Trong di sản văn học không đồ sộ lắm về số lượng, nhưng khá đa dạng về chủ đề, thể tài của Nguyễn Công Trứ có một mảng sáng tác rất đặc sắc, lâu nay vẫn được gọi là thơ văn “cầu nhàn hưởng lạc” hay là thơ văn “hành lạc”... Đã gần hai thế kỉ, từ thế hệ này qua thế hệ khác, chúng được lưu truyền rộng rãi trong công chúng độc giả trí thức Việt Nam, được tán thưởng và bình phẩm nhiều và chính chúng đã góp phần rất to lớn tạo nên hình ảnh Nguyễn Công Trứ trong tâm thức bạn đọc, với diện mạo riêng không giống ai, khó so sánh với bất cứ một ai trên văn đàn Việt Nam. Trong các chủ đề khác mà ngòi bút Nguyễn Công trứ tham gia khai thác cùng với các thi gia Việt Nam khác thì xem ra ông Nguyễn có nhiều địch thủ mạnh hơn mình. Nói về thế thái nhân tình mà trong đó đồng tiền, óc vụ lợi chi phối tất cả thì trước Nguyễn Công Trứ ba thế kỉ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói cô đúc hơn và thấm thía hơn. Diễn tả tâm trạng bi phẫn, bất đắc chí của con người tài cao đức trọng nhưng không áp dụng được vào đâu, không thể thực hiện được mảy may những hoài bão của mình thì cùng thời với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát còn đạt thành tựu đặc sắc hơn. Châm biếm đạo đức xã hội hủ bại, lột mặt nạ lũ hiền nhân quân tử giả dối ngự trị trong xã hội thì Hồ Xuân Hương đanh thép hơn, sắc bén hơn. Phỉ báng thói đời lố lăng, ô trọc thì Nguyễn Khuyến, Tú Xương cụ th
Trang 1Thơ “hành lạc” của Nguyễn Công Trứ Với dòng thơ “an lạc” thế giới
Phạm Vĩnh Cư
Trong di sản văn học không đồ sộ lắm về số lượng, nhưng khá đa dạng về chủ đề, thể tài củaNguyễn Công Trứ có một mảng sáng tác rất đặc sắc, lâu nay vẫn được gọi là thơ văn “cầunhàn hưởng lạc” hay là thơ văn “hành lạc” Đã gần hai thế kỉ, từ thế hệ này qua thế hệ khác,chúng được lưu truyền rộng rãi trong công chúng độc giả trí thức Việt Nam, được tán thưởng
và bình phẩm nhiều và chính chúng đã góp phần rất to lớn tạo nên hình ảnh Nguyễn CôngTrứ trong tâm thức bạn đọc, với diện mạo riêng không giống ai, khó so sánh với bất cứ một
ai trên văn đàn Việt Nam Trong các chủ đề khác mà ngòi bút Nguyễn Công trứ tham giakhai thác cùng với các thi gia Việt Nam khác thì xem ra ông Nguyễn có nhiều địch thủ mạnhhơn mình Nói về thế thái nhân tình mà trong đó đồng tiền, óc vụ lợi chi phối tất cả thì trướcNguyễn Công Trứ ba thế kỉ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói cô đúc hơn và thấm thía hơn Diễn
tả tâm trạng bi phẫn, bất đắc chí của con người tài cao đức trọng nhưng không áp dụng đượcvào đâu, không thể thực hiện được mảy may những hoài bão của mình thì cùng thời vớiNguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát còn đạt thành tựu đặc sắc hơn Châm biếm đạo đức xã hội
hủ bại, lột mặt nạ lũ hiền nhân quân tử giả dối ngự trị trong xã hội thì Hồ Xuân Hương đanhthép hơn, sắc bén hơn Phỉ báng thói đời lố lăng, ô trọc thì Nguyễn Khuyến, Tú Xương cụ thểhơn, chua cay hơn Nói lên nỗi buồn muôn thuở của nhân sinh, bi kịch của kiếp người thìngòi bút Nguyễn Du sâu sắc, thống thiết hơn nhiều Nhưng khẳng định nhu cầu hưởng thụcủa con người, nâng nó lên thành cả một triết lí có sức thu phục nhân tâm thì không mấy ailàm được như Nguyễn Công Trứ Đây chính là điểm mạnh, điểm độc đáo của ông, và chínhnơi đây, Nguyễn Công Trứ gặp gỡ, giao tiếp mãnh liệt với thời đại ngày nay, con người hômnay, với lí tưởng nhân sinh mà người Việt Nam và cả loài người đang quan tâm
Đáng tiếc, trong những năm qua, cái phần rất lí thú, rất đặc sắc này trong di sản NguyễnCông Trứ còn bị nhìn nhận thiên lệch và đánh giá hời hợt, chưa thoả đáng Chỉ xin trích dẫn
một tư liệu làm bằng chứng Trong bộ Lịch sử văn học Việt Nam, phần Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX (1), tác giả Nguyễn Lộc đã dành hẳn một chương đểgiới thiệu thân thế sự nghiệp, phân tích thơ văn Nguyễn Công Trứ Chương sách này chứađựng nhiều nhận định đúng đắn và sâu sắc ở nhiều trang, đề cập tới những khía cạnh phứctạp, đầy mâu thuẫn trong nhân cách, hành trạng Nguyễn Công Trứ, tác giả đã có một cáchnhìn rất thấu đáo, “tri kỉ” với đối tượng của mình Chẳng hạn, nói về việc Nguyễn Công Trứtrấn áp các cuộc nổi loạn của nông dân, tác giả nhấn mạnh : “Nguyễn Công Trứ bao giờ cũngđinh ninh rằng việc mình làm là vì dân vì nước” Vì thế cho nên “Nguyễn Công Trứ một mặttham gia đàn áp các phong trào nông dân khởi nghĩa, mặt khác ông lại hết sức chăm lo cuộcsống đói nghèo của họ” Hay đây, một chân lí nữa mà tác giả khẳng định : “Nguyễn Công trứlàm việc tận tụy suốt đời Trước đây, nhiều lúc người ta thiên lệch khi nói đến nhân cách củaNguyễn Công Trứ Họ chỉ thấy ở ông một con người phóng túng, ngông nghênh, về già cònlấy vợ trẻ mười tám đôi mươi mà quên mất Nguyễn Công Trứ là một ông quan rất thanh liêm
và chính trực” Phân tích thơ Nguyễn Công Trứ, tác giả tán dương chủ nghĩa lạc quan, tinhthần tích cực nhập thế ở những bài thơ nói về “chí nam nhi” và nhận xét khá tinh tế rằngtrong quan niệm về “nam nhi” của Nguyễn Công Trứ không chỉ có ý thức về bổn phận đốivới “thân, quân” mà còn có ý thức về vai trò và giá trị của cá nhân mình “Mầm mống những
bi kịch trong cuộc đời Nguyễn công Trứ chính là ở đó” Thế nhưng, chuyển sang phần thơvăn “hành lạc” của Nguyễn công Trứ, tác giả khẳng định dứt khoát và thẳng thừng : “Nhận
Trang 2định về triết lí hành lạc của Nguyễn Công Trứ, chúng ta thấy nó bao hàm một nội dung hoàntoàn tiêu cực, có tính chất đồi truỵ, không một điểm nào còn có ý nghĩa trong cái triết lí ấy.
Có thể nói đó là sự kết hợp tư tưởng hư vô chủ nghĩa với tư tưởng khoái lạc chủ nghĩa củagiai cấp thống trị trong giai đoạn suy tàn” Tác giả cho rằng Nguyễn Công Trứ sa vào “hànhlạc”, ca ngợi thú ăn chơi là vì bất mãn với triều đình nhà Nguyễn, bất mãn với thời cuộc
“Quá trình diễn biến tư tưởng của Nguyễn Công Trứ từ quan niệm chí nam nhi đến triết líhành lạc là quá trình sụp đổ hoàn toàn của lí tưởng xã hội ở nhà thơ này”
Không bàn sâu về nhân cách của Nguyễn Công Trứ liên quan đến triết lí “hành lạc” (nhâncách ấy tất nhiên là không hoàn thiện, có những điểm đáng chê trách, cũng như ở hầu hết tất
cả mọi người, có điều là những phẩm giá sáng chói ở Nguyễn Công Trứ là một sự thật lớnhơn và như một triết gia phương Tây đã nói, “con người ưu việt không phải là con ngườikhông có khuyết điểm, mà là con người có nhiều ưu điểm”), chỉ xin lưu ý tới hai điều Thứnhất, những nhận định khắt khe như trên về triết lí hành lạc trong thơ Nguyễn Công Trứ mâuthuẫn rõ rệt với giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mĩ của những bài thơ ấy mà người thưởng thức
nào không có định kiến cũng cảm nhận thấy Cầm kì thi tửu, Chơi xuân kẻo hết xuân đi, Yêu hoa, Chữ nhàn, Thích chí ngao du, Uống rượu tự vịnh, Hành tàng, Bài ca ngất ngưởng và cả Tuổi già cưới vợ hầu là những bài thơ hay, có bài rất hay, mà như đã nói ở trên, cha ông
chúng ta thuộc giới trí thức thượng lưu đã truyền tụng tán thưởng từ lâu, trước khi thơNguyễn Công Trứ được xuất bản và bình phẩm trên sách báo Sự chọn lọc của nhân dân từđời này qua đời khác ít khi sai lầm và phải được các nhà nghiên cứu, phê bình tính tới ở đâycần nhắc đến cả những giai thoại dân gian về tính đa tình của Nguyễn Công Trứ Những giaithoại rất hóm hỉnh và đầy cảm tình với nhà thơ ấy cũng mâu thuẫn với cái nhìn khắc nghiệt ởmột số giới đối với Nguyễn Công Trứ Và khi sự đánh giá của một hoặc của cả một thế hệnhà phê bình mâu thuẫn với sự chọn lọc ấy thì rất nên xem xét lại để đi đến những nhận địnhmới thoả đáng hơn, chuẩn xác hơn Trong văn học cổ của chúng ta, thơ văn “hành lạc” củaNguyễn Công Trứ không phải là hiện tượng phức tạp, khó kiến giải duy nhất Thơ Hồ XuânHương còn phức tạp hơn, hóc búa hơn Và càng từ bỏ những định kiến về chúng, càng ápdụng nhiều góc độ, phương pháp luận nghiên cứu mới, nhưng luôn luôn tính tới sự chọn lựathẩm mĩ của cha ông, chúng ta càng tiến gần hơn tới nhận thức chân xác hơn về những giá trịvăn hoá ấy
Điều thứ hai mà chúng tôi đề nghị lưu ý là không có một cứ liệu lịch sử hoặc văn bản nàocho phép khẳng định rằng những bài thơ “hành lạc” của Nguyễn Công Trứ đa số được làmvào giai đoạn cuối đời của ông và là sản phẩm của sự bất mãn, chán chường đối với công
danh hoạn lộ, một kiểu phản ứng tiêu cực đối với xã hội đương thời Trong cuốn Thơ văn Nguyễn Công Trứ (2), GS Trương Chính sắp xếp đa số thơ “hành lạc” vào giai đoạn thứ nhất
- “thời bạch diện thư sinh” - trước khi ra làm quan Thực ra, như ông viết, một số bài có thểđặt vào bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời Nguyễn Công Trứ Do đó, ta có thể nói rằngNguyễn Công Trứ suốt đời làm thơ “hành lạc” Và cũng như vậy, sẽ không xa chân lí, nếu tanói rằng hầu như suốt đời, trong cuộc sống cũng như trong sáng tác, Nguyễn Công Trứ vừa
“hành đạo”, vừa “hành lạc”, vừa “làm” vừa “chơi” Giữa “hành đạo” và “hành lạc”, giữa cái
“làm” và cái “chơi” ở Nguyễn Công Trứ có sự gần gũi, thống nhất khá kì thú, xin được nóiđến sau Bây giờ ta hãy xác định nội dung và tinh thần chữ “hành lạc” ở Nguyễn Công Trứ Trước hết, cần nói đến một yếu tố mới, khá đậm đặc ở thơ văn Nguyễn Công Trứ so vớiquan niệm “hành lạc” trong văn học cổ điển ở nước ta và ở Trung Quốc Đó là yếu tố diễm
Trang 3tình, sắc tình Nếu trong văn chương “nghiêm chỉnh” được truyền thống Nho giáo sùng mộ
“hành lạc” là “bầu rượu túi thơ”, là “ngao du sơn thuỷ”, là “cầm kì thi họa” với người tri kỉđồng giới, tức là các thú tiêu khiển thanh cao và tao nhã, thì trong cái “hành lạc” ở NguyễnCông Trứ có yếu tố tình dục, có những khao khát khoái lạc xác thịt đằng sau và bên cạnhnhững thú vui tinh thần Chính điều này làm cho không phải mọi người xưa nay đều ưaNguyễn Công Trứ và cho đến bây giờ những người theo quan niệm đạo đức khe khắt vẫn choông là “tục” và “suy đồi”.Yếu tố hiếu sắc, nhục dục ấy trong thơ Nguyễn Công Trứ đa phầnđược thể hiện rất tế nhị, được che đậy rất có nghệ thuật, nhưng cũng có khi được bộc lộ trơtrẽn Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng trong thơ Nguyễn Công Trứ, cái nhục dục khôngbao giờ biến thành cái dâm dục, không bao giờ có cái không khí “tính dục bao trùm tất cả”như trong nhiều bài thơ Hồ Xuân Hương, hay nói đúng hơn là những bài thơ mang tên HồXuân Hương Cái nhục dục bản năng trong thơ Nguyễn Công Trứ được kiềm chế và chi phốibởi những yếu tố có tính chất văn hoá : tinh thần thanh lịch, chất tài tử hào hoa phong nhã,thị hiếu thẩm mĩ sành sỏi, tinh vi, không chấp nhận tất cả những gì là thô bỉ, xô bồ, là xác thịttrần trụi
Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các, cho người biết tay.
Tài tình dễ mấy xưa nay !
Đọc thơ “hành lạc”, thơ nói về thú uống rượu, thú hát ả đào, thú đánh tổ tôm của NguyễnCông trứ, ta không thể không ngạc nhiên trước cái khẩu khí hào mại, trước cái cảm hứng anhhùng không giả tạo tí nào mà tác giả đã đưa vào những chủ đề tưởng chừng rất vặt vãnh vàkhông xứng đáng ấy
Sách có chữ “nhân sinh thích chí”
Đem ngàn vàng chác lấy tiếng cười
Phong lưu cho bõ kiếp người
Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy,
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù !
Không thể hiểu chữ “chơi” ở đây theo nghĩa hiện thực dung tục, như là lối ăn chơi trác tángbạt mạng, bán trời không văn tự “Cuộc chơi”, “tiếng cười” ở đây mang màu sắc hội hè rõràng, chúng khẳng định mình quyết liệt trước hiện thực cuộc sống thường nhật có sức mạnh
đè bẹp, trước trí khôn thông thường, trước lối sống ki bo góp nhặt của người đời, trước lễgiáo, tục lệ nghiêm trang chán ngắt trong xã hội Chúng đòi cho con người một cuộc sốngthứ hai, một thế giới thứ hai
Nhân sinh bất hành lạc,
Thiên tuế diệc vi thường.
Con người sống trên đời cần chơi và phải biết chơi Nâng tư tưởng “hành lạc” lên thành triết
lí sống, Nguyễn Công Trứ biểu lộ tính nhân bản rất sâu sắc và anh minh, và tỏ ra “đồng thanhtương ý, đồng khí tương cầu” một cách lạ lùng với thời đại ngày nay khi con người ngàycàng cần cảm thấy có nhu cầu thể hiện mình không chỉ như một sinh vật tinh khôn (homosapiens), sinh vật chế tạo (homo faber) v.v , nhưng còn như một sinh vật chơi (homoludens) Chỉ cần nhắc đến vai trò của thể thao và các cuộc thi thể thao trong đời sống nhânloại hôm nay là rõ
Trang 4Tinh thần thao lược, tinh thần thi tài đua sức, tinh thần thượng võ, mã thượng tiềm ẩn rấtphong phú trong thơ Nguyễn Công Trứ Cái “chơi” trong thơ ông hoàn toàn không phải là sựphóng dục buông tuồng, ngược lại, nó đòi hỏi một sự làm chủ bản thân cao độ, sự hun đúc ýchí, mài rũa tài nghệ không ngơi Trong sự “chơi”ấy, đằng sau cái say mê là sự tỉnh táo, đằngsau cái hăm hở là sự bình tĩnh, bên cạnh chí hiếu thắng là sự sẵn sàng chấp nhận thất bại, thái
độ “nhập cuộc” nghiêm túc cực độ song hành với cái nhìn thanh thản, nhẹ nhõm, cười cợt đốivới “cuộc chơi” Triết lí “hành lạc” trong thơ Nguyễn Công Trứ, xét về cốt lõi, đồng nghĩavới một triết lí nhân sinh sâu rộng hơn đã nảy sinh và tồn tại hàng ngàn năm ở phương Đôngcũng như ở phương Tây - triết lí “an lạc”, trong đó chữ “an” có ý nghĩa tinh thần, ý nghĩa chủquan nặng hơn ý nghĩa vật thể khách quan Cái “an” hiểu theo nghĩa ấy là điều kiện tiênquyết để cho con người hưởng được cái “lạc”, tức là đạt được mục đích sống
Ta sẽ hiểu rõ hơn triết thuyết “hành lạc” trong thơ Nguyễn Công trứ nếu đem đối chiếu vớitriết thuyết “hành đạo” cũng được thể hiện rất rõ nét trong thơ ông ở Nguyễn Công trứ, chữ
“hành đạo” theo quan niệm Nho giáo (sự ra giúp đời, làm bổn phận với nước với dân) đượcbao trùm bởi một ý niệm khác mà ông gọi bằng nhiều chữ : “chí khí anh hùng”, “chí namnhi”, “nợ tang bồng”, “nợ nam nhi” Thực hiện chí nam nhi, trả sạch nợ tang bồng là lẽ tồntại của con người trong trời đất Vậy thì giữa lẽ tồn tại ấy với sự “hành lạc” có quan hệ gìkhông ? Một từ - chìa khoá trong một bài thơ tứ tuyệt của Uy Viễn tướng công đã làm sáng
tỏ vấn đề :
Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi,
Vạn sáu tiêu nhăng hết cả rồi !
Nhắn con tạo hoá xoay thời lại,
Để khách tang bồng rộng đất chơi !
Té ra cả “hành lạc” lẫn “hành đạo’, cả sự hưởng thú vui lẫn việc thực hiện sứ mệnh củangười anh hùng trên đời đều là sự chơi, cuộc chơi Trong cuộc chơi kéo suốt đời ấy, conngười luôn luôn phải dốc hết sức mình mưu cầu thắng lợi, vững tin rằng cuộc chơi có ýnghĩa, đồng thời biết ứng phó bình thản, cao tay với những rủi may do “hoá nhi đa hí lộng”đem lại (người chơi với trời đất thì trời đất cũng chơi lại với người !) Bậc anh hùng trượngphu vì vậy vừa khao khát công danh, vừa “vô cầu”, “yên sở ngộ”, vừa hăng say nhập thế, vừabiết thanh thản xuất thế, vừa biết “hành” vừa biết “tàng”, coi hành tàng về thực chất khôngkhác gì nhau (“hành tàng bất nhị kì quan”) Hiển vinh hay bị sỉ nhục, thành đạt hay thất bại -người trượng phu đều chấp nhận một cách thản nhiên
Linh khâm bảo hợp thái hòa,
Sạch không trần lụy ấy là thần tiên
Vào vòng cương toả chân không vướng,
Tới cuộc trần ai áo chẳng hoen.
Ý chí ấy, quyết tâm ấy được khẳng định trở đi, trở lại trong thơ “hành đạo” của NguyễnCông Trứ, và xem ra ông đã thực hiện được ý chí ấy bằng cả cuộc đời mình, đó là niềm kiêuhãnh của ông Theo chúng tôi, các nhà nghiên cứu ở ta, bắt đầu từ Nguyễn Bách Khoa trở đi,
áp dụng hơi cứng nhắc phương pháp xã hội học duy vật lịch sử, đã nhấn mạnh quá mức tâmtrạng bi quan, yếm thế ở Nguyễn Công Trứ từ khi ông gặp bế tắc trên đường hoạn lộ, phảicáo về hưu Nhiều sáng tác của Nguyễn Công Trứ trong giai đoạn này nói lên tinh thần khác
hẳn Chỉ một Bài ca ngất ngưởng cũng đủ cho thấy vẫn cái khí phách cứng cỏi ấy, vẫn cái
bản lĩnh cao cường ấy, vẫn cái tự cao tự đại, coi thường khen chê của người đời ấy - tất cả
Trang 5đều không giống tí nào cái tâm lí thất bại chủ nghĩa oán đời, cay cú, hằn học với đời Trongbài thơ nói trên cũng như ở nhiều thi phẩm khác, Nguyễn Công Trứ vừa diễu cợt người đời,vừa diễu cợt bản thân mình Tiếng cười tự trào xuyên suốt qua sáng tác Nguyễn Công Trứ từbuổi thiếu thời đến tuổi già nua là biểu hiện của năng lực làm chủ bản thân phi thường, nhờnăng lực ấy mà ông mới có thể ngẩng cao đầu đi qua mọi thăng trầm, biến cả cuộc đời mìnhthành một cuộc chơi đẹp, cuộc chơi cao tay, nêu gương sáng cho hậu thế Tiếng cười tự trào
đã đạt hiệu quả tuyệt mĩ trong bài thơ “hành lạc” cuối mùa của Nguyễn Công Trứ : Tuổi già cưới vợ hầu Nếu không có sự tự diễu cợt mình một cách rất hóm hỉnh, rất duyên dáng như
thế thì bài thơ sẽ rất dễ rơi vào cái trụy lạc, cái dâm đãng nhơ nhuốc Nhưng với tiếng cười tựtrào lanh lảnh, từ bài thơ lại toát lên một tính người phóng khoáng, một chủ nghĩa nhân bảnquảng đại và bao dung, vượt xa ra ngoài khuôn khổ cái đạo lí “khắc kỉ phục lễ” khô cứng vàhẹp hòi
*
* *
Trong văn học Việt Nam, Nguyễn Công Trứ là hiện tượng độc đáo có một không hai Trựcgiác nói với chúng ta rằng ông cũng không giống hẳn một ai trên văn đàn thế giới Trong thơmình, cụ Nguyễn nhiều lần ngưỡng mộ nhắc đến Khuất Nguyên, Lí Bạch, Tô Thức, nhưng rõràng cụ khác họ ở nhiều điều cơ bản Thể ca trù của ta và những bài thơ ca trù diễm tình củaNguyễn Công Trứ có chịu ảnh hưởng gì của từ khúc Đường - Tống không ? Các nhà TrungHoa học của chúng ta sẽ phải giải đáp câu hỏi này Nếu nói riêng về thơ “hành lạc” củaNguyễn Công Trứ thì chắc không dễ nào tìm thấy những hiện tượng tương đồng với chúngtrong thơ cổ Trung Quốc với quan niệm “văn dĩ tải đạo” chi phối cảm hứng sáng tác của cảcác thi nhân nhập thế theo tư tưởng Khổng - Nho hay xuất thế theo tư tưởng Lão - Trang.Nhưng nếu ta nhìn sang những nền văn hoá khác - những nền văn hoá lấy con người với tất
cả những nhu cầu tự nhiên của nó làm thước đo vạn vật thì sẽ thấy ở đấy đã rất sớm hìnhthành những dòng thơ ca với những môtíp chủ đạo gần gũi với thơ “cầu nhàn hưởng lạc” củaNguyễn Công Trứ và nhiều nhà thơ cổ điển khác của nước ta ấn Độ và Ba Tư từ ngàn xưa đãcống hiến cho loài người nhiều thi sĩ kiệt xuất ca ngợi niềm vui sống trên đời, ca ngợi nhữnglạc thú trần gian của con người; những thi nhân ấy đã tìm thấy nguồn thi hứng vô tận trongrượu và tình yêu, trong rượu - thi - ca - nhạc - vũ - ái tình, đem những sướng vui đích thực ấyđối chọi với cái vinh hoa phù phiếm, giả dối của bọn vương giả, cái giàu sang loè loẹt của lũtrọc phú Chỉ cần nhắc đến những tên tuổi lừng lẫy như Hafiz (Ba Tư), Surdas, Mirza Galib(ấn Độ) cũng đủ thấy được cả dòng chảy lớn lao này
Ở châu Âu, từ thời kì Hi - La đã hình thành hẳn một dòng thơ hưởng lạc rất được hâm mộmang tên vị thuỷ tổ của nó - nhà thơ Hi Lạp Anacréon Những bài thơ của Anacréon còn lưutruyền được đến ngày nay miêu tả ông như một ông già râu tóc bạc phơ mê say những cô gáitrẻ và luôn luôn bị các cô ấy phản bội hoặc ruồng bỏ vì các chàng thanh niên cường tráng.Lời và giọng thơ tình của Anacréon vừa thống thiết lại vừa bông lơn, khiến người đọc ViệtNam liên tưởng tới cụ Nguyễn Uy Viễn sống 25 thế kỉ sau Anacréon và ở một khu vực vănhoá hoàn toàn khác biệt Anacréon đã khởi xướng cả một trường phái thơ với rất nhiều môn
đệ bắt chước ông, vịnh hoạ ông, Cái triết lí hưởng lạc trong dòng thơ Anacréontique vớiniềm đam mê tuổi trẻ, sắc đẹp đan thoa một cách đầy hóm hỉnh với một cái nhìn thanh thảnnhẹ nhõm đối với đời người ngắn ngủi phù du, đối với thế sự chìm nổi, thất thường Dòngthơ ấy sau này đã gặp gỡ và được đơm hoa kết trái thêm bởi triết học épicure épicure dạy
Trang 6con người không lẩn tránh việc đời, cả những việc quốc sự, biết hưởng thụ những lạc thú trênđời, trong đó có lạc thú tình ái, nhưng biết đặt lên cao hơn hết sự yên tĩnh tự tại của tâm hồn.Chính sự thanh trong yên tĩnh không thể khuấy động, sự độc lập không thể xâm phạm ấy củatinh thần mới đảm bảo cho con người một cuộc sống không đau khổ và sợ hãi, với những thúvui không thể tước đoạt Hấp thụ tư tưởng minh triết của épicure, dòng thơ Anacréontique từhưởng lạc phát triển thành dòng thơ “an lạc” hùng vĩ với những tác giả rất lớn như Théocrite,Virgile, Horace Đến giai đoạn này, nó đã tiếp thu vào nội dung và nguồn cảm hứng mộtmôtíp mới, vô cùng quan trọng, làm cho nó trở nên gần gũi với thơ ca phương Đông : đó làniềm vui thú thưởng ngoạn thiên nhiên, thú vui sống giữa lòng thiên nhiên; nó lấy cuộc sống
tự nhiên thuần phác ấy làm tiêu chuẩn đối lập với lối sống bon chen danh lợi cung đình vàcuộc sống xô bồ, huyên náo nơi đô thị
Bị lãng quên trong mười thế kỉ trung cổ, dòng thơ Anacréontique lại hồi sinh mãnh liệt ởchâu Âu vào thời Phục Hưng Đại diện nổi bật nhất cho dòng thơ này ở Pháp là đại thi hàoRonsard Như mọi người đều biết, bước vào con đường văn nghiệp, Ronsard đã thất bại liêntiếp trong những tác phẩm tụng ca, trường ca sử thi chiều theo thị hiếu của vua chúa, quan lạithời ấy, và ông đã chỉ thực sự tìm thấy mình, nhận ra đường đi cho mình khi, học tập Horace
và Anacréon, ông chuyển sang sáng tác thơ tình, thơ “hành lạc” Những bài thơ Ronsard gửinhững người tình có thật và tưởng tượng : Cassandre, Marie, Hélène chứa chan tình yêuđời, say mê những lạc thú tự nhiên trên đời, phỉ báng đạo đức khắc khổ giả dối theo tư tưởngtôn giáo thần quyền đã làm cho tên tuổi Ronsard trở nên bất tử, bên cạnh Rabelais,Montaigne cùng các văn hào nhân văn chủ nghĩa khác
Sau thời Phục Hưng, dòng thơ Anacréontique ở châu Âu không bị cạn đi, mà phát triển đivào chiều sâu, với những biến tướng tương hợp với bản sắc của từng nền văn học dân tộc.Trong số hàng chục, hàng trăm tác giả tiếp tục truyền thống thi ca này xin chỉ nhắc đến haithi sĩ sống và sáng tác cùng thời với Nguyễn Công Trứ và trong tiểu sử cũng như tính cách
có nhiều nét tương đồng với ông Người thứ nhất không phải là ai khác mà là Goethe “Conngười Đức vĩ đại nhất” này (như Ăngghen gọi ông) đã mấy chục năm trời làm quan cho mộttiểu vương quốc nhỏ tí xíu, sống giữa vòng vây của những viên quan lại không thể nhìn ratầm vóc khổng lồ của ông Nhưng Goethe đã không cho phép mình bất mãn, không cho phépmình trút bỏ nghĩa vụ “vi thần” Nhiệt tình hoạt động rất sôi nổi ở Goethe đi đôi với tinh thầnbình thản gần như của thần tiên trước mọi biến cố trong xã hội và trong đời riêng đã làm chorất nhiều người quen biết ông phải ngạc nhiên Trong sáng tác, ông cũng bộc lộ đầy đủ tinh
thần épicure Vào những năm 1790, sau khi đi du lịch ý về, Goethe viết chùm thơ Những khúc bi ca La Mã Không có một chút gì là bi thương trong những “khúc bi ca” ấy Ngược
lại, từ đầu đến cuối, chúng chan chứa niềm hoan lạc của tinh yêu, hoan lạc tinh thần và xácthịt Những dòng thơ miêu tả bàn tay nhà thơ say sưa thám hiểm những cao nguyên và thungkhe trên thân thể người tình, rồi giữa đêm gõ nhịp thơ trên những đốt xương sống của ngườiyêu đang say giấc nồng - lúc mới xuất hiện đã gây sốc cho cả xã hội thượng lưu để một thế kỉ
sau được tán thưởng như là những viên ngọc của thơ ca Đức Hai mươi lăm năm sau Những khúc bi ca La Mã, cuộc gặp gỡ với thơ Hafiz và thơ “hành lạc” Ba Tư đã kích thích Goethe đối tác bằng cả một tập thơ dày - Đông - Tây thi tập - ở đây cái hoan lạc của sự giao hoà thân
xác và tâm hồn được nâng lên thành nguyên tắc tối cao và đồng thời là hạnh phúc viên mãnnhất của nhân sinh Những dòng thơ ngợi ca rượu – nhạc - thơ - ái tình, ca ngợi những lạc thú
Trang 7của tình yêu đã thấm được khí phách hào mại mà chúng ta đã quen bắt gặp trong thơ “hànhlạc” của Nguyễn Công Trứ.
Cũng vào những năm đầu thế kỉ XIX ấy, ở Nga có một nhà thơ lớn khác - Derzhavin mà
Belinski gọi là “người cha của các thi nhân Nga” - đã cho in một tập thơ mang tiêu đề Những bài ca Anacréontiques Derzhavin có một số phận và tính cách còn giống Uy Viễn tướng
công của chúng ta hơn cả Goethe : ông cũng trải qua một tuổi trẻ hàn vi, cũng văn võ songtoàn, cũng tham gia đàn áp khởi nghĩa nông dân, cũng làm quan dưới ba đời vua, cũng bachìm bảy nổi vì tính nết ngang tàng và cương trực, cũng đạt tới chức thượng thư rồi bị phếtruất vì quá chăm lo cho lợi ích quốc gia, lo hơn cả hoàng đế và cả triều đình Thế thìDerzhavin đã phản ứng như thế nào đối với tất cả những bất công, những sự bạc đãi vàngược đãi ấy ? Suốt đời ông vẫn hăm hở hoạt động ở bất cứ chức vị nào Còn trong thơ thì
ta hãy đọc bài thơ Tự nhủ trong tập thơ Những bài ca Anacréontiques của ông :
Lăng xăng mãi làm gì
Gánh vác bao phận sự
Để thế gian sỉ vả
Chỉ vì ta thẳng ngay.
Việc đời thôi để người khác làm thay,
Thiếu gì những hiền nhân khôn khéo.
Cho bản thân họ tài lo liệu
Lại uốn lưỡi giỏi trước đế vương.
Đã mang tiếng ẩm ương
Vì thật thà bộc trực,
Thì an phận nơi tư thất
Bồ bịch với nàng thơ và lũ đàn bà.
Thần Erot cũng bồng bột như ta,
Từ nay không xa rời nhau một phút !
Uống gọt, ăn ngon, ngủ say tít !
Thà cứ lười chảy thây,
Thù oán thôi đừng gây,
Việc quốc sự từ nay chừa nhé,
Thi thoảng mới quấy rầy thần công lí.
Từ nay tuần ba buổi
Chơi vui với nàng thơ
Rồi mau mau cáo từ
Vào giường ôm vợ trẻ.
Một bài thơ “hành lạc” của một người dị tộc, dị giáo mà giả sử được đọc, chắc Nguyễn CôngTrứ của chúng ta cũng không chê là kém cỏi Lời lẽ, cách diễn đạt có phần còn mộc mạc, dân
dã hơn thơ cụ Nguyễn, nhưng tứ thơ, thần thơ thì tương hợp, hai cốt cách, hai bản ngã có thể
so sánh với nhau
Thơ “hành lạc” cũng như toàn bộ di sản văn học của Nguyễn Công Trứ còn đương chờ đợiđược phát hiện lại, việc làm này sẽ rất hiệu năng cho sự chấn hưng thực sự văn hoá nước nhà.Trên đây chỉ là vài suy nghĩ của một độc giả mới phát hiện ra cho mình thơ Nguyễn CôngTrứ và còn thiếu nhiều hiểu biết về nền văn hoá cổ truyền của dân tộc, mong được cácchuyên gia chỉ giáo và bổ khuyết
Trang 81994
_
(1) NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1977
(2) NXB Văn học, Hà Nội, 1983
Thơ rượu ngày xuân.
Vếu váo câu thơ cũ rích
Khề khà chén rượu hăng xì
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Rượu và thơ là hai thứ dường như có duyên với nhau, chúng thường đi bên nhau tạo thànhmột cặp sóng đôi Từ xa xưa, con người đã biết dùng rượu, và không biết từ thuở nào conngười mới biết làm thơ và thưởng thức thơ
Tuy chưa có ai có thể chứng minh được rằng, thơ và rượu xuất hiện trong khoảng thời giannào Nhưng khi con người đã biết dùng rượu để cúng tế trời đất, tổ tiên ông bà, dùng rượu đểgiao lưu với nhau, cùng nhau đối ẩm, và khi con người biết làm thơ và biết thưởng thức thơ,cùng nhau uống rượu, ngâm thơ, họa thơ thù tạc với nhau thì chắc chắn rằng, xã hội đó đãphát triển, vượt ra khỏi cuộc sống của bộ tộc, đã tiếp cận được luồng ánh sáng văn minh củanhân loại
Mặc dù vậy, trong quá trình tìm kiếm, truy tìm nguồn gốc của các sự vật hiện tượng thì người
ta đã chứng minh được rằng, ngay từ thời xa xưa, khi các tộc người còn sống hoang dã, cònchưa hề biết đến sự giao lưu thì mỗi tộc người đều có cách làm rượu riêng của mình Rượu
đã gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người Vui thì có rượu chia vui, buồn thì có rượugiải buồn Tang ma, cưới hỏi, giỗ chạp, lúc sống, lúc chết… con người ta đều "cặp kè" vớirượu
Có rượu ắt phải có say, và chỉ một từ say thôi thì con người có biết bao từ ngữ để chỉ cáchiện tượng say đó Dĩ nhiên ai uống rượu mà không say? Nhưng tùy uống ít hay nhiều, tùythể chất mỗi người mà có các kiểu say khác nhau: say ngà ngà, say chếnh choáng, say tít cùlèo, say nhừ tử, say bò, say nhè, say tí bỉ… rồi hết thấy đường, cho chó ăn chè cũng là để chỉhiện tượng say
Ở phương Đông, mà cụ thể là Việt Nam và Trung Quốc, rượu và thơ thường gắn chặt vớinhau, có rượu là có thơ và ngược lại Để chứng minh điều này ta thử điểm qua một số gươngmặt, một số nhà thơ của hai nước ắt sẽ biết Dường như có rất ít nhà thơ không uống rượu, dĩnhiên cũng có rất nhiều người thích uống rượu nhưng không biết làm thơ Nhưng cũng cóđiều may mắn là, mặc dù không biết làm thơ nhưng họ biết thưởng thức thơ
Trang 9Nói chung, rượu và thơ là hai thứ gắn bó máu thịt với nhà thơ nói riêng, văn nghệ sĩ nóichung Nói về việc uống rượu thì xem ra phải gọi Lưu Linh là tổ sư mới đúng, ông thườngngồi trên xe hươu kéo với vò rượu lớn, uống triền miên, sai người vác cuốc theo sau bảo chếtđâu thì chôn đấy Ông uống nhiều đến nỗi mà ngày nay những kẻ sáng say chiều xỉn thườngđược “ban” cho một cái hiệu là: Đệ tử Lưu Linh.
“Có một tiên sinh đại nhân lấy trời đất làm một buổi, muôn năm là chốc lát, lấy mặt trăngmặt trời làm cửa ngõ, thiên hạ làm sân làm đường, đi không thấy vết xe, ở không cần nhàcửa, màn trời chiếu đất thích thế nào thì làm thế ấy Lúc ở thì nâng chén, cầm bầu Lúc đi thìvác chai, xách nậm Lúc nào cũng chỉ có việc rượu chè không thèm biết đến gì nữa
Có một công tử và một vị quan sang nghe thấy tiên sinh như thế bèn tìm đến Kẻ thì trừngmắt, nghiến răng Người thì giảng giải lễ phép, lời phải trái xôn xao như đàn ong vậy
Lúc đó tiên sinh ôm vò, ghé vào thùng rượu tợp một chén, mồm đầy rượu, vểnh râu, dangchân gối đầu vào men, lăn lưng vào bã, không nghĩ không lo, hớn hở vui thú, ngất ngưỡngsay sưa, thoáng rồi lại tỉnh Lắng tai cũng không nghe tiếng sấm sét Nhìn kỹ cũng khôngthấy hình núi Thái Sơn Nóng, rét đến thân không biết, lợi dục cảm đến tình cũng không hay.Cúi xuống trông vạn vật rối rít ở trước mắt khác nào như bèo nổi bập bềnh trên sông Giang,sông Hán
(Huống nữa) hai vị xin đứng cạnh, tiên sinh bây giờ chỉ xem như con tò vò sâu róm mà thôi”.(Tử đức tụng - Lưu Linh, Nguyễn Sĩ Đại dịch)
Kế đến phải kể là Lý Bạch, ông rất thích uống rượu, ông uống rượu rất nhiều mà làm thơcũng rất hay Không biết có phải rượu là chất kích thích cho nguồn cảm hứng sáng tạo củaông hay không mà thơ của ông hay đến thế Hay đến nỗi người đời gọi ông là "thi tiên"
Do đó có một giai thoại kể rằng: Một hôm, Lý Bạch uống quá chén, say bí tỉ, ôm vò rượuvừa đi vừa uống, đi đến cạnh bờ sông, thấy ánh trăng vằng vặc soi xuống mặt sông đẹp quá
Lý Bạch là người yêu trăng, và khi có rượu vào thì tình yêu đối với trăng càng dâng lên cao
độ Đang chếnh choáng hơi men, Lý Bạch ngỡ là nàng Hằng Nga đã xuống thế gian, nên ôngnhảy xuống để ôm trăng Ngờ đâu dòng nước ấy đã cướp đi mạng sống của ông Liên quanđến rượu và trăng, Lý Bạch có một bài thơ rất nổi tiếng, đó là bài Nguyệt hạ độc chước (mộtmình uống rượu dưới trăng):
Trang 10Chơi xuân cho kịp mà!
Ta hát, trăng bồi hồi
Ta múa, bóng rối loạn,
Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thì hư vậy say thì cứ say
Đất say đất cũng quay cuồng
Trời say trời cũng đỏ gay ai người
Trời đất còn say huống hồ gì con người Quá ra thì Tản Đà nói trời đất cũng say không phải
là một lời nói ngoa Vì gần đây các nhà thiên văn học trên thế giới đã xác định được trongcấu trúc, nhân của mặt trời cũng có nhiều phần tử rượu (cồn) Trách gì Tản Đà nói: Đất say,trời say Rượu ngon cũng cần có bạn hiền, cần có người đối ẩm, để chia sẻ những nỗi niềmtâm sự trong cuộc đời, để cùng nhau ngâm vịnh, thoát khỏi cuộc sống trần tục để tâm hồnđược lâng lâng đi vào cõi mộng hay để quên đi những phiền não của cuộc đời Về điều nàythì Trần Huyền Trân thể hiện rất rõ trong bài Với Tản Đà về bạn rượu, bạn thơ:
Cụ hâm rượu nữa đi thôi
Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu
Rồi lên ta uống với nhau
Rót đau lòng ấy và đau lòng này
Tôi say?
Thưa, trẻ chưa đầy???
Cái đau nhân thế thì say nỗi gì
Lòng còn gánh nặng bao nhiêu khối tình
Huống tôi mái tóc đang xanh
Trang 11Vâng, tôi trăm thác ngàn ghềnh còn đi
Với đời một thoáng say mê
Còn hơn đi chán về chê suông đời
Rót đi rót rót đi thôi
Rót cho tôi cả mấy mươi tuổi đầu
Nguồn đau cứ rót cho nhau
Lời say sưa mới là câu chân tình
Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc cũng không tránh khỏi say sưa Ai cũng biết Nguyễn Duvới tác phẩm Truyện Kiều nổi tiếng, thế nhưng, có ai biết Nguyễn Du cũng là một tửu đồ Cóđiều Nguyễn Du uống rượu là để ngẫm sự đời Sự đời với bao nhiêu vinh nhục, vui sướng vàkhổ đau Nguyễn Du sợ lúc sống không được uống, chết rồi không biết có ai tưới rượu lên
mồ mình không? Tâm sự đó của Nguyễn Du được thể hiện qua bài Đối tửu:
Ngồi xếp, bên sông, chếnh choáng say
Tả tơi hoa rụng với rêu bày
Sinh thời, không cạn xong vò ấy
Lúc chết, mồ ai tưới rượu đây?
Xuân sắc dần thay oanh vút mất,
Tháng ngày thấm thoát, tóc hoa dày,
Trăm năm ví được luôn say khướt
Mấy nỗi cuộc đời nẫu ruột thay
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
Dở duyên với rượu khôn từ chén
Chót nợ cùng thơ phải chuốt lời
Bích Khê thì uống rượu thâm trầm hơn, ông nhã nhặn mời khách ngồi lại uống với mình, bởi
vì cuộc đời vui được bao lâu Uống cho quên nỗi sầu nhân thế, uống cho cuộc đời bớt khổ
Trang 12đau Lúc ấy chỉ có nhà thơ và khách Hay chỉ có anh và em, nhớ làm chi chuyện bể khổ ởhồng trần:
Trăm năm vui được mấy hồi
Rượu ngon còn đó còn nòi vương tôn
Ngựa hồng nghỉ dặm quan sơn
Thuyền bơi: sen động, khe đờn, trăng lên
Chén này khách hãy cạn liền
Ngó đôi mắt ngọc thì quên bụi hồng!
Tóc mây chảy suối hương nồng
Em là Ngọc Nữ Kim Đồng là ai?
Chén rồi lại chén nữa đây
Núi không, đêm tịnh, nhỡ say chớ sầu
Xuân thơm tuy hết mặc dầu
Rượu ngon còn mãi khách lưu lại cùng
(Mỹ tửu ca)
Nói về quan hệ giữa rượu và thơ, người xưa còn có câu “phi tửu bất thành văn”, vì người taquan niệm rằng, uống rượu vào sẽ kích thích sự sáng tạo, mang lại nguồn cảm hứng cho việcsáng tác thơ ca Hay táo bạo hơn, người ta còn ví: “Nam vô tửu như kỳ vô phong” (nam nhi
mà không uống rượu như cờ không có gió) Cờ không có gió thì ủ rũ, buông xuôi, làm saobay phất phới được Cho nên, nam mà không uống rượu thì cũng tiu nghỉu, mất sức sống,không hăng hái được
Ngày nay rượu đã trở thành một thứ hàng hóa không thể thiếu được trên thị trường toàn cầu.Trong chừng mực nào đó rượu làm cho con người thêm sức sống, tăng sự hưng phấn, tăngtình giao hảo và yêu đời hơn Và không biết từ bao giờ, rượu đã trở thành đề tài muôn thuởcho văn nghệ sĩ mọi thời
Cho nên, ngày xuân bạn bè thăm viếng nhau không thể không nâng cốc chúc mừng, mừngmột năm mới với bao vận hội mới, với bao thắng lợi mới Tuy nhiên, uống đến thân tàn madại, đến tan cửa nát nhà, gây phiền hà cho bạn bè, làng xóm thì quả thật không nên Vâng,ngày xuân hãy cùng nhau nâng cốc chúc mừng, nhưng đừng quá chén, hãy cùng nhau cạnchén chung tình
Trang 13cười, một cử chỉ nói năng, một thời gian tích tắc Người xưa có nói “Bát bửu” nghĩa là Támmón phép của tiên, trong đó có bầu rượu của Lý Thiết Quả Người ta lại truyền tụng trên đời
có bốn thú chơi cao sang mà tao nhã Nguyễn Công Trứ ngợi ca đó là Cầm-Kỳ-Thi-Tửu
Dở duyên với rượu khôn từ chén
Chót nợ cùng thơ phải chuốt lời
Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó
Đàn còn phím trúc tính tình đây
Rồi nữa, nhiều người ngâm nga câu:
Bán dạ tam bôi tửu
Bình minh nhất trảm trà
(Trước khi ngủ lúc nửa đêm uống ba chén rượu, sáng dậy lúc mặt trời mọc uống một ấm trà)
Đó là một thú sinh hoạt ổn định văn hoá của các nhà nho và dần lan tràn ra các bậc cao nhântài tử, quan lại quyền quý, rồi trở thành sinh hoạt bình dị trong dân gian Bạn bè gặp nhau,liên hoan hội hè, đình đám lễ tết, cúng bái không thể thiếu chén rượu Ngày Tết mà trong nhàchưa có bình rượu là chưa có tết Đường ngõ làng quê trong mấy ngày tết mà không có ngườisay lảo đảo, không có hương rượu uống, hương cây thắp lẫn vào trong trời đất thì còn gì làtết nữa Hình như rượu có phần xác và phần hồn Phần xác để tay nâng, miệng nhấp, phầnhồn để tinh thần nghiêng ngả bay lên Thế là rượu gặp thơ, thơ gặp rượu Thơ và rượu cứ nhưtrai gái tung hứng cho nhau
Thời nay có biết bao nhiêu thứ rượu, nhưng rượu gạo - rượu nút lá chuối - rượu quê thìkhông ai bỏ qua Rượu quê mang hồn quê thấm đẫm trong cây quả, mây gió hồn làng vớinhững vườn tược, tre trúc, đồng ruộng, ao chuôm Một thứ dân rượu, quan rượu
Trời cho lá chuối làm quà
Nhúng vào ngất ngưởng một tà áo khô
Khoác chai chai hoá sông hồ
Khoác say say tận một pho sách dày
…
Bao giờ nải nải buồng buồng
Vẫn còn chiếc mũ cánh chuồn rượu quê
(Nhớ chai rượu có nút lá chuối của Đỗ Vinh)
Bằng sự biến hoá lắm màu mè, rượu đã đi vào thơ sống một đời sống thật thà và mộng mị
Có người mượn rượu để mạnh dạn nói điều mà không say không nói ra được “Lời say thường nói thật” Ở đây có cả loại mượn rượu để chửi đổng Chửi đổng có chỗ cá nhân nhưng có ý nghĩa xã hội được túa ra tung tẩy Nguyễn Vỹ trong lúc say đã viết bài thơ Gửi Trương Tửu để nói cái chí khí uất của mình.
Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa
Bực chí thành say mấy cũng vừa
Mẹ cha cái kiếp làm thi sỹ
Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ…
Nhà thơ Phạm Thái có bài thơ Yết Hậu về rượu để xoá nhoè đi tất, để ngự lên hiện thực mà
Trang 14… be …
Vũ Hoàng Chương công bố hẳn một triết lý kêu gọi say mà quên hết cái sự đời “Rượu, rượu nữa và quên, quên hết” Tản Đà một thi nhân lãng tử bước qua cái vòng cổ điển mực thước
để bắc cầu cho thơ mới, hé mở một thế giới quan tự do
Bạc tiền gió thoảng thơ đầy túi
Danh lợi bèo trôi rượu nặng nai
Nhà thơ nổi tiếng đời Đường Lý Bạch cũng đã gửi cái chí lớn, cái tình lớn của mình vàorượu
Thánh hiền đều uống rượu
Thôi cần chi thần tiên
Ba bôi thông đạo lớn
Một chén hợp tự nhiên
Rượu và thơ làm cho ta hứng khởi, nhập hồn vào thiên nhiên, nâng tầm con người lên cõi cao
trọng Bài thơ Giang Thượng Ngâm của Lý Bạch, xin được dịch nghĩa ra văn xuôi cho rõ ý:
… Ngoài cái thú uống rượu ăn chơi còn có cái thú văn chương nữa Từ phú Khuất Nguyên còn như mặt trời mặt trăng cao treo mãi Chứ đài tạ của các Vua Sở thì hỏi có còn gì? Chỉ còn những đồi núi chơ vơ mà thôi Lúc rượu say nồng, hạ bút xuống có thể làm rung động cả những núi Ngọc Nhạc Khi bài thơ làm thành thì vui cười có thể làm át cả cảnh tiên ở gò Thương Châu Ngẫm ra công danh phú quý ở đời chỉ là những cái bóng thoáng qua…
Rượu dẫn người ta đến tận cùng suy ngẫm về cái lẽ ở đời Rượu là nơi giãi bày mọi tâm sựbuồn vui, đẩy lùi sầu muộn làm ta sống mạnh mẽ trong nhiều cảnh huống thử thách Cao Bá
Quát có bài thơ Uống rượu tiêu sầu hé mở một triết lý nhân sinh.
…Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu
vị đắng chát, mặn nhạt, độ nóng lạnh của rượu
Nhà thơ Nguyễn Duy ngày Tết Mời vợ uống rượu:
Vợ cười chưa uống đã say
Ngọt ngào thì nổi, đắng cay thì chìm
Nguyễn Bính có bài thơ Giời mưa ở Huế thấm đẫm nỗi buồn qua chén rượu lạnh: …Sầu nghiêng mái quán, mưa tong tả/ Rượu ứa men lành lạnh ngón tay… Có người nói “ma rượu”
có cái đúng nhưng nghiêng về tà rượu Còn cái ma ở đây là cái bóng lúc có lúc không, lúc
hữu hình lúc vô hình Lúc như Nguyễn Bính “Chén sầu đổ ướt tràng giang/ Canh gà bên nớ giăng sang bên này” Lúc như Trịnh Thanh Sơn “Nắng tắt mà em không đến/ Anh ngồi rót biển vào chai” Bao nhiêu vẻ cảm động, hứng khởi của rượu nhưng mới chỉ rượu trong chai trong chén Cao hơn, ta còn thấy rượu là cả nỗi lòng Ưu thời mẫn thế là bầu tâm sự của hai
thế hệ thi nhân Tản Đà và Trần Huyền Trân
Cụ hâm rượu nữa đi thôi
Be này đã cạn hết rồi còn đâu
Rồi lên ta uống với nhau
Trang 15Rót đau lòng ấy vào đau lòng này.
(Mộng uống rượu với Tản Đà của Trần Huyền Trân)
Thơ kỳ lạ, rượu cũng kỳ lạ Rượu ngấm vào da thịt người thì làm lung lay tinh thần Rượungấm vào thơ thì thơ dẫn người đi đến tận cùng vui buồn và ôm lấy vô vàn ảo ảnh để sống
hết cái cõi đời thực ở dương gian Cho nên thi sĩ Nguyễn Bính mới có Một chiều quan tái: Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy
Anh uống cả em và uống cả
Một trời quan tái mấy cho say
Và ai đó nữa trong dân gian bông đùa với cõi trường sinh:
Tay tiên nâng chén rượu đào
Không uống thì tiếc, uống vào thì say
Người nghệ sĩ dân gian kia là ai mà khi các văn nhân thi sĩ mê vào thơ, say vào rượu thì lại
có câu thơ về rượu, tỉnh táo và hóm hỉnh đến vậy./
Văn hóa rượu
“Văn hóa uống rượu” của người Việt Nam xưa và nay - ( 16/05/11)
Chén vui nhớ buổi hôm nay
Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Thức uống của người Việt mình chỉ có rượu và trà
Ngày xưa các nhà Nho mời rượu nhau gọi là “Chén tạc, chén thù” Chủ rót rượu mời kháchgọi là “tạc”, khách đáp lễ gọi là “thù” Trong các cuộc vui có uống rượu, người xưa thườngđọc thơ, bình thơ, nên có chữ “bầu rượu, túi thơ”
Ðua chi chén rượu câu thơ
Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao
(Nguyễn Trãi, Gia Huấn ca)
Ngày xưa rượu trước tiên dùng trong lễ nghi: vô tửu bất thành lễ Trong đời thường, rượutrong tiệc tùng, ăn uống, bạn bè gọi là nhậu Người đàn ông Việt Nam xưa nay tự cho rằngNam vô tửu như kỳ vô phong, và lắm người tự hào mình là đệ tử của Lưu Linh, một nhân vậtvăn học nổi tiếng về tửu lượng
[Lưu Linh: Người đời Tấn (210-270), quê đất Bái (nay thuộc Từ Châu, Giang Tô) Là mộttrong “Trúc Lâm thất hiền”: Kê Khang , Nguyễn Tịch, Sơn Ðào , Hướng Tú, Lưu Linh,Nguyễn Hàm, Vương Nhung.]
Cho nên nói không sợ quá lời là rượu thuộc phạm trù văn hóa Việt Nam!
Việt Nam là dân tộc có truyền thống uống rượu Người Việt Nam uống rượu khi ăn, mang ýnghĩa tương sinh hài hòa, thuận theo nguyên lý “âm dương phối triển” của Phương Ðông
Rượu Ta rượu Tây
Rượu ta - quốc tửu, là rượu trắng, nấu bằng gạo/nếp thơm, đựng trong chai, đậy nút bằng láchuối, bằng nút “cặt bần”, không nhãn hiệu, không ghi nơi sản xuất Rượu trắng được chưngcất theo phương cách thủ công trong dân gian có từ lâu đời rồi Nên sách Lãnh Nam tríchQuái mới viết: “Dân ta lấy gạo làm rượu”; còn sứ thần nhà Tống đi sứ qua nước ta về có nóirằng: “Lê Hoàn vừa hát vừa uống rượu ” (Lê Hoàn là người đánh thắng giặc Tống, lên làmvua tức Lê Ðại Hành 980-1005)
Trang 16Theo dòng lịch sử, rượu ngon nổi tiếng của ta là rượu làng Vân (Bắc Ninh), Nguyên Xá(Thái Bình), Trương Xá (Hưng Yên), Nga Mi (Hà Tây), Quảng Xá (Thanh Hóa), Bắc Hà(Lào Kai), Kẻ Diên (Quảng Trị), Phụng Hiệp (Cần Thơ), Gò Ðen (Long An), Củ Chi HócMôn (Sài Gòn-Gia Ðịnh), vân vân Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí, rượu Kim Long ở HảiLăng, Quảng Trị ngon hơn hết.
Hiện nay Việt Nam có bốn loại rượu trắng ngon nổi tiếng là rượu làng Văn xứ Bắc, KimLong ở Quảng Trị, Bàu Ðá Bình Ðịnh và đế Gò Ðen Long An
[Tên gọi rượu đế trong Nam xuất xứ từ chuyện người dân giấu rượu lậu dưới cây đế, sợ TàuCáo phạt Cây đế là một loài cây giống cỏ năn, cỏ lác, cỏ tranh, lau sậy mọc cao khỏi đầu.Cây đế tên khoa học Saccharum spontaneum, có thân cứng nhỏ, lá dày cứng cắt rất đau, mọcthành bụi hoang có tốc độ mọc rất nhanh, có nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long.]
Rượu đế Gò Ðen, Củ Chi còn gọi là nước mắt quê hương, nấu bằng nếp, có nồng độ cao.Rượu đế được đánh giá là ngon nhứt phải trong vắt, rót sủi tăm bọt nhỏ lăn tăn, uống có mùi
vị thơm, ngọt, cay, có độ cồn tương đối cao từ 39 đến hơn 45 độ, uống vô thấy êm dịu vàkhông gây nhứt đầu chóng mặt Theo dân gian ngày xưa rượu cho vào chai hạ thổ, chônxuống đất 100 ngày có màu cánh kiến, uống ngon hơn rượu thường
Rượu đế trong miền Nam thường uống trực tiếp, hay dùng ngâm với các loại thuốc Bắc thuốcNam, theo các bài thuốc gia truyền nổi tiếng như Minh Mang toa
Rượu đế ngâm động vật hoặc một phần của động vật được ưa chuộng như rắn, tắc kè, bìmbịp, hổ cốt, cá ngựa Các loại động vật hầu hết được ngâm sống, sơ chế hay nấu chín Rượurắn Phụng Hiệp Cần Thơ có tiếng là ngon từ năm 1960 tới nay vẫn còn
Khi người Pháp mới đến Việt Nam, họ cấp phép cho dân nấu rượu cổ truyền, khuyến khíchngười Việt uống rượu để thâu thuế Ðến khi các nhà máy sản xuất rượu ra đời, Pháp ra lịnhcấm dân nấu rượu, ngừng cấp giấy phép nấu rượu gia đình, thành lập tổ chức gọi là “Tàucáo”, một loại thanh tra thuế, chuyên đi bắt phạt dân nấu rượu
Nhà có môn bài bán rượu của công ty rượu Ðông Dương (Société franậaises des Distilleries
de l'Indochine) treo bản trước cửa có hai chữ “RA” (Régie d'Acool - Sở rượu) Rượu củacông ty rượu Ðông Dương, dân mình gọi là rượu Phông-tên, bởi công ty do A.Fontaine thànhlập năm 1901, rượu nầy nấu bằng gạo bắp lạt hơn rượu ta, nhưng giá cao 16 xu mỗi chai sovới rượu ta chỉ có 14 xu
Người Pháp mang vào Việt Nam ngoài súng đạn, còn có rượu chát
Nhiều người mình bắt chước cách uống rượu Tây Như rót rượu vào ly phải ở mức 1/2-2/3 ly
để giữ được hương thơm của rượu, như khi uống rượu khai vị và rượu tráng miệng chỉ nêndùng với lượng vừa phải, vân vân
Người Việt cũng học nguyên tắc dùng rượu Tây là “rượu nào thức ăn nấy”
Như:
- Rượu chát đỏ: uống buổi tối thường là rượu nguyên chất không pha, đôi khi hơi chát, đượcdùng cho những bữa tiệc thịnh soạn hoặc với những thức ăn như thịt bò, thịt heo, thịt rừng,vịt, ngỗng và mì xào
- Rượu chát trắng: nhẹ hơn và có vị thơm, có thể dùng nguyên chất, vị chát hoặc ngọt và rấtthơm Nên dùng rượu chát màu trắng với các loại thức ăn như: gà ta, gà tây, cá, tôm cua sò,thịt jambon và thịt bê
- Rượu hồng: nhạt hơn rượu đỏ, có thể dùng nguyên chất hoặc được pha ngọt Những rượunày dùng với jambon, gà nướng, tôm sò cua, thức ăn nhanh và những món ăn buffet
Trang 17- Rượu khai vị: dùng như rượu cocktail hoặc dùng trước bữa ăn để làm tăng thêm sự ngonmiệng Rượu cocktail nhẹ thường được làm từ trái cây.
- Rượu tráng miệng: dùng sau bữa ăn là mạnh hơn và ngọt hơn rượu dùng trong bữa chánh
Có thể chỉ dùng rượu này không hoặc dùng thêm với trái cây, bánh nướng, phô-mai trángmiệng, bánh cake hoặc bánh quy
Trong các buổi tiếp đón, chiêu đãi chánh thức, lời chúc thường được nói sau khi đã dùngmón tráng miệng, thường là khoảng 10-15 phút sau khi buổi tiệc bắt đầu Thường thì chỉnâng ly chớ không chạm Nếu chạm ly thì đàn ông luôn để ly của mình thấp hơn ly của phụ
nữ Trong khi nghe lời chúc thì không nên nói chuyện, không rót rượu Người nói lời chúcthường là đứng, tất cả mọi người giữ ly rượu trong tay và cũng thường là đứng
Phụ nữ, nếu không phải là cô dâu, thì thường là tiếp nhận lời chúc bằng cách mỉm cười, ngồi
và đôi mắt nhìn xuống trong khi tất cả đều đứng Phụ nữ giữ ly rượu trong tay mình và chưauống, nếu tất cả chưa uống hết Làm ngược lại sẽ được coi là người không khiêm tốn, khôngbiết cách uống rượu!
Những lời chúc rượu quan trọng phải hướng về những nhân vật quan trọng Thông thường làuống hết 100 phần trăm Trong những buổi tiệc long trọng, đôi khi người ta uống xong, ném
ly vào đá hoặc ném xuống sàn nhà
Nói chung, từ chối uống rượu để chúc cho ai đấy, được hiểu là thiếu tôn trọng đối với người
đó Nếu một người không thể uống được thì cũng nên làm ra vẻ như mình đang uống Nếunâng ly nước lã thì không được nói lời chúc
Chúc rượu tiếng Anh: Cheers!
Tiếng Pháp: Santé!
Nếu nói tiếng Việt thì thường người ta nói: Chúc sức khỏe! Bình dân thì nói trăm phần trăm.Vô! Vô!
Từ đâu mà có lời chúc rượu?
Lời chúc rượu có từ thời Hy Lạp cổ đại Thuở đó người ta quan niệm rằng ăn uống-ẩm thựcbao gồm cả ngũ quan là thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác và thính giác Thông thường khi
ta uống rượu thì MÀU rượu mắt đã nhìn, MÙI rượu mũi đã ngửi, Vị rượu lưỡi đã nếm, bàntay RỜ ly rượu nhưng THANH rượu tai chưa nghe
Thế là cần phải chạm ly/cốc để rượu phát ra âm thanh của nó Người ta còn nói rằng cùngmột cái ly, nhưng với những loại rượu khác nhau, khi chạm ly ta sẽ nghe ra những “tiếngrượu nói” khác nhau! Không biết đúng vậy không?
Ngày nay, những lời chúc rượu không quá ư lịch thiệp, cao kỳ như người xưa nữa, màthường là ngắn gọn hơn, hoặc là vui nhộn nhiều hơn Trong những cuộc vui, người nói lờichúc rượu có thể là đọc một câu thơ, một câu danh ngôn hoặc là kể một câu chuyện vui, mộttình huống vui nhộn nào đấy để làm cái cớ bắt vào lời chúc Nói chung, tính chất nghiêm túchay vui nhộn của lời chúc phụ thuộc vào tình huống của cuộc vui và đối tượng mà lời chúchướng đến