy đàn đều tồn tại Việc các nhà đầu tư cá nhân hành động theo bầy đàn do nhiều nguyên nhân khác nhau và một trong những nguyên nhân mà thường các thị trường mới hình thành gặp phải đó là tình trạng bất cân xứng thông tin Theo lý thuyết thị trường hiệu quả thông tin là yếu tố quan trọng nhất mà nhà đầu tư cần quan tâm vì khi một thị trường hiệu quả tức thông tin đã phản ánh một các nhanh chóng và kịp thời vào giá Tuy nhiên tại những thị trường mới nổi như Việt Nam, tình trạng nhà đầu tư thiếu thông tin còn diễn ra rất phổ biến và khi họ thiếu đi những thông tin đáng tin cậy trên thị trường (Chang, 2000) thì các nhà đầu tư thường có xu hướng bắt chước hành động theo những nhà đầu tư khác (Bikhchadani, 2001) Việc hành động theo những nhà đầu tư khác có thể giúp nhà đầu tư tiết kiệm được thời gian nghiên cứu và họ sẽ cảm thấy tự tin hơn khi có nhiều người hành động cùng với mình

Chính điều đó làm giá chứng khoán thường không phản ánh đúng giá trị thực từ đó xuất hiện tình trạng “bong bóng” trên thị trường Một ví dụ cho trường hợp này là cuộc khủng hoảng năm 2000, khi các cổ phiếu công nghệ tại Mỹ trở nên thu hút các nhà đầu tư, họ liên tục đồn thổi và mua vào những cổ phiếu công nghệ được niêm yết trên sàn bất chấp tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đó… Cũng chính vì lẽ đó làm cho các cổ phiếu công nghệ vượt quá giá trị thật và trở thành bong bóng cổ phiếu công nghệ trong những năm 2000 Cuối cùng để lại hậu quả là cuộc khủng hoảng năm 2000 Charles Mackay, một luật sư người Scotland, với cuốn sách kinh điển Extraordinary Popular

Delusions and the Madness of Crowds, năm 1841 Ông mô tả một số hội chứng đám đông, bao gồm Hội chứng Hoa Tulip ở Hà Lan năm 1634 và bong bóng đầu tư South Seas ở Anh năm 1720 Cơn sốt hoa tulip bắt đầu như một thị trường tăng giá củ tulip Thị trường tăng giá kéo dài thuyết phục những người Hà Lan và hoa tulip tiếp tục được đánh giá cao Nhiều người bỏ việc kinh doanh để trồng hoa tulip, buôn bán chúng, hoặc trở thành môi giới hoa tulip Các ngân hàng chấp nhận hoa tulip như tài sản thế chấp và các nhà đầu cơ hưởng lợi Cuối cùng, hội chứng sụp đổ trong các con sóng bán tháo hoảng loạn, bỏ mặc mọi người cơ cực và quốc gia bị sốc “Con người bị điên trong đám đông, và họ trở về với các giác quan của mình chậm rãi và từng người một.” (Alexander Elder, 2014)

Các nghiên cứu về tâm lý đám đông đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu Lý thuyết về tâm lý đám đông hay tâm lý bầy đàn đã được xây dựng và phát triển trong hơn 30 năm qua bởi những nhà nghiên cứu tiêu biểu như Bikhchandani (1992), Devenow (1996), Grinblatt, Titman và Wermers (1997) về giao dịch của các quỹ tương hỗ trong 10 năm, Wermers (1999) tìm thấy tâm lý bầy đàn cao trong các chứng khoán quy mô nhỏ và giao dịch của các quỹ định hướng tăng trưởng trong giai đoạn 1975 - 1994…Về những nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra sự tồn tại và tác động của tâm lý đám đông phải kể đến như công trình nghiên cứu của nhà quản lý quỹ nổi tiếng Lakonishock, Wermers, Và nổi bật trong phương pháp kiểm tra định lượng về tác động của tâm lý đám đông là hai phương pháp của Christie & Huang (1997) và Chang Cheng Khorana (2000)

Thị trường chứng khoán Việt Nam thành lập từ năm 2000 và đến nay đã trãi qua gần 20 năm hình thành và phát triển Tuy nhiên so với các thị trường phát triển khác như

Mỹ, Hồng Kong, Nhật Bản, thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ với quy mô còn khá nhỏ Do đó mà các chính sách về pháp luật còn khá hạn chế nên dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư cá nhân thiếu đi thông tin trong việc ra quyết định đầu tư của mình Chính vì lẽ đó đã tạo điều kiện tâm lý đám đông hình thành và phát triển trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chính vì vậy sinh viên lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của tâm lý đám đông đến quyết định của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với mong muốn

3 phân tích, tìm hiểu về tâm lý đám đông Để từ đó đưa ra những biện pháp giúp nhà đầu

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tác động của tâm lý đám đông đến hành vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 1-2016 đến 7-2019 trên sàn chứng khoán TP.HCM Từ đó sử dụng các phương pháp và mô hình nghiên cứu phù hợp để kiểm định hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Tìm hiểu tâm lý đám đông, đặc điểm và các cách phân loại đám đông

- Phân tích tác động của tâm lý đám đông trên sàn chứng khoán HoSE đến quyết định của nhà đầu tư trong giai đoạn 1/2016 – 7/2019

- Kiểm định sự tồn tại của tâm lý đám đông trên HoSE

- Kiến nghị các giải pháp giúp giảm thiểu tâm lý đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Tâm lý đám đông là gì và tác động của nó đến quyết định của các nhà đầu tư như thế nào

Câu hỏi 2: Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng tâm lý đám đông trên thị trường chứng khoán

Câu hỏi 3: Phương pháp nào để kiểm định sự tồn tại của tâm lý đám đông trên HoSE

Câu hỏi 4: Những giải pháp, kiến nghị để giảm thiểu tâm lý đám đông trên thị trường chứng khoán.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4 Đề tài nghiên cứu tập trung vào dữ liệu giá theo ngày của VN30 trong giai đoạn 1/2016 đến 7/2019

Tâm lý đám đông tác động đến quyết định của nhà đầu tư các nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Trong bài khoá luận này sử dụng kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng

Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu: các thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu Ở đây là các nghiên cứu liên quan đến tâm lý đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi: thu thập dữ liệu, các thông tin liên quan đến tâm lý đám đông và hành vi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Lakonishok, Shleifer & Vishny (1992) xây dựng cách tiếp cận hành vi đám đông dựa trên những tiêu chí từ những giao dịch được tiến hành bởi một tập hợp con của những người tham gia thị trường trong một khoảng thời gian

Wermers (1995) đề xuất phương pháp tiếp cận dựa trên những thay đổi trong danh mục đầu tư được thiết kế để nắm bắt cả định hướng và cường độ giao dịch của nhà đầu tư

Christie & Huang (1995) đề xuất phương pháp sai số chéo giữa tỷ suất sinh lời của các chứng khoán riêng lẻ trong giai đoạn thị trường có những biến động mạnh về giá

Phương pháp tiếp cận hành vi bầy đàn một cách gián tiếp thông qua việc sử dụng độ phân tán trong tỷ suất sinh lợi của từng chứng khoán so với tỷ suất sinh lợi của thị trường, phương pháp này được Chang, Cheng và Khorana (2000) sử dụng để nghiên cứu

5 hành vi bầy đàn trên thị trường Mỹ, HồngKông, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc sau đó được sử dụng trên nhiều thị trường mới nổi khác

Do đó trong bài nghiên cứu này sẽ sử dụng phương pháp kiểm định theo mô hình Chang, Cheng, Khorana (2000) để nghiên cứu cho thị trường Việt Nam

Trong bài nghiên cứu này sẽ sử dụng dữ liệu giá của VN30 và của tất cả các cổ phiếu trong rổ Vn30 trong khoảng thời gian từ 1/2016 đến 7/2019.

Ý nghĩa và ứng dụng của nghiên cứu

Bài nghiên cứu giúp hiểu hơn về tâm lý đám đông, đặc điểm và những nguyên nhân gây ra tâm lý đám đông cũng như kiểm định sự tồn tại của tâm lý đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam cụ thể tại sàn chứng khoán HoSE

Qua đó nghiên cứu có thể giúp những nhà đầu tư tự tin hơn và các quyết định và phân tích của chính nhà đầu tư, khắc phục được hành vi theo tâm lý đám đông và tăng hiệu quả đầu tư.

Kết cấu nghiên cứu

Ngoài Lời mở đầu, Lời cảm ơn, tóm tắt khoá luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì khoá luận được trình bày trong 05 chương:

Chương 1 Tổng quan nghiên cứu

Chương này giới thiệu lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, bố cục của nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Bối cảnh ra đời của tài chính học hành vi

2.1.1 Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng

Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng được đưa ra bởi 2 nhà nghiên cứu là John Von Neumann và Oskar Morgenstern nhằm mô tả những hành vi hợp lý khi con người phải đối mặt với sự không chắc chắn với những giả định sau:

- Con người có những sự ưa thích hợp lý giữa các kết quả có thể có hoặc những trạng thái tự nhiên

- Con người tối đa hoá mức hữu dụng và doanh nghiệp thì tối đa hoá lợi nhuận

- Con người đưa ra những quyết định độc lập dựa trên thông tin có liên quan

Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng cho rằng con người nên hành động theo cách cụ thể khi phải đối mặt với những quyết định quan trọng khi không có sự chắc chắn Tuy nhiên lý thuyết này được đưa ra để giải quyết rủi ro chứ không phải sự không chắc chắn nhưng

8 do 2 khái niệm rủi ro và sự không chắc chắn không được phân biệt rõ ràng nên dẫn đến sự trùng lặp như trên Rủi ro là sự việc được biết trước và có thể đo lường được trong khi sự không chắc chắn lại không thể tính toán hay đo lường được

2.1.2 Lý thuyết thị trường hiệu quả

Năm 1960, lý thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi giáo sư Eugene Fama dựa trên 3 giả định quan trọng sau:

- Các chủ thể khi tham gia và thị trường phải tối đa hoá lợi nhuận của mình bằng cách tiến hành phân tích, định giá một cách độc lập và kết quả không phụ thuộc và người khác

- Thông tin của chứng khoán đó phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên độc lập và không thể dự đoán trước được

- Giá chứng khoán phải được điều chỉnh tức thời để phản ảnh những thông tin đó Theo Fama định nghĩa 3 dạng của thị trường hiệu quả:

- Thứ nhất thị trường hiệu quả dạng yếu (weak form), giá cả phản ánh thông tin có tỷ suất sinh lời trong quá khứ do đó không có mối liên hệ nào với tỷ suất lợi nhuận trong tương lai

- Thứ hai thị trường hiệu quả dạng vừa (semi-strong form), giá cả phản ánh với tất cả các thông tin đại chúng được công bố như thông tin về báo cáo kết quả kinh doanh, các tin tức được công bố…

- Thứ ba thị trường hiệu quả dạng mạnh, giá cả không chỉ phản ánh nhanh chóng những thông tin được công bố mà còn phản ánh những thông tin nội bộ chưa được công khai.

Lý thuyết triển vọng

Lý thuyết triển vọng được phát triển từ lý thuyết hữu dụng kỳ vọng và nghiên cứu để giải thích hành vi ra quyết định của con người Lý thuyết triển vọng lần đầu tiên đưa ra bởi 2 nhà nghiên cứu là Kahneman và Tversky (1979) trong bài viết “Prospect Theory:

An analysis of decision under risk” Kahneman và Tversky đã đưa ra những vi phạm của lý thuyết hữu dụng kỳ vọng trong việc ra quyết định Trước khi lý thuyết triển vọng ra đời, các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển vận dụng lý thuyết hữu dụng kỳ vọng cho rằng con người là duy lý khi đưa ra quyết định của mình và các quyết định đều hướng đến việc tối đa hoá lợi ích của người ra quyết định Tuy nhiên theo Kahneman và Tversky cho rằng quyết định của con người phụ thuộc rất nhiều vào cảm xúc và tâm lý chi phối

Do đó quyết định của con người đôi khi là quyết định không tối ưu

Lý thuyết triển vọng cho rằng: thông thường con người có khuynh hướng e ngại rủi ro, nhưng trong một số trường hợp phải chịu mất mát con người ta thường tìm kiếm, liều lĩnh với rủi ro Việc đánh giá triển vọng của con người phụ thuộc vào việc được và mất so với một điểm ở trạng thái hiện tại Mất mát sẽ đem lại hậu quả về tâm lý nặng nề hơn so niềm vui khi có được lợi nhuận, mặc dù giá trị mất mát và có được là như nhau

Các điều kiện tồn tại tài chính hành vi

- Tính toán bất hợp lý

Nhà đầu tư có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng Cũng từ đó mà họ đưa ra các quyết định tưởng chứng là hợp lý, mà thật ra lại sai lầm

Sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giải thích các hiện tượng như sợ thua lỗ, lựa chọn nghịch với sở thích và hiệu ứng phân bổ tài khoản, thể hiện cơ bản ở chỗ người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không thực hiện lệnh dừng lỗ khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng sự tự lừa dối, sợ rằng nếu bán mà bị lỗ thì sẽ cảm thấy bản thân có quyết định đầu tư kém, hay sự tiếc nuối, tức lỡ bán rồi mà giá lên thì sao? Hiệu ứng phân bổ tài khoản cũng giúp lý giải một phần vì sao trong những thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá tại các thị trường lớn

- Sự tự tin thái quá

Nhà đầu tư thường cho rằng, bản thân họ tốt hơn những người khác và thường phóng đại những hiểu biết của mình Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với các nhà đầu tư quá tự tin, họ giao dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác Trạng thái quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó khiến các nhà đầu tư sẵn sàng về quan điểm của họ mà bỏ qua việc tham khảo thêm từ những nhà đầu tư khác

Tự tin thái quá cũng làm tăng sự không đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu tư quá tự tin luôn quan niệm hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác cảm nhận nhiều khi những nhà đầu tư nhà đầu tư quá tự tin hiểu sai giá trị thông tin mà họ nhận được, không những tính xác thực mà còn sai cả ý nghĩa của thông tin Tính tự tin thái quá mà một người có càng lớn thì rủi ro càng cao, danh mục đầu tư rất ít đa dạng hóa và chỉ tập trung vào những cổ phiếu mà họ tin tưởng

Khi điều kiện kinh tế thay đổi mọi người có xu hướng chậm phản ứng với thay đổi đó, họ gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một thời kỳ dài hạn trước đó Nghĩa là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng, đây chỉ là tạm thời, dài hạn nền kinh tế vẫn đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó là tín hiệu cho một chu kỳ suy thoái dài hạn đã bắt đầu Sau một khoảng thời gian nhận thấy tình hình vẫn chưa cải thiện thì mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu Kết quả, thị trường lại biến động bất thường

- Phụ thuộc vào kinh nghiệm

Những kinh nghiệm, quy tắc học được thường giúp người ta đưa ra quyết định nhanh và dễ dàng hơn rất nhiều Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu phụ thuộc quá nhiều vào các quy tắc đôi khi lại dẫn đến sai lầm, khi mà các điều kiện bên ngoài thường xuyên thay đổi Đặc biệt, nhà đâu tư thường đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và dễ nhớ, kiểu hiệu ứng Nguyên lý này giúp giải thích tại sao thị trường đôi khi có những hành xử một cách vô thức

- Hiệu ứng ngược vị thế

Hiệu ứng vị thế ngược : Nhà đầu tư có xu hướng bán những khoảng lời quá sớm và giữ những khoản lỗ quá lâu

Tâm lý “bầy đàn” luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của nhà đầu tư, bất kể việc họ có kinh nghiệm hay không Ảnh hưởng của loại tâm lý này càng rõ nét khi nhà đầu tư đứng trước áp lực phải đưa ra quyết định nhanh chóng, mà không có đủ thông tin cần thiết Khi cá nhân đối đầu với ý kiến của nhóm, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của mình, vì họ nghĩ rằng, tất cả những người khác có thể không sai.

Tâm lý đám đông

2.3.1 Khái niệm tâm lý đám đông

Thuật ngữ tâm lý đám đông hay hành vi bầy đàn được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu, cụ thể:

Theo Banerjee, 1992 “Hành vi bầy đàn - mọi người hành động theo những gì mà người khác đang làm, thậm chí ngay cả khi thông tin riêng của họ cho thấy nên hành động một cách khác đi.”

Theo quan điểm tâm lý học khái niệm đám đông lại có ý nghĩa khác Trong những hoàn cảnh nhất định và chỉ trong những hoàn cảnh đó, một nhóm người sẽ có những đặc tính mới rất khác biệt so với đặc tính của từng cá nhân cấu thành nên nhóm đó Nhân cách, tình cảm và suy nghĩ của cá nhân đó có thể biến mất đi thay vào đó là những tính cách của cả một đám đông hay nói cách khác tất cả những ý thức suy nghĩ đều theo một hướng xác định (Gustave Le Bon)

Theo Bikhchadani, Sharma, 2000 “Hành vi đám đông hay tâm lý đám đông là hành vi của một nhà đầu tư này bắt chước nhà đầu tư khác hoặc tin theo những chuyển động của thị trường thay vì dựa trên nguồn thông tin và chiến lược của chính nhà đầu tư đó

Tóm lại theo tác giả, Tâm lý đám đông hay hành vi bầy đàn là việc các nhà đầu tư hành động theo những nhà đầu tư khác để đưa ra quyết định thay vì dựa vào những phân tích đánh giá của riêng bản thân nhà đầu tư đó

2.3.2 Đặc điểm của tâm lý đám đông

Thứ nhất, tính bốc đồng, tính dễ thay đổi, tính dễ bị kích động của đám đông

Khi nghiên cứu về những đặc tính của đám đông có thể thấy rằng mọi hành vi, ý thức của đám đông đều bị điều khiển bởi những kích thích tác động từ bên ngoài Hiện tại bộ não của đám đông rất giống với hệ thần kinh của thực vật hơn não bộ con người Nhận thức của các cá nhân trong đám đông dường như đã không còn là của chính mình mà theo sự điều khiển của các kích thích bên ngoài Các kích thích bên ngoài tác động thay đổi liên tục khiến đám đông phải luôn thay đổi theo Do đó ý thức hành vi của đám đông cũng rất dễ biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác

Tính dễ bị kích động của đám đông biểu hiện rõ nhất trong các cuộc biểu tình mà ở đó những cá nhân trong một đám đông thường chịu tác động chung từ một người đứng đầu nhóm tổ chức đó Họ đưa ra những chỉ thị để các cá nhân đó thực hiện theo Các chỉ thị có thể thay đổi liên tục cả khi những chỉ thị đó trái ngược nhau, nhưng những cá nhân trong đám đông vẫn luôn thay đổi và tin theo những chỉ thị đó Trong một cuộc cách mạng cũng thế họ sẽ sẵn sàng hy sinh chính bản thân mình để có thể hoàn thành được chỉ thị nhưng khi xét về yếu tố cá nhân thì có thể ý thức sẽ khiến họ không thể hành động như vậy Trong một đám đông không bao giờ tồn tại một ý nghĩ đơn lẻ mà chỉ có chung những suy nghĩ hành động

Thứ hai, tính dễ bị ám thị và cả tin của đám đông

Một trong những đặc tính chung của đám đông là tính dễ bị ám thị, chúng lây lan nhanh chóng vào mỗi cá nhân trong đám đông làm cho ý thức, tình cảm của đám đông nhanh chóng hướng về một chiều xác định Cũng như tất cả những người bị ám thị, ý niệm đi vào não có xu hướng dễ biến thành hành động và tất cả hành động trên hoàn toàn phụ thuộc vào kiểu kích thích và không có lý do nào để ngăn chặn hành động đó Các cá nhân trong đám đông luôn trong trạng thái vô thức và gần như trong tình trạng bị thôi miên dễ dàng chịu mọi ám thị từ các kích thích bên ngoài và cả bên trong đám đông đó Một người bị thôi miên có thể thực hiện một vài hành động với sự phấn khích không gì ngăn cản được; trong đám đông thì sự phấn khích này còn mãnh liệt hơn vì ảnh hưởng

13 của ám thị với mỗi người là giống nhau, họ hỗ tương ám thị nhau thành thử làm bội tăng mức độ ám thị “Như vậy là sự biến mất của cá tính hữu thức, vô thức đóng vai trò chủ đạo, tình cảm và tư tưởng do bị ám thị mà hướng về một phía và ước muốn biến ngay những tư tưởng do ám thị mà có hành động là những đặc trưng chủ yếu của cá nhân trong đám đông Anh ta đã không còn là mình nữa, anh ta đã thành một người máy, không ý chí” (Gustave Le Bon)

Thứ ba, sự thái quá và phiến diện của tình cảm đám đông

Trong một đám đông nào đó thì tình cảm dù tốt hay xấu đều có tính hai mặt, đôi khi chúng rất phiến diện và cũng rất thái quá Tính phiến diện và thái quá của đám đông khiến cho đám đông không còn nghi ngờ hay lưỡng lự gì nữa Ở một cá nhân riêng lẽ phản ứng tâm lý này sẽ không tăng lên ngay nhưng với cá nhân tồn tại trong đám đông thì sẽ nhanh chóng lây lan và trở thành thái quá hay phiến diện Sự mãnh liệt của tình cảm đám đông thường thái quá nhất trong một đám đông hỗn tạp Đó là lý do vì sao những tin tức xấu thường lây lan rất nhanh khiến những nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thường phản ứng thái quá với những tin tức như vậy, mặc dù chúng không xấu đến mức để gánh chịu những phản ứng đó

Thứ tư, sự bất khoan dung, độc đoán và bảo thủ của đám đông

Sự độc đoán và bất khoan dung là đặc tính chung của tất cả các đám đông và chỉ khác nhau ở mức độ Mọi thông tin, tư tưởng, ý kiến đám đông chỉ tiếp nhận hoặc chối bỏ toàn bộ và đó được xem như là những chân lý tuyệt vời hay những sai lầm tuyệt đối Chính sự bất khoan dung và độc đoán đã khiến cho đám đông dễ dàng chấp nhận ngay khi chúng được áp đặt Với một quyền lực yếu kém đám đông sẵn sàng nổi dậy để chống lại quyền lực đó nhưng lại hoàn toàn bị khuất phục trước một quyền lực mạnh khác

Tính bảo thủ cũng tồn tại trong mỗi đám đông và được xem như một bản năng tồn tại sâu thẳm trong đám đông Đám đông có những bản năng bảo thủ không thể mất đi giống như người nguyên thuỷ Họ căm ghét một cách vô thức những điều làm thay đổi cuộc sống của họ Như Gustave Le Bon viết “Nếu các nền dân chủ ở thời phát minh ra máy dệt, máy hơi nước và đường sắt mà có quyền lực giống như ngày nay thì những phát

14 minh đó sẽ không bao giờ thành công hoặc phải trả giá bằng nhiều cuộc cách mạng và hàng loạt những cuộc thảm sát”

2.3.3 Phân loại tâm lý đám đông

Sau quá trình nghiên cứu và phát triển, có nhiều cách phân loại hành vi đám đông khác nhau Như trong nghiên cứu của Bikhchandani & Sharma (2001) hành vi bầy đàn được phân ra làm 3 loại: hành vi đám đông theo thông tin, hành vi đám đông theo danh tiếng và hành vi đám đông theo thù lao

2.3.3.1 Hành vi bầy đàn theo thông tin

Trong thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, thông tin là một công cụ để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả nhất Đối với một doanh nghiệp thông tin là yếu tố quyết định đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó Như đã đề cập trong phần một, khi thông tin phản ánh hết vào giá thì thị trường đạt trạng thái hiệu quả Tuy nhiên ở thị trường chứng khoán Việt Nam hành động theo thông tin diễn ra còn khá phổ biến do những giới hạn về thông tin của các nhà đầu tư cá nhân Những cá nhân thiếu thông tin sẽ quan sát những hành động của những nhà đầu tư khác mà họ cho rằng những người đó sẽ nắm được một lượng thông tin nhất định về doanh nghiệp mà họ sẽ đầu tư

Từ đó những nhà đầu tư thiếu thông tin sẽ hành động theo những gì mà những nhà đầu tư khác làm Cũng vì thế mà hành vi bầy đàn theo thông tin diễn ra rất phổ biến

Tại thị trường chứng khoán Việt Nam có câu nói thường hay nghe thấy “Tin ra là bán” tức khi thông tin doanh nghiệp được công bố thì mọi tin tức trước đó đã được phản ánh vào giá Điều này đúng trong rất nhiều trường hợp vì nhiều nhà đầu tư họ có thể biết trước được những thông tin đó và sẽ liên tục mua vào và giá được đẩy lên cao khiến cho những nhà đầu tư khác không kiềm nén được lòng tham của mình và quyết định hành động theo cho dù họ không biết giá tăng vì những nguyên nhân nào

2.3.3.2 Hành vi bầy đàn theo danh tiếng

Hành vi bầy đàn đối với những nhà quản lý quỹ và nhân viên phân tích tài chính

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

Sơ đồ 3.1 Khung quy trình nghiên cứu của khoá luận

Khảo lược lý thuyết về tâm lý đám đông và bằng chứng thực nghiệm

Các kiểm định mô hình không phù hợp

Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Xác định mẫu nghiên cứu và xử lý dữ liệu nghiên cứu thu thập được

Xác định kết quả nghiên cứu về sự tồn tại của tâm lý đám đông trên

Kết luận, gợi ý, khuyến nghị để giảm thiểu tâm lý đám đông và tăng tính hiệu quả của thị trường

Mô hình nghiên cứu

3.2.1 Mô hình Chang, Cheng, Khorana (2000)

Bài khoá luận sẽ sử dụng mô hình theo nghiên cứu của Chang, Cheng, Khorana

(2000) cải tiến mô hình của Christie & Huang (1995) để kiểm định tâm lý đám đông trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) đại diện là những cổ phiếu đầu ngành có giá trị vốn hoá và khối lượng giao dịch lớn

- Abs(RVn30): mức sinh lời tuyệt đối của thị trường

- Rm 2 : bình phương mức sinh lời của thị trường

- 𝛽1 : hệ số của mức sinh lời tuyệt đối của thị trường

- 𝛽2 : hệ số của bình phương mức sinh lời của thị trường

Tuy nhiên do mô hình có hiện tượng tự tương quan có thể do CSAD được tính từ chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận của cổ phiếu với thị trường Do đó trong bài khoá luận sẽ thực hiện hồi quy các biến trễ của CSAD vào mô hình CCK để khắc phục hiện tượng tự tương quan và tăng ý nghĩa thống kê cho mô hình Cùng với đó sẽ thực hiện hồi quy theo phương pháp bình quân nhỏ nhất OLS kết hợp White và theo mô hình GARCH(1,1) để kiểm tra kết quả hồi quy Theo ý nghĩa kinh tế của mô hình CCK, mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận của từng cổ phiếu riêng lẻ và tỷ suất lợi nhuận của thị trường được xem là mô hình định giá tài sản Do Chang, Cheng, Khorana (2000) xây dựng mô hình dựa trên những giả định của CAPM

3.2.1.1 Các biến trong mô hình

Chang, Cheng, Khorana (2000) đề xuất phương pháp sai số chuẩn chéo tuyết đối CSAD (Cross Sectional Absolute Standard Deviation) thay thế cho CSSD của Christie

& Huang (1995) CSAD để đo lường sự phân tán lợi nhuận trung bình, được tính bằng

31 trung bình độ lệch tuyệt đối của tỷ suất sinh lời các chứng khoán trong danh mục theo ngày với tỷ suất sinh lời của thị trường (đại diện là chỉ số VN30)

- Ri: tỷ suất sinh lời của cổ phiếu i và được tính bằng: Ri=ln(it )-ln(it-1)

- RVn30: tỷ suất sinh lời của thị trường và được tính bằng: RVn30=ln(Vn30t )- ln(Vn30t-1)

- Abs(RVn30) - mức sinh lời tuyệt đối của thị trường: Được tính bằng tuyệt đối của tỷ suất lợi nhuận của chỉ số Vn30 Khi giá trị tuyệt đối của thị trường tăng lên làm tăng độ phân tán lợi nhuận của cổ phiếu riêng lẻ

- RVn30 2 – bình phương tỷ suất lợi nhuận của thị trường Được tính bằng bình phương tỷ suất lợi nhuận của chỉ số Vn30 Khi thị trường biến động mạnh (tăng hoặc giảm mạnh) dẫn đến hiện tượng tâm lý đám đông những nhà đầu tư có xu hướng hành động theo sự biến động và xu hướng của thị trường Khi đó độ phân tán của tỷ suất sinh lời được đo lường bởi CSAD sẽ giảm hoặc tăng với tốc độ giảm dần Do đó 𝛽2 < 0 đồng nghĩa với việc tồn tại tâm lý bầy đàn

Kỳ vọng dấu của biến

Rvn30^2 Không tồn tại tâm lý đám đông Tồn tại tâm lý đám đông

Theo nghiên cứu của Chang, Cheng, Khorana (2000) thì trong điều kiện bình thường thì nhà đầu tư đưa ra các quyết định của mình dựa vào những thông tin riêng nên có sự phân tán giữa tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư với tỷ suất sinh lời của thị trường Tuy nhiên khi thị trường biến động mạnh thì nhà đầu tư có xu hướng đưa ra quyết định của mình dựa theo hành động của đám đông trên thị trường Do đó tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư sẽ tập trung quanh mức sinh lời của thị trường Vì thế mà sự phân tán sẽ giảm đi

Do đó CSAD sẽ giảm hoặc tăng với tốc độ giảm dần dẫn đến 𝛽2 sẽ biến động ngược chiều với CSAD (𝛽2 = 0: Không tồn tại tâm lý đám đông

- H1: 𝛽2

Ngày đăng: 31/08/2021, 22:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w