Tình hình hạn hán mùa khô năm 20192020 trên địa bàn tỉnh xuất hiện sớm hơn, diễn biến gay gắt hơn trung bình nhiều năm. Mưa hầu như không xuất hiện kể từ đầu tháng 122019 đến đầu tháng 42020 ở hầu hết các địa phương, nền nhiệt thường xuyên duy trì ở mức cao, làm cho độ mặn tăng cao kỷ lục (cao hơn cả cùng kỳ năm 2016, trong đó cao nhất trên sông Gành Hào tại thành phố Cà Mau ở mức 34,5 ‰, cao hơn cùng kỳ năm 2016 2,0 ‰; tại thị trấn Sông Đốc trên sông Ông Đốc ở mức 42,2 ‰, cao hơn cùng kỳ năm 2016 3,3 ‰); mực nước trên các hệ thống kênh, mương vùng ngọt hoá thuộc các huyện U Minh và Trần Văn Thời bị sụt giảm nhanh chóng dẫn đến khô cạn gây thiệt hại nhiều diện tích lúa, rau màu, nuôi trồng thủy sản; hàng ngàn hộ dân bị thiếu nước sinh hoạt và dẫn đến tình trạng sạt lở, sụt lún đất rất nghiêm trọng tại nhiều tuyến kênh, lộ giao thông trên địa bàn tỉnh. Riêng khu vực rừng tràm U Minh Hạ được khép kín trữ nước phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng từ rất sớm và được bảo vệ nghiêm ngặt, tuy nhiên đã có trên 43.000 ha rừng ở mức báo động cháy Cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm).
Trang 1Số: /BC-BCH Cà Mau, ngày tháng 7 năm 2020
BÁO CÁO Rút kinh nghiệm công tác phòng, chống thiệt hại do hạn hán mùa khô năm
2019-2020, Kế hoạch phòng, chống thiên tai những tháng
cuối năm 2020 trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Kính gửi: Ủy ban nhân dân tỉnh
Thực hiện Công văn số 2400/UBND-NNTN ngày 15/4/2020 của Chủ tịch Ủyban nhân dân tỉnh về việc tổ chức rút kinh nghiệm trong công tác phòng, chốngthiên tai, dịch bệnh Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnhCà Mau báo cáo như sau:
có trên 43.000 ha rừng ở mức báo động cháy Cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm)
Những ngày đầu tháng 4/2020 đến nữa đầu tháng 6/2020, nhiệt độ tiếp tụcduy trì ở mức cao, xuất hiện nắng nóng cục bộ với nhiệt độ cao nhất 360C; nhữngcơn mưa trái mùa, đặc biệt là những cơn mưa chuyển mùa đã bắt đầu xuất hiện vàocuối tháng 4/2020, góp phần giảm nền nhiệt và làm cho tình hình hạn hán bớt gaygắt hơn so với những tháng đầu năm Nữa đầu tháng 06/2020 mưa đã xuất hiệnnhiều hơn, kết thúc mùa khô 2019 – 2020
II ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN HÁN
1 Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng trực tiếp do khô hạn kéo dài,thiếu nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp đặc biệt là sản xuất lúa và rau màu
DỰ THẢO
Trang 2Qua rà soát thống kê toàn tỉnh có trên 20.546 ha lúa bị thiệt hại do hạn hán, trong
đó mất trắng 13.685 ha các trà lúa với sản lượng mất đi khoảng 51.000 tấn; raumàu thiệt hại trên 51ha; cây dừa bị giảm sản lượng trái khoảng 05% Ngoài ra, dohệ thống kênh mương thủy lợi bị khô cạn hoàn toàn, giao thông đường bộ sụt lún
bị chia cắt, phải vận chuyển nông sản tiêu thụ bằng xe hai bánh, nên 70% sảnlượng lúa Đông Xuân phát sinh thêm chi phí ước khoảng 28 tỷ đồng; khâu thuhoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp giá tăng khoảng 10% so với cùng kỳ
(Chi tiết tại Phụ lục I kèm theo)
2 Lĩnh vực thủy sản và chăn nuôi
Lĩnh vực thủy sản và chăn nuôi: ưNắng hạn kéo dài, độ mặn tăng cao làmthiệt hại các diện tích nuôi trồng thủy sản Diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hạilà 16.557,06 ha,trong đó diện tích thiệt hại trên tôm sú 16.467,38 ha; tôm thẻ chântrắng 33,58 ha; trên nhuyễn thể 35,8ha; trên cá 20,3 ha Đàn gia súc chết 11.595con với tổng trọng lượng 746.134,7 kg
Hạn hán làm nhiệt độ tăng cao (trên 35‰) làm cho môi trường nước biếnđộng, thủy sản chậm phát triển, sức đề kháng giảm, mầm bệnh dễ xâm nhập Hạnhán diễn ra sớm và kéo dài làm cho các vuông nuôi tôm, đặc biệt là các vùng nằmsâu phía trong bị thiếu lượng nước lưu thông, trao đổi, khiến độ mặn trong vuôngnuôi tăng, có nơi trên 40‰ dẫn đến tình trạng tôm bị chết Tính đến giữa tháng06/2020, có 25.638 ha nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến bị nhiễm bệnh(tăng 20.283 ha so cùng kỳ) và mức độ thiệt hại về năng suất khoảng 30 - 50%.Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại do hạn hán là 16.557,06 ha (mức độthiệt hại từ 30 - 70%) với sản lượng bị thiệt hịa ước tính trên 10.000 tấn, trong đó
có khoảng 6.300 tấn tôm
(Chi tiết tại Phụ lục II kèm theo)
3 Lĩnh vực lâm nghiệp
Tổng diện tích rừng khô hạn vào cao điểm mùa khô là 43.583,8 ha đều dự báocháy Cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) Các đơn vị chủ rừng thực hiện tốt các biện phápphòng cháy, chữa cháy rừng, các lực lượng, trang thiết bị, phương tiện luôn túc trực,sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống xảy ra, nên đã kịp thời phát hiện, dập tắt 06 vụcháy rừngvới diện tích thiệt hại khoảng 1,5 ha
(Chi tiết tại Phụ lục III kèm theo)
4 Về nước sinh hoạt
Toàn tỉnh có 20.851 hộ gia đình bị thiếu nước sinh hoạt, được chia thành 04nhóm, cụ thể:
- Nhóm 1: Ở khu vực gần công trình cấp nước tập trung, nhưng chưa tiếp cậnđược nước nối mạng: 6.184 hộ
- Nhóm 2: Khu vực dân cư sống thưa thớt, phân tán: 4.193 hộ
Trang 3- Nhóm 3: Hệ thống nước nối mạng bị xuống cấp, không đủ nước cung cấp:6.384 hộ.
- Nhóm 4: Khu dân cư tập trung nhưng chưa có công trình cấp nước: 4.090 hộ
(Chi tiết tại Phụ lục IV kèm theo)
5 Ảnh hưởng khác
a) Về sạt lở, sụt lún đất:
Hạn hán kéo dài làm các kênh rạch khô cạn, mất áp lực nước lên bờ kênh gây
ra hiện tượng sạt lở, sụp lún bờ kênh nhiều tuyến đường giao thông, ảnh hưởng rấtlớn đến việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa, thiệt hại kinh tế của nhân dân, cụ thểnhư sau:
- Tuyến đường do cấp tỉnh quản lý: Sụt lún 11 điểm với chiều dài 371m, cùngnhiều vết rạn nứt (01 điểm xã Trần Hợi với chiều dài sụp lún 10m; tuyến Tắc Thủ -Vàm Đá Bạc có 04 điểm sụt lún với tổng chiều dài 95m và tuyến Co Xáng - CơiNăm - Đá Bạc có 06 điểm sụt lún với tổng chiều dài 276 m)
- Tuyến đê biển Tây đoạn Đá Bạc - Kênh Mới sụt lún 02 điểm với tổng chiềudài 240 m (trong đó sụt lún, trượt sâu từ 02 đến 03m với chiều dài 210 m, sụt lún
từ 0,08m đến 0,1m với chiều dài 30 m), nguy cơ sụt lún 4.200 m; đoạn Hương Mai– Tiểu Dừa (giáp tỉnh Kiên Giang) đã xuất hiện các vết nứt sụt lún từ 6-12cm vớitổng chiều dài 1.670m
- Đối với lộ giao thông nông thôn: Có 1.065 điểm sụp lún chiều dài 33.805 m.Trong đó, huyện Trần Văn Thời 24.117 m (Đường bê tông 650 điểm, 13.814 m;đường đất đen 350 điểm, 10.303 m; xảy ra nghiêm trọng nhất là các xã gồm:Khánh Hải, Khánh Hưng và Khánh Bình Đông); thành phố Cà Mau có 15 điểm bịsụp lún với tổng chiều dài 754 m (trong đó, 11 điểm sụp lún lộ bê tông 363 m và
04 điểm sụp lún lộ đất đen 391 m); huyện U Minh có 50 điểm bị sụp lún với tổngchiều dài 8.934 m (trong đó, lộ bê tông 2.964 m và lộ đất đen 5.970 m)
(Chi tiết tại Phụ lục V kèm theo)
b) Về rò rỉ cống ngăn mặn:
Vùng ngọt hóa của tỉnh có 18 cống ngăn mặn bị rò rỉ, xói đáy, nước mặn từngoài xâm nhập vào vùng ngọt (Cống Trùm Thuật Nam và 17 cống còn lại nằmtrên tuyến Tắc Thủ - Sông Đốc, thuộc huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời)
(Chi tiết tại Phụ lục VI kèm theo)
III CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1 Công tác chỉ đạo, điều hành
- Tham mưu xây dựng và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kếhoạch số 142/KH-UBND ngày 05/11/2019 về phòng, chống thiệt hại do hạn hán,thiếu nước xâm nhập mặn mùa khô năm 2019-2020 Trên cơ sở Kế hoạch đượcphê duyệt, các cấp, các ngành và chính quyền địa phương đã triển khai quyết liệt,
Trang 4đồng bộ các giải pháp phòng, chống hạn hán của tỉnh, đồng thời, triển khai thựchiện nghiêm túc, hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Trung ương (Chỉ thị số8008/CT-BNN-TCTL ngày 25/10/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn về việc tăng cường thực hiện các giải pháp thủy lợi phòng, chống hạn hán,thiếu nước, xâm nhập mặn, phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh mùa khô2019-2020; Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc triển khai các giải pháp cấp bách phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhậpmặn; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềviệc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắcphục hậu quả thiên tai;…).
- Trực tiếp ban hành và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 150 vănbản chỉ đạo, đôn đốc các cấp, các ngành, các Thành viên Ban Chỉ huy phòng,chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh trong công tác phòng ngừa, ứng phó, khắcphục hậu quả do hạn hán gây ra, trong đó, nổi bật là Quyết định số 339/QĐ-UBNDngày 02/3/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc công bố tình huốngkhẩn cấp hạn hán cấp độ 2 tại vùng ngọt hóa thuộc địa bàn huyện U Minh vàhuyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, qua đó, triển khai kịp thời, hiệu quả các biệnpháp công trình và phi công trình trong ứng phó và khắc phục hậu quả do hạn hángây ra; tổ chức nhiều đợt khảo sát hiện trường, kịp thời phát hiện, xử lý nhiều sự
cố công trình rò rỉ mặn, sạt lở, sụt lún đất; hướng dẫn các địa phương một số biệnpháp cơ bản về phòng, chống đối với các loại hình thiên tai có khả năng xảy ra trênđịa bàn tỉnh góp phần giảm thiểu nguy cơ rủi ro và thiệt hại do thiên tai gây ra
2 Những giải pháp ứng phó và kết quả đạt được
a) Về công tác thông tin, tuyên truyền:
Thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp ứng phóhạn hán với 689 đề tài tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng chốngthiên tai nói chung, hạn hán nói riêng với tổng thời lượng phát sóng là 45 giờ 56phút; bố trí 74 tổ máy bơm, 591 lực lượng chuyên trách cùng với 2.609 người (dođịa phương huy động), tổ chức trực phòng cháy chữa cháy rừng; tổ chức cắm 359biển cảnh báo tại các khu vực sụt lún, sạt lở nguy hiểm, khu vực có nguy cơ cháyrừng; tổ chức hướng dẫn biện pháp phòng, chống sụt lún, sạt lở đất được 02 cuộcvới 164 người tham gia; tổ chức các đợt diễn tập, huấn luyện, hướng dẫn, kiểm travề PCCC cho trên 350 người và 430 cơ sở; cấp phát hơn10.000 tờ bướm về PCCC;chuyển tải hơn 200 bản tin về diễn biến thời tiết, nguồn nước, nhận định tình hìnhhạn hán, thiếu nước cho các cấp, các ngành, địa phương, trong đó 170 bản tin đượcphát hàng ngày trên Đài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau; nhắn hơn 180 triệu lượttin nhắn SMS thời tiết cho tất cả thuê bao VNPT trên địa bàn tỉnh
b) Về đảm bảo nước phục vụ dân sinh:
- Đã đầu tư xây dựng mới được 01 nhà trạm cấp nước và 04 giếng khoan công
suất 107m3/giờ; lắp đặt hệ thống lọc nước tại 03 giếng khoan sẵn có; đã mở rộng
Trang 5lắp đặt đường ống và nối tuyến được 111.125 m đường ống nước (phục vụ chokhoảng 5.000 hộ).
Song song với các giải pháp nêu trên, đã đẩy mạnh kêu gọi các tổ chức quốc
tế, doanh nghiệp tư nhân hỗ trợ bồn nhựa trữ nước, thiết bị xử lý nước hộ gia đìnhcho người dân bị ảnh hưởng, đầu tư bồn nhựa 10 m3, túi nhựa dẻo 15-30 m3 đặt tạiđịa điểm tập trung (Ủy ban nhân dân xã, nhà văn hóa…) để cung cấp nước chongười dân khu vực chưa có công trình cấp nước tập trung; chuẩn bị phương án huyđộng các xe bồn, tàu bồn lưu động chở nước ngọt cho các hộ dân sống phân tán,vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển, hải đảo Đã tiếp nhận, cấp phát 3.900 bồn chứanước, 20 túi chứa nước dung tích 25m3, 200 thiết bị lọc nước, 01 máy lọc nước vàđang triển khai lắp đặt 15 máy lọc nước nhiễm mặn Hỗ trợ cho cán bộ, chiến sĩ vànhân dân đảo Hòn Chuối 340.000 lít nước, 150 bình nước uống tinh khiết, 10thùng nhựa chứa nước loại 220 lít Hiện nay, Ban Chỉ huy phòng, chống thiên taivà tìm kiếm cứu nạn tỉnh đang tiến hành các thủ tục tiếp nhận gói hỗ trợ từ Chươngtrình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) trong khuôn khổ hợp tác Đối tác Giảm nhẹrủi ro thiên tai do Tổng cục Phòng, chống thiên tai vận động gồm: 300 bồn chứanước Inox loại 01 m3 và 01 gói vệ sinh cá nhân, dự kiến hoàn thành trong tháng08/2020
c) Công tác ứng phó với sụt lún, sạt lở đất; tình trạng rò rỉ, xói đáy các công ngăn mặn:
- Rà soát, tổng hợp tình hình sụt lún, sạt lở, thống kê các tuyến kênh đã bị khô cạnmà chưa có đường bộ hoặc đường bộ chưa đảm bảo, để đưa ra giải pháp xử lý cụ thể.Đồng thời, tiến hành xử lý tạm (che chắn, gia cố tạm bằng loại vật liệu địa phương, )đối với các điểm sụt lún, sạt lở để đảm bảo giao thông, đi lại cho người dân;
- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị bàn giải pháp khắc phụcsạt lở, sụt lún đất tại Cà Mau với sự tham gia của nhiều Bộ, ngành trung ương, cácViện, trường, các chuyên gia có uy tín hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp, thủylợi, giao thông, địa chất,… từ đó, tiếp thu được nhiều ý kiến góp ý, phản biện vềnguyên nhân, giải pháp khắc phục phục tình hình sạt lở, sụt lún đất trên địa bàntỉnh cùng nhiều vấn đề khác có liên quan
- Bố trí cán bộ, lực lượng quản lý đê thường xuyên kiểm tra các vị trí đê xungyếu, cống đập để phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố sạt lở, sụt lún đê, rò rỉ, xóiđáy cống; định kỳ hàng tuần quan trắc, kiểm tra độ mặn của nước trên các sông,khu vực các cống ngăn mặn
- Xử lý khẩn cấp các đoạn đã sụt lún và có nguy cơ sụt lún đê biển Tây từ ĐáBạc đến Kênh Mới, triển khai kịp thời các giải pháp khẩn cấp để xử lý ngay từ đầunhằm đảm bảo giữ ổn định, an toàn đê, đồng thời đánh giá, lựa chọn giải phápcông trình phù hợp Cụ thể:
+ Xử lý hộ đê khẩn cấp bằng giải pháp thảm đá bọc PVC và xếp rọ đá phíabiển, chiều dài 4.781 m với kinh phí 50 tỷ đồng
Trang 6+ Xử lý sạt lở bảo vệ đai rừng phòng hộ đê biển Tây bằng giải pháp thả rọ đá,chiều dài 1.964 m với kinh phí 8,5 tỷ đồng.
+ Xử lý tạo phản áp khắc phục sạt lở, sụt lún đê bằng giải pháp bơm đất vàokênh mương đê, chiều dài 3.500m với kinh phí 15 tỷ đồng
* Các hạng mục công trình này cơ bản đã hoàn thành trên 80%, trong đó hoànthành 100% gồm: Công trình tạo phản áp trong kênh mương đê; Xử lý sạt lở bảovệ đai rừng phòng hộ đê biển Tây bằng giải pháp thả rọ đá chiều dài 1.964 m; hộ
đê khẩn cấp đoạn bờ Bắc T25, chiều dài 700m Hộ đê khẩn cấp đoạn bờ Bắc Cống
Ba Tĩnh, chiều dài 230m; đoạn bờ Nam T25, chiều dài 500m Các công trình cònlại đã tập kết đầy đủ vật tư, lực lượng nhân công tiếp tục thực hiện những côngđoạn còn lại để hoàn thành công trình
- Thực hiện các thủ tục cần thiết triển khai thực hiện thi công các công trình,dự án khẩn cấp để xử lý đối với 18 cống bị rò rỉ, xói đáy Đã đắp hoàn thành đậptạm phía trong nội đồng 18 cống (cống Trùm Thuật Nam đã xử lý ổn định) còn lại
17 cống về lâu dài thi công xử lý bằng phương pháp phụt Silicate đã phụt đượchoàn thành 11/17 cống (Kênh Mới, Kênh Tư, T29, Ba Tỉnh, Trùm Thuật Bắc, 7Ghe; Sào Lưới; Tham Trơi, Rạch Cui, Ông Bích Lớn, Rạch Nhum), cống RạchRuộng đang triển khai thi công, 05/17 cống còn lại hiện đang chuẩn bị thi công
d) Về sản xuất, phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm và tôm nuôi
- Thường xuyên cập nhật diễn biến thời tiết, nguồn nước, độ mặn, nhận địnhtình hình hạn hán, thiếu nước, thông báo, cảnh báo đến các cấp, các ngành có liênquan và người dân để chủ động ứng phó
- Thông qua các chương trình, dự án như Đề án Đẩy mạnh quản lý dịch hạitổng hợp IPM trên cây trồng giai đoạn 2016-2020, Đề án Tái cơ cấu ngành nôngnghiệp, Đề án tuyển chọn giống lúa chủ lực chất lượng cao chịu phèn, mặn tỉnh CàMau giai đoạn 2016-2020, Chương trình Khuyến nông địa phương; chuyển giaocác tiến bộ khoa học kỹ thuật như “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, sử dụng bộgiống lúa chống chịu phèn, mặn trong canh tác, sử dụng nước tiết kiệm, giúp nângcao hiệu quả và giảm thiểu thiệt hại trong sản xuất
- Nạo vét 173 công trình kênh mương với chiều dài hơn 651km, khối lượngnạo vét hơn 6 triệu m3 để khơi thông luồng lạch, tăng lượng trữ nước vào cuối mùamưa nhằm phục vụ tốt hơn cho sản xuất của người dân
- Tăng cường công tác thăm đồng, hướng dẫn địa phương, nhân dân kỹ thuậtchăm sóc lúa trong điều kiện bị khô hạn, rà soát, hướng dẫn người dân thả giống đúnglịch mùa vụ, các giải pháp đảm bảo vệ sinh trong chăn nuôi, phòng ngừa dịch bệnh,
- Thực hiện 02 chuyên đề kinh tế thủy sản gồm: “Hướng dẫn khung lịch thời vụvà công tác định hướng nuôi trồng thủy sản năm 2020” và “Dự báo tình hình thờitiết nắng hạn và các biện pháp hướng dẫn nuôi tôm trong mùa khô”
- Đã tiêu hủy 11.595 con lợn với tổng trọng lượng 746.134,7 kg, tổng kinh phí
hỗ trợ thiệt hại cho các hộ có lợn bị tiêu hủy do bệnh Dịch tả lợn Châu Phi là 20 tỷ
685 triệu đồng (theo Quyết định số 793/QĐ-TTg ngày 27/6/2019 của Thủ tướng
Trang 7Chính phủ) Tiếp tục tổ chức thực hiện tái đàn lợn áp dụng các biện pháp an toànsinh học được 46.000 con.
- Kiểm tra, sắp xếp mua, bán gia súc, gia cầm, các sản phẩm gia súc, gia cầmtại các chợ trên địa bàn tỉnh với tổng số 3.684 lượt kiểm tra các quầy, sạp, cơ sở.Trong đó, 2.842 lượt kiểm tra các quầy, sạp, cơ sở kinh doanh đảm bảo yêu cầu;
825 lượt nhắc nhở các quầy, sạp, cơ sở; xử phạt vi phạm hành chính 17 cơ sở vớitổng số tiền 36.965.000 đồng
đ) Công tác phòng cháy chữa cháy rừng:
Chỉ đạo các đơn vị, chủ rừng thường xuyên theo dõi các bản tin dự báo, cảnhbáo của các cơ quan chức năng để kịp thời, chủ động cập nhật, điều chỉnh Kếhoạch phòng cháy, chữa cháy rừng phù hợp với diễn biến thực tế để thực hiện;thường xuyên rà soát, xác định cấp dự báo cháy rừng đối với từng Liên Tiểu Khu,sẵn sàng lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng; tổchức kiểm tra, chỉ đạo, đôn đốc, nhắc nhở các chủ rừng, các địa phương và nhândân trên lâm phần thực hiện nghiêm các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (đã
ký cam kết PCCCR với 5.697 hộ dân); đảm bảo tất cả các chủ rừng đều đã hoànthành cập nhật kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng (đảm bảo phù hợp diễn biếnvà điều kiện thực tế); đã triển khai đắp 97 cống đập giữ nước, phát dọn 753 kmđường băng cản lửa; dọn dẹp, khơi thông 267 km kênh; bố trí sẵn sàng 124 máybơm (trong đó có 73 máy công suất lớn), 70.030 m vòi chữa cháy, 80 máy thôngtin liên lạc phục vụ công tác Phòng cháy chữa cháy rừng
e ) Các công tác khác:
- Công tác phòng, chống cháy nổ: Tăng cường kiểm tra công tác bảo đảm antoàn PCCC các cơ sở trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy nổ; kịp thời phát hiệnchấn chỉnh những sơ hở, thiếu sót, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm an toànPCCC; tăng cường công tác quản lý cư trú; tích cực vận động thu gom vũ khí, vậtliệu nổ, công cụ hỗ trợ Kết quả, đã tiến hành kiểm tra, hướng dẫn thực hiện cácquy định của pháp luật về an toàn phòng cháy, chữa cháy tại 617 cơ sở, phát hiện
42 trường hợp vi phạm, xử phạt 119.350.000 đồng
- Về cung cấp điện: Chỉ đạo ngành điện xây dựng kế hoạch cung ứng điệnphù hợp trong mùa khô, trong đó ưu tiên điều tiết phục vụ các khu vực trọng điểmvề nuôi tôm, chế biến thủy sản, các cơ quan Đảng, Nhà nước, đồng thời, tăngcường sửa chữa, khắc phục công trình, sự cố điện; đẩy nhanh tiến độ các dự ánnâng cấp, phát triển lưới điện Tính đến nay, ngành điện đã triển khai 35 hạng mụccông trình sửa chữa lớn gồm: 26 hạng mục công trình lưới điện và 09 hạng mụcxây dựng nhà quản lý, vận hành hệ thống và luôn đảm bảo cung ứng đủ điện trongmùa khô 2019 - 2020 theo kế hoạch
- Về phòng, chống dịch bệnh trên người: Chỉ đạo ngành y tế đẩy mạnh côngtác phòng, chống dịch bệnh trên người; theo dõi sát tình hình dịch bệnh; đảm bảođầy đủ thuốc, trang thiết bị và bố trí nhân sự đáp ứng kịp thời công tác phòng,chống dịch Trong đó, thực hiện đầy đủ, hiệu quả các chỉ đạo của Trung ương, Ủy
Trang 8ban nhân dân tỉnh về ứng phó COVID-19 trong điều kiện hạn hán Kết quả, ngành
y tế đã phát hiện và xử lý 154 ca sốt xuất huyết, 56 ca bệnh sởi, 208 ca bệnh taychân miệng, 04 ca thương hàn và 08 ca viêm não, 1 ca COVID
h) Kinh phí và các nguồn lực hỗ trợ ứng phó đợt hạn hán 2019-2020
- Nguồn dự phòng ngân sách Trung ương hỗ trợ 120 tỷ đồng Trong đó 50 tỷđồng theo Quyết định số 107/QĐ-TTg ngày 31/12/2019 của Thủ tướng Chính phủvề bổ sung vốn từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2019 cho một số bộvà địa phương thực hiện dự án cấp bách và 70 tỷ đồng theo Quyết định số 504/QĐ-TTg ngày 10/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ Về hỗ trợ kinh phí phòng, chốnghạn hán, thiếu nước vùng đồng bằng sông Cửu Long, để thực hiện các giải phápcấp bách phòng, chống hạn hán
- Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợinăm 2019 với tổng kinh phí 135,9 tỷ đồng để thực hiện nạo vét 173 công trình thủylợi phục vu sản xuất theo Quyết định số 63/QĐ-UBND ngày 15/01/2019 của Chủtịch UBND tỉnh về việc phân khai nguồn kinh phí Trung ương hỗ trợ sử dụng sảnphẩm, dịch vụ công ích thủy lợi năm 2019
- Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ hỗ trợ để xây dựng các cống ngăn mặn vớikinh phí 128,5 tỷ đồng theo Quyết định số 3710/QĐ-BNN-TCTL ngày 26/8/2014của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Phê duyệt điều chỉnh dựán đầu tư và kế hoạch lựa chọn nhà thầu (giai đoạn 1) Dự án đầu tư xây dựng hệthống thủy lợi Tiểu vùng III - Nam Cà Mau, tỉnh Cà Mau
- Nguồn ngân sách tỉnh hỗ trợ 219,6 triệu đồng cho công tác vận chuyển nướcngọt cung cấp cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên đảo Hòn Chuối
- Ngoài ra, kêu gọi, vận động, tiếp nhận, cấp phát các nguồn hỗ trợ về vật tư,trang thiết bị, dụng cụ và cả kinh phí từ các tổ chức, cá nhân, các mạnh thườngquân trong và ngoài tỉnh với tổng số tiền mặt và vật chất quy ra tiền là26.770.385.329 đồng (Trong đó: Đã tiếp nhận 21.670.385.329 đồng; đang hoànthiện thủ tục tiếp nhận 5.100.000.000 đồng) và đã hỗ trợ 11.705.210.000 đồng chongười dân bị ảnh hưởng bởi hạn hán trên địa bàn tỉnh
IV ĐÁNH GIÁ CHUNG, BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1 Mặt tích cực
- Ngay từ khi có nhận định của các cơ quan dự báo khí tượng thủy văn về tìnhhình hạn hán mùa khô năm 2019 - 2020, tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch, triểnkhai đồng loạt các biện pháp công trình, phi công trình nhằm ứng phó hiệu quả vớihạn hán; thành lập các đoàn công tác thường xuyên kiểm tra hiện trường, công tácchuẩn bị ứng phó hạn hán của địa phương; triển khai các biện pháp thông tin,tuyên truyền, khuyến cáo, hướng dẫn người dân thực hiện điều chỉnh lịch mùa vụsản xuất, biện pháp tiết kiệm nước tưới, chăm sóc cây trồng, vật nuôi trong điềukiện khô hạn cho người dânđể hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất
Trang 9- Sự chỉ đạo quyết liệt, quyết đoán của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, trong
đó việc Quyết định công bố tình huống khẩn cấp hạn hán cấp độ 2 tại vùng ngọthóa thuộc địa bàn huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời của Chủ tịch Ủy bannhân dân tỉnh (Quyết định số 339/QĐ-UBND ngày 02/03/2020) đã tạo hành langpháp lý để huy động mọi nguồn lực và triển khai hàng loạt các biện pháp khẩn cấpứng phó với hạn hán trên địa bàn góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra
- Các cấp, các ngành đã tập trung triển khai thực hiện một cách chủ động,nghiêm túc, hiệu quả các các kế hoạch, phương án phòng, chống hạn hán và cácvăn bản chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Chỉ huyphòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh, trọng tâm là Kế hoạch số142/KH-UBND ngày 05/11/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phòng, chốngthiệt hại do hạn hán, thiếu nước mùa khô 2019-2020 trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị số04/CT-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai các giảipháp cấp bách phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn; Chỉ thị số 8008/CT-BNN-TCTL ngày 25/10/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vềviệc tăng cường thực hiện các giải pháp thủy lợi phòng, chống hạn hán, thiếu nước,xâm nhập mặn, phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh mùa khô 2019-2020,góp phần giảm thiểu thiệt hại do hạn hán gây ra
- Công tác thông tin, tuyên truyền được tổ chức tốt, đồng bộ, có nhiều đổimới, đa dạng về nội dung và hình thức đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao ýthức, trách nhiệm, tinh thần tự giác của cộng đồng trong việc chủ động phòng,tránh và ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn
- Mặt trận Tổ quốc, các Hội, đoàn thể, các cơ quan báo, đài trên địa bàn tỉnhđã làm tốt công tác kêu gọi, vận động hỗ trợ khắc phục hậu quả do hạn hán gây ragiúp người dân giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống
2 Những hạn chế
- Đặc thù tỉnh Cà Mau sử dụng nước mưa để phục vụ sản xuất, không cónguồn nước ngọt bổ sung vào mùa khô; hệ thống công trình thủy lợi chưa đượcđầu tư hoàn chỉnh, thiếu trạm bơm, chưa khoanh bao từng ô nhỏ Do đó, khôngtrữ được nước trong mùa mưa để phục vụ sản xuất trong mùa khô, dễ bị thiếu nướckhi xảy ra hạn hán Mặt khác, khi hạn hán, kênh rạch bị khô cạn, không có nguồnnước bổ sung làm mất phản áp là nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng sụt lúnnghiêm trọng như hiện nay
- Hệ thống thuỷ lợi vùng sản xuất lúa- tôm chưa khép kín, thiếu trạm bơm rửamặn vào đầu mùa mưa (để trồng lúa), thiếu công trình cống ngăn mặn vào đầu mùakhô nên sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, rủi ro rất cao
- Quy hoạch sản xuất, đặc biệt là quy hoạch thủy lợi chưa được đầu tư hoànchỉnh; hệ thống công trình cấp nước ngọt cho các tỉnh vùng ven biển chưa đượcđầu tư; quy hoạch dẫn nước ngọt về Bán đảo Cà Mau chưa được thực hiện, lànhững vấn đề liên quan đến quy hoạch sản xuất của tỉnh Cà Mau, đặc biệt là vùngngọt hoá chưa được xác định và đầu tư kịp thời
Trang 10- Luật Phòng, chống thiên tai và nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện cònnhững bất cập, chưa sát với thực tế, chưa đảm bảo linh hoạt, kịp thời cho công tácphòng, chống thiên tai.
- Số lượng trạm quan trắc khí tượng thủy văn tại tỉnh còn rất ít, nhiều địa bànkhông có trạm quan trắc điển hình ở vùng ngọt hóa tiểu vùng II, III Bắc Cà Mauthuộc 02 huyện Trần Văn Thời và U Minh không có trạm thủy văn nên không có
cơ sở để xác định cấp độ rủi ro thiên tai dẫn đến khó khăn trong việc triển khai cácbiện pháp cấp bách để xử lý
- Về chủ quan, công tác lập, điều chỉnh, triển khai Kế hoạch phòng, chống cáctình huống thiên tai của địa phương chưa lường hết những diễn biến phức tạp vànghiêm trọng của thiên tai, nên có những giải pháp chưa thật phù hợp và hiệu quả;việc triển khai thực hiện của chính quyền cơ sở có nơi chưa quyết liệt; một bộ phậnnhân dân còn thiếu ý thức, chủ quan, làm theo lối cũ, không thực hiện khuyến cáo củachính quyền, một bộ phận thiếu chủ động, còn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước
- Tình hình sạt lở đất ven sông, ven biển, sụp lún đường giao thông trên địabàn tỉnh diễn ra ngày càng nhanh và phức tạp nhưng nguồn kinh phí còn hạn chếnên chưa thể xử lý được triệt để, đồng bộ dẫn đến mất đất, mất rừng, thiệt hại tàisản và ảnh hưởng đến đời sống người dân
- Do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên việc tiếp nhận, cấp phát vật tư, trangthiết bị, hàng hóa,… được các tổ chức, cá nhân, các mạnh thường quân hỗ trợ khắcphục hậu quả do hạn hán gây ra còn chậm, chưa kịp thời nên làm giảm ý nghĩa,tính cấp thiết của việc hỗ trợ khẩn cấp
3 Những cách làm hay, sáng tạo
- Thiết kế ao đầm vuông nuôi đối với nuôi tôm quảng canh, quảng canh cảitiến (nuôi tôm truyền thống) đảm bảo mức nước từ 1,2 m trở lên để hạn chế tôm bịảnh hưởng do nắng nóng
- Xây dựng kế hoạch cấp nước ngọt lưu động trong mùa khô cho các khu vựcchưa có hệ thống nước máy để cấp cho người dân bị thiếu nước sử dụng, chủ độngứng phó với tình trạng hạn hán, thiếu nước
- Nhân rộng mô hình hệ thống cống khép vùng ở vùng ngọt hóa huyện UMinh và Trần Văn Thời phục vụ điều tiết nước đồng thời là lớp bảo vệ thứ hai đểngăn xâm nhập mặn sâu vào nội đồng trong trường hợp xảy ra các sự cố rò rỉ, xóiđáy cống tiếp giáp vùng mặn Hiệu quả của mô hình này đã được chứng minh đốivới hệ thống cống khép vùng xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời khi xảy ra sự cốrò rỉ, xói đáy cống Trùm Thuật Nam vừa qua
4 Bài học kinh nghiệm
Từ những mặt được, những tồn tại, hạn chế đã qua trong quá trình chỉ đạo,điều hành và triển khai thực hiện các giải pháp ứng phó hạn hán mùa khô 2019 -
2020, Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh rút ra đượcnhững bài học kinh nghiệm sau:
Trang 11- Chủ động, quyết liệt và quyết đoán trong công tác chỉ đạo điều hành ứngphó thiên tai nói chung, hạn hán nói riêng, đặc biệt là trong triển khai các hànhđộng sớm.
- Làm tốt hơn nữa công tác dự báo, cảnh báo sớm, thông tin, tuyên truyềnnâng cao nhận thức người dân về phòng, chống thiên tai nói chung và hạn hán nóiriêng, đặc biệt là trong việc thực hiện đúng, đầy đủ các khuyến cáo, hướng dẫn của
cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương trong việc sản xuất đúng lịch thời
vụ, lựa chọn giống ngắn ngày; khuyến cáo, hướng dẫn người dân sử dụng nướchợp lý, tiết kiệm trong sản xuất và sinh hoạt, đặc biệt là trong mùa khô để tránh bịthiếu nước; vận động người dân chủ động trang bị dụng cụ chứa nước có dung tíchđảm bảo chứa đủ nước cho nhu cầu sinh hoạt cơ bản của gia đình và tiến hành tíchtrữ nước trong mùa mưa, đặc biệt không ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhànước; việc đa dạng hóa phương thức phổ biến thông tin qua các mạng xã hội nhưzalo, facebook cũng mang lại hiệu quả tích cực
- Chủ động xây dựng kế hoạch cấp nước ngọt lưu động để cấp nước chongười dân bị thiếu nước không chỉ theo kịch bản bị ảnh hưởng bởi hạn hán màtrong cả các trường hợp thiên tai khác
- Công tác thủy lợi, thủy nông nội đồng, các công trình kiểm soát mặn đóngvai trò rất quan trọng trong việc ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn
- Nghiên cứu, xác định thêm nhiều kịch bản thiên tai có khả năng xảy ra, để
từ đó cập nhật các giải pháp ứng phó phù hợp, sát thực tế vào các Kế hoạch,phương án phòng, chống thiên tai của các cấp, các ngành đảm bảo hiệu quả
- Chính quyền địa phương cần quyết liệt hơn nữa trong công tác chỉ đạo điềuhành ứng phó thiên tai trên địa bàn quản lý nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên taigây ra
- Linh hoạt trong việc hỗ trợ người dân khắc phục thiệt hại nhằm tính kịp thờigiúp người dân đủ điều kiện vượt qua khó khăn trong tình huống thiên tai, đảm bảođược ý nghĩa của hỗ trợ hỗ trợ khẩn cấp
- Sự phối hợp tốt của các cơ quan truyền thông trong việc thông tin, cảnh báosớm thiên tai, trong công tác truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng trongphòng ngừa, ứng phó thiên tai, trong kêu gọi hỗ trợ khắc phục thiệt hại
- Sự tham gia của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nướctrong việc sản xuất, hỗ trợ các trang thiết bị trữ, lọc nước sinh hoạt đã đóng gópquan trọng trong việc đảm bảo nước sinh hoạt cho người dân
- Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, triển khai và nhân rộng những mô hình hay,cách làm sáng tạo, hiệu quả trong công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậuquả thiên tai
V NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ TÌNH HÌNH THỜI TIẾT, THỦY VĂN NHỮNG THÁNG CUỐI NĂM 2020
Trang 12Theo bản tin ngày 27/7/2020 của Đài Khí tượng Thủy văn Cà Mau, cập nhậtbổ sung xu thế thời tiết, thủy văn từ tháng 8 đến tháng 12/2020 trên tỉnh Cà Maunhư sau:
1 Tình hình ENSO
Dự báo khả năng ENSO sẽ tiếp tục duy trì ở trạng thái trung tính nhưng vẫnnghiêng về pha lạnh trong khoảng một, hai tháng tới; sau đó nhiệt độ mặt nướcbiển tại khu vực Trung tâm Thái Bình Dương (khu vực Nino3.4) tiếp tục lạnh hơnvà có khả năng chuyển sang trạng thái La Nina vào các tháng cuối năm 2020 vàđầu năm 2021 với xác suất xảy ra khoảng 60%, nhưng có cường độ yếu Thời tiết,khí hậu có sự thay đổi đáng kể, trong đó, mưa, bão có khả năng gia tăng hơn trongcác tháng cuối năm 2020
2 Hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới
Dự báo, số lượng bão và ATNĐ hoạt động trên khu vực Biển Đông và ảnhhưởng trực tiếp đến đất liền nước ta trong nửa cuối năm 2020 có khả năng ở mứcxấp xỉ so với TBNN với khoảng từ 9-11 cơn bão và ATNĐ hoạt động trên BiểnĐông, trong đó có khoảng 05-06 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta, tậptrung nhiều ở khu vực Trung Bộ trở vào phía nam Khả năng cao xuất hiện từ 01-
02 cơn bão hoặc ATNĐ ảnh hưởng đến đất liền và vùng biển Nam Bộ trong cáctháng 11-12/2020 và tháng 01/2021