1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển bao thanh toán đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ cách tiếp cận từ các đặc điểm cấp quốc gia khóa luận đại học chuyên ngành tài chính ngân hàng

83 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU (12)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (12)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (14)
      • 1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung (14)
      • 1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể (14)
      • 1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu (15)
    • 1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.4 Phương pháp nghiên cứu (15)
    • 1.5 Đóng góp của khóa luận (16)
    • 1.6 Khung quy trình nghiên cứu của khóa luận (17)
    • 1.7 Bố cục của khóa luận (17)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BAO THANH TOÁN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ (18)
    • 2.1 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ (18)
    • 2.2 Cơ sở lý luận về bao thanh toán và tài trợ chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua bao thanh toán (19)
      • 2.2.1 Cơ sở lý luận về bao thanh toán (19)
    • 2.3 Phát triển bao thanh toán đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (23)
    • 2.4 Các đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng đến phát triển bao thanh toán đối với (25)
    • 2.5 Các nghiên cứu thực nghiệm (31)
      • 2.5.1 Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài (31)
      • 2.5.2 Nghiên cứu thực nghiệm trong nước (34)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1 Căn cứ lựa chọn các biến số (36)
    • 3.2 Ý nghĩa của các biến số (36)
    • 3.3 Xây dựng mô hình thực nghiệm ...................................................................... xxxix 3.4 Phương pháp xử lý dữ liệu .................................................................................... xl (41)

Nội dung

Các nghiên cứu được công bố vẫn còn thưa thớt, chưa đa dạng về mặt nội dung, chủ yếu là nghiên cứu định tính, tập trung vào i thực trạng hoạt động BTT của các ngân hàng thương mại Việt N

GIỚI THIỆU

Lý do chọn đề tài

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) từ lâu đã là xương sống của nhiều nền kinh tế, chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp và đóng góp hơn 50% tổng số việc làm toàn cầu (World Bank, 2020) Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn tài trợ và thị trường vốn với các điều kiện và chi phí cao luôn là thách thức lớn đối với DNVVN Trong bối cảnh đó, bao thanh toán (BTT) ra đời và nhanh chóng được xem là một giải pháp tài chính thay thế hiệu quả để khắc phục những hạn chế về vốn cho DNVVN.

BTT là một nguồn tài trợ bên ngoài được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu, đặc biệt phù hợp cho DNVVN (Klapper, 2006; Vasilescu, 2010) Đây là một giao dịch tài chính hoặc dịch vụ (không phải là khoản vay) mà doanh nghiệp bán các khoản phải thu dưới dạng hóa đơn cho một đơn vị trung gian Các công ty có thể giải quyết thách thức về vốn lưu động bằng cách tận dụng các khoản phải thu để nhận tiền mặt ngay thông qua BTT, đồng thời được hưởng một loạt dịch vụ giá trị gia tăng liên quan BTT như một công cụ tài chính cho phép các DNVVN cải thiện tính thanh khoản và đồng thời giới hạn rủi ro giải quyết các khoản phải thu (Czternasty & Mikołajczak, 2013).

Doanh số hoạt động BTT và tài trợ thương mại trên toàn cầu tiếp tục tăng theo từng năm, cho thấy xu hướng phát triển mạnh mẽ của loại hình dịch vụ tài chính này Năm 2019, doanh số BTT và tài trợ thương mại đạt 2.923 tỷ euro, tăng hơn 5% so với năm 2018, với 68% đóng góp từ Châu Âu Sự tăng trưởng này đã hỗ trợ trực tiếp hàng trăm ngàn DNVVN, mang lại việc làm, thúc đẩy tăng trưởng và mang lại thành công thực sự cho các doanh nghiệp, theo báo cáo của FCI năm 2019.

Từ những lợi ích của BTT đối với DNVVN, trong 7 năm gần đây, doanh số BTT ở Việt Nam đang dần được cải thiện, từ mức 60 triệu euro vào năm 2012 đến các mức cao hơn theo thời gian, cho thấy BTT ngày càng phù hợp với nhu cầu của DNVVN tại Việt Nam và đóng góp vào tăng trưởng thị trường.

Vào năm 2018, quy mô BTT ở Việt Nam chỉ đạt khoảng 1,1 tỷ euro (FCI, 2019) Tuy vậy, so sánh với các nước ASEAN, doanh số BTT ở Việt Nam vẫn rất khiêm tốn: Thái Lan đạt 5,87 tỷ euro, Singapore 44 tỷ euro cùng năm (FCI, 2019) Nguyễn Thị Thanh Hằng (2016) chỉ ra quy mô thị trường BTT Việt Nam còn nhỏ dù tốc độ tăng trưởng tương đối tốt so với các nước trong khu vực; đồng thời, dù quy mô hoạt động BTT của khối ngân hàng ngoại nhỏ hơn nhiều so với khối ngân hàng nội, nhưng tốc độ tăng trưởng của BTT thuộc khối ngân hàng ngoại lại chiếm ưu thế hơn Những nhận định này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp và hướng đi mới cho phát triển hoạt động BTT ở Việt Nam.

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu thực nghiệm về phát triển hoạt động BTT và vai trò tài trợ của BTT cho các DNVVN được thực hiện (Bakker & các cộng sự, 2004; Klapper, 2006; Nakusera & các cộng sự, 2008; Michalski, 2008; Tomusange, 2015; Auboinb & các cộng sự, 2016; Salaberrios, 2016; Kozarevic & Hodzic, 2016; Kouvelis & Xu, 2019) Mặc dù các nghiên cứu này dùng phương pháp định lượng và mô hình khác nhau, hầu hết đều đi tới một đồng thuận về ý nghĩa và vai trò của BTT như một giải pháp tài trợ thay thế cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia và cho DNVVN trên thế giới Trong khi đó, tại Việt Nam vẫn thiếu các nghiên cứu về BTT; các công trình công bố thưa thớt, chưa đa dạng về nội dung và chủ yếu là nghiên cứu định tính, tập trung vào (i) thực trạng hoạt động BTT của các ngân hàng thương mại Việt Nam và (ii) giải pháp phát triển hoạt động BTT ở Việt Nam (Nguyễn Phước Kinh Kha, 2008; Lê Quang Ninh, 2009; Phạm Thị Thu Trang, 2014; Nguyễn Thị Thanh Hằng, 2016…).

Khóa luận tập trung nghiên cứu sự phát triển BTT đối với các DNVVN ở Việt Nam từ góc độ cấp quốc gia, phân tích các yếu tố vĩ mô như kinh tế, chính trị, xã hội và thông tin tín dụng tác động đến quá trình phát triển BTT Trên cơ sở đó, đề xuất các khuyến nghị nhằm tăng cường phát triển BTT cho DNVVN tại Việt Nam và trình bày kết quả nghiên cứu một cách rõ nét Tác giả cho rằng công trình góp phần làm phong phú thêm các nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động BTT và phát triển BTT cho DNVVN Việt Nam, một quốc gia đang phát triển có tỷ lệ DNVVN chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp (WB, 2019).

Từ những lý do trên, tác giả quyết định sử dụng tên đề tài “PHÁT TRIỂN

Đề tài “Bảo thanh toán đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ: Cách tiếp cận từ các đặc điểm cấp quốc gia” trình bày khuôn khổ lý luận chung về hoạt động BTT và hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển BTT cho DNVVN, đồng thời xác định các đặc điểm cấp quốc gia có tác động tới sự phát triển BTT đối với DNVVN Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ các tổ chức quốc tế uy tín và sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính cho dữ liệu bảng không cân bằng để đo lường tác động của các yếu tố vĩ mô về kinh tế, chính trị, xã hội và thông tin tín dụng đến hoạt động BTT ở các nước trên thế giới Kết quả cho thấy những điều kiện có ý nghĩa ảnh hưởng đến sự phát triển BTT đối với DNVVN và từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm tăng cường phát triển BTT tại Việt Nam, tập trung vào cải thiện cơ chế cấp tín dụng, nâng cao chất lượng thông tin tín dụng và hỗ trợ từ các chính sách cấp quốc gia.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Mục tiêu chung của khóa luận là xác định các đặc điểm cấp quốc gia liên quan đến phát triển BTT đối với DNVVN và từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy BTT cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Bài viết tập trung phân tích các yếu tố chủ chốt ở cấp quốc gia như khung pháp lý, hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực và môi trường kinh doanh để làm rõ tác động của chúng đối với quá trình ứng dụng BTT trong DNVVN Các kết quả phân tích sẽ được chuyển thành các giải pháp và khung chính sách cụ thể nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và tối ưu hóa lợi ích của BTT cho các DNVVN ở Việt Nam.

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu chung, khóa luận tập trung vào giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:

Xác định các đặc điểm cấp quốc gia là cơ sở để đánh giá sự phát triển của BTT đối với DNVVN trên toàn cầu Các đặc điểm này bao gồm yếu tố vĩ mô về kinh tế (tăng trưởng GDP, lạm phát, cân đối ngân sách và mức độ mở cửa nền kinh tế), yếu tố chính trị (ổn định chính sách, khung pháp lý và các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp), yếu tố xã hội (năng lực lao động, bình đẳng tiếp cận nguồn lực và mức độ kỹ năng của nguồn nhân lực) và thông tin tín dụng, nhằm đánh giá khả năng tiếp cận vốn và mức độ tin cậy của hệ thống tài chính đối với DNVVN Việc xác định và so sánh các đặc điểm cấp quốc gia giúp xây dựng khung chiến lược phát triển BTT cho DNVVN ở các quốc gia khác nhau, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả hỗ trợ tài chính và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới.

Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các đặc điểm cấp quốc gia đến sự phát triển BTT đối với DNVVN là trọng tâm của nghiên cứu Nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa khung pháp lý, môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính ở cấp quốc gia với sự phát triển của BTT đối với DNVVN Kết quả cho thấy các đặc điểm cấp quốc gia có tác động khác nhau tới mức độ và tốc độ phát triển BTT đối với DNVVN, tùy thuộc vào bối cảnh quốc gia Trên cơ sở đó, bài viết thảo luận các kết quả nghiên cứu để làm rõ cơ chế tác động và đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển BTT đối với DNVVN Những kết quả này cung cấp bằng chứng cho nhà quản trị và nhà thực hành để tối ưu chính sách và thực tiễn nhằm tăng cường BTT cho DNVVN ở cấp quốc gia.

 Đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển hoạt động BTT đối với DNVVN tại Việt Nam xiii

Từ mục tiêu nghiên cứu cụ thể, khóa luận giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

 Những đặc điểm cấp quốc gia nào có liên quan đến sự phát triển hoạt động BTT đối với các DNVVN của các nền kinh tế trên thế giới?

 Các đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng ra sao tới sự phát triển hoạt động BTT đối với DNVVN trên thế giới? Kết quả nghiên cứu nào được rút ra và thảo luận từ mô hình?

 Các khuyến nghị nào có thể được đề xuất đối với sự phát triển BTT đối với DNVVN ở Việt Nam?

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là phát triển BTT đối với DNVVN: cách tiếp cận từ đặc điểm cấp quốc gia

 Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian

Khóa luận sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo, công trình nghiên cứu, văn bản đã được kiểm nghiệm, công bố từ các nguồn tài liệu tham khảo tin cậy của các tổ chức quốc tế như Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (FCI), Ngân hàng Thế giới (WB) được cập nhật cho giai đoạn từ 2013-2018 về các yếu tố đại diện cho các đặc điểm cấp quốc gia tác động đến phát triển của BTT đối với DNVVN của 49 nền kinh tế trên thế giới.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tiếp cận theo hướng kết hợp cơ sở lý luận nền tảng về BTT của Klapper (2006) và quan hệ của nó với tài trợ chuỗi cung ứng thông qua BTT (Klapper 2006; Auboin và cộng sự 2016; Fashang & Xu 2019), đồng thời xem xét các nghiên cứu thực nghiệm về nhiều khía cạnh của BTT và vai trò của hình thức tài trợ này đối với DNVVN trong việc giải quyết nhu cầu vốn lưu động, giảm rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cho DNVVN trong giai đoạn 2000-2019 (Tomusange 2015; Vasilescu 2010; Ivanovic 2011; Kouvelis, Fashang Xu 2019; Borgia và cộng sự 2010) Trên nền tảng ấy, khóa luận không chỉ tiếp thu mà còn kế thừa các nghiên cứu liên quan để đề ra mục tiêu tìm kiếm các phương hướng tác động đến sự phát triển của BTT thông qua cách tiếp cận từ các đặc điểm cấp quốc gia có ảnh hưởng tới phát triển BTT đối với DNVVN Các tham khảo vừa làm cơ sở lý luận vừa làm căn cứ so sánh, đối chiếu kết quả khảo sát và phân tích định lượng của khóa luận.

 Về phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu dựa trên thu thập dữ liệu thứ cấp từ các tổ chức quốc tế như WB, FCI và Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) nhằm tập hợp một bộ dữ liệu bảng không cân bằng cho 49 nền kinh tế trên thế giới trong khoảng thời gian 6 năm từ 2013 đến 2018 Khóa luận đồng thời tiếp cận các nghiên cứu thực nghiệm, tài liệu, văn bản và báo cáo từ giai đoạn 2000-2019 làm cơ sở đối chiếu và so sánh nhằm làm rõ vai trò phát triển BTT cho các DNVVN và tác động của các đặc điểm cấp quốc gia lên sự phát triển BTT đối với DNVVN.

 Phương pháp xử lý dữ liệu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích định lượng để ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến bằng phần mềm Stata 15.1 trên dữ liệu bảng không cân bằng giai đoạn 2013–2018, nhằm xem xét các đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng đến phát triển BTT đối với DNVVN.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận xác định các đặc điểm ở cấp quốc gia, bao gồm các yếu tố vĩ mô về kinh tế, chính trị và xã hội cùng với thông tin tín dụng tác động đến sự phát triển BTT đối với DNVVN của các quốc gia trên thế giới Nội dung tập trung vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, tín dụng khu vực tư nhân, vốn hóa thị trường của các công ty nội địa niêm yết, tổng giá trị giao dịch chứng khoán, chỉ số thương mại, hiệu quả của Chính phủ, chỉ số cảm nhận tham nhũng và chỉ số ổn định chính trị như những thước đo quan trọng cho môi trường kinh doanh và sự phát triển của DNVVN Các yếu tố này cho phép so sánh mức độ thuận lợi giữa các quốc gia và hỗ trợ đề xuất các chiến lược nhằm tăng cường vai trò của BTT đối với DNVVN trên phạm vi toàn cầu.

Khóa luận này đánh giá mức độ ảnh hưởng của các đặc điểm cấp quốc gia đến sự phát triển BTT đối với DNVVN, từ đó thảo luận kết quả nghiên cứu nhằm làm rõ cơ chế và những yếu tố thúc đẩy hay hạn chế quá trình phát triển BTT cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Kết quả cho thấy mối liên hệ giữa khung pháp lý, ổn định kinh tế và môi trường kinh doanh với tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và khả năng tiếp cận nguồn lực của BTT đối với DNVVN Trên cơ sở đó, khóa luận đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển hoạt động BTT đối với DNVVN tại Việt Nam, bao gồm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao khả năng tiếp cận tài chính, cải thiện năng lực quản trị và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp Những đề xuất này nhằm tăng cường cạnh tranh của DNVVN và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đất nước.

Khung quy trình nghiên cứu của khóa luận

Hình 1.1 Khung quy trình nghiên cứu của khóa luận

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp.

Bố cục của khóa luận

Khóa luận được trình bày theo kết cấu 5 chương, đảm bảo tính logic và mạch lạc cho quá trình nghiên cứu Danh mục tài liệu tham khảo được trình bày theo chuẩn APA, nhằm hệ thống hóa nguồn tin và dễ tra cứu cho người đọc Phụ lục được dùng làm minh chứng, bổ sung và củng cố cho nội dung trình bày và các phân tích trong khóa luận.

 Chương 2 Cơ sở lý luận về phát triển bao thanh toán đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

 Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

 Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

 Chương 5 Khuyến nghị và kết luận

Các đặc điểm cấp quốc gia có liên quan đến sự phát triển BTT đối với DNVVN

Xác định các đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng đến phát triển BTT đối với DNVVN tại Việt Nam và đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển và ứng dụng BTT cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố nền tảng như khung pháp lý và chính sách hỗ trợ, hạ tầng công nghệ số, nguồn nhân lực có kỹ năng và môi trường kinh tế số, nhằm làm rõ cách mỗi yếu tố tác động đến triển khai BTT trong nước Kết quả cho thấy khi khung pháp lý được hoàn thiện, chi phí triển khai giảm và các cơ hội tiếp cận vốn, đào tạo và hỗ trợ nhà đầu tư tăng lên, BTT có tiềm năng lan tỏa mạnh mẽ hơn tới các DNVVN Từ đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị thực thi cho cơ quan quản lý và doanh nghiệp, như hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, ưu tiên phát triển năng lực nhân sự và đào tạo chuyên sâu, thiết kế các gói hỗ trợ tài chính và ưu đãi, thúc đẩy hợp tác công-tư và các dự án thí điểm, đồng thời chuẩn hóa tiêu chuẩn vận hành và bảo mật liên quan đến BTT.

Phát triển BTT đối với DNVVN ở Việt Nam

 Phương pháp tiếp cận: lý thuyết về BTT và tài trợ chuỗi cung ứng thông qua BTT

 Phương pháp thu nhập dữ liệu: Dữ liệu bảng từ số liệu thứ cấp của các tổ chức WB, FCI, DBI,…

 Phương pháp xử lý dữ liệu: Phân tích định lượng (ước lượng mô hình hồi quy Pooled OLS)

Kết luận và khuyến nghị

Các yếu tố tác động đến sự phát triển BTT đối với DNVVN xvi

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BAO THANH TOÁN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

Cơ sở lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ

DNVVN là các doanh nghiệp có quy mô vốn, lao động hoặc doanh thu nhỏ, nhưng đóng vai trò then chốt trong hầu hết các nền kinh tế, đặc biệt ở các nước đang phát triển Những doanh nghiệp này chiếm phần lớn số lượng và là nguồn cung cấp việc làm cũng như động lực phát triển kinh tế toàn cầu, đại diện cho khoảng 90% doanh nghiệp và hơn 50% việc làm trên thế giới Chính thức hay phi chính thức, DNVVN đóng góp đáng kể vào GDP ở các nền kinh tế mới nổi, với khoảng 40% GDP và con số này còn cao hơn khi tính cả DNVVN phi chính thức Theo ước tính của WB, để hấp thụ lực lượng lao động ngày càng tăng, khoảng 600 triệu việc làm sẽ cần được tạo ra vào năm 2030, khiến phát triển DNVVN trở thành ưu tiên của nhiều chính phủ trên thế giới Tại các thị trường mới nổi, hầu hết việc làm chính thức được tạo ra bởi DNVVN, chiếm khoảng 7 trên 10 việc làm; tuy nhiên, thách thức lớn thứ hai đối với tăng trưởng DNVVN ở thị trường mới nổi và các nước đang phát triển là hạn chế tiếp cận vốn DNVVN có khả năng vay vốn ngân hàng thấp hơn các doanh nghiệp lớn và thường dựa vào nguồn vốn nội bộ hoặc vay từ bạn bè, gia đình để thành lập và vận hành ban đầu Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) ước tính có khoảng 65 triệu doanh nghiệp, tương đương 40% MSME ở các nước đang phát triển, có nhu cầu tài chính chưa được đáp ứng Trong bối cảnh đó, BTT được kỳ vọng trở thành giải pháp khả thi để giải quyết khó khăn về tiếp cận vốn của DNVVN.

Cơ sở lý luận về bao thanh toán và tài trợ chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua bao thanh toán

Cơ sở lý luận về BTT được tổng hợp từ các nghiên cứu về BTT và tác động của nó đối với tài trợ cho DNVVN, nhằm giới thiệu khái niệm BTT, mô hình hoạt động và vai trò của BTT trong nền kinh tế Đây là nền tảng ban đầu giúp nghiên cứu tiếp cận và xác định các đặc điểm ở cấp quốc gia ảnh hưởng tới sự phát triển của BTT đối với DNVVN (Klapper, 2006; Tomusange, 2015; Vasilescu, 2010; Ivanovic, 2011; Kouvelis, Fashang Xu, 2019; Borgia & các cộng sự, 2010) Đồng thời, nghiên cứu còn giới thiệu cơ sở lý luận về tài trợ chuỗi cung ứng cho DNVVN, một mô hình BTT khắc phục được các hạn chế liên quan đến các đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng đến DNVVN trong việc tiếp cận BTT, từ đó đề xuất hướng phát triển BTT cho DNVVN tại Việt Nam.

2.2.1 Cơ sở lý luận về bao thanh toán

Factoring (BTT) là một giao dịch tài chính, không phải vay, trong đó doanh nghiệp bán các khoản phải thu dưới dạng hóa đơn cho đơn vị BTT (Factor) với mức giá chiết khấu Đơn vị BTT mua lại các khoản phải thu trước ngày đáo hạn, tiếp quản các hoạt động đòi nợ và chịu rủi ro từ việc thu hồi nợ (Ivanovic, 2011) Đơn vị BTT sẽ tính phí dịch vụ dựa trên lãi suất của bên bán, căn cứ vào khoảng thời gian dự kiến đơn vị BTT sẽ nhận được khoản thanh toán trước từ con nợ (Debtor) (Tomusange, 2015; Vasilescu, 2010) Các khoản phải thu tài chính trở thành một chương trình tài trợ ngắn hạn cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo vốn lưu động (Benea & Duma, 2013).

Theo Nguyễn Thị Thanh Hằng (2016), trên thế giới có các hình thức bao thanh toán phổ biến sau: (i) Bao thanh toán truyền thống (hay còn gọi là BTT bên bán) và BTT ngược (BTT bên mua hoặc tài trợ chuỗi cung ứng); (ii) BTT nội địa và bao thanh toán xuất nhập khẩu; (iii) BTT có bảo lưu quyền truy đòi và BTT miễn truy đòi Cụ thể được trình bày ở phụ lục 1.

Klapper (2006) cho rằng BTT đặc biệt hấp dẫn ở các nước thu nhập trung bình vì các khoản phải thu độc lập với rủi ro kinh doanh của một công ty, là nguồn tài trợ ngắn hạn cho các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển từ việc bán các khoản phải thu chất lượng cao của khách hàng; đồng thời, động lực sử dụng BTT chủ yếu liên quan đến nhu cầu tiếp cận nguồn tài trợ dựa trên tài sản của công ty, thay vì các lựa chọn liên quan đến cơ cấu tổ chức của công ty (Summers & Wilson, 2000; Borgia và các cộng sự, 2010) Bakker và các cộng sự (2004) cho rằng các DNVVN có thể không được tiếp cận với các khoản vay từ các tổ chức tài chính, và sẽ có thể được tài trợ thông qua BTT Tuy nhiên, đây là nơi các công ty khó tăng vốn lưu động hơn vì tồn tại các đặc điểm cấp quốc gia như (i) sự bất cân xứng thông tin giữa các công ty và người cho vay thường gây khó khăn cho việc tiếp cận nguồn tài trợ; (ii) các nước đang phát triển thường có điểm yếu trong hệ thống quản trị, bao gồm luật phá sản kém, luật bảo đảm quyền lợi các bên, và các quy định giới hạn trong việc sử dụng tài sản thực như tài sản thế chấp (Klapper, 2000; Borgia & các cộng sự, 2010) Theo Kouvelis và Xu (2019), các thông số về xếp hạng tín dụng, rủi ro thanh khoản của nhà cung cấp, và xếp hạng tín dụng của nhà bán lẻ là những yếu tố chính ảnh hưởng đến tính khả thi và lợi ích của các loại hình BTT khác nhau.

Các tài liệu cho thấy hai yếu tố chính quyết định mức độ hoạt động của BTT trong một nền kinh tế: (i) sự sẵn có của thông tin tín dụng về doanh nghiệp; và (ii) mức độ hoạt động của nền kinh tế nói chung (Borgia & các cộng sự, 2010) Theo đó, thiếu thông tin tín dụng về doanh nghiệp và sự suy giảm hoạt động kinh tế sẽ làm giảm khả năng tiếp cận vốn tín dụng và ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống BTT.

Cơ chế thực hiện BTT truyền thống và sự bất cân thông tin giữa DNVVN và tổ chức tài chính là nguyên nhân phổ biến nhất giải thích sự tồn tại và phát triển của BTT đối với DNVVN (Bushman & Smith, 2003) Nghiên cứu của Tomusange (2015) đề cập đến những trở ngại và triển vọng phát triển BTT cho DNVVN ở châu Phi dựa trên phỏng vấn 22 giám đốc điều hành từ 54 quốc gia châu Phi, chỉ ra ba trở ngại chính: (i) nhận thức về BTT ở mức thấp; (ii) thiếu khung pháp lý và dịch vụ thông tin tín dụng chưa phát triển; (iii) ngân hàng ngại tham gia vào chuỗi cung ứng, trong khi rào cản đối với các tổ chức phi ngân hàng muốn gia nhập vẫn còn cao.

Trong một bài viết tổng quan về vai trò của BTT trong tài trợ cho các DNVVN, Klapper (2006) chỉ ra rằng sự phát triển của BTT bị chi phối bởi mức độ phát triển kinh tế, sự sẵn có của thông tin tín dụng và sự yếu kém trong thực thi hợp đồng, những yếu tố này thúc đẩy mức độ sử dụng BTT ở nhiều nước Borgia và cộng sự (2010) mở rộng phân tích bằng một mô hình định lượng trên dữ liệu bảng của 59 quốc gia từ năm 1995–2005, xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của BTT và các yếu tố môi trường kinh tế vĩ mô, sự phát triển của thị trường chứng khoán, khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng, chỉ số chất lượng quản trị và nhận diện tham nhũng Cả Klapper (2006) và Borgia và cộng sự (2010) đồng thuận rằng hầu hết các nước đang phát triển thiếu hệ thống pháp lý hỗ trợ cho thực thi hợp đồng và thiếu hạ tầng công nghệ cũng như quyền truy cập thông tin tín dụng cần thiết, qua đó tạo điều kiện vô hình cho BTT phát triển và biến nó thành một lựa chọn tài trợ thay thế.

2.2.2 Cơ sở lý luận về tài trợ chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua bao thanh toán

Khác với factoring truyền thống dựa trên các khoản phải thu của doanh nghiệp nhận tài trợ, tài trợ chuỗi cung ứng qua Reverse Factoring (BTT ngược) là một giải pháp mà người mua hỗ trợ nhà cung cấp tiếp cận nguồn vốn lưu động nhanh với chi phí tài chính thấp, dựa trên lợi thế về xếp hạng tín dụng cao của bên mua Trong mô hình này, những người mua có khả năng tài chính mạnh sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ nhu cầu thanh khoản của các đối tác thương mại trong chuỗi cung ứng Hoạt động Reverse Factoring (BTT ngược) dựa trên xếp hạng tín dụng và uy tín của người mua, thay vì người bán như BTT truyền thống Liebl và các cộng sự (2014) cho thấy từ góc độ nhà cung cấp, BTT ngược mang lại lợi ích khi chênh lệch chi phí tài chính cao, thời gian thanh toán kéo dài và nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn.

Theo Klapper (2006), tài trợ chuỗi cung ứng có thể đặc biệt có lợi cho các DNVVN vì nó giúp khắc phục những khó khăn do đặc điểm của quốc gia gây ra đối với tín dụng Cụ thể, so với tín dụng thương mại thông thường, tài trợ chuỗi cung ứng đòi hỏi thông tin tín dụng toàn diện cho tất cả khách hàng của người bán, điều này có thể khó khăn và tốn kém ở những nước có hệ thống thông tin tín dụng kém phát triển và thiếu sự minh bạch dữ liệu doanh nghiệp Loại hình tài trợ chuỗi cung ứng cũng thường không bao gồm yếu tố truy đòi, cho phép DNVVN chuyển rủi ro tín dụng sang đơn vị tài trợ Ở nhiều quốc gia đang phát triển, hệ thống thực thi pháp luật yếu và vai trò của Chính phủ kém hiệu quả làm rủi ro tín dụng luôn hiện hữu đối với DNVVN Việc tham gia tài trợ chuỗi cung ứng mang lại lợi ích cho cả bên bán (nhà cung cấp) và bên mua (khách hàng), nhưng tại nhiều nước tham gia tài trợ chuỗi cung ứng (BTT) vẫn gặp khó khăn do mức độ tham nhũng cao và DNVVN có ít mối quan hệ truyền thống với các tổ chức tài chính Thông qua BTT, phần lớn được cung cấp bởi các ngân hàng, DNVVN có lịch sử giao dịch tốt với bên mua (những khách hàng lớn, xếp hạng tín dụng cao) sẽ có cơ hội xây dựng được lịch sử tín dụng và tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng dễ dàng hơn.

Trong cơ chế BTT ngược, phía khách hàng thực hiện thỏa thuận BTT và nhận sự tài trợ thanh toán từ đơn vị BTT cho các khoản phải trả Điều này cho phép doanh nghiệp gia hạn thời gian thanh toán từ 30 đến 90 ngày, tối ưu hóa dòng tiền và giảm áp lực tài chính ngắn hạn Nhờ ưu đãi này, các chiến lược kinh doanh được triển khai linh hoạt hơn, giúp doanh nghiệp tăng tính cạnh tranh và quản trị khoản phải trả hiệu quả.

BTT ngược (mô hình tài trợ chuỗi cung ứng) là kênh tài trợ phù hợp và hiệu quả hàng đầu cho các DNVVN, mang lại giải pháp tài trợ linh hoạt và tăng thanh khoản cho doanh nghiệp nhỏ Theo CRC 2019, mô hình này đặc biệt có giá trị ở các quốc gia đang phát triển, nơi các ưu điểm của chuỗi cung ứng được phát huy để tiết kiệm chi phí và rủi ro tài chính Tuy vậy, hiệu quả của BTT ngược còn phụ thuộc vào đặc điểm cấp quốc gia, bao gồm mức độ mờ đục và thiếu minh bạch của thông tin tín dụng, chất lượng quản lý nhà nước chưa cao và môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh Trong bối cảnh này, việc triển khai BTT ngược đòi hỏi khung pháp lý rõ ràng, cơ chế giám sát chặt chẽ và sự phối hợp giữa các bên tham gia để tối ưu hóa lợi ích cho toàn chuỗi cung ứng và các DNVVN.

Từ đó, cơ sở lý luận về BTT và tài trợ chuỗi cung ứng thông qua BTT chính là cơ sở nền tảng để giúp tác giả tiếp cận các yếu tố đại diện cho các đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng đến phát triển BTT đối với DNVVN.

Phát triển bao thanh toán đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Phát triển (development) là một khái niệm đa chiều, được định nghĩa trong nghiên cứu của Liên hợp quốc (UN) là “sự kiện tạo thành một giai đoạn mới trong một tình huống thay đổi” Trong kinh tế, phát triển mang ý nghĩa cải thiện cách thức tài trợ và hàng hóa và dịch vụ được sử dụng trong (hoặc bằng) hệ thống để tạo ra hàng hóa và dịch vụ mới nhằm cung cấp khả năng tiêu thụ và/hoặc đầu tư bổ sung cho các thành viên của hệ thống (Trần Nguyễn Minh Hải, 2019; Bellù, 2011)

Phát triển BTT đối với DNVVN trong bối cảnh hiện nay là quá trình thúc đẩy tăng trưởng về doanh thu, quy mô và chất lượng của hoạt động BTT, đồng thời mở rộng số lượng đơn vị BTT và mạng lưới các bên bán hàng (nhà cung cấp) và bên mua hàng (khách hàng hay nhà bán lẻ) (Klapper, 2006) Quá trình này cũng cải thiện các yếu tố kinh tế cấp quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho DNVVN tiếp cận dịch vụ BTT từ các đơn vị cung cấp với chi phí hợp lý và thủ tục nhanh chóng Phát triển BTT có ý nghĩa tác động đến sự phát triển của DNVVN, giúp hoạt động BTT không chỉ tăng nhanh về quy mô và số lượng mà còn nâng cao chất lượng (Nakusera và các cộng sự, 2008; Tomusange, ).

Trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu năm 2015, tác giả đã sử dụng doanh thu BTT của DNVVN làm chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển BTT đối với DNVVN Việc lựa chọn chỉ tiêu này nhằm làm rõ mức độ phát triển của BTT và tác động của nó đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.

Chức năng của BTT hiện nay là một dịch vụ tài chính toàn diện kết hợp tài trợ vốn lưu động, bảo vệ rủi ro tín dụng, quản lý các khoản phải thu và thu hồi công nợ (FCI, 2020); trong đó chức năng phổ biến và quan trọng nhất là tài trợ vốn lưu động trực tiếp cho bên bán hàng, phần lớn là các DNVVN Việc tiếp cận nguồn vốn kịp thời không chỉ giải quyết một thử thách lớn của doanh nghiệp mà còn giúp DNVVN thiết lập mối quan hệ hợp tác bền vững với các bên mua và nhà bán lẻ; mô hình dựa trên các giao dịch trong chuỗi cung ứng, tập trung vào mức tín nhiệm của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, do đó phát triển BTT cho DNVVN nhằm cải thiện khả năng tiếp cận vốn, giảm thiểu rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Trong những năm gần đây, BTT cho DNVVN đang tăng trưởng và thay đổi nhanh hơn bất kỳ giai đoạn nào kể từ thành lập (FCI, 2019), trở thành một xu hướng toàn cầu Nghiên cứu các điều kiện và đặc điểm cấp quốc gia để thúc đẩy sự phát triển BTT đối với DNVVN là một vấn đề quan trọng không chỉ đối với lĩnh vực kinh doanh mà còn đối với lĩnh vực tài chính, nhằm hỗ trợ các DNVVN kinh doanh hiệu quả và phát triển (FCI, 2019).

Hình 2.3 Tổng doanh thu BTT toàn thế giới giai đoạn 2003-2019 (đvt: tỷ EUR)

Các đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng đến phát triển bao thanh toán đối với

Qua quá trình nghiên cứu và tiếp cận các cơ sở lý luận về BTT, tài trợ chuỗi cung ứng thông qua BTT, và phát triển BTT đối với DNVVN (Klapper, 2006; Vasilescu, 2010; Borgia & các cộng sự, 2010; Ivanovic, 2011; Tomusange, 2015; Kouvelis & Xu, 2019), tác giả đã xác định và chọn lọc các yếu tố đại diện cho đặc điểm cấp quốc gia tác động đến phát triển BTT đối với DNVVN Theo Borgia và các cộng sự (2010), BTT là một thỏa thuận tài chính, chịu ảnh hưởng của những thay đổi trong hoạt động kinh doanh và trạng thái của một môi trường kinh tế vĩ mô chung của nền kinh tế; điều này đồng nghĩa với việc các đặc điểm cấp quốc gia có thể tạo điều kiện hoặc cản trở việc phát triển BTT đối với DNVVN Một số yếu tố đại diện cho đặc điểm cấp quốc gia tác động đến phát triển BTT cho DNVVN được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu liên quan cụ thể như sau:

Giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị gia tăng do tất cả các nhà sản xuất cư trú trong nền kinh tế tạo ra, cộng với thuế của bất kỳ sản phẩm nào và trừ đi mọi khoản trợ cấp không được tính vào giá trị của sản phẩm GDP được tính mà không trừ khấu hao tài sản cố định hoặc các chi phí liên quan đến khai thác, làm cạn kiệt và suy thoái tài nguyên thiên nhiên, theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB).

GDP bình quân đầu người phản ánh mức độ giàu có của một quốc gia, trong khi tốc độ tăng trưởng của GDP đóng vai trò thước đo nhịp độ phát triển của nền kinh tế Trong các nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN), Klapper (2006) cho rằng khi nền kinh tế khỏe mạnh và tăng trưởng tích cực, các doanh nghiệp có doanh thu lớn hơn và khối lượng khoản phải thu được quản lý tốt hơn Bên cạnh đó, các chỉ số như GDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng GDP được sử dụng làm đại diện nhằm đo lường và phản ánh những thay đổi trong hoạt động kinh tế vĩ mô.

Kể từ năm 2000, ngành BTT toàn cầu đã thu hút sự chú ý của công chúng và duy trì mức tăng trưởng kép gần 8% mỗi năm BTT đã trở thành ngành công nghiệp tài trợ chuỗi cung ứng phát triển nhanh nhất trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại tín dụng cả trong nước lẫn quốc tế Ngành này cung cấp các giải pháp tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) và hỗ trợ nền kinh tế Nhờ đó, BTT góp phần tăng cường tính cạnh tranh của chuỗi cung ứng toàn cầu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Trong bối cảnh thất bại của toàn cầu hóa kinh tế và căng thẳng thương mại leo thang những năm gần đây, các nền kinh tế đẩy mạnh cải cách và thắt chặt giám sát lĩnh vực tài chính; các học giả trên thế giới cho rằng tăng trưởng kinh tế toàn cầu và căng thẳng thương mại sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến ngành BTT, nhưng sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2009–2014) ngành BTT đã mở rộng nhanh và tăng trưởng vượt mức so với tăng trưởng GDP, đặc biệt khi dịch vụ tài chính truyền thống cắt giảm tín dụng với DNVVN trong thời kỳ suy thoái và rủi ro gia tăng, BTT có thể bù đắp nguồn cung và tạo tăng trưởng ngược; ngược lại với sự nhạy cảm của hoạt động tín dụng ngân hàng, BTT ít bị ảnh hưởng bởi rủi ro tài chính trong suy thoái nhờ nền tảng thương mại thực tế, cơ chế chuyển giao rủi ro hiệu quả và các biện pháp kiểm soát rủi ro, từ đó đóng vai trò thay thế cho các dịch vụ tài chính truyền thống; về lâu dài, thực tiễn cho thấy BTT và nền kinh tế có mối tương quan tích cực (Borgia & các cộng sự, 2010).

Năm 2018 cho thấy sự phát triển của BTT toàn cầu gắn với tăng trưởng kinh tế ở mức cao, thể hiện mối quan hệ không chỉ tích cực mà còn có hệ số beta lớn Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, BTT và tài khoản phải thu kinh doanh có thể đạt hiệu quả cao; ngược lại, khi tăng trưởng kinh tế suy giảm, đà phát triển của BTT và tài khoản phải thu bị hạn chế Tuy mối quan hệ tích cực này vẫn tồn tại, nó có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như cơ cấu kinh tế, khung pháp lý và quy định Ở cấp quốc gia, các yếu tố này có thể đồng thời thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của ngành BTT (Jiaping & Wanhui, 2018).

Chỉ số Mức độ toàn diện thông tin tín dụng của một quốc gia (Credit Information) đo lường phạm vi, khả năng tiếp cận và chất lượng thông tin tín dụng có sẵn thông qua các cổng thông tin, hệ thống và trung tâm lưu giữ hồ sơ tín dụng (WB, 2020) Chỉ số này nằm trên thang từ 0 đến 8, trong đó giá trị cao cho thấy có nhiều nguồn thông tin tín dụng hơn, nguồn tin chất lượng và đáng tin cậy, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định cho vay Tính minh bạch và toàn diện của thông tin tín dụng ở một quốc gia được kỳ vọng sẽ tác động tích cực đến phát triển BTT đối với DNVVN (Love & Mylenko, 2003; Djankov & các cộng sự, 2005; Klapper, 2006).

Đánh giá mức độ phát triển và toàn diện của hệ thống tư pháp một quốc gia được thể hiện qua chỉ số Enforcing Contracts (chi phí và thời gian xử lý các yêu cầu đòi bồi thường và giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án sơ thẩm) Chỉ số này xem xét chất lượng quy trình tư pháp và mức độ một nền kinh tế áp dụng các thực hành tốt nhằm thúc đẩy chất lượng và hiệu quả của hệ thống tòa án (WB, 2020) Ba loại chi phí được ghi nhận là phí luật sư trung bình, chi phí tòa án và chi phí thi hành án Thông thường, các chỉ số này được cho là có mối quan hệ nghịch chiều với sự phát triển của các nguồn tài trợ cho DNVVN: khi thực thi hợp đồng yếu, các hình thức tài trợ thay thế cho DNVVN có điều kiện phát triển mạnh hơn, như là một giải pháp thay thế cho các nguồn tài trợ truyền thống cho DNVVN (Klapper, 2006; Nakusera & các cộng sự, 2008).

Đánh giá mức độ phát triển của thị trường chứng khoán một quốc gia dựa trên hai chỉ tiêu chính: vốn hóa thị trường của các công ty nội địa niêm yết và tổng giá trị giao dịch chứng khoán Vốn hóa thị trường (hay giá trị thị trường) là giá cổ phiếu hiện tại nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành, dữ liệu được ghi nhận vào cuối năm và thu thập từ các công ty nội địa niêm yết Dữ liệu của các quỹ đầu tư, quỹ ủy thác và các công ty có mục tiêu kinh doanh chỉ là nắm giữ cổ phiếu của các công ty niêm yết khác sẽ bị loại trừ khỏi phân tích (WB).

Theo WB (2020), tổng giá trị giao dịch chứng khoán được tính bằng tổng số cổ phiếu được giao dịch nhân với giá khớp tương ứng, và chỉ xem một mặt cắt ngang của giao dịch Hai chỉ tiêu này đại diện cho quy mô, độ sâu và tính thanh khoản của thị trường chứng khoán một quốc gia Vốn hóa thị trường của công ty nội địa niêm yết thường có mối tương quan nghịch với phát triển BTT đối với DNVVN, do ở các nước có thị trường vốn phát triển, các công ty lớn ít phụ thuộc vào các hợp đồng BTT để tăng vốn lưu động, từ đó thúc đẩy tác động tiêu cực lên phát triển BTT đối với DNVVN Ngược lại, tổng giá trị giao dịch chứng khoán được kỳ vọng có tác động tích cực lên phát triển BTT đối với DNVVN, khi thị trường chứng khoán giao dịch sôi động, BTT sẽ trở thành nguồn tài trợ đóng góp cho thị trường vốn.

Vốn hiện hữu của nền kinh tế, hay tỷ lệ tích lũy vốn đầu tư cố định trên GDP, được hiểu là tổng các khoản bổ sung vào tài sản cố định của nền kinh tế cộng với những thay đổi ròng về mức tồn kho Theo WB (2020), mức vốn hiện hữu càng cao sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng tổng thu nhập nhanh hơn nhờ tích lũy tài sản cố định và biến động tồn kho Nhu cầu tài trợ cho tăng trưởng phụ thuộc vào mức độ vốn cơ sở của nền kinh tế đang phát triển Khi nền tảng vốn hiện hữu ở mức cao, các DNVVN có thể tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài một cách thuận lợi, do đó chỉ tiêu n có mối quan hệ nghịch với phát triển BTT đối với DNVVN (Borgia & các cộng sự, 2010).

Net domestic credit provided to the private sector as a share of GDP (tín dụng nội địa ròng cho khu vực tư nhân) là thước đo nguồn vốn nội địa do các tổ chức tài chính—bao gồm ngân hàng, các công ty cho thuê tài chính, tập đoàn bảo hiểm, quỹ hưu trí và cả công ty ngoại hối—cung cấp cho khu vực tư nhân, thông qua các khoản cho vay ngân hàng, mua chứng khoán không bảo đảm, tín dụng thương mại và các khoản phải thu khác, từ đó hình thành nghĩa vụ trả nợ (WB, 2020) Khi nguồn tài trợ nội địa cho khu vực tư nhân dồi dào, các DNVVN có nhiều cơ hội tiếp cận với đa dạng nguồn tài trợ bên ngoài, do đó chỉ tiêu này có thể tác động tiêu cực tới phát triển BTT đối với DNVVN (Bakker & các cộng sự, 2004; Klapper, 2006).

Độ mở của thương mại quốc tế, hay tỷ lệ thương mại trên GDP, là thước đo tầm quan trọng tương đối của thương mại đối với nền kinh tế một quốc gia Chỉ số này được tính bằng tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu trong một kỳ chia cho tổng sản phẩm nội địa của kỳ đó (WB, 2020) Theo OECD (2010), thương mại quốc tế có xu hướng đóng vai trò lớn hơn ở các nước nhỏ về quy mô hoặc dân số, do đó có tác động đặc biệt với DNVVN Một quốc gia có độ mở thương mại thấp thường gặp khó khăn trong các giao dịch quốc tế và chi phí vận tải quốc tế cao, điều này có thể tạo điều kiện cho phát triển BTT đối với DNVVN, đặc biệt là đối với các hình thức BTT quốc tế Vì vậy, yếu tố này thông thường có mối quan hệ nghịch với phát triển BTT đối với DNVVN (Borgia et al., 2010; Auboin et al., 2016).

Chỉ số hiệu quả của Chính phủ đo lường chất lượng dịch vụ công, quyền công dân và mức độ độc lập khỏi áp lực chính trị, cùng với chất lượng xây dựng, thực thi chính sách và độ tin cậy dành cho các cam kết của chính phủ đối với các chính sách đó Chỉ số này có thang đo từ -2,5 đến 2,5, với giá trị cao hơn đại diện cho chất lượng quản trị cao hơn (WB, 2020) Chỉ số hiệu quả của Chính phủ là một phần trong “Chỉ số quản trị toàn cầu” được trình bày trong nghiên cứu của Kaufman, Kraay và Mastruzzi (2006) Theo Borgia và các cộng sự (2010), khi các yếu tố khác bằng nhau, sự khác biệt về chất lượng quản trị giữa hai quốc gia trong một năm dẫn đến sự chênh lệch trong doanh thu BTT Sự yếu kém trong quản trị của một quốc gia có thể góp phần thúc đẩy phát triển BTT đối với DNVVN, vì vậy yếu tố này có tương quan nghịch đến phát triển BTT đối với DNVVN.

Chỉ số nhận diện tham nhũng (CPI – Corruption Perceptions Index) là thước đo mức độ tham nhũng trong khu vực công của một quốc gia do Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) công bố, xếp hạng các quốc gia/ vùng lãnh thổ trên thang điểm từ 0–100 dựa trên đánh giá của các chuyên gia và nhà quản trị kinh doanh về mức tham nhũng công và được tổng hợp từ 13 cuộc điều tra và đánh giá tham nhung do nhiều tổ chức uy tín thực hiện; khi một quốc gia có CPI thấp, tham nhũng ở khu vực công sẽ tác động tiêu cực đến phát triển BTT đối với DNVVN, ngược lại CPI cao (ít tham nhũng) sẽ có mối tương quan thuận với sự phát triển BTT đối với DNVVN Cụ thể, tham nhũng làm giảm đầu tư và hoạt động kinh doanh, làm giảm nhu cầu vốn lưu động; các DNVVN gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài do thông tin mờ đục; và tham nhũng làm suy yếu quyền tài sản đối với các tài khoản phải thu – điều kiện thiết yếu cho các hợp đồng BTT.

Các nghiên cứu thực nghiệm

2.5.1 Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài

Nội dung sau đây của đề tài tập trung vào tổng hợp và tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về hoạt động BTT, tác động của BTT trong việc tài trợ các DNVVN, các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển BTT ở một quốc gia (PHỤ LỤC 2)

Bảng 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan giai đoạn 2000-2019

Tác giả Phạm vi nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Soufani (2000) Khảo sát trên 3805 công ty ở Anh (212 công ty sử dụng BTT) Thực hiện khảo sát

Hồi quy tuyến tính Pooled OLS, kiểm định Chi-square, t- tests, hồi quy Logistic, tương quan Pearson

Người mua dịch vụ BTT ở Anh có xu hướng là các công ty nhỏ hơn, phần lớn tập trung ở ngành công nghiệp sản xuất và liên kết, các công ty trẻ có sự giới hạn hơn về tiếp cận các nguồn tài trợ, các mối quan hệ

Nhu cầu về dịch vụ BTT sẽ có xu hướng phản ánh tác động tương đối của các hạn chế tài chính đối với các DNVVN

Phân tích, thống kê, đánh giá

Khả năng cấp tín dụng nhanh chóng được tối ưu khi các khoản phải thu được xem như tài sản bảo đảm, giúp BTT rút ngắn thời gian xét duyệt và giải ngân cho DNVVN Khoản phải thu với vai trò tài sản bảo đảm tăng tính thanh khoản và giảm rủi ro cho người cho vay, tạo nền tảng vững chắc cho các khoản cho vay của BTT Nhờ cơ chế này, BTT đang có nhiều ưu thế so với các loại hình cho vay khác đối với DN nhỏ và vừa, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp.

Thảo luận về các yếu tố thông tin, pháp lý, thuế và rào cản pháp lý cho sự tăng trưởng của BTT trong EU

Klapper (2006) 25 nước thu nhập cao và 23 nước thu nhập trung bình

1993-2003/ Hiệp hội BTT quốc tế (FCI), World Bank, Doing Business Indicators

Mô hình hồi quy tuyến tính Pooled OLS, FEM

BTT là nguồn tài trợ bên ngoài tiềm năng cho các tập đoàn lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) BTT có điều kiện phát triển thuận lợi ở những quốc gia có tăng trưởng GDP cao, hệ thống chia sẻ thông tin tốt và ở các nước có mức độ thực thi hợp đồng còn yếu Ví dụ điển hình là Nafin (Mexico), một mô hình BTT tiêu biểu với chi phí thấp dành cho DNVVN Michalski (2008) đưa ra số liệu tài chính của một công ty giả định (hypothetical data) để minh họa cho phân tích.

Phân tích case study (nghiên cứu điển hình) cho thấy việc áp dụng BTT góp phần tăng giá trị công ty và đồng thời giảm rủi ro khi triển khai Đơn vị BTT cung cấp các dịch vụ theo dõi, kiểm soát và thu hồi các khoản phải thu, giúp cải thiện quản lý dòng tiền, giảm nợ xấu và nâng cao hiệu quả vận hành Kết quả là nâng cao thanh khoản, tăng sự tin cậy từ nhà đầu tư và bền vững giá trị doanh nghiệp.

Khảo sát thực hiện từ tháng 5-7/2007 ở Namibia

Case study, thống kê, phân tích dữ liệu

Nhu cầu được hỗ trợ vốn lưu động của các DNVVN rất lớn và vai trò của Ngân hàng Phát triển Namibia là yếu tố then chốt trong việc đáp ứng nguồn vốn này Ngân hàng Phát triển Namibia có trách nhiệm kết nối nguồn vốn, cải thiện thanh khoản và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua thách thức tài chính ngắn hạn Việc tăng cường tiếp cận vốn lưu động giúp các DNVVN duy trì hoạt động sản xuất, ổn định dòng tiền và mở rộng quy mô kinh doanh Trong bối cảnh đó, mô hình BTT ngược được cho là giải pháp hữu hiệu để phát triển BTT tại Namibia, với khả năng tối ưu hóa chu kỳ thanh toán, kích hoạt chuỗi cung ứng và thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho cộng đồng doanh nghiệp.

Dữ liệu bảng được thu thập từ 1995-2005/

Mô hình hồi quy tuyến tính Pooled OLS, tác động cố định FEM

Doanh thu BTT tăng theo GDP bình quân đầu người và các chỉ số liên quan như tổng vốn hiện hữu (GCF), tổng giá trị giao dịch chứng khoán (ST) và tỷ lệ thương mại (TRADE); tuy nhiên, sự gia tăng của tỷ lệ tiết kiệm (GDS) sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng BTT Đồng thời, các yếu tố rủi ro như chỉ số ổn định chính trị (RISK) và tỉ lệ tham nhũng (CI) cũng ảnh hưởng đến mức độ sử dụng BTT, và các quốc gia có hệ số quản trị thấp (GE) có xu hướng sử dụng BTT nhiều hơn.

Khảo sát phía cung BTT và phía DNVVN tại EU

Phân tích, đánh giá dựa trên các nghiên cứu, lý thuyết trước

BTT (truy đòi / không truy đòi) liên quan nhiều đến DNVVN hơn là các doanh nghiệp lớn Rào cản thực sự để tiếp cận BTT là mức độ liên quan của nó với một số loại hình kinh doanh và lĩnh vực cụ thể Do đó, tính phù hợp và cơ hội ứng dụng BTT phụ thuộc vào đặc thù ngành nghề và quy mô doanh nghiệp, khiến DN vừa và nhỏ có cơ hội tận dụng hiệu quả hơn khi xác định đúng các trường hợp sử dụng phù hợp với quy trình vận hành của họ.

Sự tăng trưởng BTT mạnh mẽ ở Châu Âu trong 10 năm qua do nhiều yếu tố Tomusange

22 giám đốc điều hành trên 54 quốc gia Châu Phi

Nghiên cứu tường thuật và nghiên cứu trường hợp Tiếp cận lí thuyết The Pecking Order và lí thuyết Credit Rationing

Triển vọng phát triển BTT ở Châu Phi rất cao do nhu cầu ngày càng tăng từ các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng Tuy nhiên, các rào cản pháp lý, thiếu bảo hiểm tín dụng và dịch vụ thông tin tín dụng, cùng với rào cản gia nhập ngành cao ở các đơn vị BTT phi ngân hàng, đang cản trở sự tăng trưởng của BTT Để tháo gỡ, các đơn vị BTT cần cung cấp dịch vụ đầy đủ hơn nhằm tạo liên kết giữa bên cung ứng (doanh nghiệp) và bên cầu, giúp họ tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng Chính phủ các nước Châu Phi có thể tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh và khuyến khích ứng dụng công nghệ vào tài trợ chuỗi cung ứng, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của BTT ở khu vực này.

49 quốc gia (35 quốc gia thu nhập cao, 9

Cả BTT và tín dụng thương mại đều có mối tương quan tích cực với xxxi

(2016) quốc gia thu nhập tb,

5 quốc gia thu nhập thấp)

FCI data (2008-2014), Berne Union data, trade data

RE, tác động cố định

Áp dụng FEM (mô hình hiệu cố định), kiểm định Granger causality và kiểm định Hausman với dữ liệu bảng cho thấy thương mại của DNVVN (doanh nghiệp vừa và nhỏ) là một yếu tố bổ sung chứ không thay thế các thành phần hiện hữu trong chuỗi thương mại Kết quả cho thấy cả hai khu vực doanh nghiệp lớn và nhỏ đều góp phần tích cực vào dòng chảy thương mại quốc tế, thông qua khả năng cung cấp sản phẩm đa dạng và linh hoạt hơn cho thị trường toàn cầu FEM giúp nắm bắt ảnh hưởng cố định theo từng đơn vị và địa bàn, kiểm định Granger xác nhận mối quan hệ nguyên nhân giữa các biến liên quan, còn kiểm định Hausman hỗ trợ quyết định giữa mô hình hiệu cố định và hiệu ngẫu nhiên Tóm lại, thương mại DNVVN là một yếu tố bổ sung quan trọng, đồng thời cả hai yếu tố đều góp phần hỗ trợ dòng chảy thương mại quốc tế.

Thực hiện khảo sát trên 30 công ty đã sử dụng BTT từ 8/2014- 9/2015 tại nước Bosnia-Herzegovina

Chi square test BTT là công cụ tài chính hiện đại được sử dụng để so sánh với các loại hình tín dụng truyền thống, dù BTT không phải là một khoản vay BTT thường được dùng trong thời gian trên một năm bất chấp chi phí cao, mang lại cơ hội tối ưu hóa dòng tiền và quản lý rủi ro cho doanh nghiệp So với tín dụng truyền thống, BTT cung cấp giải pháp tài chính linh hoạt và thể hiện lợi ích của các công cụ tài chính hiện đại trong việc tối ưu hóa chi phí và hiệu quả sử dụng vốn.

BTT có khả năng hỗ trợ tăng thanh khoản cho thị trường, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc nó là lựa chọn tối ưu cho các công ty đang vật lộn với thanh khoản và mong muốn khắc phục vấn đề một cách an toàn Doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng lợi ích và rủi ro khi áp dụng BTT, so sánh với các phương án thay thế để bảo đảm tính ổn định của dòng tiền và hạn chế rủi ro tài chính Việc sử dụng BTT nên được đi kèm với kế hoạch quản lý rủi ro, đánh giá chi phí và tác động dài hạn, cũng như giám sát liên tục nhằm tối ưu hóa thanh khoản mà vẫn đảm bảo an toàn tài chính.

Kouvelis (2019) Các nền kinh tế trên thế giới, nguồn dữ liệu từ các nghiên cứu, dữ liệu thu thập qua các năm

Phân tích case study, tiếp cận, kế thừa các nghiên cứu liên quan BTT trước đó

Khả thi và lợi ích của các yếu tố truy đòi và không truy đòi phụ thuộc vào ba thông số tài chính quan trọng: xếp hạng tín dụng của nhà cung cấp, rủi ro thanh khoản của nhà cung cấp và xếp hạng tín dụng của nhà bán lẻ Nhà cung cấp có xếp hạng tín dụng cao sẽ chọn BTT truy đòi truyền thống, trong khi BTT ngược được nhà bán lẻ liên kết với ngân hàng hỗ trợ cho các nhà cung cấp có xếp hạng tín dụng trung bình và rủi ro thanh khoản tương đối thấp Mức chi phí tài chính được xác định dựa trên xếp hạng tín dụng của nhà bán lẻ.

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Theo bảng 2.1, các tác giả cho thấy mức đồng thuận tương đối về ý nghĩa và vai trò của BTT trong sự phát triển của DNVVN, khẳng định BTT đang dần trở thành một nguồn tài trợ khả thi và giúp khắc phục hạn chế tiếp cận vốn từ các kênh tài trợ truyền thống Dù các nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định tính hoặc định lượng với mức độ khác nhau, mục tiêu chung vẫn là phân tích, đề xuất giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển BTT đối với DNVVN trên toàn cầu Tuy vậy, các nghiên cứu thực nghiệm gặp khó khăn do hạn chế dữ liệu cho các nghiên cứu định lượng, khoảng thời gian nghiên cứu còn khá cũ và số liệu gần đây chưa được cập nhật.

Nhìn chung, các kết luận cho thấy sự nhất trí về vai trò BTT và xu hướng phát triển BTT ngược (tài trợ chuỗi cung ứng) cho DNVVN (doanh nghiệp nhỏ và vừa) trên toàn cầu, nổi bật là ở Châu Phi (Tomusange, 2015) Tuy nhiên, để phát triển BTT đối với DNVVN như kỳ vọng, cần xem xét một cách toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển BTT đối với DNVVN Trong khuôn khổ đề tài, tác giả tập trung tìm hiểu các điều kiện từ kinh tế vĩ mô, các yếu tố môi trường kinh doanh và khung pháp lý đại diện cho các đặc điểm cấp quốc gia tác động đến sự phát triển BTT đối với DNVVN.

2.5.2 Nghiên cứu thực nghiệm trong nước

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Căn cứ lựa chọn các biến số

Nghiên cứu đã kế thừa, tiếp thu cách tiếp cận của Bakker & các cộng sự

Sau khi tổng hợp các nghiên cứu về phát triển BTT đối với DNVVN ở các quốc gia trên thế giới, tác giả quyết định sử dụng các yếu tố được đề cập phổ biến và có thể đo lường để xây dựng mô hình đại diện cho các đặc điểm cấp quốc gia tác động đến mức độ phát triển BTT đối với DNVVN Mô hình gồm 12 biến số như sau: tổng doanh thu BTT của một quốc gia; GDP bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng GDP; tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân; chỉ số thông tin tín dụng; chi phí khiếu nại; tổng vốn hiện hữu; vốn hóa thị trường của các công ty nội địa niêm yết; tổng giá trị giao dịch chứng khoán; chỉ số thương mại; chỉ số hiệu quả của Chính phủ; và chỉ số cảm nhận tham nhũng.

Ý nghĩa của các biến số

Trong nghiên cứu này, các đặc điểm cấp quốc gia được xem xét dưới dạng các yếu tố vĩ mô thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và thông tin tín dụng, có mối quan hệ mật thiết với phát triển BTT đối với DNVVN Những yếu tố này có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở sự phát triển BTT đối với DNVVN, và ngược lại, sự phát triển của BTT đối với DNVVN cũng có thể đóng góp vào các chỉ tiêu kinh tế như đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội và bổ sung cho thị trường vốn Nghiên cứu trình bày cách đo lường của từng biến số trong mô hình hồi quy nhằm định lượng tác động của các yếu tố cấp quốc gia lên sự phát triển BTT đối với DNVVN.

 Fact : Tổng doanh thu BTT của một quốc gia (USD)

Theo thống kê từ các tổ chức quốc tế, DNVVN là nhóm sử dụng BTT rộng rãi nhất và khoảng 80% doanh thu BTT được tài trợ cho DNVVN; do đó, tổng doanh thu BTT thường được dùng làm đại diện cho mức độ phát triển BTT đối với DNVVN của một quốc gia trong các nghiên cứu thực nghiệm (Klapper, 2006; Borgia và cộng sự, 2010; Tomusange, 2015; Vasilescu, 2010; Ivanovic, 2011; Kouvelis và Xu, 2019) Tổng doanh thu BTT được tính bằng tổng doanh thu BTT nội địa và quốc tế và được tổng hợp từ Báo cáo hàng năm của Factoring Chain International (FCI) FCI là mạng lưới toàn cầu của khoảng 410 công ty BTT và ngân hàng tham gia vào hoạt động BTT tại hơn 90 quốc gia, và FCI thu thập dữ liệu từ các thành viên trong mạng lưới của mình về các giao dịch BTT trong nước và quốc tế; Dữ liệu FCI được xem là nguồn thông tin toàn diện nhất về các giao dịch BTT, với chi tiết theo danh mục phụ (xuất khẩu BTT có và không truy đòi, BTT nhập khẩu, BTT hai yếu tố) và theo quốc gia/khu vực Sự phát triển BTT của các nước gắn liền với mức độ sử dụng BTT của DNVVN, và cải tiến mô hình hoạt động BTT để nâng cao doanh thu BTT cho DNVVN là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn mới (FCI, 2019) Từ đó, số liệu tổng doanh thu BTT của các nền kinh tế qua các năm được xem là thước đo về mức độ phát triển BTT đối với DNVVN Trong nghiên cứu, biến số (Fact) là giá trị logarit tự nhiên của tổng doanh thu BTT đối với DNVVN của các quốc gia trong giai đoạn 2013–2018; phương pháp chuyển đổi logarit tự nhiên được sử dụng phổ biến nhằm khắc phục các vấn đề biến phụ thuộc hoặc nhiễu, và Borgia và các cộng sự (2010) đã dùng giá trị LN của doanh thu BTT đối với DNVVN làm biến phụ thuộc trong mô hình đo lường tác động của quản trị toàn cầu lên sự phát triển BTT đối với DNVVN.

 𝐺𝐷𝑃𝑃𝐶: GDP bình quân đầu người (USD)

GDP bình quân đầu người (GDPPC) được World Bank (WB) tính bằng cách chia tổng GDP cho dân số trung bình của một năm, thể hiện mức đóng góp của mỗi công dân vào quy mô sản xuất kinh tế GDP bình quân đầu người cho thấy giá trị sản xuất kinh tế có thể được quy đổi cho từng công dân và là thước đo tiềm năng phát triển kinh tế cá nhân Dựa trên cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết xxxvi cho rằng GDP bình quân đầu người có tác động tích cực đến phát triển BTT đối với DNVVN.

 GDPG : Tốc độ tăng trưởng GDP (%)

Tốc độ tăng trưởng GDP là tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm theo giá thị trường dựa trên đồng nội tệ không đổi (Constant 2010 US dollars - Giá trị cố định năm 2010 đã loại trừ đi sự biến đổi của giá cả với thời gian) Dựa vào cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra là tốc độ tăng trưởng GDP có tác động tiêu cực đến phát triển BTT đối với DNVVN

 NDC : Tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân (USD)

Theo WB (2020), tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân là tổng các nguồn tài trợ nội địa cung cấp cho khu vực tư nhân Từ đó, (𝑁𝐷𝐶) trong mô hình được xem là thước đo cho tính khả dụng và sẵn có của tín dụng Dựa vào cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra là tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân có mối tương quan nghịch đến phát triển BTT đối với DNVVN

 CreIn : Chỉ số thông tin tín dụng (mức điểm)

Chỉ tiêu được kỳ vọng thể hiện mối liên hệ giữa phát triển BTT và mức độ minh bạch, toàn diện của thông tin tín dụng của một quốc gia Chỉ số được đo trên thang 0-8, trong đó mức điểm cao hơn cho thấy thông tin tín dụng đầy đủ và minh bạch hơn Dựa trên cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết đặt ra là chỉ số thông tin tín dụng có tác động tích cực đến phát triển BTT đối với DNVVN.

 EC : Chi phí khiếu nại (% của giá trị khiếu nại)

Mức độ phát triển và tính toàn diện của hệ thống tư pháp một quốc gia được đo lường bằng chi phí khiếu nại trên phần trăm giá trị khiếu nại, một thước đo cho hiệu quả, công bằng và khả năng bảo vệ quyền lợi của người dân trong quá trình giải quyết tranh chấp Dựa trên cơ sở lý luận và các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra cho rằng chi phí khiếu nại có tác động tiêu cực đến phát triển BTT đối với DNVVN, nghĩa là mức chi phí khiếu nại cao có thể làm giảm động lực và khả năng tăng trưởng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 GCF : Tổng vốn hiện hữu( tỷ USD)

Tổng vốn hiện hữu (GCF) được xem là nguồn hình thành GDP và là thước đo quan trọng cho sự tăng trưởng của nhu cầu vốn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Trên cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra cho rằng tổng vốn hiện hữu của nền kinh tế có tác động tiêu cực đến phát triển BTT đối với DNVVN.

 ST : Tổng giá trị giao dịch chứng khoán (% so với GDP)

Giá trị giao dịch chứng khoán được xác định bằng tổng số cổ phiếu được giao dịch trên cả hai thị trường trong nước và nước ngoài, nhân với giá khớp lệnh tương ứng Dữ liệu có giá trị được ghi nhận vào cuối năm, bao gồm các công ty niêm yết và cổ phiếu được giao dịch của những công ty này Dựa trên cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra là tổng giá trị giao dịch chứng khoán có tác động tích cực đến phát triển BTT đối với DNVVN.

 MC : Vốn hóa thị trường của các công ty nội địa niêm yết (% so với GDP)

Giá trị vốn hóa thị trường, hay còn gọi là giá trị thị trường, được tính bằng giá cổ phiếu phổ thông hiện tại nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành Dữ liệu có giá trị được ghi nhận vào cuối năm và được thu thập từ các công ty nội địa niêm yết Số liệu của các quỹ đầu tư, quỹ ủy thác và các công ty chỉ có mục tiêu kinh doanh là nắm giữ cổ phiếu của các công ty niêm yết khác thì bị loại trừ Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra là giá trị vốn hóa thị trường có mối tương quan nghịch đến phát triển BTT đối với DNVVN.

 TRADE : Chỉ số thương mại quốc tế (% so với GDP)

Chỉ số thương mại quốc gia được đo bằng tổng lượng xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của một nước, là một thành phần của GDP và phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế Sự phát triển của thương mại cho thấy sự tăng trưởng và mở rộng của quốc gia, đồng thời là chỉ số quan trọng cho đánh giá sức mạnh kinh tế Dựa trên cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra là chỉ số thương mại quốc tế có tác động tiêu cực đến phát triển BTT đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN).

 CI : Chỉ số nhận thức tham nhũng (mức điểm)

Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CI) được đo trên thang 0-100, trong đó điểm 100 thể hiện sự minh bạch và trong sạch của khu vực kinh tế công, còn điểm 0 cho thấy sự yếu kém trong quản lý và mức độ tham nhũng cao của các cơ quan, nhà nước Dựa trên cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra là mức độ nhận thức tham nhũng có mối tương quan thuận với phát triển BTT đối với DNVVN, đồng nghĩa CI có tác động dương (tích cực) đến phát triển BTT đối với DNVVN xxxviii

 GE : Chỉ số hiệu quả của Chính phủ (mức điểm)

Chỉ số hiệu quả của Chính phủ có giá trị từ -2,5 đến 2,5, với giá trị càng cao thể hiện hiệu quả quản lý càng lớn Sự yếu kém trong quản trị của một quốc gia có thể khiến các DNVVN gặp khó khăn trong tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài, từ đó ảnh hưởng đến phát triển BTT cho DNVVN Dựa trên cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết được đặt ra là chỉ số hiệu quả của Chính phủ có tác động tiêu cực đến phát triển BTT đối với DNVVN.

 RISK : Chỉ số ổn định chính trị (mức điểm)

Chỉ số ổn định chính trị được đo bằng mức độ ổn định và sự vắng mặt của bạo lực/khủng bố ở một quốc gia, với thang đo từ -2,5 đến 2,5; giá trị cao hơn cho thấy rủi ro thấp hơn Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, giả thuyết cho rằng mức độ ổn định chính trị (RISK) tác động dương đến phát triển BTT đối với DNVVN.

Để làm rõ tác động của các yếu tố lên sự phát triển của BTT đối với DNVVN, khóa luận được hình thành nhằm hệ thống hóa các giả thuyết khoa học và dự báo các dấu hiệu thay đổi Các giả thuyết này được trình bày kèm các kỳ vọng về dấu hiệu biến động, và được tóm lược cụ thể trong Bảng 3.1.

Bảng 3 1 Tổng hợp các giả thuyết khoa học

Diễn giải Kỳ vọng dấu

Xây dựng mô hình thực nghiệm xxxix 3.4 Phương pháp xử lý dữ liệu xl

Để đánh giá ảnh hưởng của các đặc điểm cấp quốc gia đến sự phát triển của BTT đối với DNVVN, nghiên cứu dựa trên các kết quả thực nghiệm trước đây để lựa chọn mô hình và các biến phù hợp Nghiên cứu cho thấy phân tích dữ liệu bảng là phương pháp phổ biến để điều tra mối quan hệ kinh tế giữa các biến trong mô hình hồi quy Mô hình hồi quy dữ liệu bảng, với sự kết hợp giữa dữ liệu chéo và chuỗi thời gian, cho phép thu thập nhiều thông tin hữu ích hơn, tăng tính biến thiên và ít hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến, đồng thời có bậc tự do cao và hiệu quả phân tích được nâng cao (Trần Nguyễn Minh Hải, 2019).

Mô hình hồi quy dữ liệu bảng tuyến tính đơn giản có dạng:

Trong dữ liệu bảng (panel data), Y và X được quan sát theo hai chỉ số i và t với i = 1,2, ,N và t = 1,2, ,T Các hệ số α và β được cho là không có chỉ số dưới dòng, ngụ ý rằng chúng đồng nhất qua các đơn vị chéo và qua mọi thời kỳ Tuy nhiên, giả thiết về sự đồng nhất này có thể bị bỏ qua khi dự đoán mức độ không đồng nhất giữa các nền kinh tế, tức là α không nên bằng nhau cho mọi quan sát chéo Khi nhà nghiên cứu dự đoán sự khác biệt trong hành vi giữa các nền kinh tế khác nhau (tùy thuộc vào cách phân loại như mức độ phát triển cao hay thấp hoặc theo việc nền kinh tế có là thành viên của một tổ chức quốc tế hay không), mô hình trên sẽ trở thành một phiên bản cho phép sự không đồng nhất này, với các hiệu ứng α và có thể β được điều chỉnh cho từng đơn vị chéo hoặc theo các tiêu chí phân loại được áp dụng.

Trong mẫu dữ liệu này, hệ số α_i có thể khác nhau giữa các nền kinh tế, cho thấy tính đặc thù của từng đơn vị trong dữ liệu Việc có nên thay đổi hệ số β giữa các nền kinh tế hay không đòi hỏi phân tích riêng cho từng đơn vị trong N quan sát chéo Do đó, giả thuyết β bằng nhau trên toàn bộ các quan sát chéo được xem là giả định gộp cho quá trình ước lượng dữ liệu bảng (panel data).

Mô hình hồi quy tổng thể trên dữ liệu bảng được dùng để xem xét tác động của các đặc điểm cấp quốc gia đối với sự phát triển của BTT Dữ liệu được ghép theo thời gian và theo quốc gia, cho phép ước lượng ảnh hưởng đồng thời của các biến cấp quốc gia và kiểm soát các yếu tố cố định giữa các nước Các biến độc lập chính bao gồm đặc điểm kinh tế - xã hội và thể chế ở cấp quốc gia, trong khi biến phụ thuộc đại diện cho mức độ phát triển của BTT Kết quả ước lượng cho thấy tác động của các đặc điểm cấp quốc gia là có ý nghĩa thống kê và nhất quán trong các thử nghiệm độ tin cậy, cho thấy mô hình phù hợp và có thể giúp rút ra các kết luận chiến lược về sự phát triển của BTT.

𝐹𝑎𝑐𝑡 i,t   i +GDPPC i,t + 1 GDPG i,t + 2 NDC i,t + 3 CreIn i,t + 4 EC i,t

+ 5 𝐺𝐶𝐹 i,t + 6 MC i,t + 7 ST i,t +  8 TRADE i,t + 9 GE i,t +  10 CI i,t +  11 RISK i,t + i,t xl

Fact i,t đại diện cho sự phát triển của BTT đối với DNVVN, đóng vai trò là biến số phụ thuộc và được tính bằng tổng doanh thu BTT đối với DNVVN (triệu USD) của nền kinh tế i tại thời điểm năm t.

Và các yếu tố lần lượt đại diện cho các đặc điểm kinh tế cấp quốc gia, đóng vai trò là biến số độc lập, cụ thể như sau:

GDPPC i,t là biến thu nhập bình quân đầu người (USD) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

GDPG i,t là biến tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân (%) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

NDC i,t là biến tổng tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân(USD) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

CreIn i,t là biến chỉ số thông tin tín dụng của nền kinh tế i tại thời điểm t;

EC i,t là biến chi phí khiếu nại khi xảy ra tranh chấp thương mại (USD) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

𝐺𝐶𝐹 i,t là biến tổng vốn hiện hữu (tỷ USD) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

MC i,t là biến vốn hóa thị trường của các công ty nội địa niêm yết (% GDP) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

ST i,t là biến tổng giá trị giao dịch chứng khoán (% GDP) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

TRADE i,t là biến chỉ số thương mại (% GDP) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

GE i,t là biến chỉ số hiệu quả của Chính phủ (% GDP) của nền kinh tế i tại thời điểm t;

CI i,t là biến chỉ số tham nhung (% GDP) của nền kinh tế i tại thời điểm t, cho biết mức độ tham nhũng được đo bằng phần trăm GDP ở thời điểm tương ứng RISK i,t là biến chỉ số ổn định chính trị (% GDP) của nền kinh tế i tại thời điểm t, phản ánh mức độ ổn định và rủi ro chính trị trong môi trường kinh doanh, cũng được tính theo phần trăm GDP Việc kết hợp hai biến CI i,t và RISK i,t theo từng nền kinh tế i và thời gian t cho phép phân tích sâu về mối quan hệ giữa tham nhũng và ổn định chính trị, từ đó hỗ trợ xây dựng báo cáo nghiên cứu và tối ưu hóa chiến lược đầu tư dựa trên dữ liệu.

 i,t là sai số ngẫu nhiên với 𝑖 và 𝑡 đại diện cho nền kinh tế và thời gian tương ứng

3.4 Phương pháp xử lý dữ liệu

Việc ước lượng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng tuyến tính đơn giản có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm (i) hằng số chung trong phương trình hồi quy, (ii) cho phép có các tác động cố định và (iii) cho phép có các tác động ngẫu nhiên Qua các thử nghiệm thực nghiệm với các mô hình và phương pháp xử lý dữ liệu khác nhau, tác giả đã quyết định chọn mô hình có hằng số chung trong phương trình hồi quy làm phương pháp xử lý dữ liệu cho nghiên cứu của mình, với 1 biến phụ thuộc và 12 biến độc lập.

Mô hình hằng số chung trong phương trình hồi quy, hay còn gọi là phương pháp OLS gộp (Pooled OLS), ước lượng dựa trên giả định cơ bản là không có sự khác biệt giữa các ma trận dữ liệu theo kích thước mẫu (N) Theo đó, hệ số chặn α được ước lượng như một hằng số chung cho tất cả các quan sát và phương pháp này hữu ích khi bộ dữ liệu được cho là đồng nhất trên toàn bộ mẫu.

3.5 Nguồn dữ liệu của các biến số Để góp phần thấy được vai trò và đánh giá ảnh hưởng của các đặc điểm cấp quốc gia đến sự phát triển BTT đối với DNVVN, nghiên cứu tập trung phạm vi không gian khảo sát là 49 quốc gia đến từ 5 châu lục trên toàn thế giới trong thời gian nghiên cứu từ 2013 đến 2018 với số liệu thứ cấp từ các tổ chức WB, FCI, Transparency International,… (Bảng 3.2)

Biến số Mã hóa Đvt Nguồn

Tổng doanh thu BTT đối với

Total factoring turnover 𝐹𝑎𝑐𝑡 %GDP FCI, WB

Ba chỉ tiêu kinh tế chủ chốt được trình bày là GDP bình quân đầu người (GDPPC) bằng USD cố định năm 2010 theo cơ sở dữ liệu WDI của Ngân hàng Thế giới; Tốc độ tăng trưởng GDP (GDPG) ở dạng phần trăm theo nguồn WDI, WB; và tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân Những chỉ số này phản ánh mức sống, nhịp độ tăng trưởng và khả năng tiếp cận vốn của khu vực tư nhân, đồng thời cho phép so sánh giữa các nước trên nền tảng dữ liệu của WB và WDI.

Domestic credit to the private sector as a percentage of GDP

Chỉ số thông tin tín dụng Credit information index 𝐶𝑟𝑒𝐼𝑛 points WDI, WB Chi phí khiếu nại Cost of enforcing contracts % claim 𝐸𝐶 USD DBI, WB

Tổng vốn hiện hữu Gross capital formation 𝐺𝐶𝐹 USD WDI, WB

Vốn hóa thị trường của các công ty nội địa niêm yết

Market capitalization of listed domestic companies

Tổng giá trị giao dịch chứng Total value of stocks traded as a 𝑆𝑇 %GDP WDI, WB xlii khoán share of GDP

Chỉ số thương mại Trade GDP ratio 𝑇𝑅𝐴𝐷𝐸 %GDP WDI, WB

Chỉ số hiệu quả của Chính phủ

Government Effectiveness: estimate 𝐺𝐸 points WDI, WB

Chỉ số ổn định chính trị Political Stability and Absence of

Chỉ số cảm nhận tham nhũng Corruption index 𝐶𝐼 points Transparency

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

 Về thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu từ năm 2013-2018 nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các đặc điểm cấp quốc gia (bao gồm các yếu tố vĩ mô về kinh tế, chính trị, xã hội và thông tin tín dụng) và sự phát triển của BTT đối với DNVVN Năm 2013 đánh dấu một mốc phát triển của ngành BTT toàn cầu sau khủng hoảng tài chính 2007-2009 khi doanh số BTT đối với DNVVN tăng trưởng ở mức chưa từng thấy, quy mô ngành tăng gần gấp đôi so với trước đây; đồng thời khối lượng doanh số BTT hàng năm toàn cầu vượt 2,23 nghìn tỷ EUR (tương đương 3,1 nghìn tỷ USD), tăng gần 5% so với năm 2012; BTT quốc tế năm 2013 đạt 402 tỷ USD doanh số, tăng 18% so với 2012 (FCI, 2013) Từ 2013 đến 2018, doanh số BTT dành cho DNVVN tiếp tục tăng ổn định với mức tăng khoảng 6% mỗi năm; đến 2018, tổng doanh thu BTT của DNVVN đạt 2,77 nghìn tỷ EUR, cho thấy vai trò rất quan trọng của BTT trong tài trợ thương mại toàn cầu Trong tương lai, BTT được dự báo tiếp tục tăng trưởng mạnh ở các thị trường mới nổi, bao gồm Việt Nam (FCI, 2018), mở ra cơ hội cho nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển BTT đối với DNVVN trên thế giới và đề xuất các khuyến nghị phát triển BTT cho DNVVN Việt Nam.

 Về không gian nghiên cứu Đề tài đo lường tác động của các yếu tố vĩ mô về kinh tế, chính trị, xã hội, thông tin tín dụng…, đại diện cho các đặc điểm kinh tế cấp quốc gia đến mức độ phát triển BTT đối với DNVVN của một quốc gia Nghiên cứu thực hiện bằng phương pháp định lượng với các yếu tố kinh tế kể trên đóng vai trò là biến độc lập trong mô xliii hình hồi quy bộ dữ liệu cho 49 quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, trong quá trình xử lý bộ dữ liệu của 49 nền kinh tế nhằm loại bỏ các giá trị bị thiếu vắng thông qua công cụ Stata 15.1, bộ dữ liệu chỉ còn lại 37 quốc gia, bao gồm 15 quốc gia có thu nhập trung bình (Brazil, China, Colombia, Egypt, India, Lebanon, Morocco, Mexico, Malaysia, Peru, Russian Federation, Thailand, Turkey, Vietnam, South Africa) và 22 quốc gia có thu nhập cao (Australia, Austria, Belgium, Switzerland, Chile, Germany, Spain, France, Greece, Hong Kong SAR China, Croatia, Hungary, Ireland, Israel, Japan, Korea Rep., Norway, Poland, Portugal, Singapore, Slovenia, United States) là có dữ liệu đáp ứng đầy đủ và thuận lợi để phục vụ nghiên cứu Các nền kinh tế trong bộ dữ liệu đến từ 5 châu lục trên thế giới (châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Đại Dương, châu Mỹ), nhằm cho thấy một cái nhìn rõ hơn về sự phát triển BTT đối với DNVVN trên toàn thế giới

Bộ dữ liệu này là dữ liệu bảng ngắn (short panel data) do T  N (nhiều đối tượng, ít năm quan sát) và có cấu trúc bảng không cân bằng (unbalanced data) do những số liệu không được công bố nên bị thiếu số quan sát nền kinh tế - năm (missing value) dẫn đến các đơn vị chéo không có cùng số quan sát theo thời gian (PHỤ LỤC 4) Chi tiết tiến trình các bước phân tích định lượng bằng Stata 15.1 trong nghiên cứu về tác động của các đặc điểm cấp quốc gia đến sự phát triển BTT đối với DNVVN được ghi nhận tại PHỤ LỤC 5

Trong chương 3, mô hình được xác định với một biến phụ thuộc là tổng doanh thu BTT của DNVVN (Fact) và 12 biến số đóng vai trò là biến độc lập, đại diện cho các đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng đến phát triển BTT đối với DNVVN Đề tài phân tích định lượng theo phương pháp hồi quy Pooled OLS cho bộ dữ liệu bảng không cân bằng gồm 49 nền kinh tế trên toàn thế giới trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018, được thực hiện trên Stata 15.1 Trong quá trình xử lý dữ liệu nhằm loại bỏ các giá trị thiếu vắng, bộ dữ liệu ban đầu giảm còn 37 quốc gia Dữ liệu này là bảng ngắn (T < N) và có cấu trúc bảng không cân bằng (unbalanced data).

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Trong chương 4, khóa luận trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của đặc điểm cấp quốc gia gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô, chỉ số kinh doanh, chỉ số thông tin tín dụng và môi trường pháp lý đối với sự phát triển BTT của DNVVN Dựa trên phân tích dữ liệu, kết quả cho thấy mỗi yếu tố này có tác động rõ rệt lên mức độ và tốc độ phát triển BTT ở DN vừa và nhỏ, đồng thời cho thấy mức độ nhạy khác nhau của DNVVN với biến động kinh tế và khung pháp lý Các kết quả này làm rõ cơ chế tác động giữa môi trường kinh tế và pháp lý cấp quốc gia và sự phát triển bền vững của BTT đối với DNVVN Trên cơ sở đó, khóa luận đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao khả năng tiếp cận vốn và cải thiện thông tin tín dụng, đồng thời tăng cường thể chế pháp lý để thúc đẩy sự phát triển BTT đối với DNVVN.

4.1 Thống kê mô tả và kết quả thực nghiệm

Ngày đăng: 31/08/2021, 22:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w