Theo các nghiên cứu gần đây của các nhà Ngư loại học nước ngoài đã mô tả vàphân tích hình thái khá kỹ về nhiều loài trong giống này, nhưng nhiều loài phân bố ởViệt nam chưa có trong các
Trang 1MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Các nghiên cứu ở Việt Nam thường chỉ đề cập đến thành phần loài, sự đa dạng,phân bố, nguồn lợi của khu hệ Tập trung nghiên cứu ở các vùng (VQG, KhuBTTN ), các con sông lớn của các tỉnh khác nhau mà chưa có nhiều nghiên cứu sâucho mỗi nhóm Đối với cá chưa có nhiều mô tả kỹ lưỡng làm cơ sở cho công tác phân
loại học Đặc biệt đối với giống Garra Hamilton - Buchanan, 1822 chưa có nghiên
cứu sâu trên từng loài để đưa ra khóa định loại hợp lý
Bắc Trường Sơn là một khu địa động vật cực Nam của phân vùng Bắc Việt Nam
- Hoa Nam Dải Trường Sơn - Hải Vân là chướng ngại thiên nhiên và ranh giới phíaTây nam của khu địa động vật Bắc Trường Sơn đồng thời cũng là ranh giới cực Namcủa phân vùng Bắc Việt Nam - Hoa Nam Ranh giới phía bắc của khu Bắc Trường Sơnkhởi thủy là sông Ngàn Phố hiện nay gọi là sông Cả Cấu trúc Địa - Động vật đa dạng
và mức độ phong phú về thành phần loài Động vật So với các khu phân bố Động vậtkhác tạo nên tính Đa dạng Sinh học cao của Bắc Trường Sơn [14] Ở khu vực nghiêncứu cho tới hiện nay các nghiên cứu chỉ mới thông kê được 2 trong 6 loài trong giống
Garra Hamilton - Buchanan, 1822 của Việt Nam là Garra pingi và Garra orientalis [3]
Theo các nghiên cứu gần đây của các nhà Ngư loại học nước ngoài đã mô tả vàphân tích hình thái khá kỹ về nhiều loài trong giống này, nhưng nhiều loài phân bố ởViệt nam chưa có trong các nghiên cứu đó
Đồng thời khi đối chiếu các mẫu tại phòng thí nghiệm chúng tôi thấy có sự saikhác rõ rệt giữa một số các thể trong các loài
Vì các lý do trên đã tạo động lực cho chúng tôi tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu
Để có cơ sở định loại chính xác hơn góp phần bổ sung dẫn liệu về giống cá Garra ở
Bắc Trung Bộ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đặc điểm hình thái phân loại
các loài trong giống Garra Hamilton - Buchanan, 1822 ở Bắc Trung Bộ”.
Mục đích: Nghiên cứu thành phần loài cá trong giống Garra thuộc khu vực nghiên
cứu, phân tích đặc điểm hình thái phân loại và phân bố của các loài
Nội dung nghiên cứu:
- Thành phần loài trong giống Garra ở Bắc Trung Bộ
- Mô tả đặc điểm hình thái và phân loại các loài cá trong giống Garra ở khu vực
nghiên cứu
- Đặc điểm phân bố của các loài trong giống Garra ở Việt Nam và BTB.
Trang 2ở Như Xuân nối với dãy núi thượng nguồn sông Cả Ở đây có đỉnh cao từ 900m
-1600m
Từ nam sông Cả các dãy núi kéo dài về phía nam theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam hầu như song song với biển, kết thúc là dãy Hải Vân, có đỉnh Bạch Mã cao hơn1400m
Ở khu vực này núi có sườn rất dốc, quá trình xâm thực và chia cắt mạnh tạo nênđịa hình hiểm trở có các đỉnh núi cao như Paxailaileng 2711m, Pùlung 2346m (NghệAn), Động Ngãi 1774m (Thừa Thiên Huế) Về phía biển là một hệ thống đồi núi thấphay núi thoải tiếp nối với đồng bằng chiếm 1/6 diện tích của vùng; đồng thời có cácdãy núi theo hướng Đông - Tây ra sát biển như dãy núi Tam Điệp, dãy Tĩnh Gia HoàngMai, dãy Đèo Ngang, đã làm cho địa hình càng bị chia cắt Chính vì vậy đã tạo nên sựphân hóa về điều kiện khí hậu của khu vực theo hướng Bắc - Nam [6]
1.1.2 Khí hậu
Bắc Trung Bộ nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa: mùa Đông ấm; mùa Hạnóng; ngoài sự phân hóa theo chiều cao, khí hậu còn bị phân hóa ảnh hưởng suy yếucủa gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam
Hàng năm có tổng lượng bức xạ từ 115 - 130kcal/cm2 (phía Bắc) và 140kcal/cm2
(phía Nam) Biên độ nhiệt độ trung bình năm là 110,2C Thời kỳ lạnh dưới 180C giảmdần, đi đến mất hẳn: từ Hà Tĩnh trở vào không còn tháng nào dưới 180C Sự phân hóatheo địa hình khá rõ Vùng đồng bằng và trung du có nhiệt độ trung bình 22 - 230C
Trang 3Vùng núi, những nơi có độ cao dưới 500m hàng năm có 3 - 4 tháng nhiệt độtrung bình/tháng dưới 200C, vành đai nhiệt đới theo chiều thẳng đứng lên cao hơn100m so với khu vực Tây Bắc.
Khu vực Bắc Trung Bộ có hai thời kỳ khô và ẩm, cùng với thời kỳ gió Tây Namvào mùa mưa Thời kỳ ẩm kéo dài từ tháng IX đến tháng V (trung bình độ ẩm87.25%) Từ tháng VI - VII, độ ẩm thấp 79.3% Lượng mưa trung bình năm: ThanhHóa 1741.6mm, Vinh 1967.7mm, Hà Tĩnh 2653.7mm, Đồng Hới 2160.2mm, Đông Hà2244.8 mm và Huế là 2996.2 mm [12, 20]
Bảng 1.1 Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm các tỉnh Bắc Trung Bộ
1.2 Hệ thống sông ngòi và đặc điểm thủy văn Bắc Trung Bộ
Vùng Bắc Trung Bộ có tới 200 con sông, suối dài từ 10 km trở lên Sông ngòi ởđây thường ngắn, dốc, nhiều thác ghềnh Bình quân chiều dài 1.1 km/km2, có nơi tới2.4 km/km2, gồm các hệ thông sông Mã, sông Cả, sông Lam, sông Gianh, sông ThạchHãn, sông Hương
Bảng 1.2 Các hệ thống sông chính Bắc Trung Bộ
TT Hệ thống
Sông
Chiều Dài
DT lưu vực (km 2 )
Mật độ (km/km 2 ) Phụ lưu chính
Trang 4Lèn, S Lạch Trường
S Ngàn Sâu
Số liệu được trích dẫn từ Lê Thông, 2004)Mùa lũ, mùa cạn ở khu vực này có sự khác nhau: Ở Thanh Hóa mùa lũ từ tháng
VI - XI; trong khi đó từ Nghệ An cho đến Hà Tĩnh mùa lũ vào các tháng VII - X, mùacạn từ tháng XI - VI, cao nhất tháng II - III Từ phía nam Hà Tĩnh trở vào mùa lũmuộn Hơn, từ tháng VIII - XI, mùa cạn từ tháng XII - VII, ứng với thời kỳ gió Làomạnh, Tháng V có lũ tiểu mãn
Trang 5Hình 1.1 Bản đồ vùng nghiên cứu 1.3 Tổng luận nghiên cứu giống cá Bậu Garra Hamilton - Buchanan, 1822
1.3.1 Lược sử nghiên cứu giống Garra ở Việt Nam
Nghiên cứu cá nước ngọt ở Việt Nam chủ yếu ở các lưu vực sông, các tác giả chủyếu nghiên cứu về thành phần loài, nguồn lợi của khu hệ, mà chưa có các nghiên cứu
đi sâu vào từng giống từng loài, trong đó các nghiên cứu về đặc điểm hình thái và phân
bố của giống Garra còn hạn chế, có thể kể đến:
Năm 1996 - 2000, Nguyễn Kiêm Sơn khi nghiên cứu tính đa dạng của khu hệ cásuối, sông Thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang) đã xác định được
tới thời điểm nghiên cứu có 73 loài, trong đó giống Garra có 3 loài G orientalis, G caudofasiolata và G angulostoma [8].
Trang 6Tiếp đó năm 2000, Ngô Sỹ Vân đã xác định được 95 loài và 2 phân loài, trong đó
giống Garra có 2 loài là G pingi Tchang, 1929 và G orientalis Nichols, 1925 ở hồ
chứa Thác Bà - Yên Bái [19]
Ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vào năm 2004, Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn
Phú, đã xác định được 71 loài cá thuộc 49 giống, 19 họ, 9 bộ, trong đó giống Garra có
1 loài G orientalis [1] Cũng trong năm này Thạch Mai Hoàng, Nguyễn Xuân Huấn,
đã xác định được 32 loài cá , trong đó giống Gara có 1 loài là G cyclostomata Yen khi
nghiên cứu cá vùng hồ Thang Hen, tỉnh Cao Bằng [5]
Đến năm 2007 đã có các loài của giống Garra đã có nhiều trong thành phần loài
của nhiều nghiên cứu, đó là: Thái Ngọc Trí, Nguyễn Xuân Đồng, Nguyễn Xuân Thư,
Hoàng Đức Đạt , khi khảo sát cá ở VQG Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận đã xác định được
30 loài cá, trong đó giống Garra có 1 loài là G fuliginosa Fowler, 1934 [18] Cùng đó,
Nguyễn Kiêm Sơn trong đánh giá đa dạng khu hệ cá ở một số sông, suối, ao, hồ, củacác tỉnh Thái Nguyên, đã ghi nhận được 111 loài cá thuộc 22 họ, 8 bộ, tổng hợp dẫnliệu cho thấy khu hệ cá ở các thủy vực thuộc tỉnh Thái Nguyên có 131 loài [10]
1.3.2 Lược sử nghiên cứu giống Garra ở Bắc Trung Bộ
Ở khu vực này các nghiên cứu về cá dần dần phổ biến hơn, một số loài trong
giống Garra sớm được biết đến.
vật của tỉnh địa động vật Mekong có ranh giới phân bố cực Bắc ở Bắc Trường Sơn,
trong đó có 1 loài thuộc giống Garra là G taeniata, (Smith, 1931) [15]
Tiếp đó, năm 1999 các tác giả Nguyễn Thái Tự, Nguyễn Xuân Khoa, Lê ViếtThắng nghiên cứu ở khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, đã xác định được 65 loài,
trong đó giống Garra có 2 loài là G caudofasciata Pel et Chev và G orientalis
Nichols, 1925 [16]
Cho tới năm 2004, Nguyễn Hữu Dực, Dương Quang Ngọc, Nguyễn Thị Nhung
đã xác định được được 94 loài cá trong khu hệ sông Chu thuộc địa phận tỉnh Thanh
Hóa, trong đó giống Garra có 2 loài là G pingi (Tchang, 1929) và G orientalis
Nichols [2].
Trang 7Các tác giả Hồ Anh Tuấn, Hoàng Xuân Quang, năm 2007 nghiên cứu về thànhphần loài cá ở lưu vực sông Con tỉnh Nghệ An đã xác định được 94 loài cá, trong đó
giống Garra có 2 loài là G orientalis Nichols, 1925 và G pingi (Tchang, 1929) [13].
Cũng trong năm này Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Hữu Dực đã mô tả được 186 loài,
trong đó giống Garra 2 loài là G orientalis Nichols, 1925 và G.theunensis Kottelat,
1998 khi nghiên cứu thành phần loài khu hệ cá sông Hương tỉnh Thừa Thiên Huế [4].Cùng đó, Hoàng Thị Long Viên, Võ Văn Phú nghiên cứu cá ở sông Bồ tỉnh Thừa thiên
Huế đã xác định được 145 loài cá, trong đó giống Garra có 3 loài là G pingi (Tchang, 1929), G orientalis Nichols, 1925 và G fuliginosa Fowler, 1934 [21].
Gần đó, năm 2008 tác giả Hoàng Xuân Quang đã đánh giá đa dạng sinh học cá,
lưỡng cư bò sát khu vực Tây Bắc Nghệ An đã xác định được 103 loài cá, trong đó
giống Garra có 2 loài G orientalis và G pingi [7].
Đến năm 2011 đã có nhiều nghiên cứu về cá mà thành phần loài có một số loài
của giống Garra: Hồ Anh Tuấn, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu cá ở khu vực sông
Thạch Hãn Quảng Trị, đã xác định được 192 loài, mà giống Garra có 2 loài Garra orientalis Nichols, 1925 và G imberba Gaman, 1912 [14] Cùng đó các tác giả
Nguyễn Duy Thuận, Võ Văn phú, Vũ Thị Phương Anh đã xác định được 109 loài,
trong đó giống Garra có 2 loài G fuliginosa Flow ler, 1934 và cá Đo G pingi
(Tchang, 1929) ở hệ thống sông Ô Lâu tỉnh Thừa Thiên Huế [17]
Trang 8CHƯƠNG 2 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mẫu vật
- Địa điểm thu mẫu:
Bảng 2.1 Tọa độ địa lý các địa điểm thu mẫu
- Số lượng mẫu phân tích: 104 mẫu
- Nơi lưu giữ, bảo quản mẫu vật: Phòng thí nghiệm động vật học - trung tâm thínghiệm trường Đại học Vinh
- Phương thức bảo quản: Ngâm trong dung dịch formalin 7%
2.2 Phương pháp nghiên cứu hình thái
- Phân tích các đặc điểm hình thái: theo Pravdin I.F (1963)
Trang 9Hình 2.1 Sơ đồ đo các chỉ tiêu hình thái họ cá Chép
A: vây hậu môn, C: vây đuôi, D: vây lưng, P: vây ngực, V: vây bụng, LL: đường bên a:Chiều dài toàn thân (L), b: Chiều dài tiêu chuẩn (Lo), c: Chiều dài trước vây lưng (daD),d: Chiều dài sau vây lưng (dpD), e: Chiều dài bên đầu (T), f: Chiều dài mõm (Ot), g:Đường kính mắt (O), h: Chiều dài đầu sau mắt (Op), i: Chiều dài vây lưng, j: Chiều dàivây ngực, k: Chiều dài vây bụng, l: Chiều dài trước vây bụng, m: Chiều dài trước vâyhậu môn, n: Chiều dài vây hậu môn, o: Chiều cao cán đuôi (ccd), p: Chiều dài cán đuôi(lcd), q: Chiều dài gốc vây hậu môn (bA), r: Chiều dài gốc vây lưng (bD), s: Khoảngcách hai mắt(OO), t: chiều dài lưng đầu (T), y: cao đầu ở gáy(hC), x: cao cơ thể lớnnhất(H), z: rộng đầu ở gáy (wC) Bổ sung thêm một số chỉ tiêu khác: Khoảng cách P-V,Khoảng cách V-A, Chiều dài thùy trên vây C, Chiều dài thùy dưới vây C, Dày thân,Răng hầu, Lược mang, Đốt sống, Cao đầu ở mắt (hE)
Hình 2.2 Sơ đồ đếm các chỉ tiêu hình thái họ cá Chép
A: số vảy đường bên, B: số vảy trên đường bên, C: số vảy dưới đường bên tính ởvây bụng, D: số vảy đường bên tính ở vây hậu môn, E: số vảy quanh cán đuôi, F:
Trang 10số vảy trước vây lưng, G: số vảy dọc cán đuôi
Tính tỷ lệ chỉ tiêu đo các phần cơ thể.
Chiều dài tiêu chuẩn (Lo) với: Chiều cao thân (H), chiều dài đầu (T), khoảng cách trướcvây lưng (daD), khoảng cách sau vây lưng (dpD), dày thân, chiều dài cuống đuôi (lcd), chiềucao cuống đuôi (ccd)
Chiều dài đầu (T) với: Chiều dài mõm (Ot), đường kính mắt (O), dài đầu sau mắt (Op),khoảng cách hai mắt (OO), chiều dài đầu (hE)
Chiều cao thân lớn nhất (H) với: Dày thân, chiều cao thân nhỏ nhất
Khoảng cách hai mắt (OO) với: Đường kính mắt (O)
Tỷ lệ giữa P-V và V-A; chiều dài cuống đuôi (lcd) và chiều cao cuống đuôi (ccd)
- Định loại: Theo tài liệu của các tác giả Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2001),
Kottelat M (2005), Peiqi Y et al (2000)
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Giống cá Bậu Garra Hamilton - Buchanan, 1822
Thân dài hoặc ngắn, phần đầu ngực dẹp bằng, phần sau dẹp bên Miệng dướithành vết nứt ngang Mắt nhỏ hoặc vừa phải, ở phần sau của đầu Khoảng cách hai mắtrộng, lớn hơn phần đầu sau mắt Mõm đầy, phía trước lỗ mũi có khi xuất hiện rãnhngang hoặc lõm xuống, làm cho phía trước của lỗ mũi hình thành một gai mõm cómức độ phát triển khác nhau Da mõm hướng trước và phát triển về phía bụng, đậytrên mắt ngoài của hàm trên, phía trên mặt có nhiều mấu thịt nhỏ, mép của nó phânthành dạng khía Da môi trên và môi dưới liền với nhau ở góc miệng, nhưng phân cáchvới hàm dưới Môi trên tiêu biến, môi dưới mở rộng về phần hàm dưới hình thành mộtđĩa hút hình bầu dục, ở giữa là một gốc chất thịt, phần bên cạnh tương đối mỏng và
Trang 11chuyển dời, phủ một lớp mấu thịt rất nhỏ Phần trước, xung quanh mép và giữa chấtđệm thịt giống nhau Mé trước là một rãnh sâu hình cung phân cách phần mé sau cóđường ranh giới rõ ràng hoặc không Râu hai đôi, một đôi hoặc không có Vây lưngkhông có gai cứng, có 8 - 10 tia phân nhánh, Vây ngực, vây bụng bằng và phát triểnngang với mặt bằng của bụng Vây hậu môn có 5 tia phân nhánh Vảy lớn trung bình,phần ngực và bụng có hoặc không có vảy Đường bên hoàn toàn, phía sau nằm giữacán đuôi
3.2 Khóa định loại các loài trong giống cá Bậu Garra Hamilton - Buchanan, 1822
1(6) Không có râu, không có tật mõm, lỗ hậu môn nằm khoảng 1/3 vây bụng Mũi ở
mé trên của mắt Viền lõm vây lưng ở vây phân nhánh thứ 4
2(5) Phần trước thân hơi dẹp bên (H/dày thân: 1.32 - 1.39), màu xám Cán đuôi cong 3(4) Ít dẹp bụng (Lo/H= 5.40) Vảy đường bên 48 - 49 Đường bên cong xuống ở phía
trước vây bụng Cán đuôi hơi cong xuống phía dưới Cá Đo - Garra pingi.
4(3) Dẹp bụng mạnh (Lo/H= 6.23) Vảy đường bên 47 Đường bên cong xuống ở phía
sau vây bụng Cán đuôi hơi cong lên phía trên Cá - Garra cf pingi 5(2) Phần trước hình ống (H/dày thân= 1.21), màu đen đậm Cán đuôi thẳng Vảy dọc thân có chấm đen ở mút vảy liên tục tạo thành sọc rõ … Cá Bậu - Garra imberba 6(1) Có hai đôi râu, có tật mõm Lỗ hậu môn nằm rất gần vây hậu môn Mũi ở dưới
mé trên của mắt
7(8) Mõm phân chia sâu hình thành gai mõm phát triển mạnh Các hạch trắng phát
triển mạnh khắp mõm Mút mõm hơi bằng Cá Sứt môi - Garra orientalis 8(7) Mõm phân chia nông hình thành nên gai mõm ít phát triển, đang dính liền với
mõm Các hạch trắng chỉ phát triển trước mút mõm Mút mõm nhọn
Trang 129(10) Có 5 - 6 sọc dọc thân rõ ……… … Cá Bậu - Garra mirofrontis
10(9) Thân có 1 sọc đen to giữa thân kéo dài từ lỗ mang đến giữa cán đuôi …… ……
……… ……… Cá Bậu - Garra cf mirofrontis
3.3 Đặc điểm hình thái phân loại các loài trong giống Garra Hamilton
-Buchanan, 1822 - Giống Cá sứt môi.
3.2.1 Đặc điểm hình thái phân loại loài cá Đo - Garra pingi
* Tên cá
Tên khoa học: Garra pingi (Tchang, 1929).
Tên đồng vật: Discognathus pingi Tchang 1929, Bull Mus Hist Nat Paris 2(1):
241 Garra poilanri Petis & Tchang, 1933, Bull Mus Paris 22 seric V 33, fig, 189;
Chevey & Lemason, 1937: 29, fig 9; Kottelat, 2001: 25 Freshwater Fishes of Northern
Vietnam Ageneiogarra imberba Mai Đình Yên, 1878 Cá nước ngọt các tỉnh phía bắc Việt Nam, trang 50, hình 20 Garra pingi pingi Ngũ Hiến Văn , 1977 Trung Quốc Lý
khoa ngư loại chí, Tập II, trang 293 - 294; Chu Xinluo, Chen Yiurui et al, 1989 The
fishes of Yunnan, China, part I, Cyprinidae, p.270, fig.253 Garra pingi Kottelat, 1996,
Fishes of the Nam Theun and Bangfai basins, p.18, Pl 3 - 9
Tên danh pháp: Disconathus pingi Tchang, 1929.
Tên Việt Nam: Tên tiếng Việt: Cá Đo Tên tiếng Thái: Pa Đo, Pa Đo khoai sai.Tên tiếng tày: Pia pai
* Số mẫu: 12 mẫu (QT.Da 004 005 006, NA.QC 001 002 003 004 006 007 008,HT.HK 001 004)
* Địa điểm: Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An
* Đặc điểm hình thái:
- Số đếm:
D=2.8 - 2.9, A= 2.5, P= 1.14 - 1.17, V= 1.8 - 1.9 Vảy dọc cán đuôi 11 - 12 Lượcmang cung I: 32 - 33, tia mang: 70 Đốt sống: 45
Trang 13Hình 3.1 Garra pingi
- Tỷ lệ hình thái:
Bảng 3.1: Tỷ lệ hình thái loài G pingi so sánh với các tác giả trong nước
TT Các tỷ lệ Nguyễn Văn Hảo Mai Đình Yên Tác giả
Bảng 3.2: Tỷ lệ hình thái loài G pingi so sánh với các tác giả nước ngoài
Trang 141 Số tia vây lưng 2.9 2.8 - 2.9
4 Số vảy trước vây lưng
* Mô tả:
Thân dài, phần trước hơi có dạng hình ống tròn, phía sau dẹp 2 bên, phía bụngtrước vây bụng bằng thẳng Viền lưng trước cao hơn đầu nhưng ít, phía sau bằng sovới gốc vây đuôi Lỗ hậu môn gần vây bụng
Phần đầu:
Trang 15Màu vàng xám, hơi dẹp trên dưới, chiều dài đầu lớn hơn chiều rộng Mõm trònđầy Trước lỗ mũi không có eo lõm, không hình thành tật mõm, mút trước có kết hạchmàu trắng với kích thước không đồng đều Da mõm phủ kín phía ngoài hàm trên,hướng về phía bụng mở rộng ra, mép của nó phân thành dạng khía tua cờ
Miệng rộng nằm phía dưới, mép ngang thành một hình cung Ỏ góc miệng ngoàimôi trên liền môi dưới Môi trên tiêu biến, môi dưới mở rộng về phần hàm dưới hìnhthành một đĩa hút hình bầu dục, có mé trước to hơn mé sau Đĩa hút của miệng rộnglớn, độ rộng bằng chiều rộng đầu tại đó Chung quanh của chất đệm thịt trơn bóng, ởgiữa có một đám chứa đầy mấu thịt nhỏ Phần bên cạnh tương đối mỏng và chuyển dờiphủ 1 lớp mấu thịt rất nhỏ, ở mé sau các mấu thịt này phân bố đều và giống nhau Giớihạn giữa chất đệm thịt và mé sau có ranh giới rõ ràng
Cá trưởng thành không có râu Lỗ mũi gần mắt hơn tới mút mõm và ngang métrên của mắt Mắt vừa phải ở mé trên gần viền lưng của đầu Vùng gian ổ mắt hơibằng Lỗ mang kéo dài về phía bụng của đầu ở dưới đường thẳng đứng sau mắt Màngmang nối liền với eo mang
Vây:
Vây lưng không có gai cứng, khởi điểm trước khởi điểm vây bụng , gần gốc vâyđuôi hơn mút mõm hoặc bằng gốc vây đuôi tới mút mõm, viền lõm sâu, phần lõm ởvây phân nhánh thứ 4 Vây hậu môn có viền lõm , mút cuối không tới gốc vây đuôi,khởi điểm tới gốc vây đuôi bằng hoặc lớn hơn tới khởi điểm vây bụng Vây ngực mútcuối tròn, cách gốc vây bụng khoảng 5 - 6 vảy Vây bụng có khởi điểm giữa mút mõm
và gốc vây đuôi, mút sau cách gốc vây hậu môn khoảng 5 vảy Vây đuôi phân thùysâu, mút cuối nhọn
Vảy:
Vảy phần trước ngực nhỏ Từ eo mang đến mé trước gốc vây ngực vảy nhỏ ẩndưới da nằm rải rắc không theo quy tắc, sau do vảy lớn dần lộ ra mắt thường nhìn thấy Vảy trước vây lưng xếp thành hàng ở hai bên, có màu đậm rõ rệt Chính giữa sốnglưng không đếm được Gốc vây bụng có hai vảy nách, một chiều tương đối dài, chiềukia ngắn khuất ở phần gốc Gốc vây lưng và vây hậu môn đều có vảy phát triển
Trang 16Đường bên hoàn toàn, thẳng từ trên lỗ mang đến giữa cán đuôi Hậu môn rất gầnvới vây bụng.
Lược mang dài, xếp đều, mút nhọn
* Màu sắc:
Thân xám, phần lưng tương đối sẫm, phần bụng vàng xám Các vây đen xám.Phần gốc vảy mé thân có đốm hơi đen nối thành sọc vân đen thẳng không liên tục, tùytheo cá thể mức độ có khác nhau
* So sánh với loài gần nó: Loài này về cơ bản giống Garra imberba Gaman là đều
không có râu, không hình thành tật mõm chỉ khác là thân dài, dẹp hai bên, cán đuôi
cong xuống phía dưới, mút mõm nhọn Màu sắc thân nhạt hơn G imberba nhưng đậm hơn G cf pingi
3.2.2 Đặc điểm hình thái phân loại loài cá Bậu - Garra cf pingi
* Tên khoa học: Garra cf pingi.
* Số mẫu: 3 mẫu (NA.QC 005, HT.HK 002 003)
* Địa điểm: Hà Tĩnh, Nghệ An
Trang 174 Số vảy trước vây lưng
Trang 18* Mô tả:
Thân dài, dẹp bụng manh, dẹp 2 mạnh, màu xám Viền bụng phía trước vây bụngbằng thẳng, phía sau vây bụng hơi cong lên phía trên Viền lưng trước cao hơn đầunhưng ít, phía sau tương đối bằng Lỗ hậu môn gần vây bụng
Phần đầu:
Màu xám nhạt, không dẹp trên dưới, chiều dài đầu lớn hơn chiều rộng Mõm trònđầy, trước lỗ mũi có 2 rãnh dọc nông nhưng không hình thành eo lõm, không hìnhthành tật mõm, mút trước mõm có kết hạch màu trắng có kích thước không đồng nhất,các hạch 2 bên có kích thước bé hơn ở giữa Da mõm phủ kín phía ngoài hàm trên,hướng về phía bụng mở rộng ra, mép của nó phân thành dạng khía tua cờ
Miệng rộng nằm phía dưới đầu, mép ngang thành một hình cung Ở góc miệngngoài môi trên liền với môi dưới, môi trên tiêu biến, môi dưới mở rộng về phần hàmdưới hình thành 1 đĩa hút hình bầu dục, mé trước của nó to hơn mé sau Đĩa hút củamiệng rộng lớn, độ rộng bằng chiều rộng đầu tại đó Chung quanh của chất đệm thịttrơn bóng, ở giữa không có các mấu thịt nhỏ Phần bên cạnh tương đối mỏng vàchuyển dời phủ 1 lớp mấu thịt rất nhỏ, ở mé sau các mấu thịt này phân bố đều và giốngnhau Giới hạn giữa chất đệm thịt và mé sau có ranh giới không rõ ràng
Trang 19Cá trưởng thành không có râu Lỗ mũi gần mắt hơn tới mút mõm và ngang métrên của mắt Mắt vừa phải ở mé trên gần viền lưng của đầu Khoảng cách hai mắtkhông bằng Lỗ mang kéo dài về phía bụng của đầu ở dưới đường thẳng đứng sau mắt.Màng mang nối liền với eo mang
Vây:
Vây lưng không có gai cứng, khởi điểm trước khởi điểm vây bụng , gần mútmõm tới gốc vây đuôi, viền lõm nông hơn, phần lõm ở vây phân nhánh thứ 4, các tiavây có sọc đen mờ Vây hậu môn có viền lõm nông hơn ở vây phân nhánh thứ 3, mútcuối không tới gốc vây đuôi, khởi điểm tới gốc vây đuôi bé hơn tới khởi điểm vâybụng Vây ngực mút cuối hơi tròn, cách gốc vây bụng khoảng 5 - 6 vảy Có chấm đen
ở mút cuối Vây bụng có khởi điểm giữa mút mõm và gốc vây đuôi, mút sau cách gốcvây hậu môn khoảng 5 vảy, tia vây có sọc nhạt hơn Vây đuôi phân thùy sâu, mút cuốinhọn, các tia vây có sọc
Vảy:
Vảy phần trước ngực nhỏ, từ eo mang đến mé trong gốc vây ngực vảy nhỏ ẩndưới da nằm rải rắc không theo quy tắc, sau do vảy lớn dần lộ ra mắt thường nhìn thấy.Vảy trước vây lưng xếp thành hàng ở hai bên, chính giữa sống lưng không đếm được.Gốc vây bụng có hai vảy nách, một chiều tương đối dài, chiều kia ngắn khuất ở phầngốc Gốc vây lưng và vây hậu môn đều có vảy phát triển
Đường bên hoàn toàn, thẳng từ trên lỗ mang đến giữa cán đuôi
* Màu sắc: Toàn thân xám Các vây màu xám nhạt, vây đuôi xám pha hồng Phần gốc
vảy giữa thân có đốm hơi đen nối thành sọc vân đen nhạt giữa thân thẳng không liêntục, tùy theo cá thể mức độ có khác nhau
* So sánh với loài gần nó: Loài này về cơ bản giống Garra pingi (Tchang, 1919) là
đều không có râu, không hình thành tật mõm, thân dài, dẹp hai bên Chỉ khác là thândẹp 2 bên mạnh hơn, cán đuôi hơi cong lên phía trên, màu sắc thân nhạt hơn Mõm ởphần trước mũi có các rãnh dọc, ngang
3.2.3 Đặc điểm hình thái phân loại loài cá Bậu - Garra imberba
* Tên khoa học: Garra imberba Gaman, 1912
Trang 20Tên đồng vật: Garra pingi pingi (Tchang, 1929) Discognathus imberbis Vinciguerra, 1890 Discognathus pingi Tchang, 1929 Garra pingi (Tchang, 1929) Garra alticorpora Chu & Cui 1987 Garra imberbis Discognathus imberbis Garra imberba (Vinciguerra, 1890).
Bảng 3.6 Tỷ lệ hình thái loài G imberba so sánh với các tác giả nước ngoài
Trang 211 Số tia vây lưng 3.9,5 2.8 - 2.9
Trang 22Hình 3.3 Garra imberba
* Mô tả:
Thân tròn dày, phần trước có dạng hình ống tròn, phần sau dẹt 2 bên, phía bụngtrước vây bụng bằng thẳng Viền lưng phía sau hơi lõm, phía trước dày lên cao hơnnhiều so với đầu Có chấm đuôi Lỗ hậu môn gần vây bụng
Miệng rộng nằm phía dưới đầu, mép ngang thành một hình cung Ở góc miệngngoài môi trên liền với môi dưới, môi trên tiêu biến, môi dưới mở rộng về phần hàmdưới hình thành 1 đĩa hút hình bầu dục, mé trước của nó to hơn mé sau Đĩa hút củamiệng rộng lớn, độ rộng bằng chiều rộng đầu tại đó Chung quanh của chất đệm thịttrơn bóng, ở giữa không có các mấu thịt nhỏ Phần bên cạnh tương đối mỏng vàchuyển dời phủ 1 lớp mấu thịt rất nhỏ, ở mé sau các mấu thịt này phân bố đều và giốngnhau Giới hạn giữa chất đệm thịt và mé sau có ranh giới không rõ ràng
Cá trưởng thành không có râu Lỗ mũi gần mắt hơn tới mút mõm và ngang métrên của mắt Mắt vừa phải ở mé trên gần viền lưng của đầu Vùng gian mắt khôngbằng Lỗ mang kéo dài về phía bụng của đầu ở dưới đường thẳng đứng sau mắt Màngmang nối liền với eo mang
Vây:
Vây lưng không có gai cứng, khởi điểm trước khởi điểm vây bụng, gần mút mõmtới gốc vây đuôi, viền lõm nông hơn, phần lõm ở vây phân nhánh thứ 4, các tia vây có
Trang 23sọc đen mờ Vây hậu môn có viền lõm nông hơn ở vây phân nhánh thứ 3, mút cuốikhông tới gốc vây đuôi, khởi điểm tới gốc vây đuôi bé hơn tới khởi điểm vây bụng.Vây ngực mút cuối hơi tròn, cách gốc vây bụng khoảng 5 - 6 vảy Có chấm đen ở mútcuối Vây bụng có khởi điểm giữa mút mõm và gốc vây đuôi, mút sau cách gốc vâyhậu môn khoảng 5 vảy, tia vây có sọc nhạt hơn Vây đuôi phân thùy sâu, mút cuốinhọn, các tia vây có sọc.
Vảy:
Vảy phần trước ngực nhỏ, từ eo mang đến mé trong gốc vây ngực vảy nhỏ ẩndưới da nằm rải rắc không theo quy tắc, sau do vảy lớn dần lộ ra mắt thường nhìn thấy.Vảy trước vây lưng xếp thành hàng ở hai bên, chính giữa sống lưng không đếm được.Gốc vây bụng có hai vảy nách, một chiều tương đối dài, chiều kia ngắn khuất ở phầngốc Gốc vây lưng và vây hậu môn đều có vảy phát triển
Đường bên hoàn toàn, thẳng từ trên lỗ mang đến giữa cán đuôi
Lược mang ngắn, xếp đều
* Màu sắc: Thân đen đậm, phần lưng tương đối sẫm, phần bụng vàng Các vây đen
xám có hể có sọc đen
Phần gốc vảy mé thân có đốm đen nối thành sọc vân đen thẳng liên tục
* So sánh với loài gần nó: Loài này về cơ bản giống Garra pingi (Tchang, 1929) là
đều không có râu, không hình thành tật mõm Chỉ khác là Thân tròn, phần trước códạng hình ống tròn, cán đuôi thẳng, mút mõm nhọn hơn, màu sắc đậm hơn
3.2.4 Đặc điểm hình thái phân loại loài cá Sứt môi - Garra orientalis
* Tên cá
Tên khoa học: Garra orientalis Nichols, 1925
Tên đồng vật: Garra orientalis Nichols, 1925, Amer Mus Novitalis No 185:4
(Phúc kiến); Mai Đình Yên, 1978 Cá nước ngọt các tỉnh phía bắc Việt Nam, trang 52,hình 21; Chu Xinluo, Chen Yirui et al, 1989 The Fishes of Yannan, China, part 1,
Cyprinidae, p 275, fig 258 Garra rhynchota Koller, 1926, An Akad Wien CIXIII;
121 (Hải Nam) Garra schismaterhyncha Nichols & Pope, 1927, Bull Amer Mus Nat Hist LIV: 358, fig 25 (Hải Nam) Discognathus bourreti (non Pellegrin) Garra lamba Koller, 1927, Ann Nat Mus Wien XLI: 32 (Hải Nam) Garra bourreti
Trang 24Pellegrin, 1928, Bull S.Z.F., 53:340; Chevey & Lemasson, 1937, p.30, fig.10;Kottelat, 2001: 24 Freshwater Fishes of Northern Vietnam
Type danh pháp: Garra orientalis Nichols, 1925
Tên Việt Nam: Tên tiếng Việt: cá Bậu, cá Sứt môi, cá Sứt mũi, cá Trâu sứt Têntiếng Thái: Pa bậu, Pa Đo lăng veo
* Số mẫu: 23 mẫu (QT.Da 001, QT.HH 001, NA.NĐ 002 004, NA.TC 001 002
003, NA.QP 003 004 005 007 008 015 016, NA.QS 001 002 003 004 006 008,NA.TK 001, TH.VX 001, HT.HK 005)
* Địa điểm: Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa
* Đặc điểm hình thái:
Số đếm: D=2.8 2.9, A= 2.5, P= 1.12 1.15, V= 1.8 Lược mang cung I: 19
-21 Tia mang: 70 Đốt sống: 31
- Tỷ lệ hình thái:
So sánh tỷ lệ hình thái các phần cơ thể của G orientalis giữa các mẫu ở khu vực
nghiên cứu với các tác giả ở trong nước được thể hiện ở bảng 3.7
Bảng 3.7 Tỷ lệ hình thái loài G orientalis so sánh với các tác giả trong nước
TT Các tỷ lệ Nguyễn Văn Hảo Mai Đình Yên Tác giả
Trang 25Bảng 3.8 Tỷ lệ hình thái loài G orientalis so sánh với các tác giả nước ngoài