Các polysaccarit quan trọng hơn cả làalginat, carrageenan, agar- agar gọi tắt là agar[12, 20, 21] ở Việt Nam, các chi rong Mơ Sargassum, rong Câu Gracilaria, rong Đông Hypnea, rong Mào
Trang 1Mở đầu Việt Nam có hệ động, thực vật vô cùng phong phú Có
nhiều nguồn gen quý hiếm đặc trng cho khí hậu nhiệt đớinóng ẩm Một trong những điều kiện tạo nên sự phong phú
và giàu có ấy chính là Việt Nam có vùng biển với diện tíchrộng hơn 1 triệu km2 và bờ biển dài hơn 3200 km bao bọchết phía Đông và phía Nam đất nớc Và một trong nhữngnguồn tài nguyên giàu có mà vùng biển ban tặng cho chúng
ta chính là rong biển Có thể nói, tại vùng biển Việt Nam cóhàng trăm loài rong biển thuộc nhiều Bộ, Ngành đã đợc công
bố trên thế giới
ở Việt Nam, hai nguồn rong có trữ lợng lớn là rong Đỏ vàrong Nâu Ngành rong Đỏ (Rhodophyta) có nhiều loài rongphổ biến mà từ lâu chúng không những cung cấp thựcphẩm mà còn là nguồn thu nhập cho c dân sống ven biển
Do tính chất đa dạng về đặc trng thành phần hoá học vàgiá trị dinh dỡng (giàu chất khoáng, axit amin tự do, iot,polysaccarit, các chất kích thích sinh trởng ) nên rong đỏ
và các chế phẩm của nó ngày càng đợc sử dụng nhiều trongcác lĩnh vực kinh tế khác nhau Đặc biệt, một số loài rongCâu còn là nguyên liệu chính cho công nghiệp sản xuấtagar- một loại polysaccarit với rất nhiều công dụng khác nhau
Tuy có vai trò to lớn nh vậy nhng việc nuôi trồng, khaithác, sử dụng rong Câu vẫn đang là một vấn đề đáng bàn.Cha có công nghệ chế biến rong, chỉ mới có công nghệ chếbiến agar ở trình độ thấp và mang nhiều tính chất thủcông Do đó rong Câu nói chung và rong biển nói riêng vẫn
Trang 2cha trở thành hàng hoá, giá trị kinh tế còn thấp Vì vậy nhucầu tiêu thụ rong không lớn, ngời sản xuất cha thu đợc nhiềulợi ích kinh tế nên cha tích cực khai thác và nuôi trồng rongCâu.
Vùng ven biển thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh,rong Câu thờng chỉ để mọc tự nhiên và khai thác làm thức
ăn hoặc để chúng tự tàn lụi, rất phí phạm nguồn lợi Hiệnnay, nhiều ngời dân đã biết đợc một vài lợi ích của chúngnên bắt đầu quan tâm đến các loài rong biển này RongCâu đợc trồng ghép trong các ao đầm quảng canh cùng vớinuôi tôm, cua, cá Tuy nhiên, vẫn cha thể khai thác triệt đểnguồn lợi rong Câu
Từ thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “ Điều tra thành phần loài và một số chỉ tiêu sinh hoá của chi rong Câu (Gracilaria) tại Nghệ An và Hà Tĩnh’’
Mục tiêu của đề tài là nhằm đánh giá đa dạng thành
phần loài và một số đặc điểm sinh hoá của chi Gracilaria tại
Trang 3Chơng 1 tổng quan tài liệu
1.1 Rong biển trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Vai trò của rong biển
Rong biển là một nhóm thực vật bậc thấp sống ở biển,
đây là một hợp phần quan trọng của tài nguyên biển Rongbiển chẳng những là một nguồn tài nguyên quan trọng, cógiá trị kinh tế, từ lâu đã đợc con ngời sử dụng mà còn là một
đối tợng có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học
Tác dụng của rong biển đợc phát hiện từ năm 1962 saukhi phân tích thành phần dinh dỡng trong 1g rong biển, ngời
ta thấy bằng 1.000g tổng hợp các loại rau Rong biển cungcấp các chất dinh dỡng rất toàn diện, phong phú và cânbằng Hơn nữa nó còn là thức ăn kiềm tính Trong khi chúng
ta đang tiêu thụ một lợng lớn thực phẩm có tính axit (rau
Trang 4xanh, các loại đậu hạt ) nên việc tận dụng thức ăn từ rongbiển là rất cần thiết[23]
Rong biển còn là một dợc phẩm quý giá Chúng có khảnăng làm sạch ruột, ngừa táo bón, giúp tiêu hoá nhanh thức ăn
và sớm loại bỏ các chất cặn bã lu lại trong ruột ; trong rongbiển chứa hơn 90 loại khoáng chất với hàm lợng muối thấp vàcanxi cao nên nó là thực phẩm đợc u tiên hàng đầu đối vớinhững ngời bị cao huyết áp; rong biển còn có tác dụng giảmcholesterol, làm sạch máu và đặc biệt là có tác dụng chốngung th (ung th vú, ung th tuyến giáp trạng, ung th kếttràng ) do chúng chứa nhiều vitamin E, chất xơ và cácnguyên tố vi lợng (nhất là iot)[24]
Với khả năng hút cacbondioxit (CO2) ở mức cao, rongbiển có thể là “vũ khí” hữu hiệu chống lại sự ấm lên của trái
đất (thông báo của một nhóm các nhà khoa học tại hội nghị
về thay đổi khí hậu ở Bali- Indonesia) Theo nghiên cứu củanhóm các nhà khoa học đến từ 12 nớc trên thế giới này thì dới
đáy biển có “rất nhiều rong biển và cỏ biển có thể hấp thụCO2, chúng có thể giúp kiểm soát khí thải gây nên hiệu ứngnhà kính- nguyên nhân làm cho toàn cầu nóng lên’’ Lee JaeYoung, thuộc Bộ Ng nghiệp Hàn Quốc, cho biết một số loàirong biển có khả năng hấp thụ CO2 cao gấp 5 lần cây trồngtrên mặt đất Do đó cần đánh giá cao hơn nữa vai trò củathảm thực vật biển[25]
Một tính chất đặc biệt của rong biển là thành tế bàocủa chúng đều đợc tạo nên bởi các polysaccarit (Mccully M.E,1970; Baley R.W và Stachelin L.A, 1968; Clingman A.L vàNunn J.R, 1959) Các polysaccarit tự nhiên là những nguồn dựtrữ đờng vô tận của rong biển[13] Ngoài chức năng làm vật
Trang 5liệu tạo nên thành tế bào, các polysaccarit còn giữ nhiềuchức năng quan trọng nh trao đổi chất, bảo vệ tế bào nênchúng có độ bền cơ học cao Vì bản chất trên, kết hợp vớimột số tính chất đặc biệt của chúng nh tạo gel ở nồng độrất thấp (~1%), độ nhớt cao nên rất dễ tạo màng mà cácpolysaccarit này đã đợc sử dụng rộng rãi trong nhiều ngànhkinh tế quốc dân nh: dệt vải, phụ gia cho công nghiệp nớcgiải khát, các loại keo chuyên dụng, làm bánh kẹo, làm thuốc
đánh răng, dùng trong mỹ phẩm, các chế phẩm dợc Ngoài ra,còn có thể biến tính chúng để thu đợc những tính chất cầnthiết phục vụ yêu cầu thực tế, khắc phục những nhợc điểmcủa màng polyme hoá học, từ đó có nhiều ứng dụng thực tếphong phú và quan trọng, nh: làm vỏ thuốc chữa bệnh, bảoquản thực phẩm, thẩm thấu, siêu lọc, dùng trong xử lý môi tr-ờng Một điều quan trọng hơn nữa là phế thải của màngpolyme sinh học sau khi thải ra trong tự nhiên dần dần bịphân huỷ bởi các hệ vi sinh vật đất, vì vậy không gây ônhiễm môi trờng Các polysaccarit quan trọng hơn cả làalginat, carrageenan, agar- agar (gọi tắt là agar)[12, 20, 21]
ở Việt Nam, các chi rong Mơ (Sargassum), rong Câu (Gracilaria), rong Đông (Hypnea), rong Mào gà (Laurencia), rong Kỳ lân hay rong Sụn (Eucheuma, Kappaphycus) hiện
đang là các đối tợng đợc nuôi trồng rộng rãi phục vụ cho nhucầu trong nớc và xuất khẩu, là một trong những ngành nghềmới góp phần đáng kể làm thay đổi bộ mặt các vùng nôngthôn nhất là các vùng nông thôn ven biển[20]
Sự có mặt của rong biển trong các thuỷ vực đóng vaitrò rất quan trọng trong việc hình thành nên mắt xích đầutiên của quá trình chuyển hoá năng lợng mặt trời thành các
Trang 6chất hữu cơ thông qua quá trình quang hợp theo phơngtrình tổng quát:
6CO2+ 6H2O + quang năng C6H12O6 +6O6
Nguồn vật chất và năng lợng thông qua quá trình nàykhông những đáp ứng đợc đầy đủ nhu cầu cho các hoạt
động sống của chính các loài rong biển mà còn cung cấpcho cả các nhóm sinh vật khác Ngoài ra, các thảm rong biểncòn có vai trò không nhỏ trong việc giữ cân bằng sinh thái
và điều hoà môi trờng của vùng biển, bảo vệ nền đáy khỏicác tác động do dòng chảy, thuỷ triều và sóng biển gâynên[20]
Một số loài rong biển có thể dùng làm sinh vật chỉ thị
môi trờng (các loài thuộc chi Sargassum, Colpomenia, Ulva, Chaetomorpha, Gracilaria, ) Đây là một hớng ứng dụng rất
mới mẻ nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm môi trờng bằng chỉthị sinh học[12, 20]
Thảm rong biển còn là nơi sống, nơi trú ẩn của các loài
động vật thuỷ sinh Chính vì vậy, bảo vệ và phát triển cácthảm rong biển cũng là một phơng pháp tích cực góp phầnphục hồi nguồn lợi sinh vật biển, làm ổn định môi trờng vànghề cá ven biển[20]
Về mặt lý luận khoa học, rong biển là một nhóm sinhvật mà thông qua đó ngời ta có thể thấy đợc mối quan hệgần gũi giữa phân giới có nhân (Eucariota) và phân giớikhông nhân (Procariota) về chủng loại, nguồn gốc phát sinh
và quan hệ họ hàng của các ngành trong sinh giới
Trang 71.1.2 Tình hình nghiên cứu rong biển trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới việc nghiên cứu về rong biển đã đợc tiếnhành từ thế kỷ 18 Vào cùng thời kỳ đó cũng có những côngtrình công bố về rong biển thuộc vùng biển Việt Nam Đó lànhững công trình điều tra, nghiên cứu về sinh thái, sinh họccủa rong Việc nghiên cứu sử dụng rong biển mới đợc đẩymạnh trong thế kỷ 20[12]
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu rong biển trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vềnhững khía cạnh khác nhau của rong biển nh: phân loại, khu
hệ, nguồn lợi, nuôi trồng và sử dụng các loài rong biển.Những công trình của các tác giả nớc ngoài phải kể đến là:Taylor W.R (1960); Abbott I.A và J.V Noric (1985); Ajiaka T.H,H.Q Nang & N.H Dinh (1993); Dawson E.Y (1954); Gayral P(1968); Okmura K.P (1907- 1936); Tsuchia Y.K (1983); TsengC.K (1958- 2000); Chapman V.J, Chapman D.J (1980); XiaBangmei, Zhang Junfu (1999); và rất nhiều tác giả khác nữa.Gần đây nhất là các công trình về Tảo biển chí của các tácgiả T Yoshida (1988, Nhật Bản), T Seng và cs (1999-2000,Trung Quốc)[20]
Chi rong Câu (Gracilaria) do Greville xác lập năm 1830,
cho đến nay trên thế giới đã biết khoảng 150 loài, TrungQuốc có 24 loài, Nhật Bản- 17 loài, Malaixia- 5 loài, Đài Loan-
7 loài, Thái Lan- 12 loài, Philippine- 17 loài, Indonexia- 4loài[21]
Về chi rong Mơ (Sargassum), ngời đầu tiên nghiên cứu
là C Agardh Ngay từ năm 1820, ông đã mô tả đợc 62 loài,
Trang 8năm 1824 ông bổ sung thêm 67 loài Đến năm 1905-1916,Grunow đã triển khai và sử dụng hệ thống phân loại của C.Agardh mô tả đợc 230 loài ở Nhật Bản phát hiện có 42 loài,vùng biển Đông ấn Độ- 45 loài, Trung Quốc- 32 loài cho đếnnay trên thế giới có tới 400 loài thuộc chi rong Mơ[20].
Một số loài thuộc các chi: Lamilaria, Porphyra, Undaria
đã và đang đợc sử dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế tạimột số nớc vùng ôn đới nh: Trung Quốc, Nhật Bản, HànQuốc các loài này đợc khai thác và sử dụng làm thực phẩm,trong các ngành công nghiệp nhất là công nghiệp dợc (chếcác chất kháng sinh, thuốc AZT trong điều trị HIV/AIDS )[20]
Trên thế giới hàng năm thu chừng 6,1 triệu tấn rong tơi(trị giá 3 tỷ USD), trong đó 4 triệu tấn phục vụ làm thựcphẩm Các nớc sản xuất nhiều rong hiện nay (đơn vị nghìntấn khô) là: Trung Quốc- 1,250; Nhật Bản- 650; Philippin- 268;Indonexia- 73; Chile- 13; Nam Phi-12[21]
Về hệ thống phân loại và tiến hoá của các ngành rong,trong đó có rong biển (Marine Algae) đợc sắp xếp theo trật
tự nh sau (Golerbackh, 1977)
1 Ngành rong Lam: Cyanophyta
2 Ngành tảo Giáp: Pyrrophyta
Trang 99 Ngành rong Lục: Chlorophyta
10 Ngành rong Đỏ: Rhodophyta
Căn cứ vào hệ thống này, các ngành rong biển đã đợccông nhận là:
1 Ngành rong Lam: Cyanophyta
2 Ngành rong Nâu: Phaeophyta
3 Ngành rong Lục: Chlorophyta
4 Ngành rong Đỏ: Rhodophyta
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu rong biển ở Việt Nam
ở Việt Nam, việc nghiên cứu về rong biển giai đoạn trớcnăm 1954 hoàn toàn do ngời nớc ngoài thực hiện nh: Loureiro(1790), Gaudichaud (1837), Petelot (1929), Dawson (1954).Các tác giả trên mới chỉ nghiên cứu về thành phần loài củamột vài nhóm nhỏ ở mức độ lẻ tẻ từng khu vực Ví dụ: Petelot(1929) đã nghiên cứu rong Câu ở Cửa Việt, còn Dawson(1954) nghiên cứu rong biển ở nha Trang[20]
Sau năm 1954, việc nghiên cứu về rong biểnViệt Nammới bắt đầu do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện: PhạmHoàng Hộ (1967); Nguyễn Hữu Dinh, Nguyễn Văn Tiến, TrầnNgọc Bút (1965,1969); Lê Nguyên Hiếu (1969,1992); NguyễnHữu Dinh ( 1972); Nguyễn Văn Tiến (1988); Nguyễn Hữu Đại(1992); Nguyễn Thọ Phát (1996) Trong đó đáng kể nhất làcông trình của Phạm Hoàng Hộ: “Rong biển Việt Nam – phầnphía Nam” (1969); Nguyễn Hữu Dinh, Huỳnh Quang Năng,Trần Ngọc Bút, Nguyễn Văn Tiến: “Rong biển Việt Nam –phần phía bắc” (1993)[20]
Các công trình nghiên cứu về nguồn lợi rong biển ởViệt Nam trong những năm vừa qua cho thấy, từ năm 1905
Trang 10Anonnymus đã tiến hành nghiên cứu rong Câu và một số loàirong thực phẩm ở Quảng Bình, Petelot (1929) có ghi chéprong Câu ở Cửa Việt (Quảng Trị) Các tác giả trên chỉ mới
dừng lại ở mức độ mô tả sơ lợc loài Gracilaria G.asiatica) và phạm vi khảo sát còn rất hẹp.
ở miền Nam nớc ta, trớc ngày giải phóng 1975, chỉ cómột công trình duy nhất đề cập đến nguồn lợi rong biển,
đợc nhà nớc giao nhiệm vụ điều tra đánh giá nguồn lợi rongbiển và nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc nuôi trồng rongCâu Tiếp theo những năm sau đó là công trình của các tácgiả nh: Lê Nguyên Hiếu (1969,1978); Nguyễn Hữu Dinh, TrầnNgọc Bút, Huỳnh Quang Năng (1974); Nguyễn Hữu Dinh và
W Brucker (1977); Nguyễn Văn Tiến, Trần Ngọc Bút (1977);
Đinh Ngọc Chất và Nguyễn Xuân Lý (1980); Nguyễn VănTiến, Lê Văn Bảy (1980,1984); Đinh Ngọc Chất và Hồ Hữu Nh-ợng (1986); Nguyễn Hữu Dinh (1988); Đinh Ngọc Chất, Đỗ VănKhơng, Nguyễn Xuân Lý (1991-1998); Nguyễn Văn Tiến, LêThị Thanh (1989, 1994); Đàm Đức Tiến và Nguyễn Văn Tiến(1997); Phạm Hữu Trí (1995, 1996, 1999); và một số côngtrình khác nữa[6, 7, 10, 11, 20]
Tài liệu đầu tiên đề cập tới nguồn lợi rong biển miềnBắc là “Sơ bộ thống kê một số loài rong kinh tế phía Bắc
Trang 11Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dinh, Nguyễn Văn Tiến, TrầnNgọc Bút (1965) Tiếp theo là những công trình đề cập tớinguồn lợi rong biển ở từng khu vực, nh “Nguồn lợi rong biểntỉnh Quảng Ninh”, “Nguồn lợi rong biển Hải Phòng – TháiBình” của Nguyễn Hữu Dinh và cs (1974), “Nguồn lợi rongbiển Thanh Hoá” của Huỳnh Quang Năng và cs (1975),
“Nguồn lợi rong biển Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Văn Tiến và cs(1977), “Rong câu Bình Trị Thiên” của Trơng Văn Lung(1978, 1981), “Nguồn lợi rong Mơ ven biển miền Trung” của
đề tài 49-06-11 (1986), “Điều tra sản lợng tự nhiên và quyhoạch vùng nuôi trồng rong Câu ven biển Hải Phòng – ThanhHoá” (Nguyễn Văn Tiến và cs, 1985), “Kết quả di trồng rong
Sụn Kappaphycus averezii (Doty) Doty vào vùng biển Việt
Nam” (Huỳnh Quang Năng, Nguyễn Hữu Dinh), “Rong kinh tếquần đảo Trờng Sa” (Đàm Đức Tiến và Nguyễn Văn Tiến,2000)[20]
Trong lĩnh vực khai thác chế biến nguồn lợi rong biển,phải kể đến các công trình của Đỗ Văn Sĩ (1966, 1971);Lâm Ngọc Trâm, Hoàng Cờng, Phan Phơng Lan và cs(1980,1991,1999[20]
Trong hơn 30 năm vừa qua, ở Việt Nam đã có khá nhiềuchơng trình và đề tài nghiên cứu về cơ sở khoa học nuôi
trồng rong Câu chỉ vàng (Gracilaria verrucosa) và các công
trình khác công bố về kết quả nghiên cứu theo hớng nói trênnh: “Rong Câu” và “Rong Câu chỉ vàng” của Đinh NgọcChất, Hồ Hữu Nhợng (1969, 1986) và một số công trình củacác tác giả khác nh: Nguyễn Xuân Lý và cs (1988, 1989,
1991, 1994)[20]
Trang 12Hiện tại, ở Việt Nam phát hiện đợc tổng số 662 loàirong biển, trong đó ngành rong Lam (Cyanophyta) có 77 loài,ngành rong Đỏ (Rhodophyta) có 309 loài, ngành rong Nâu(Phaeophyta) có 124 loài và ngành rong Lục (Chlorophyta) có
152 loài Trong đó các chi rong kinh tế là rong Guột
(Caulerpa), rong Mơ (Sargassum), rong Mứt (Porphyta), rong
Đông (Hypnea), rong Kỳ lân hay rong Sụn (Kappaphycus), rong Câu (Gracilaria).
Riêng về chi rong Câu (Gracilaria) đã phát hiện đợc 19 loài, đó là các loài: Gracilaria arcuata, G blodgettii, G bursa- pastoria (= G heteroclada), G cacalia, G firma, G edulis, G crassa, G folifera, G gigas, G hainanensis, G punctata, G salicornia, G textorii, G changii, G bangmeiana, G fisheri, G eucheumoides, G tenuistipitata, G asiatica (= G verrucosa)
[7, 10, 21]
Nguồn rong trồng bao gồm chủ yếu các loại rong Đỏ nh:
rong Câu chỉ vàng (G.verrucosa), rong Câu cớc (G.heteroclada), rong Sụn (Kapaphycus alvarezii) Rong Câu
để nâng cao hiệu quả kinh tế trên 1 đơn vị diện tích mặtnớc[12, 21] Đây là phơng pháp hữu hiệu để vừa phát triểnnuôi thủy sản vừa phát triển nguồn lợi rong biển ở các nớc trênthế giới nói chung và ở nớc ta nói riêng
Trang 131.1.2.3 Rong biển kinh tế ở Việt Nam
Nói về nguồn lợi rong biển trớc hết là nói về những loài
rong có giá trị kinh tế mà hằng năm đợc khai thác, sử dụng ởcác mức độ khác nhau
ở Việt Nam, năm 1991 đã thống kê đợc 90 loài rongbiển có giá trị kinh tế, chiếm 13.7% tổng số loài đã đợc pháthiện Trong đó, ngành rong Lam có 1 loài, ngành rong Lục có
11 loài, ngành rong Nâu 27 loài và nhiều nhất là ngành rong
Đỏ với 51 loài (Lê Thị Hồng Mơ, 1991) Sau này, số loài rongkinh tế đợc phát hiện bổ sung thêm rất nhiều Tổng số đạttới trên 150 loài (Lê Thị Hồng Mơ, 1994)[21]
Trong số các loài rong kinh tế đang đợc khai thác và sửdụng ở Việt Nam, 2 nhóm rong có ý nghĩa hơn cả là loàirong Mơ và rong Câu: Chúng không những phong phú về sốloài (thế giới có khoảng 400 loài rong Mơ và 150 loài rongCâu thì ở Việt Nam đã phát hiện đợc tơng ứng là 68 và 19loài), mà còn có sản lợng tự nhiên cao[21] Xét về giá trị sửdụng ta có thể sắp xếp các loài theo các nhóm khác nhau:
- Nhóm rong công nghiệp: Nhóm này gồm 41 loàichiếm 56.2% tổng số loài rong kinh tế Chúng đợc sử dụnglàm nguyên liệu chế biến các loại kẹo agar, algin,carrageenan hoặc iot
- Nhóm rong thực phẩm: Gặp phần lớn rong Lục và rong
Đỏ, gồm 28 loài chiếm 38.4%
- Nhóm rong dợc liệu: Thuộc 3 ngành rong Lục, rongNâu và rong Đỏ Gồm các loài rong có thể làm thuốc trịbệnh Nhóm này gồm 37 loài chiếm 50.7%
Trang 14- Nhóm rong làm thức ăn gia súc: Gồm 13 loài, chiếm17.8%, chủ yếu thuộc ngành rong Lục.
- Nhóm rong làm phân bón: Gặp hầu hết những loài
có sản lợng lớn nh rong Mơ, rong Bún với 35 loài chiếm47.9%[21]
Vùng biển Nha Trang đợc xem là nơi có sản lợng rong lớnnhất nớc ta, có hơn 70 loài rong kinh tế: 14 loài rong Lục, 30loài rong Nâu và 28 loài rong Đỏ (Lê Thị Hồng Mơ,1994)[21]
+ Nguồn lợi rong Mơ Sargassum (thuộc ngành rong
Nâu) Đây là chi rong biển có nhiều loài nhất, có trữ lợng lớn
và phân bố rộng tại Hòn Chồng, Bãi Tiên (Nha Trang) nh:
S.mcclurei, S.microcystum, S.phyllocytum, S.heklotsii và S.oligocystum (Nguyễn Hữu Đại, 1992, 1997).[21]
+ Nguồn lợi rong Câu Gracilaria (thuộc ngành rong Đỏ):
Rong Câu là một chi rong biển có giá trị kinh tế cao Trongvùng Hòn Chồng, Bãi Tiên (Nha Trang) có tới 8 loài rong Câuphân bố ở vùng cửa sông Cái với mật độ dày đặc nh:
G.tenuistipitata, G.crassa, G.salicornia, G.edulis, G.bangmeiana, G.eucheumoides Các loài này đều có sản l-
ợng khá lớn, hàng năm nhân dân tới đây khai thác về ăn vàtiêu thụ trên thị trờng.[21]
Hiện nay, việc khai thác và sử dụng nguồn lợi rong biển
ở nớc ta chỉ dựa vào truyền thống và sản lợng tự nhiên là chủyếu Hớng tích cực trong lĩnh vực này là phải nuôi trồng vàqui hoạch bảo vệ các nguồn rong quý hiếm trên thế giới cũng
nh ở trong nớc
Tuy nhiên để khai thác và sử dụng nguồn lợi rong biểnvới hiệu quả cao, có những sản phẩm đáp ứng đợc yêu cầu
Trang 15khoa học, kinh tế quốc dân và xuất khẩu, cần phải có nhữngnghiên cứu điều tra cơ bản sâu sắc về thành phần hoá học,
về các chất có hoạt tính sinh học của rong và bằng kỹ thuậtcủa công nghệ hoá học, công nghệ sinh học tạo ra các sảnphẩm có giá trị
1.2 Vai trò và sự phân bố rong Câu ở Việt Nam
1.2.1 Một số thành tựu nghiên cứu về rong Câu tại Việt Nam
Gracilaria lần đầu tiên đợc Greville mô tả năm 1830.
Trong các nguồn t liệu cho thấy có công trình đề cập đối
t-ợng này sớm nhất là bài báo của Anomynus “ Le Gracilaria conferroides et autras alguescommerciales du Quang Binh”.
Bull Econ Indochine, 1905 Năm 1920, Petelot và Maganlan
cũng mô tả loài Gracilaria conferroides ở Cửa Việt ( Quảng Trị) trong “Elément de botanique indochine” Đáng chú ý là năm 1969, Nguyễn Hữu Dinh và cộng sự đã xuất bản cuốn “ Rau câu” và mô tả đợc 11 loài rong câu ở miền Bắc Việt
Nam Các nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dinh về sau cho thấy,hiện nay thành phần loài rong Câu phân bố ở vịnh Bắc bộ
có 13 loài, hệ thống phân loại của tác giả dựa trên cơ sởphân loại của H.Kylin (1956) [12]
Về đặc điểm sinh lý, sinh hoá của các loài rong Câu
đã có khá nhiều công trình nghiên cứu Năm 1964, hợp đồngnghiên cứu rong Câu giữa Việt Nam và Cộng hoà dân chủ
Đức đã đợc ký kết, cùng phối hợp nghiên cứu là Viện nghiêncứu biển Hải Phòng, Viện nghiên cứu Hải sản và nhà máy cáhộp Hạ long Đầu năm 1965, nớc ta bắt đầu chiết thử agar vàmột số công trình bớc đầu nghiên cứu về agar (Ngô XuânHiền,1967; Nguyễn Hữu Dinh, 1969; Đinh Ngọc Chất,1973-
Trang 161974; Lâm Ngọc Trâm, 1977) Năm 1973 Tổng cục thuỷ sảncho lu hành nội bộ quy định tạm thời về kỹ thuật sản xuấtgiống nảy mầm và giống đáy của rong Câu chỉ vàng ở
đầm nớc lợ Cũng kể từ đó nhiều công trình nghiên cứu đã
đem lại một số kết quả (Nguyễn Văn Hiền,1974; NguyễnTrọng Nho, 1977- 1980; Nguyễn Xuân Lý,1988 ) Từ năm
1977 cho đến nay, Trơng Văn Lung và tập thể cán bộ giảngdạy trờng ĐH Huế đã nghiên cứu một cách có hệ thống rongCâu chỉ vàng sống ở đầm phá nớc lợ các tỉnh Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa thiên- Huế về các mặt điều tra cơ bản, sựphân bố, sinh lý, sinh hóa, quy trình nuôi trồng và chế biến.Riêng về thành phần agar cũng có khá nhiều công trìnhcông bố (Lê Nguyên Hiếu, 1971; Lâm Ngọc Trâm và NguyễnQuang Hiếu, 1972; Hoàng Cờng, 1974; Nguyễn VănThiện,1977; Trơng Văn Lung,1977- 1981,1988).[12]
Các nghiên cứu trên đây đã phục vụ đắc lực cho côngtác nuôi trồng và chế biến rong Câu Trong danh mục các loàinuôi biển và nớc lợ ở Việt Nam đã công bố năm 2003 của BộThuỷ sản, có 3 loài rong Câu đang trồng ở Việt Nam là: rongCâu chỉ vàng, rong Câu cớc, rong Câu sợi mảnh; và 3 loài
đang nghiên cứu để nuôi trồng là: rong Câu thừng, rongCâu bành mai, rong Câu chân vịt[17]
1.2.2 Sự phân bố của chi rong Câu (Gracilaria) ở Việt Nam
Hiện nay thành phần loài rong Câu phân bố ở vịnh Bắc
bộ lên tới 19 loài, trong đó có 13 loài phân bố vùng ven phíaTây vịnh Bắc bộ và 16 loài phía Tây đảo Hải Nam (TrungQuốc), bán đảo Lôi Châu ven bờ Quảng Tây (Trung Quốc) Có
10 loài chung cho cả 2 phía Trung Quốc và Việt Nam[12, 20]
Trang 17Vùng ven biển Quảng Ninh- Hải Phòng, theo phân bốthẳng đứng ở khu vực đảo Cái Bầu cho thấy vùng triều cao (2,83-3,73m) không có rong; ở vùng triều giữa (1,34- 2,83m) có cácloài rong Câu chỉ vàng, rong Câu thắt, rong Câu đốt, rongCâu thừng, rong Câu dòn; ở vùng triều thấp (0,46- 1,34m) vàphần trên của vùng dưới triều có các loài rong Câu khớp, rongCâu ngắn, rong Câu thô, rong Câu thừng Ở vùng triều thấpthuộc Hòn Dấu- Đồ Sơn thường có rong Câu dẹp, rong Câu dẹpnhọn, rong Câu Hải Nam Như vậy vùng ven biển Quảng Ninh-Hải Phòng đã phát hiện 11 loài rong Câu khác nhau[12, 20].
Trong đầm nước lợ thường gặp 2 loài rong Câu chỉ vàng vàrong Câu thắt, ở đầm muối cũng có cả 2 loài này
Ở vùng ven triều của miền Trung chủ yếu là từ Thanh Hoávào Bình Định chưa có nhiều tài liệu công bố ngoài những tàiliệu của Phạm Hoàng Hộ (1969), “Rong biển Việt Nam- phầnphía Nam” Lương Công Kỉnh (1964), “Phúc trình kết quả điềutra mức sản xuất nguyên liệu chế biến đông sương tinh khiết tạicác tỉnh duyên hải Miền Nam Việt Nam”[12, 20] Vì vậy sựphân bố của các loài rong Câu ở đây vẫn là chỗ trống cần tiếptục nghiên cứu
Quanh vùng đầm phá ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị,Thừa Thiên- Huế chủ yếu mới phát hiện loài rong Câu chỉ vàng.Mặc dù số lượng loài ít nhưng sinh khối tương đối lớn và phân
bố rộng khắp vùng đầm phá, nhất là các vùng có điều kiện sinhthái thích hợp[12]
Vùng ven biển Nha Trang – Vũng Tàu, theo tài liệu củaLâm Ngọc Trâm và cs (1978) cũng có tới 13 loài tảo đỏ[12]
Trang 18Qua những số liệu thu được trong qu¸ tr×nh nghiªn cứucho phÐp chóng ta khẳng định rằng dọc theo bờ biển Việt Nam
từ Bắc chÝ Nam đều cã rong C©u sinh trưởng và ph¸t triển Tuỳtheo điều kiện sống mà c¸c loài rong C©u ph©n bố ở c¸c mức
độ kh¸c nhau về thành phần loài và số lượng
1.2.3 Vai trß cña rong C©u
Đề cập đến vai trß của c¸c loài rong C©u chóng ta kh«ngthể bỏ qua tầm quan trọng của chóng trong việc sử dụng nguồntài nguyªn này Hàng ngàn năm về trước con người đ· biết sửdụng nã vào đời sống hàng ngày nhưng số lượng cßn Ýt, phạm
vi sử dụng còng hẹp Về sau khoa học kỹ thuật ngày càng tiến
bộ, người ta mới biết được tầm quan trọng của chóng Gần đ©y
số lượng thu hoạch tảo biển trªn thế giới hàng năm vào khoảng
4 – 5 triệu tấn, chủ yếu tập trung ở c¸c nước Nhật Bản, Liªn X«(cũ), Triều Tiªn, Na Uy Rong C©u thường được dïng để làmthực phẩm ăn tươi hoặc chế biến dïng trong nước chấm, gia vị,kẹo, mứt Ở c¸c nước ven biển Ch©u Âu, Ch©u Mỹ, Ch©u Ádïng chóng làm thức ăn cho gia sóc để tăng trọng, nu«i bß tăngsữa, nu«i gà mắn đẻ Ngoài ra chóng còng được dïng làm ph©nbãn Ph©n rong C©u làm giàu thªm cho đất c¸c nguyªn tốkho¸ng, cải thiện cấu tróc đất, làm giảm tÝnh axit qu¸ độ, làmchậm sự ph¸t triển của cỏ dại và cïng với c¸c hệ sinh th¸i kh¸cchóng tạo thành nơi cư tró thuận lợi cho c¸c loài thuỷ sinh vậtsinh sống, ẩn nấp và bắt mồi[21]
Một điều quan trọng là v¸ch tế bào Gracilaria nãi riªng và
Tảo đỏ nãi chung cã chứa agar- là một loại polysaccharit chodung dịch keo trong nước nãng, cho nªn chóng được khai th¸cdïng làm nguyªn liệu để chế biến agar Hiện nay agar cã gi¸ trịthương mại cao bởi cã rất nhiều ngành kinh tế sử dụng nã: Y
Trang 19dược (chế thuốc nhuận tràng, là vỏ bọc thuốc khã uống, làm chỉkh©u tự tiªu ), c«ng nghiệp thực phẩm (làm dung dịch ổn địnhtrong c«ng nghiệp đồ hộp, làm tăng phẩm chất bia, làm trươngxốp b¸nh mỳ ), n«ng nghiệp (chế biến ph©n vi sinh, làmchất ổn định trong thuốc trừ s©u ), kỹ nghệ (làm hồ ho¸ tơlụa, vải sợi trong kỹ nghệ dệt, trong kỹ nghệ làm phim ảnh,làm bãng giày hoặc để chế biến c¸c lo¹i dầu mỡ b«i trơnm¸y ) Trong phßng thÝ nghiệm, agar được sử dụng nhiềuvào c¸c mục đÝch như: làm m«i trường nu«i cấy vi sinh vật,nu«i cấy m« và tế bào; làm gi¸ thể trong sắc kÝ và điện di;làm chất m«i giới cho những cuộc thÝ nghiệm về kÝch thÝchtố [12]
Ngoài agar là sản phẩm chủ yếu, rong C©u cßn chứa c¸csản phẩm kh¸c như: protein, axit bÐo, photpholipit, chÊtkho¸ng cã gi¸ trị kinh tế cao
Ch¬ng 2 §èi tîng vµ ph¬ng ph¸p nghiªn cøu
2.1 §èi tîng nghiªn cøu
Trang 20Đối tợng nghiên cứu của đề tài là chi Rong câu
(Gracilaria)
Vị trí phân loại: rong Câu thuộc ngành rong Đỏ(Rhodophyta), lớp Protoflorideae, bộ rong Câu (Gracilariales),
họ rong Câu (Gracilariaceae)
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại 2 địa điểm:
- Đầm Luồng – Nghi Xuân- Hà Tĩnh: Nơi có diện tíchkhá lớn rong Câu trồng quảng canh
- Đồng muối An Hoà- Quỳnh Lu- Nghệ An: Nơi có diệntích rong Câu mọc tự nhiên
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành thu mẫu theo 3 đợt:
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định một số yếu tố sinh thái tại khu vực nghiêncứu (nhiệt độ nớc, độ trong, độ sâu, độ mặn, pH, DO )
- Xác định thành phần loài trong chi Gracilaria tại các
địa điểm thu mẫu
- Phân tích một số chỉ tiêu sinh hoá của Gracilaria
(hàm lợng chất khô, hàm lợng agar, hàm lợng đờng khử, hàm ợng khoáng)
Trang 21l-2.4 Phơng pháp nghiên cứu
2.4.1 Phơng pháp thu mẫu nớc và mẫu rong
2.4.1.1 Thu mẫu nớc
Thu mẫu nớc ở tầng mặt 0- 20 cm vào chai nhựa PE 1.5 l
để xác định các chỉ tiêu thuỷ lý Mẫu nớc dùng để phântích chỉ tiêu DO đợc thu riêng và cố định tại chỗ trong lọthuỷ tinh nút mài 125 ml
2.4.1.2 Thu mẫu rong
Mẫu rong đợc thu tại các địa điểm thu mẫu nớc Sau đó
đợc bảo quản và phân tích trong phòng thí nghiệm Sinh lýthực vật, khoa Sinh học, trờng ĐH Vinh Mẫu rong thu về đợcchia làm 3 nhóm để phân tích: rong tơi ngâm foocmon4%, rong khô (sấy ở 800C, sau đó hạ dần nhiệt độ), rong éptiêu bản
2.4.2 Phơng pháp phân tích
4.2.2.1 Phân tích mẫu nớc
- Đo nhiệt độ nớc, độ pH bằng máy đo pH-test
- Đo độ trong bằng đĩa Secchi
- Đo độ mặn bằng máy đo độ mặn
- Riêng chỉ tiêu xác định DO (lợng ôxi hoà tan trong nớc),chúng tôi sử dụng các phơng pháp phân tích theo tài liệu
Một số phơng pháp phân tích thuỷ hoá của tác giả Nguyễn
Đình San, 1996 Cụ thể là: Lợng oxi hoà tan trong 1l nớc đợc
xác định bằng phơng pháp Winkler Các số liệu đợc xử lýbằng phơng pháp thống kê toán học
Trang 22- Các mẫu nớc thu về đợc bảo quản trong tủ lạnh vàphân tích trong vòng 24 giờ tại phòng thí nghiệm.
4.2.2.2 Định loại mẫu rong và xác định tên khoa học
Định loại bằng phơng pháp hình thái so sánh và xác
định tên khoa học dựa vào các tài liệu:
+ Rong biển Việt Nam (phía Nam) của Phạm Hoàng
Hộ[10]
+ Rong biển Việt Nam (phía Bắc) của Nguyễn Hữu
Dinh, Huỳnh Quang Năng, Trần Ngọc Bút, Nguyễn Văn Tiến[7]
Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo thêm một số tài liệu
định loại khác nh: Danh mục các loài nuôi biển và nớc lợ ở Việt Nam của tập thể các tác giả thuộc Viện Hải Dơng học
+ Xác định hàm lợng agar: chiết rút agar rồi sấy khôagar ở 600C cho tới khi trọng lợng không đổi (theo Trơng Văn
Lung, Công nghệ sinh học một số loài tảo kinh tế)
+ Hàm lợng khoáng (tro tổng số): bằng phơng pháp trohoá ở nhiệt độ 550 oC trong lò nung (theo tài liệu của Việncông nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm)
Trang 23Chơng 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
3.1 Một số yếu tố về môi trờng sống của rong Câu
3.1.1 Nhiệt độ nớc
Trong các thuỷ vực, nhiệt độ môi trờng nớc phụthuộc nhiều vào nhiệt độ không khí, nhng biến đổi chậmhơn so với sự biến đổi của nhiệt độ không khí Đó là do các
đặc điểm của nớc, nh: có độ toả nhiệt và nhiệt lợng bayhơi lớn, khả năng truyền nhiệt kém Đặc tính này rất quantrọng đối với đời sống thuỷ sinh vật Thông thờng, nhiệt độnớc (nhất là tầng mặt) có trị số gần với nhiệt độ không khí.Tuỳ theo từng thời điểm mà nhiệt độ nớc có sự chênh lệchvới nhiệt độ không khí có thể lên tới vài độ C
Bảng 3.1
Nhiệt độ môi trờng ở các địa điểm nghiên cứu
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3Nhiệt độ 31,60C 25,30C 22,30C 30,20C 25,10C 21,80C
Trang 24là khá cao (dao động trong khoảng 21,80C- 31,60C) Trong
đó, nhiệt độ nớc trong đợt 1 là cao nhất (30,20C- 31,60C), đó
là do đợt thu mẫu này chúng tôi tiến hành vào giữa tháng 9,
đang vào đầu mùa thu nên nhiệt độ còn khá cao Còn đợt 3,lại vào đầu mùa đông (tháng 12) nên nhiệt độ kiểm tra đợc
là thấp nhất (21,80C- 22,30C) So với đầm Luồng, Đồng muối
An Hoà luôn có nhiệt độ thấp hơn Theo chúng tôi, điều này
có liên quan tới vị trí địa lí: Đồng muối An Hoà (Quỳnh lu) ởphía Bắc hơn so với đầm Luồng (Nghi Xuân) nên khí hậu cómát mẻ hơn chút ít
Qua bảng chúng ta cũng nhận thấy sự tơng đơng giữanhiệt độ nớc và nhiệt độ không khí
3.1.2 Độ trong, độ sâu
Độ trong thể hiện khả năng chiếu sáng của ánh sángtrong nớc và chịu ảnh hởng của các yếu tố nh: Các chất cặnlơ lửng trong nớc, thuỷ sinh vật Độ trong của nớc phản ánhmột phần chất lợng nớc của thuỷ vực, đánh giá hàm lợng dinhdỡng có trong thuỷ vực Độ trong thờng giảm thấp vào mùa lũ.Giữa độ trong và độ sâu của thuỷ vực có mối quan hệ khá
đặc trng nhng không ổn định
Do ảnh hởng của sự truyền ánh sáng trong nớc nên độtrong có ảnh hởng không nhỏ đến quá trình quang hợp của