1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHAI THÁC và QUẢN lý cói ở HUYỆN NGA sơn THANH HOÁ

29 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 309 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay toàn huyện đã có 3 công ty - 10 xí nghiệp, hợp tác xãchuyên sản xuất kinh doanh mặt hàng chiếu Cói và các sản phẩm từ Cói chưa kể các công ty nội, ngoại thương cấp tỉnh toàn huyệ

Trang 1

KHAI THÁC VÀ QUẢN LÝ CÓI Ở HUYỆN NGA SƠN - THANH HOÁ

A MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề.

Một sản phẩm nổi tiếng của người Thanh Hoá là chiếu Cói Nga Sơn.Chiếc chiếu nổi tiếng này đã đi vào ca dao của người Việt Nam

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà đông

Nga sơn là một vùng đất nằm sát biển, cách thành phố Thanh Hoá 40 km

về hướng Đông Bắc Với 8 xã nằm dọc bờ biển là một vùng triều mầu mỡ, ngoàitrồng Sú vẹt mảnh đất này chỉ trồng được một cây duy nhất là Cói, dùng để dệtnên chiếu Nga Sơn

Theo lời các vị cao niên kể lại thì ngày xưa chiếu Nga Sơn cùng với chiếuKim Sơn là một trong những sản vật cống hiến triều đình, được các bậc vuachúa ưa dùng Cói Nga Sơn nổi tiếng là sợi nhỏ, dai, óng, mượt Điều đặc biệthiếm có nơi nào có thể trồng được loại Cói dài như vùng này, loại Cói chuyêndùng để dệt nên những tấm chiếu xề vừa đẹp vừa bền

Tuy hiện nay trên thị trường có rất nhiều sản phẩm cùng loại bằng chấtliệu nhựa, mây, gỗ, tre song nhờ chú trọng việc nâng cao chất lượng sản phẩm,nhạy bén với thị trường, đặc biệt là sự ưu việt về giá cả, chủng loại và công dụng

mà mặt hàng Cói đã chiếm lĩnh được thị trường, kim nghạch xuất khẩu chiếm tỷtrọng đáng kể Đến nay toàn huyện đã có 3 công ty - 10 xí nghiệp, hợp tác xãchuyên sản xuất kinh doanh mặt hàng chiếu Cói và các sản phẩm từ Cói (chưa

kể các công ty nội, ngoại thương cấp tỉnh) toàn huyện có 35% số hộ chuyên sảnxuất hàng Cói, mỗi năm chuyên cung cấp cho thị trường hơn 2 triệu là chiếu

Nga Sơn là một vùng đất cơ diện tích thâm canh cây Cói rất rộng khoảng

3 nghìn Ha, sản lượng mỗi năm đạt 28 nghìn tấn Điều kiện thuận lợi này đãgiúp cho rất nhiều lao động có việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống kinh tếcho người dân nơi đây

Các sản phẩm từ cây Cói càng ngày càngđa dạng và được ưa chuộng trênthị trường, được các công ty nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản chú ý đến

Vì thế nó đã tạo công ăn việc làm cho người dân nơi đây Nhưng hiện nay nghề

Trang 2

nước không hợp tác với ta, ảnh hưởng đến đời sống người dân nơi đây Việckhai thác và quản lý cây Cói cần được chú trọng, đòi hỏi các nhà quản lý đưa rabiện pháp để giúp người dân tránh được những thất thoát đó.

2 Mục tiêu:

Sơ lược về điều kiện tự nhiên xã hội huyện Nga Sơn

Làm rõ hiện trạng khai thác và quản lý cây Cói ở huyện Nga Sơn

Đánh giá tình hình sản xuất, chế biến, bảo quản cây Cói và tình hình thịtrường

3 Giới hạn và phạm vi

Nghiên cứu vùng Cói ở huyện Nga Sơn tại một số xã: Nga Tân, NgaThạch

Vấn đề khai thác và quản lý Cói ở huyện Nga Sơn

B TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Sử dụng tài liệu sẵn có: Thu thập từ các tài liệu sẵn có, bài báo cáo, cácbài báo

Khảo sát, thu thập tài liệu mới: phỏng vấn, quan sát

C PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUĐến khảo sát một số vùng (xã) của huyện Nga Sơn

Thu thập số liệu liên quan từ người dân

Sử dụng một số tài liệu liên quan về tình hình phát triển, quản lý vùng CóiThu thập số liệu bằng phương pháp đo đạc, tính toán

D NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: gồm 4 chương

CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN NGA SƠN

1.1 Đặc điểm chung về huyện Nga Sơn:

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên:

a, Vị trí địa lý:

Trang 3

Nga Sơn là huyện đồng bằng ven biển nằm về phía Đông Bắc tỉnh Thanh Hoá cótoạ độ địa lý 190 56’ 23” đến 200 4’ 10” vĩ độ Bắc; 1050 54’ 45” đến 10600 04’ 30” kinh độ Đông.

Trung tâm huyện là thị trấn Nga Sơn, cách thành phố Thanh Hoá 40 km

về phía Đông Bắc, cách thị xã Bỉm Sơn 10 km về phía Đông Nam và cách thị xãKim Sơn (Ninh Bình) 17 km về phía Nam

Huyện Nga Sơn có ranh giới tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Kim Sơn, huyện Hà Trung

- Phía Đông giáp huyện Kim Sơn và biển Đông

- Phía Tây giáp huyện Hà Trung

- Phía Nam giáp huyện Hậu Lộc

Huyện có 26 xã và 1 thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên là 15053.99 Ha(theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2005) bằng 1.35 % diện tích tự nhiêntoàn tỉnh, mật độ dân số 943 người/km2 (ở tỉnh 326 người/km2)

Nga Sơn được bao bọc bởi các con sông: Sông Càn, sông Hoạt, sông Lèn

và biển Đông, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thuỷ Giao thôngđường bộ có quốc lộ 10 chạy qua địa phận huyện dài 18 km theo hướng BắcNam, tạo thành trục giao thông chính, tỉnh lộ 13 nối quốc lộ 10 tại xã Nga Mỹ(gần thị trấn Nga Sơn) dài khoảng 5 km trên địa phận của huyện Cầu Báo Văn(nằm trên tỉnh lộ 13) nối với quốc lộ 1A và cầu Điền Hộ (nằm trên quốc lộ 10)nối với tỉnh Ninh Bình Với hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận lợi, thông suốt làđiều kiện cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp, giao lưu trao đổi hàng hoá

để góp phần thúc đẩy kinh tế của huyện phát triển

b, Địa hình và khí hậu:

- Địa hình: Do quá trình bồi đắp của phù sa sông biển, toàn huyện có dạnghình lược sóng, tạo thành những dải đất cao thấp xen kẽ nhau, độ cao giữa cácvùng chênh lệch từ 0.3 - 0.5 m và tổng thể nghiêng dần từ Tây Bắc xuống ĐôngNam

Phía Tây Bắc là dãy núi đá thuộc vòng cung Tam Điệp

- Đặc điểm khí hậu:

Trang 4

Nga Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là huyện có địa hình cao, độ dốc chủ yếu (cấp 1 - cấp 3), từ 0 - 150, có hai mùa rõ rệt, mùa hè khí hậu nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam (gió Lào) khô, nóng; mùa đông khô hanh Kết quả đánh giá khí hậu, thời tiết được thể hiện ở bảng 1.1 và đánh giá như sau:

+ Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ trung bình năm 8.566,40, có 5 tháng nhiệt độtrung bình lớn hơn hoặc bằng 250C (các tháng 5, 6, 7, 8), nhiệt độ này thích hợpvới cây trồng nhiệt đới Có 3 tháng nhiệt độ trung bình bé hơn hoặc bằng 200C(12, 1, 2) Đây là nhiệt độ hoàn toàn phù hợp với cây trồng chịu lạnh, là điềukiện thuận lợi để phát triển cây vụ Đông

+ Lượng mưa: Về chế độ mưa theo mùa rõ rệt, tổng lượng mưa trung bìnhnăm là 1589.8 mm, trung bình tháng là 109 mm tuy nhiên lượng mưa phân bốtrong năm ở các tháng không giống nhau Ở Nga Sơn mưa nhiều về các tháng 8,

9, 10 trung bình là 310.5 - 209.5 mm Các tháng này ở những quỹ đất không có

hệ thống tưới, tiêu chủ động thì sản xuất gặp rất nhiều khó khăn, vì thế trongtrồng trọt nhất là trồng Cói lại cần phải chú ý nhiều hơn, cần kết hợp với đặcđiểm của từng giai đoạn phát sinh phát triển của cây Cói để trồng Cói đảm bảocho Cói không bị ngập úng, cũng không bị hạn hán và mặn hoá nhiều, lượngmưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho cây Cói, cho việc thau chua, rửa mặn.Trong tháng lượng mưa cũng phân bố khác nhau, tuần có lượng mưa cao nhất làtuần 2 của tháng 9 (147.2 mm); các tuần có lượng mưa cao hơn 70 m là tuần 2,tuần 3 của tháng 5, tuần 3 của tháng 7; tuần 2 và 3 của tháng 8; tuần 1 và 2 củatháng 9, tuần 1 của tháng 10 Vì vậy cần nắm rò được diễn biến của lượng mưa

để có kế hoạch cho công việc “Thâm canh cây Cói” Ví dụ lúc thu hoạch Cóicần điều kiện là đất trồng phải cạn nước cho cây Cói dai sợi, sợi trắng và trờinắng để cho việc phơi Cói

Nắm được lượng mưa trong năm để có kế hoạch tưới tiêu và áp dụng cácbiện pháp kỹ thuật để tận dụng nó và hạn chế tác hại của nó, và bố trí cây trồngphù hợp nhằm đem lại hiệu suất và hiệu quả kinh tế cao

Trang 5

Bảng 1.1 Đặc điểm một số yếu tố khí hậu - Thời tiết ở Nga Sơn, Thanh Hoá (1990 - 2004)

Tháng

Nhiệt độ 0 0 C Thời gian chiếu

sáng Lượng mưa (mm) Lượng bốc hơi Hệ số thuỷ nhiệt

(K)

Hệ số ẩm ướt (E) Tối cao Tối thấp Trung

bình

Giờ nắng Ngày

nắng

Tháng cao nhất trên ngày

Cao nhất Thấp nhất Trung

bình 1

1604.1 277.2

16.5 16.7 13.8 24.0 53.3 73.7 68.0 112.5 188.6 215.5 149.9 182.8 203.3 219.4 245.0 239.1 310.5 189.9 209.5 290.6 39.1 218.0 33.5 99.8 109.0 157.3

1589.9 1877.0

57.1 99 55 86 45.9 100 62 88 38.8 99 55 91 48.6 99 67 91 78.0 97 62 86 111.6 96 54 81 103.8 98 58 82 76.9 97 65 85 71.6 98 62 86 89.9 98 54 83 91.0 98 45 81 75.8 98 52 82 74.1 98 58 85

889.0

0.03 0.04 0.08 0.09 0.22 0.17 0.22 0.13 0.38 0.27 0.14 0.06

0.28 0.41 1.38 1.40 2.42 1.34 1.96 3.18 4.33 2.33 1.02 0.44 1.71 20.49

Trang 6

Nhiều nhất từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau có tỷ lệ trên 10% Tháng xuấthiện gió mùa Đông Bắc nhiều nhất là tháng 12 với tỷ lệ là 16%.

Theo Trần Đức Hạnh và CTV (1997) [20] gió mùa Đông Bắc thổi về gâythời tiết lạnh, khô hoặc ẩm Vì thế trong nông nghiệp nhất là trồng Cói cần chú ýđặc điểm sinh trưởng của cây để đạt được năng suất cao

+ Bão: Là huyện tiếp giáp với biển nên chịu ảnh hưởng của bão Đây lànhững thiên tai mà ngày nay con người chưa chế ngự được Trong 15 năm (1990

- 2004) bão đã xuất hiện ở Thanh Hoá 6 lần, Nga Sơn cũng là nơi phải hứngchịu Năm 2005 cơn bão số 6, số 7 liên tiếp đổ bộ vào Nga Sơn gây hậu quảnghiêm trọng làm thiệt hại mùa màng và tài sản của nhân dân Nhất là cây Cói bịquật đổ gây thất thu cho người dân

Tóm lại: Những đặc điểm khí hậu ở Nga Sơn là trung gian giữa khí hậuBắc Bộ và khí hậu duyên hải Bắc Trung Bộ Chế độ nhiệt, nắng hạn, độ ẩm…Tạo cho Nga Sơn phát triển đa dạng các loại cây trồng theo cơ cấu mùa vụ khácnhau Cũng chính đặc điểm thời tiết 4 mùa trong năm rõ rệt tạo cho người dântrồng được 2 vụ Cói trong năm

Hạn hán, gió nóng, lụt bão gây ảnh hưởng đến độ an toàn của sản xuấtnông nghiệp Điều này đặt ra cho Nga Sơn phải xây dựng cơ cấu cây trồng vàmùa vụ hợp lý để nâng cao tính an toàn, bền vững trong sản xuất

c Chế độ thuỷ văn

Nga Sơn thuộc vùng thuỷ văn triều phía Bắc Chế độ triều là Nhật triềukhông đồng nhất, hàng năm vẫn có ngày bán nhật triều Thời gian triều lên ngắnnhưng xuống kéo dài hơn

Nga Sơn có chế độ thuỷ văn khá thuận lợi cho việc sản xuất Cói Lượngnước tưới tiêu là nhờ các con sông như sông Hoạt, sông Lèn, sông Càn, sông LaiThành - Cà Mau đều ảnh hưởng của thuỷ triều Đặc điểm của thuỷ triều ở đâynhư sau:

Độ lớn thuỷ triều tại sông: lớn nhất 210 260cm, trung bình 130 135cm

Thời gian triều lên: 7 8 giờ

- Thời gian triều xuống: 16 - 17 giờ

Trang 7

Các sông là nguồn cung cấp nước cho nông nghiệp qua hệ thống trạmbơm chính như: Sa Loan, Nga Thiện, Vực Bà… Tuy nhiên về mùa khô lượngnước từ trên thượng nguồn chảy xuống ít, các sông tự nhiên bị cạn kiệt sẽ làmcho đất bị nhiễm mặn Nhưng nhờ thuỷ triều dâng đem một lượng nước ngọt lớncho phép dẫn nước ngọt tới tự chảy không cần động lực và là nguồn nước chocác trạm bơm cung cấp cho tưới tiêu.

Ngoài ra sông đào Hưng Long chảy từ Tây sang Đông có tác dụng tướicho vùng đồng màu, vùng biển và tiêu nước cho vùng đồng chiêm hệ thốngkênh mương ở vùng sản xuất Cói cũng góp phần tiêu thuỷ nhanh chóng

Tóm lại, chế độ thuỷ văn ở Nga Sơn rất thích hợp cho việc trồng Cói

d Đặc điểm về đất

Theo kết quả phan loại đất tỷ lệ 1:1000000 theo FAO - UNESCO năm

2000 [34] thì diện tích là 15053.99 ha, đất dai ở huyện Nga Sơn có 7 loại đấtchính, mỗi loại đất có đặc tính lý hoá học và giá trị sử dụng khác nhau, sau đây

là một số loại đất chính và phân bố như sau (bảng 1.2):

Bảng 1.2: Các loại đất có ở huyện Nga Sơn

-UNESCO

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%) ACfa - h

Đất cát biển bão hoà Basơ

Đất phù sa chua Glây nông

Đất phù sa chua Glây sâu

Đất mặn điển hình Glây nông

Đất mặn ít và trung bình Glây

nông

Hapli Ferralic Acrisols Epilthi F Acrisols Eutri Haplic Arenosols Epilgeyi Dystric Fluvisols Endogleyi Dystric F.

E Mollic Salic.F.

E Mollic Salic F.

22.08 381.01 2941.86 5304.48 412.65 3249.01 83.90

0.18 3.07 23.73 42.80 3.33 26.21 0.68

Tổng diện tích tự nhiên: 15093.99 ha

Ao, hồ, sông, suối: 1536.91ha

Núi đá: 1122.09 ha

Trang 8

(Nguồn: Sở tài nguyên môi trường tỉnh Thanh Hoá [34])

1 Nhóm đất xám feralit điển hình (Acfa - 11): diện tích 22.08ha Chiếm0.18% diện tích đất điều tra, đang được trồng cây lâm nghiệp

2 Nhóm đất xám feralit đá lẫn nông (Acfa - 11): Đang được trồng rừng đểbảo vệ đất

3 Nhóm đất cát biển điển hình bảo hoà Basơ (ARh - e)

4 Nhóm phù sa chua Glây nông: Đất này chủ yếu trồng lúa

5 Đất phù sa Glây sâu: trồng lúa, lạc

6 Đất mặn điển hình Glây nông (FLsh - g1): Đất có thành phần cơ giớitrung bình và nặng là chủ yếu, có ở các xã: Nga Liên, Nga Thanh, Nga Thuỷ,Nga Thái, Nga Điền, Nga Tân, Nga Tiến, Nga Phú, Nga Thành Diện tích nàyhiện đang được trồng Cói có năng suất khá cao và một phần nuôi trồng thuỷ sản

1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội:

* Tăng trưởng kinh tế ở huyện Nga Sơn:

Cùng với nhịp điệu tăng trưởng kinh tế của cả tỉnh, kinh tế Nga Sơn trongnhững năm qua đã có những bước phát triển, năm 1990 - 2005 tiếp tục tăng vớitốc độ khá nhưng còn thấp so với trung bình toàn tỉnh Những năm trở lại đây đãđạt mức cao hơn

Sau khi Liên Xô bị tan rã, thị trường truyền thống Đông Âu bị khủnghoảng, khách hàng chủ yếu của mặt hàng chiéu Cói không còn, đã tác động xấuđến sản xuất tiểu thủ công nghiệp của huyện Bước sang giai đoạn 1996 - 2000,với đường lối của Đảng, các cơ chế, chính sách mới phù hợp, đồng thời có thịtrường ở một số tỉnh phía Nam và Trung Quốc đã khôi phục ngành sản xuất Cói

và sản xuất tiểu thủ côgn nghiệp phát triển Do đó tiểu thủ công nghiệp thời kỳnày tăng nhanh hơn cả về giá trị và tỷ trọng Thời kỳ 2000 - 2005 do diễn biếncủa thời tiết, cơn bão số 6, số 7 (2005) đã gây hại nặng nề làm giảm 0.8% so với

2004 Song tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 8.6% Kết quả thể hiện ởbảng 1.3

Trang 9

Bảng 1.3 Tốc độ tăng trưởng bình quân của các lĩnh vực qua các thời kỳ

7.2 7.3

5.30 5.30 11.08 11.08 8.20 8.20

8.6 9.1

7.6 4.4 15.6 15.1 9.2 8.1

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nga Sơn)

Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây mặt hàng chiéu Cói và các sản phẩm

từ chiếu Cói đã thay đổi theo hướng tốt Đó là đã tìm được thị trường đầu tư

* Cơ cấu kinh tế ở huyện Nga Sơn:

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các ngành tiểu thủ côngnghiệp, thương mại, dịch vụ đều tăng cả về giá trị và tỷ trọng trong cơ cấu GDP.Lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản tăng về giá trị nhưng giảm về tỷ trọng trong cơ cấuGDP Tuy vậy, thu nhập thu nhập về nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn Kết quảthể hiện ở bảng 1.4

Bảng 1.4: Cơ cấu kinh tế Nga Sơn qua các thời kỳ

Nông - Lâm - Ngư nghiệp (%)

Công nghiệp - Xây dựng (%)

Thương mại - Dịch vụ (%)

58.814.127.1

56.416.027.6

51.120.028.9

47.624.129.2

* Thực trạng phát triển ngành:

Trang 10

- Nông nghiệp: Là ngành sản xuất chính, giữ vai trò quan trọng trong kinh

tế của huyện, là nguồn thu nhập chính của đại bộ phận dân cư Nhiều năm nay

đã phát triển vượt bậc Đặc biệt từ khi giao ruộng đất lâu dài, các hộ nông dântích cực áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư thâm canh nên năng suất cây trồngtăng lên và ổn định

+ Trồng trọt: trong những năm vừa qua, với cơ chế đổi mới trong nôngnghiệp, nhất là cơ chế giao ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân, đồng thời vớiviệc ứng dụng kỹ thuật (giống, phân…) và thị trường chiếu Cói ổn định đã tạocho ngành trổng trọt phát triển khởi sắc tập đoàn cây trồng chính như lúa, ngô,lạc, chiếu Cói… Nhất là cây Cói được người dân chú ý mở rộng diện tích,chuyển đổi cơ cấu trồng các loại cây khác thay bằng cây Cói, kết hợp với việcgiao thương với các nước như Trung Quốc (bạn hàng truyền thống), Nhật Bản,Nga để xuất khẩu chiếu Cói và các sản phẩm từ Cói Cây Cói đã dần trở lại thế

ổn định và được mở rộng, tạo công ăn việc làm cho các thành phần lao động, vìthế đời sống kinh tế tăng lên rõ rệt

Bảng 1.5: Diện tích các loại cây trồng ở huyện Nga Sơn

10956295070514611

11847375294216568

117522950124615948

110894150149116730

Nguồn: Phòng thống kê huyện Nga Sơn+ Hoạt động Lâm nghiệp: Không đáng kể

+ Chăn nuôi: Tiếp tục phát triển nhanh về số lượng và số lượng nhất làviệc phát triển đàn Bò lai sin chiếm 71% tổng đàn, từng bước đưa chương trìnhnạc hoá đàn Lợn Giá trị chăn nuôi đạt tỷ lệ 23,3% giá trị ngành nông nghiệp

- Nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản: Đây là ngành thế mạnh của huyệnNga Sơn hiện đang được phát triển ổn định

Trang 11

- Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: còn nhỏ bé, chậm phát triển.

- Thương mại và dịch vụ: Nhất là ngành trồng - chế biến - xuất khẩu mặthàng chiếu Cói và các sản phẩm từ Cói

- Cơ sở hạ tầng: Mặc dù là huyện ven biển nằm xa khu trung tâm Tỉnh,nhưng cơ sở hạ tầng của huyện Nga Sơn khá đầy đủ về chất lượng và số lượng,

cơ bản phục vụ tốt cho việc kinh doanh, trao đổi hàng hoá, nông sản trong vàngoài huyện Đây cũng là những thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tếchuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triển nôngnghiệp bền vững:

+ Hệ thống công trình giao thông: Đường bộ chạy qua địa bàn huyện (từBắc xuống Nam) có quốc lộ 10B dài 18 km, bề rộng mặt đường bình quân 8m,nền đường nhựa Tỉnh lộ 13 nối quốc lộ 10 với quốc lộ 1A tại Nga Mỹ, chạytheo hướng Đông - Tây dài 5 km (trên địa bàn huyện), nền đường rải nhựa, bềnặt rộng 7m

+ Hệ thống công trình thuỷ lợi: Hệ thống công trình thuỷ lợi ở Nga Sơnbao gồm các công trình trên kênh mương, các trạm bơm và các công trình trênkênh thuộc xí nghiệp thuỷ nông Nga Sơn quản lý

* Thực trạng phát triển xã hội:

- Dân số và lao động:

- Theo số liệu năm 2005 tổng dân số của huyện là 149096 người, trong đóthành thị là 3235 người, nông thôn là 145861 người bằng 97.63% bình quân 943người/km2, diện tích canh tác bình quân 622m2/người, tốc độ tăng dân số giảmdần, năm 2005 là 0.94%, thấp nhất là thị trấn 0.3%, cao nhất là Nga Điền 1.51%

Toàn huyện có 63.123 lao động chiếm 43.5% dân số trong đó lao độngnông nghiệp 50973 lao động (80.75%) Nguồn lao động của huyện tương đối dồidào Hơn nữa, lao động nông nghiệp mang tính thời vụ, nên thời gian nông nhànchiếm tỷ lệ lớn Vì thế việc giải quyết tạo việc làm cho các thành phần lao độngnày là việc cần thiết nâng cao thu nhập và đời sống kinh tế cho người dân

Vùng đất cát biển Nga Sơn có 62736 người với 25624 lao động Với diệntích đất canh tác bình quân 478 m2/người, là nơi đất chật người đông Vì vậy đòihỏi phải nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng để giải quyết việc làm chongười lao động

Trang 12

Nga Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành tiểu thủ công nghiệpcần phải phát triển tạo công ăn việc làm, thu hút đáng kể thời gian và lực lượngcòn dư thừa trong huyện.

1.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Nga Sơn

Sau khi nghiên cứu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội huyện Nga Sơn nhậnthấy huyện có những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấucây trồng riêng và cơ cấu kinh tế nói chung như sau:

* Những thuận lợi:

Nga Sơn là huyện đồng bằng ven biển có điều kiện phát triển kinh tế đangành như nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, hải sản Trong công nghiệp trồng Cói cung cấpnguyên liệu tại chỗ cho tiểu thủ công nghiệp, tạo công ăn việc làm cho người laođộng

+ Huyện Nga Sơn có hệ thống giao thông thuỷ, bộ giao lưu với bên ngoàithông suốt, thuận tiện Nga Sơn lại gần khu công nghiệp Bỉm Sơn, thị trấn PhátDiệm, trên cơ sở đó dễ dàng nâng cao dân trí, tiếp thu các thông tin nhanh nhạy,ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật dễ dàng, thuận lợi cho việc tiêu thụnông sản, giao lưu hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phát triển nên kinh

tế hàng hoá Đó là tiền đề quan trọng để khai thác thế mạnh, phát triển sản xuấtnông nghiệp

+ Nga Sơn có tiềm năng lớn về quỹ đất, là nơi giao tiếp giữa đồng bằngBắc Bộ và Bắc Trung bộ nên có thể phát triển nhiều loại cây trồng có giá trị, đặcbiệt là trên đất cát biển

+ Nga Sơn có thế mạnh về lao động, có cảnh quan môi trường hấp dẫn,thuận lợi cho việc đẩy nhanh các ngành tiểu thủ công nghiệp

- Những mặt hàng làm được: Trong những năm gần đây, nền kinh tế củahuyện Nga Sơn đã có những bước chuển biến rõ rệt Chỉ số tăng trưởng kinh tếcủa toàn huyện đạt khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực

- Từ ý thức sản xuất nông nghiệp hàng hoá, đất đai đã được khai thác và

sử dụng tốt Một số nơi đã tiến hành “dồn điền đổi thửa”, tập trung ruộng đất, cơcấu đất đai đã có hướng sử dụng hợp lý hơn cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá,nhiều vùng hoang hoá do không do không có nước tưới đã được đem vào sảnxuất kinh doanh

Trang 13

* Những mặt hạn chế cần được quan tâm giải quyết:

+ Nga Sơn nằm vùng Đông Bắc của tỉnh Thanh Hoá, xa khu trung tâmkinh tế chính trị của Tỉnh Quốc lộ 1A không chạy qua, không có cơ sở côngnghiệp của Tỉnh và Trung ương, cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp

+ Mật độ dân số đông, đất đai nghèo dinh dưỡng (nhất là vùng có diệntích đất cát ven biển, nước tưới gặp khó khăn do độ cao và tính chất của đất làgiữ nước kém)

+ Thiên tai, lũ lụt, hạn hán, rét đậm hạn chế sự sinh trưởng của cây trồng

và sản xuất

+ Điều kiện kinh tế còn nghèo, cơ sở vật chất thiếu thốn

+ Trình độ dân trí chưa cao, đặc biệt trình độ thâm canh còn non yếuMặc dù nhiều địa phương thực hiện “dồn điền đổi thửa”, chuyển đổi đâtdai sang một số cây trồng khác có giá trị hơn nhất là cây Cói Nhưng nhìn chungsản xuất nông nghiệp đang còn manh mún, thiếu tập trung, còn mang tính tựcấp, tự túc Do vậy hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa tươngứng với tiềm năng về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế xã hộicủa huyện

Để giải quyết thực trạng này cần làm tốt một số nội dung sau:

- Xúc tiến quá trình hình thành các cụm khai thác và chế biến nông sản,quy hoạch thị trấn, thị tứ, nhanh chóng tạo đà cho việc tăng trưởng GDP ổn định

và vững chắc, thu hút lao động và ngành nghề mới, tạo việc làm ngày càngnhiều cho người lao động

- Đối với sản xuất nông nghiệp tiếp tục thực hiện “dồn điền đổi thửa”, tậptrung ruộng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng để sản xuất lớn, đặc biệt là câyCói, mang tính hàng hoá, gán với chế biến và thị trường tiêu thụ; đồng thời bảo

vệ được môi trường đất đai

Trang 14

CHƯƠNG II KỸ THUẬT TRỒNG VÀ THÂM CANH CÂY CÓI

2.1 Trồng mới, cải tạo phục hoá:

Cây Cói là loại cây trồng một lần, có thể thu hoạch 5 đến 10 năm songviệc thu hoạch còn phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thuỷ lợi và trình độ thâmcanh

Năng suất Cói đạt cao từ năm thứ 2 đến năm thứ 5, sau đó năng suất vàchất lượng sẽ giảm dần

Việc xác định điều kiện để cải tạo phụ thuộc vào chân ruộng, thuỷ lợi…

Do vậy khi cải tạo, phục hoá và trồng mới cần chú ý các điều kiện sau đây:

2.1.1 Chọn móng Cói.

- Chọn móng Cói phải chọng móng tốt, có khả năng phát triển ở vị tríkhác hoặc tại diện tích phục hoá cải tạo, không lấy móng quá già cỗi, sâu bệnh,lộn cỏ dại

- Chọn móng Cói cỏ dày, tránh lấy móng từ các chân ruộng nước tù hãm

Có như vậy khi đem ra trồng Cói nhanh bén rễ và đâm tiêm mạnh

- Đào, nhổ móng cần bảo vệ thâm ngầm, tránh làm móng bị dập, đứt thânngầm Lựa xé mỗi móng 3 đến 5 dảnh Không được lấy móng ở ngoài vùngnước ngọt đưa ra bãi như vậy Cói sẽ bị nhiễm mặn và chết

2.1.2 Kỹ thuật làm đất trồng Cói:

Cói là cây chịu thâm canh, có năng suất lớn Do vậy Cói có thể trồng trênđược nhiều chân đất khác nhau Đảm bảo độ PH từ 6 đến 7, độ mặn 0.1 đến0.2% và độ sâu từng canh tác 50 đến 60cm

Các chân đất tròng Cói phải chủ động khâu thuỷ lợi với phương châm

“tưới tràn, tiêu kiệt”, khi cần thiết Có như vậy mới không bị nước ngâm chân,gốc Cói trắng, sợi chẻ mới có năng suất cao

- Đối với các ruộng nước mặn trong đê cần đảm bảo nước ra vào thườngxuyên để giảm bớt độ mặn trong mùa hanh khô

- Đất bãi ngoài đê, nên chọ bãi có thời gian bồi lắng lâu dài, bùn ổn định

để trồng Cói Tránh trồng Cói trên các bãi bồi lắng chưa ổn định, bùn non Cói sẽlâu bén chân và dễ bị sóng cuốn trôi

Ngày đăng: 31/08/2021, 00:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w