Và suốt thời gian làm bài luận văn của mình vừa qua, với đề tài “Công tác xã hội cá nhân với một trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt tại Phường Đông Vĩnh - thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An"
Trang 1Danh mục chữ cái viết tắt:
CTXH: Công tác xã hội
NVXH: Nhân viên xã hội
UBND: Ủy ban nhân dân
HCĐB: Hoàn cảnh dặc biệt
HTX: Hợp tác xã
Trang 2Lời cảm ơn !
Trải qua một khóa học về chuyên ngành công tác xã hội ở trường Đại họcVinh, tôi và hơn ba mươi bạn sinh viên trong lớp được chọn làm luận vănthay cho hai môn thi cuối khóa Đây là một niềm vinh dự và tự hào đối vớibản thân tôi cũng như các bạn khác Và suốt thời gian làm bài luận văn của
mình vừa qua, với đề tài “Công tác xã hội cá nhân với một trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt tại Phường Đông Vĩnh - thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An"
tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô cùng cáccán bộ trong phường
Qua bài luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoaLịch sử, các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Công tác xã hội - Khoa Lịch sử -Trường Đại học Vinh Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáoNguyễn Thị Bích Thủy - giảng viên bộ môn Công tác xã hội đã trực tiếphướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện bài làm này
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo cũng như các cán bộphường Đông Vĩnh - thành phố Vinh đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất chotôi trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Mặc dù đã rất nỗ lực nhưng do thời gian hạn hẹp và khả năng còn nhiều hạnchế trong nghiên cứu nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để bài khóa luậnđược hoàn thiện
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, Ngày 12 tháng 3 năm 2012
Sinh viên Phan Thị Hạnh
Trang 3PHẦN I : MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết :
"Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan"
Hai câu thơ của Người khẳng định trẻ em vốn như búp xanh, non nớt luôn cần
sự chung tay chăm sóc và bảo vệ của toàn xã hội
Trẻ em là tương lai của đất nước, đầu tư cho trẻ em là đảm bảo cho sự pháttriển bền vững của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luônquan tâm chú trọng tới công tác bồi dưỡng, giáo dục và phát triển một cáchtoàn diện cho trẻ em Trong quan điểm pháp luật và chính sách về bảo vệ và
chăm sóc trẻ em của nhà nước ta nhấn mạnh : "trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là lớp công dân đặc biệt, là nguồn nhân lực tương lai và là lớp người kế tục của đất nước".
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế nhiều vấn đề xã hội đã nảysinh cần sự quan tâm, chú ý của toàn xã hội như: ô nhiễm môi trường, sựphân hoá giàu nghèo, các tệ nạn xã hội, vấn đề việc làm…những điều đó làmảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống dân cư đặc biệt là cuộc sống của nhữngtrẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trẻ em nghèo, có HCĐB là một nhóm đặc thù, là nhóm dễ bị tổn thương vàchịu nhiều thiệt thòi Tuy các em nhận nhiều sự quan tâm giúp đỡ của Đảng
và nhà nước cũng như cộng đồng nhưng nhìn chung các em vẫn còn gặpnhiều khó khăn trong việc tiếp cận cơ hội để phát triển và hoàn thiện nhâncách cũng như hoà nhập với cộng đồng xã hội
Phường Đông Vĩnh - Thành phố Vinh là một phường có diện tích khárộng, phường đang trải qua quá trình đô thị hoá và phát triển từ nền kinh tếnông nghiệp lên công nghiệp và dịch vụ thu được nhiều thành tựu to lớn trên
Trang 4các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội…Nhưng bên cạnh đó những tồn tại nhưcác tệ nạn xã hội, khó khăn trong kinh tế gia đình, và nhiều nguyên nhânkhách quan khác cũng tác động rất lớn tới đời sống trẻ em nói chung và trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng Mặt khác, sự phân biệt đối xử, sự kì thịcủa cộng đồng cũng như các chính sách dành cho nhóm đối tượng yếu thế nàychưa thực sự hiệu quả nên công tác chăm sóc và hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt khó khăn tại đây vẫn còn nhiều hạn chế
Từ thực tiễn đó, để có cái nhìn tổng quan hơn, sát thực hơn và hiểu rõhơn về cuộc sống thực tại của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng từ đó gópphần cùng với cộng đồng cải thiện và mang lại cuộc sống tốt hơn cho trẻ; quathời gian tìm hiểu thực tế của mình với sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của
cô giáo Nguyễn Thị Bích Thủy và đơn vị thực tế tôi đã chọn đề tài: “ Công tác xã hội cá nhân với một trẻ em nghèo, có HCĐB tại phường Đông Vĩnh - Thành phố Vinh ” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Quan tâm đến cuộc sống của trẻ em nghèo, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt là nhiệm
vụ đã đề ra trong nhiều dự án, công trình nghiên cứu trước đây như:
- "Định hướng công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn giai đoạn 2005 - 2010" của thứ trưởng Bộ lao động và thương binh xãhội
- Bài viết "Tập trung cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt" của tác giả ThanhBình trên báo Quảng Ninh, số ra ngày 15/5/2011
- Dự án "Đồng hành cùng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt" của câu lạc bộ côngtác xã hội Nhân Ái - Hà Nội
- Bài viết "Giúp các em có hoàn cảnh đặc biệt thắp lên ước mơ" của tác giả LêHòa, số ra ngày 8/6/2011 trên báo điện tử Gia Lai
Trang 5- "Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn" của Giáo sư Tiến sĩĐặng Cảnh Khanh - nhà xuất bản Thanh Niên - Hà Nội, 2003.
- Dự án của Uỷ Ban Y tế Hà Lan tại 3 tỉnh Cao Bằng, Quảng Trị, Đắk Lắkdành cho trẻ khuyết tật
- Thực trạng và một số biện pháp trợ giúp xã hội xã hội đối với trẻ em cóhoàn cành đặc biệt tại phường Nguyễn Thị Minh Khai, thị xã Bắc Cạn, tỉnhBắc Cạn
- Bài viết của Nguyễn Hồng Thái và Phạm Đỗ Nhất Thắng về "Chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng"
- "Những cơ sở xã hội và thách thức" được đăng trên tạp chí Xã hội học, số 4,năm 2005
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3 1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu, vận dụng các lý thuyết trong CTXH nhằm tìm hiểu cuộcsống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, làm cơ sở cho những hướngnghiên cứu sâu hơn về vấn đề này
Vận dụng các kỹ năng trong phương pháp CTXH cá nhân để nghiên cứu
và thực hành nhằm bổ sung về mặt cơ sở lý luận
Từ đó có những nhận xét, bổ sung cho hệ thống khái niệm, phương pháp
và lý thuyết CTXH còn rất mới ở nước ta Đồng thời khẳng định các lý thuyết
và phương pháp nghiên cứu của ngành CTXH cho những đối tượng là trẻ emnói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng
3 2 Ý nghĩa thực tiễn
Một trong những vấn đề CTXH quan tâm là các nhóm xã hội yếu thế,
dễ bị tổn thương Trong thực tế cũng đã có nhiều nghiên cứu được tiếnhành nhằm tìm hiểu khó khăn của những đối tượng này, từ đó đưa ranhững biện pháp can thiệp, hỗ trợ họ khắc phục khó khăn Nghiên cứu này
Trang 6với mong muốn đem đến một sự hiểu biết nhất định cho xã hội về nhữngtrẻ em nghèo, có HCĐB tại phường Đông Vĩnh, thành phố Vinh - mộtnhóm xã hội yếu thế cần được sự quan tâm, giúp đỡ và bảo vệ của toàn xãhội
Nghiên cứu để đưa ra mô hình can thiệp cho một trẻ em có hoàn cảnh khókhăn tại phường Đông Vĩnh - Thành Phố Vinh nhằm trợ giúp đối tượngdựa trên chính điều kiện, nhu cầu của trẻ; góp phần cải thiện cuộc sống củađối tượng này
Thông qua đề tài này giúp NVXH vận dụng những lý thuyết vàothực tiễn, tạo điều kiện để rèn luyện những kỹ năng thuộc chuyên ngànhCTXH của mình
4 Đối tượng, khách thể, mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đời sống của một trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại phườngĐông Vĩnh – Thành phố Vinh (Em Nguyễn Thị Thùy Dung)
- Công tác trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại phườngĐông Vĩnh – Thành phố Vinh
Trang 7Nghiên cứu tìm hiểu và phân tích tác động của các nhân tố kinh tế, xãhội…lên cuộc sống của trẻ em nói chung và trẻ em nghèo, có hoàn cảnhđặc biệt nói riêng Đồng thời cũng đưa ra bức tranh về cái nhìn, những thái
độ , hành vi ứng xử của xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế này
Đặc biệt bài nghiên cứu cũng tập trung vào mô tả, phân tích vai trò củanhan viên CTXH trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội và can thiệp giúp
đỡ trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt Qua đó tìm kiếm cơ hội, tiềm năng
và các giải pháp phát triển vai trò cho đội ngũ nhân viên CTXH trong việcgiúp đỡ các đối tượng yếu thể
Ngoài ra bài nghiên cứu có đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằmcải thiện và nâng cao cuộc sống cho trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt.Đưa ra trường hợp điển cứu trong đó có ứng dụng phương pháp CTXH cánhân, các kỹ năng CTXH để giúp đỡ một trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặcbiệt nhằm minh chứng cho tiềm năng phát triển vai trò của nhân viênCTXH tương lai
4.4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tiến hành vãng gia tới gia đình một trẻ em nghèo, có HCĐB tại phườngĐông Vĩnh - thành phố Vinh
- Tiến hành thu thập thông tin, phân tích tài liệu, số liệu có liên quan đếnvấn đề nghiên cứu
- Ứng dụng phương pháp CTXH cá nhân với trẻ em nghèo, có HCĐB cũngnhư các kỹ năng, kỹ thuật đặc trưng của CTXH
- Tìm hiểu các chính sách và dịch vụ hỗ trợ đối tượng là trẻ em nghèo, cóhoàn cảnh đặc biệt
- Tìm hiểu thực trạng, đặc điểm, nhu cầu và khó khăn của trẻ em nghèo, cóhoàn cảnh đặc biệt
Trang 8- Đánh giá hiệu quả của các chính sách và dịch vụ hỗ trợ xã hội đối vớicuộc sống của trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt.
- Tìm hiểu, mô tả vai trò của nhân viên CTXH trong việc giúp đỡ các đốitượng yếu thế nói chung và đối tượng là trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệtnói riêng Qua đây tìm kiếm cơ hội và tiềm năng phát triển cho đội ngũ nhânviên CTXH trong tương lai
Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng đời sống và thực trạngthực hiện các chính sách hỗ trợ xã hội đối với đối tượng là trẻ em có hoàncảnh khó khăn tại phường Đông Vĩnh – Thành phố Vinh
Nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra một số biện pháp hỗ trợ xã hội, tiếntới xây dựng mô hình can thiệp có tính bền vững giúp một trẻ em có hoàncảnh khó khăn tại phường giải quyết vấn đề của mình
4 5 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Địa bàn phường Đông Vĩnh, Thành phố Vinh
- Phạm vi thời gian: Từ 15/ 2 đến 15/ 4/ 2012
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Vì điều kiện thời gian nên trong đề tài
"CTXH cá nhân với một trẻ em nghèo, có HCĐB tại phường Đông Vĩnh thành phố Vinh" tác giả khóa luận chỉ tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu,
-mô tả cuộc sống của trẻ em nghèo, có HCĐB tại phường Đông Vĩnh - thànhphố Vinh Tìm hiểu những khó khăn và hiệu quả của các chính sách, dịch vụ
xã hội mà nhóm đối tượng này đang được hưởng Đặc biệt bài khóa luận đisâu nghiên cứu vai trò của nhân viên CTXH trong việc giúp đỡ trẻ em nghèo,
có HCĐB; phối hợp với các cơ quan, chính quyền địa phương nhằm cải thiện
và nâng cao cuộc sống của các em Can thiệp với một trẻ em nghèo, cóHCĐB với tiến trình CTXH cá nhân cụ thể để đánh giá tiềm năng phát triểnvai trò của nhân viên CTXH trong tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 95.1 Cơ sở phương pháp luận
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng cho toàn bộ quá trìnhnghiên cứu về vấn đề "Công tác xã hội cá nhân với một trẻ em nghèo, có hoàncảnh đặc biệt tại phường Đông Vĩnh - thành phố Vinh"
"Là thế giới quan theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biệnchứng giải thích các hiện tượng và quá trình xã hội trong mối quan hệ qua lại,trong sự vận động và biến đổi không ngừng Chủ nghĩa duy vật lịch sử là sự
mở rộng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc nghiêncứu cuộc sống của xã hội, sự áp dụng những nguyên lý ấy vào việc nghiêncứu xã hội cũng như nghiên cứu các hình thức sinh hoạt xã hội "
Chính vì vậy, khi xem xét và xác định vai trò của nhân viên CTXH trongviệc giúp đỡ trẻ em nghèo, có HCĐB, chúng ta cần xem xét nó trong môtíquan hệ của các nhân tố chủ quan và khách quan khác như: môi trường xãhội, hoàn cành gia đình thân chủ, các nhu cầu, khó khăn của trẻ…
Trong đề tài NVXH đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu củangành CTXH và các khoa học liên quan thuộc hai nhóm là nhóm phươngpháp thu thập thông tin (gồm phương pháp quan sát, phương pháp thựcnghiệm, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp phân tích tài liệu, phươngpháp tiếp cận kiểu hệ thống, phương pháp) và nhóm phương pháp thực hành(gồm phương pháp CTXH với cá nhân, phương pháp vãng gia):
5.2 Phương pháp thu thập thông tin
5.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát là quá trình tri giác và việc ghi chép mọi yếu tố có liên quanđến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục tiêu nghiên cứu Nó cóđặc trưng là tính hệ thống, tính kế hoạch, tính mục đích (Osipov, 1988)
Trang 10Mục đích của quan sát là nhằm thu thập và kiểm chứng các thông tin cơbản về hoàn cảnh kinh tế gia đình, thái độ, hành vi của đối tượng, nhữngngười thân và mọi người xung quanh
5.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu)
Phỏng vấn sâu là phương pháp xác định sơ bộ những vấn đề cần thuthập thông tin cho đề tài nghiên cứu Nó cho phép người phỏng vấn tự dotrong cách đặt câu hỏi, sắp đặt chúng và dẫn dắt cuộc phỏng vấn để thu thậpnhững thông tin mong muốn Nhưng phương pháp này đòi hỏi cao về trình độchuyên môn của người phỏng vấn, họ phải hiểu biết rộng và có kinh nghiệm
để không làm mất lòng người trả lời
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, sinh viên đã tiến hành cáccuộc phỏng vấn sâu sau:
Với thân chủ: Nhằm thu thập thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu(những khó khăn mà em gặp phải, những điểm mạnh mà em có, ước mơ cũngnhư tất cả những điều mà trẻ quan tâm )
Với ông bà của thân chủ: nhằm thu thập thông tin về hoàn cảnh giađình và sinh hoạt thường ngày của gia đình
Với mẹ thân chủ: nhằm thu thập thông tin về cuộc sống gia đình cũngnhư những suy nghĩ, tình cảm đối với gia đình (đặc biệt là với thân chủ)
Với cán bộ phụ trách mảng chính sách thuộc chính quyền phườngĐông Vĩnh: nhằm tìm hiểu những chính sách liên quan đến thân chủ, mức độthực hiện những chính sách đó
5.2.3 Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu nhân viên CTXH đã tham khảo và sử dụngcác tài liệu từ các báo cáo tổng kết hàng năm trên tất cả các mặt của Uỷ banphường Đông Vĩnh; các văn bản, nghị định pháp luật của nhà nước và các tài
Trang 11liệu liên quan khác về vấn đề trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt nói riêng
Qua đó để phân tích và tìm hiểu thực trạng về đời sống, các khó khăncủa của đối tượng, cũng như việc thực hiện công tác hỗ trợ trẻ em có hoàncảnh khó khăn tại phường và tìm ra những điểm mạnh, nguồn lực hỗ trợ đểgiúp đỡ đối tượng
5.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm là một phương pháp cụ thể để thu thập thông tintrongCTXH, bởi vì mục đích cuối cùng của phương pháp cũng là thu thậpthông tin thực nghiệm từ thực tế xã hội giúp cho việc kiểm nghiệm các giảthuyết
Có thể hiểu đây là quá trình thâm nhập thực tế để kiểm chứng, kiểmnghiệm những thông tin mà mình đã thu thập được nhằm có được thông tinđầy đủ, chính xác cho đề tài nghiên cứu
5.3 Phương pháp thực hành
5.3.1 Phương pháp công tác xã hội cá nhân
CTXH là một chuyên ngành để giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồngtăng cường hay khôi phục việc thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo điềukiện thích hợp để họ đạt được các mục tiêu đó
CTXH cá nhân là quá trình nhân viên công tác xã hội sử dụng các kiếnthức, kỹ năng chuyên môn để giúp cá nhân phát huy các tiềm năng của mình
và tham gia vào quá trình tự giải quyết các vấn đề, cải thiện điều kiện sốnghiện tại của bản thân
Tiến trình CTXH cá nhân bao gồm các bước của hoạt động CTXH với
cá nhân do nhân viên CTXH và đối tượng thực hiện để cùng giải quyết vấn đềcủa đối tượng
Tiến trình này bao gồm 7 bước:
Trang 12mà họ mặc cho số phận, nhất là các thân chủ là trẻ em Do vậy, một hay haicuộc vãng gia là điều cần thiết để có niềm tin của thân chủ vào NVXH.
Và vãng gia là việc nhân viên CTXH đến thăm nơi ở hiện tại của thân chủ,nhóm thân chủ và vấn đàm về vấn đề của họ Thông qua đó NVXH có thể thuthập thông tin, chia sẻ, thấu cảm những vấn đề của thân chủ và các vấn đề liênquan Đây là phương pháp được thực hiện trong suốt những buổi NVXH gặpmặt và giúp thân chủ giải quyết vấn đề
Phương pháp vãng gia được tác giả khóa luận sử dụng song hành cùng vớiphương pháp CTXH cá nhân với mục đích đến thăm nơi ở của thân chủ, thựchiện vấn đàm với trẻ Thông qua đó thuc thập thông tin, chia sẻ, thấu cảm vớitrẻ em nghèo, có HCĐB từ chính thân chủ cũng như những người thân củathân chủ Tìm hiểu hoàn cảnh, môi trường, những khó khăn và nhu cầu củathân chủ, từ đó đưa ra kế hoạch trợ giúp thân chủ tháo gỡ khó khăn
6 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 13- Giả thuyết 1: Trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt gặp nhiều khó khăn trong
cuộc sống và không thể có đủ điều kiện để phát triển như những trẻ em bìnhthường khác
- Giả thuyết 2: Khó khăn về mặt kinh tế của gia đình, sự thiếu thốn tình
thương yêu của người thân và cộng đồng, cùng với thực tế các chính sáchchăm sóc, hỗ trợ trẻ em nghèo, có HCĐB ở phường Đông Vĩnh chưa thật sựmang lại hiệu quả là những yếu tố chính cản trở em trong cuộc sống
- Giả thuyết 3: Sự quan tâm đúng mức của cộng đồng, xã hội và việc đưa ra
mô hình hỗ trợ hiệu quả từ phía NVXH sẽ giảm bớt những khó khăn cho trẻ
em, giúp trẻ hòa nhập tốt hơn vào cuộc sống của mình Điều đó minh chứngcho vai trò ngày càng quan trọng và cần thiết về sự hiện diện của những nhânviên CTXH trong tương lai
Trang 14
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 : Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1 1 Cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
1.1.1 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài
1.1.1.1 Lý thuyết hệ thống
Hệ thống là tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ vớinhau để hoạt động thống nhất Một hệ thống bao gồm nhiều tiểu hệ thống,đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn
Cá nhân là một tiểu hệ thống của hệ thống xã hội, gia đình Nhưng ởkhía cạnh khác mỗi cá nhân là một hệ thống, bao gồm các tiểu hệ thống nhưlà: Sinh lý, nhận thức, tình cảm, hành động, phản ứng…
Thuyết hệ thống cho rằng, cuộc sống bình thường của con người chịuảnh hưởng bởi môi trường xã hội hiện tại, sự can thiệp tại bất cứ điểm nàotrên hệ thống cũng dẫn tới sụ thay đổi của toàn bộ hệ thống
Có 3 hình thức hệ thống cơ bản:
• Hệ thống phi chính thức: Gia đình, bạn bè…
• Hệ thống chính thức: Cộng đồng
• Hệ thống xã hội: Bệnh viện, trường học…
Cách tiếp cận hệ thống giúp nhân viên CTXH hiểu về các thiết chế xã hội,biết cách thức mà các cá nhân tương tác với nhau, những nhân tố nào hỗ trợcho sự thay đổi sẽ tham gia vào quá trình giúp đỡ
Việc tiếp cận thuyết hệ thống cho chúng ta hiểu hơn mối quan hệ của trẻ vớimôi trường xung quanh, tìm hiểu các yếu tố tác động đến trẻ em nghèo, cóhoàn cảnh khó khăn và qua đó sẽ phát hiện và huy động các nguồn lực để hỗtrợ, giúp đỡ trẻ hiệu quả
Trang 151.1.1.2 Lý thuyết vai trò:
Mỗi người chúng ta đều có những vai trò khác nhau mà chúng ta đảmnhận trong cuộc sống Khi gia nhập vào một mối quan hệ xã hội, chúng taluôn mong đợi mình cũng như những người xung quanh hoàn thành vai tròđược giao Nhưng nếu bất kỳ một cá nhân nào không hoàn thành vai trò củamình sẽ tạo nên mâu thuẫn và ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của ngườikhác
Vận dụng thuyết vai trò trong CTXH cá nhân với một trẻ em nghèo, cóhoàn cảnh khó khăn để phân tích ảnh hưởng của việc người thân không đóngtốt vai trò của mình lên cuộc sống của trẻ Đồng thời thấy được mối liên hệvai trò chặt chẽ giữa trẻ với các thiết chế rộng hơn đó là cộng đồng, xã hội
1.1.1.3 Thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học Maslow
Theo Maslow con người có 5 nhu cầu cơ bản cần được thoả mãn là:
- Nhu cầu về vật chất, sinh lý
- Nhu cầu về an toàn
- Nhu cầu về xã hội (hay nhu cầu được yêu thương)
- Nhu cầu được tôn trọng
- Nhu cầu được thể hiện mình (hay tự khẳng định mình)
Các nhu cầu đó được sắp xếp theo một thứ tự bậc (nấc) thang nhấtđịnh và khi đạt được nhu cầu cơ bản con người sẽ hướng tới các nhu cầu khác
ở nấc thang cao hơn
Trang 16Bậc thang nhu cầu của Maslow
- Nhu cầu sinh lý (nhu cầu sinh tồn): Đây là nhu cầu đặc biệt quan
trọng và là nhu cầu đầu tiên của con người, nhu cầu này đảm bảo nơi ăn, ở, đilại, học hành, y tế Nếu như nhu cầu cơ bản này chưa được đáp ứng đủ thì cácnhu cầu khác ít có động cơ thúc đẩy Ngược lại khi nhu cầu này được đáp ứngthì các nhu cầu kế tiếp lại xuất hiện trội hơn và tiếp tục như vậy Và khi nhucầu sinh lý được thỏa mãn thì con người sẽ hướng về sự an toàn
- Nhu cầu được an toàn: là nhu cầu không bị đe dọa và không bị mất nhu cầu
sinh lý Đây là nhu cầu tự duy trì và chuẩn bị cho tương lai vững chắc hơn
An toàn có nghĩa là an toàn để sống trong một môi trường cho phép sự pháttriển của con người được liên tục và lành mạnh Điều này có thể có nghĩa làmột ngôi nhà, công việc, điều kiện được chăm sóc y tế, và sự bảo vệ cơ thể.Nhu cầu an toàn này dễ quan sát thấy ở trẻ em nhiều hơn vì đối với trẻ em,những gì đột ngột và có tính cách đe dọa đều khiến cho chúng cảm thấy bất
an Nhu cầu an toàn thể hiện trong việc tìm kiếm sự bảo vệ và ổn định từ tiềnbạc, sức khỏe, công việc và thu nhập ổn định, sự tin tưởng ở tương lai Khi
Nhu cầu sinh lý
Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu
tự khẳng định mình
Trang 17nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn đã được thỏa mãn tốt thì nhu cầu xã hộihay hội nhập lại xuất hiện trội hơn.
- Nhu cầu xã hội: Trong đời sống, mỗi cá nhân đều mong muốn mình "thuộc
về" các nhóm khác nhau và được chấp nhận, được yêu thương, cố gắng có mối quan hệ giao tiếp tốt đẹp với người khác Con người thèm khát những quan hệ thân ái với người khác nói chung, và một chỗ đứng trong lòng những người xung quanh nói riêng Cảm tưởng không được yêu thương, bị bỏ rơi, không được gắn bó với người khác…là cội rễ của hầu hết những trường hợp không hội nhập Chúng ta đã ghi nhận được là trẻ em trong một số trai mồ côi
dù được chăm sóc tốt về mặt thể chất, nhưng các em không lớn lên (được gọi
là “lùn tâm lý”) và phát triển bình thường như trẻ em khác
- Nhu cầu được tôn trọng: Khi đã được người khác chấp nhận thì con người
lại muốn được đánh giá cao Điều này đơn giản là nhu cầu cảm thấy mình tốt, cảm nhận con người mình có giá trị và một chút tự hào về những thành quả của bản thân Một mặt, con người muốn tự do và độc lập, mặt khác cũng muốn có sức mạnh, năng lực khi đối phó với cuộc đời Việc thỏa mãn nhu cầuđược tôn trọng này giúp con người tự tin, uy tín, quyền lực và sự kiềm chế Con người cảm thấy có ích và có ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, được sự kính nể của người khác Sự tự nhìn nhận của mọi người giúp cho conngười nỗ lực nhiều hơn nữa
- Nhu cầu tự khẳng định mình (tự thể hiện mình): Khi nhu cầu được tôn trọng
đã được thỏa mãn thì nhu cầu tự khẳng định mình trở nên mạnh hơn vì conngười cảm thấy vẫn chưa được hài lòng Tự khẳng định mình là nhu cầu đểtăng đến mức tối đa tiềm năng của một người Nhu cầu này bao gồm nhữngkhát vọng và những nỗ lực để trở thành cái mà một người có khả năng trởthành Tự khẳng định mình là mong muốn làm cái điều mà người ta có thể đạtđược Đó là nhu cầu về phát triển nhân cách, chính cơ hội để phát triển tiềm
Trang 18năng của bản thân và những kỹ năng của một con người tạo cho ta một cảmgiác quan trọng về tự hoàn thiện
Trong quá trình xem xét các nhu cầu của con người nói chung và nhu cầucủa trẻ em nghèo, có HCĐB nói riêng thì nhân viên CTXH cần biết rằng cácnhu cầu trên luôn có mối quan hệ với nhau Chúng ta cần phải đi từ nhu cầuthấp đến nhu cầu cao, tiến tới sự phát triển bền vững của mỗi bản thân conngười
Và trẻ em vốn là lứa tuổi có tâm lý nhạy cảm vì vậy nhu cầu của trẻnhiều hơn và cần được đáp ứng kịp thời nhằm đảm bảo cho trẻ có sự pháttriển toàn diện về nhân cách Với trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt thì tâm
lý và đời sống của trẻ luôn căng thẳng và thiếu thốn so với những đứa trẻ bìnhthường khác Nên cần xác định và đáp ứng kịp thời, tối đa nhu cầu cho trẻ
* Các Nhu cầu cơ bản của trẻ em
- Nhu cầu sinh lý: bao gồm ăn, ở, đi lại, điều kiện chăm sóc bảo vệ sứckhoẻ Tất cả các yếu tố này bảo đảm sự phát triển thể lực của các em
- Nhu cầu được sống với cha mẹ và đoàn thể gia đình: gia đình là môitrường tốt nhất để trẻ em được thương yêu chăm sóc đầy đủ và được bảo vệ
an toàn Vì vậy để đảm bảo lợi ích tối đa cho trẻ em, cần phải tạo điều kiệncho trẻ em được sống với cha mẹ và được đoàn tụ gia đình
- Nhu cầu vui chơi, học hành và phát triển trí tuệ: hoạt động này sẽ giúpcác em trải nghiệm cuộc sống, phát triển trí tuệ, tích luỹ những hiểu biếtnhững kiến thức cho mai sau
- Nhu cầu được thừa nhận tôn trọng: trẻ em có quyền bày tỏ quan điểmsuy nghĩ của mình Việc thừa nhận tôn trọng trẻ em làm tăng khả năng tự tin,trẻ dễ hoà nhập hơn
1.1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.2.1 Khái niệm " Công tác xã hội" :
Trang 19Có rất nhiều khái niệm về công tác xã hội (CTXH), trong "Foundation ofsocial work practice" - Cơ sở thực hành công tác xã hội: Công tác xã hội làmột khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của
họ và đạt được vị trí ở độ phù hợp trong xã hội Công tác xã hội được coi nhưmột môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và nhữngnghiên cứu đã được minh chứng Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sởthực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa"
Định nghĩa của hiệp hội quốc gia những người làm CTXH Mỹ (NASW 1970): " CTXH là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoacwj cộngđồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức nnăng xã hội của họ
-và tạo điều kiện thích hợp để đạt được mục tiêu đó"
Theo hiệp hội CTXH thế giới thì CTXH là một hoạt động chuyên nghiệpnhằm tạo ra sự phát triển của xã hội thông qua sự tham gia vào quá trình giảiquyết các vấn đề xã hội, tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng củamỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH giúp cho con người phát triển đầy
đủ, hài hào và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân
Trong nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm CTXH nhằm khẳng định vai trò
và vị thế của ngành CTXH trong tương lai đối với trẻ em nghèo, có HCĐB.Nghề CTXH sẽ góp phần cải thiện và mang lại nhiều điều tốt đẹp cho cuộcsống của trẻ em nghèo, có HCĐB nói riêng và cho xã hội nói chung
1.1.2.2 Khái niệm nhân viên CTXH:
Nhân viê CTXH là người được đào tạo chuyên nghiệp về CTXH có bằng cấpchuyên môn Đó là những cán bộ, những chuyên gia có khả nang phân tíchcác vấn đề xã hội, biết tổ chức vận động, giáo dục, biết cách thức hành độngnhằm mục đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trongmọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình cải thiện,tăng cường chất lượng cuộc sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng
Trang 20"Người cán bộ CTXH phải là những người biết kết hợp chặt chẽ lý thuyết vớithực tiễn, thành thạo các phương pháp và kỹ năng chuyên môn
Bài nghiên cứu này sử dụng khái niệm nhân viên CTXH với mục đích xácđịnh rõ vai trò của nhân viên CTXH trong việc giúp đỡ các đối tượng yếu thếnói chung và trẻ em nghèo có HCĐB nói riêng
1.1.2.3 Khái niệm vai trò:
Vai trò là hành vi xã hội được mong đợi tương ứng với vị thế xã hội Nói cáchkhác vai trò là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vàođòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện những quyền vànghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó
Khái niệm vai trò được nêu trong bài nghiên cứu với mục đích xác định cáchành vi tương thích với vị trí của người nhân viên CTXH trong việc giúp đỡ
và cung cấp các dịch vụ xã hội cho trẻ em nghèo, có HCĐB
1.1.2.4 Khái niệm trẻ em
* Khái niệm trẻ em theo pháp luật Quốc tế
Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: "Trong phạm vi công ước nàytrẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi"
Những quy tắc tối thiểu phổ biến của liên hợp quốc về bảo vệ người chưathành niên bị tước quyền tự do nêu rõ: "Những người chưa thành niên làngười dưới 18 tuổi"
Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế thì trẻ em và người chưa thànhniên là người dưới 18 tuổi
* Khái niệm trẻ em theo pháp luật Việt Nam
Căn cứ vào những điều kiện, đặc điểm con người Việt Nam; luật bảo vệ chămsóc giáo dục trẻ em xác định: trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi
Trang 21Còn đối với người chưa thành niên, pháp luật Việt Nam có sự thống nhất về
độ tuổi với pháp luật quốc tế Bộ luật dân sự nêu rõ "người chưa đủ 18 tuổi làngười chưa thành niên
Như vậy ở Việt Nam, trẻ em và người chưa thành niên được hiểu khác nhau,theo đó trẻ em chỉ bao gồm những người chưa thành niên dưới 16 tuổi
1.1.2.5 Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường vềthể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện các quyền cơ bản vàhoà nhập với gia đình và cộng đồng (điều 3 luật bảo vệ - chăm sóc và giáodục trẻ em năm 2004)
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em dưới 16 tuổi do nhiều lý do khác nhau
mà rơi vào hoàn cảnh sau:
- Trẻ em nghèo: là những trẻ em dưới 16 tuổi, thiếu thốn cả về vật chất và tinh
thần, có mức sống dưới mức trung bình so với các trẻ em cùng đồng lứa tuổi
- Trẻ em lang thang là những trẻ dưới 16 tuổi, rời bỏ gia đình, tự kiếm sống
hoặc theo gia đình đi kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn định
- Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi là những trẻ em dưới
16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ không có nơi để nương tựa
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học là những
trẻ em dưới 16 tuổi bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chứcnăng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm giảm khả năng lao động,khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn
- Trẻ em lạm dụng sức lao động là trẻ em đi làm ở độ tuổi nhỏ dưới quy định
của pháp luật đã đi làm vì mưu sinh cho bản thân và gia đình, công việc đócác em chịu trách nhiệm lớn hoặc quá sức mình hoặc những công việc ảnhhưởng đến sự phát triển tinh thần và thể chất
Trang 22- Trẻ em bị xâm hại tình dục là trẻ em dưới 16 tuổi bị người khác xâm hại vìmục đích thương mại hay thoả mãn nhu cầu của họ.
- Trẻ em nghiện ma tuý: là những đứa trẻ dưới 16 tuổi sử dụng thường xuyên
chất gây nghiện
1.1.2.6 Khái niệm trẻ em nghèo:
Hiện nay chưa có khái niệm hay quan điểm nào chính thức về trẻ emnghèo, tuy nhiên theo suy nghĩ của tác giả khóa luận thì trẻ em nghèo đượcnhìn nhận như sau:
Trẻ em nghèo là những trẻ em dưới 16 tuổi, thiếu thốn cả về vật chất,
và tinh thần ít có điều kiện để vui chơi giải trí, học hành và tham gia vào hoạtđộng xã hội, thuộc những hộ nghèo đói
Trẻ em nghèo được chia theo vùng và khu vực
- Trẻ em nghèo miền núi, hải đảo
- Trẻ em nghèo nông thôn trung du
- Trẻ em nghèo thành thị
1.1.2.7 Khái niệm " Bảo vệ trẻ em" :
Bảo vệ trẻ em là khái niệm chung về công tác phòng ngừa, ngăn chặncác nguy cơ và hành động lạm dụng, bóc lột trẻ em (theo từ điển Bách khoaViệt Nam, tập 1, trang 641)
Hay bảo vệ trẻ em chính là thực hiện hành động nhằm phòng ngừa vàngăn chặn không để trẻ em bị sao nhãng, bị lạm dụng cũng như hỗ trợ các trẻ
em rơi vào hoàn cảnh khó khăn được giúp đỡ, phục hồi, phát triển trong môitrường an toàn, lành mạnh
Hình thức đơn giản nhất của bảo vệ trẻ em là bảo đảm cho trẻ emkhông bị xâm hại Bảo vệ trẻ em chính là công tác chung không chỉ củanhững người có trách nhiệm trực tiếp với các em như cha mẹ hoặc người thân
trong gia đình mà còn là trách nhiệm xã hội của cộng đồng và nhà nước
Trang 231.1.2.8 Khái niệm " hỗ trợ xã hội" :
Hỗ trợ xã hội là sự đảm bảo của nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân vềthu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu bằng các hình thức và biện phápkhác nhau đối với các thành viên trong xã hội khi họ rơi vào hoàn cảnh rủi ro,bất hạnh, nghèo đói, yếu thế hoặc hụt hẫng trong cuộc sống mà bản thân họkhông đủ khả năng tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình ở mức tốithiểu
Hỗ trợ xã hội được thực hiện thông qua nhiều hình thức như trợ cấp xãhội hàng tháng, trợ cấp một lần hay đột xuất, hỗ trợ phục hồi chức năng hay
hỗ trợ pháp lý, học nghề hay tạo việc làm phù hợp Hỗ trợ xã hội không chỉgiúp đối tượng vượt qua những khó khăn trước mắt mà giúp đối tượng nângcao khả năng vượt qua những khó khăn trong tương lai
Như vậy, hỗ trợ xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có mộtvai trò rất lớn bởi vì các em còn thiếu thốn nhiều về mặt vật chất Ngoài chế
độ trợ cấp xã hội được thực hiện theo Nghị định 67/2007/NĐ - CP và việckhuyến khích cá nhân, tổ chức ngoài xã hội đóng góp từ thiện để giúp trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt vượt qua khó khăn trước mắt thì nhà nước ta cũng cầnthực hiện thêm những chính sách khác nữa trong các lĩnh vực như giáo dục, y
tế, hỗ trợ tạo việc làm…để các em có điều kiện hoà nhập cộng đồng
1.1.2.9 Khái niệm " Chính sách xã hội" :
Chính sách xã hội có thể hiểu là một công cụ tác động vào các quan hệ
xã hội nhằm giải quyết các vấn đề đang đặt ra để thực hiện sự công bằng, tiến
bộ xã hội
Chính sách xã hội nghiên cứu những nguyên nhân, tính chất của nhữngkhác biệt trong xã hội để từ đó có thể điều chỉnh hoặc giảm bớt những hậuquả do sự khác biệt xã hội tạo ra, tạo điều kiện tối ưu nhất về môi trưỡng xãhội và môi trường tự nhiên cho con người
Trang 241.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở thực tiễn
1.2.1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
* Thực trạng trẻ em nghèo ở Việt Nam:
Đất nước ta đang phát triển với tốc độ mạnh mẽ, sự phát triển khoa học kỹthuật, sự bùng nổ thông tin đã tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hộimột cách nhanh chóng và khoa học Một mặt nó đã đưa đất nước ta bước sangmột trang mới, một kỷ nguyên mới, đời sống nhân dân cả nước ngày càngđược nâng cao và đảm bảo sự phát triển toàn diện của mỗi thành viên trong xãhội ở một mức độ nhất định Tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được nhữngthành tựu nổi bật thì lại xuất hiện nhiều vấn đề xã hội mà chúng ta cần quantâm đó là vấn đề tệ nạn xã hội, thất nghiệp, sự đồi truỵ về văn hoá làm phai
mờ một phần nào đó bản sắc văn hoá dân tộc… trong vô vàn vấn đề đó thìvấn đề trẻ em cũng đang là vấn đề trẻ em nghèo, có HCĐB
Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai "Hãy giành những gì tốt nhất chotrẻ em để những thế hệ tương lai của đất nước có những vững mạnh, sẵn sàngtiếp bước thế hệ cha anh" Tuy nhiên trên thực tế tình trạng trẻ em nghèo, cóHCĐB vẫn còn là vấn đề nan giải Việt Nam là một nước nông nghiệp mộtmặt do hậu quả chiến tranh, mặt khác điều kiện thiên nhiên trong mấy nămgần đây lại bất ổn định, số gia đình bị mất trắng mùa màng diễn ra rất nhiều
cả ở đồng bằng, miền núi và trung du Tệ nạn xã hội, giá cả leo thang vànhiều lý do khách quan khác cũng đẩy nhiều gia đình thành thị rơi vào hoàncảnh khó khăn và trẻ em nghèo Ước tính có khoảng 56.000 trẻ em nghèotrong cả nước, đây là con số báo động đối với Đảng và nhà nước cùng với cáccấp, các ngành, các đoàn thể có thẩm quyền liên quan Do gia đình nghèo nêntrẻ em thuộc những gia đình đó phải trở thành thành viên lao động thực sựtrong gia đình Các em phải nghỉ học sớm để phụ giúp gia đình, phải đi lang
Trang 25thang, làm ăn xa để kiếm tiền giúp đỡ cho bố mẹ Trình độ văn hoá gần 85%trẻ em học hết cấp I, chỉ có một số em học phổ thông cơ sở, phổ thông trunghọc nhưng con số này rất khiêm tốn.
Tình trạng trẻ em nghèo có nguy cơ trẻ em bị lạm dụng sức lao độngngày càng tăng, làm việc sớm so với tuổi…điều đó ảnh hưởng tới việc chămsóc, giáo dục, bảo vệ quyền của các trẻ em và điều quan trọng đó là ảnhhưởng tới tương lai của đất nước và của chính các em
Cuộc sống của trẻ em nghèo đang là vấn đề nóng bỏng của cộng đồng
và xã hội Do điều kiện kinh tế gia đình thiếu thốn các em phải nghỉ học sớm,việc tiếp cận với thông tin đại chúng bị hạn chế nên sự hiểu biết của các emkém, nó làm ảnh hưởng tới nhận thức của các em tới việc chăm sóc cho bảnthân mình cũng như nhiều vấn đề xã hội khác
Tất cả những điều trên sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển
về trí lực và thế lực của các em, ở khía cạnh sâu sắc hơn là ảnh hưởng tới sựphát triển của nền kinh tế của đất nước
Trong hơn 7 triệu trẻ em nghèo của cả nước thì số có hoàn cảnh khó khănchiếm tỷ lệ khá lớn khoảng 4,5 triệu trẻ em Trong đó trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt khó khăn lên đến 1,7 triệu em (Nguồn báo Nhân Dân, cập nhật ngày21/04/2011).Trong bối cảnh kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay,thì trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt lại càng bị thiệt thòi và dễ bị tổnthương nhiều nhất
Thời gian gần đây, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chínhsách luật pháp đối với công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em như chính sách hỗtrợ về nuôi dưỡng, giáo dục, học nghề, tạo việc làm, chăm sóc sức khỏe,chính sách hỗ trợ về văn hóa, thông tin
Tuy vậy, một thực tế là các chính sách và luật pháp mới chỉ coi trọngđến bảo vệ chăm sóc trẻ em bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt mà chưa có chính
Trang 26sách và luật pháp để hỗ trợ đúng mức trẻ em nghèo, cận nghèo và có nguy cơrơi vào hoàn cảnh đặc biệt
Và không phải trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nào cũng được hưởng trợcấp xã hội của nhà nước Điều kiện để trẻ em được hưởng trợ cấp xã hội:
- Trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, trẻ em bị bỏ rơi mất nguồn nuôi dưỡng;Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại mất tích (theo quy định tạiđiều 78 của bộ luật dân sự)
- Trẻ em có cha, mẹ hoặc cả hai người đang trong thời gian chấp hànhhình phạt giam giữ, mà không còn người nuôi dưỡng; trẻ em bị nhiệmHIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo (Khoản 1, điều 4 nghị định 67/2007 NĐ-CP)
Do điều kiện kinh tế - xã hội từng địa phương nói riêng và cả nước nói chungcòn nhiều khó khăn nên số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởngtrợ giúp xã hội còn hạn chế
Góp phần xử lí và giải quyết vấn đề đối với trẻ em nghèo, trẻ em có hoàncảnh đặc biệt một mặt cần thực hiện tốt và sáng tạo các chính sách, luật pháp
đã có Mặt khác cần tiếp tục bổ sung, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chínhsách, luật pháp đối với trẻ em và coi đây là công việc thật sự cấp bách và có ýnghĩa thực tiễn, thiết thực đối với trẻ em hiện nay, cũng là để tăng cường nhânlực cho đất nước ngày mai
* Đặc điểm - điều kiện sống của trẻ em nghèo:
- Vấn đề về nhà ở
Cuộc sống của những trẻ em nghèo rất khó khăn vất vả Những giađịnh nghèo thì vấn đề nhà ở cũng là cách đánh giá thuộc về vật chất củachuẩn nghèo đói Trẻ em nghèo sống cùng với gia đình dưới mái chật hẹp, ẩmthấp, lụp xụp và thiếu thốn các tiện nghi sinh hoạt hàng ngày Theo điều tra
Trang 27của chính quyền Phường thì trung bình ở mỗi khối có tới 80% ngôi nhà củanhững gia đình nghèo không đảm bảo an toàn cho cuộc sống, nhất là vào mùamưa bão Điều này ảnh hưởng rất lớn đến cuốc ống của các em nhỏ ở gia đìnhnghèo.
- Vấn đề ăn uống:
Kinh tế khó khăn, không có tiền để trang trải cuộc sống trong đó cóviệc phục vụ ăn uống hàng ngày Hầu hết các bữa ăn của các gia đình nghèođều rất đơn giản và đạm bạc, thường là chỉ có rau xanh và cơm Chất lượnggạo cũng không đảm bảo, điều đó ảnh hưởng tới sức khoẻ và thể lực của các
em Do tiền không có, bố mẹ cho ăn gì thì tuỳ Nhìn chung trung bình hàngtháng các em chỉ ăn 3 đến 5 bữa là có chất như thịt cá Điều kiện kinh tế củagia đình thuộc hộ nghèo quyết định đến sinh hoạt toàn bộ của các em
- Điều kiện học hành:
Việc học hành của các em phụ thuộc vào gia đình mà gia đình thìkhông thể chu cấp đầy đủ, điều này đã hạn chế các em trong việc tiếp cận trithức của mình Nhiều gia đình phải cho con nghỉ học giữa chừng, không chođến trường và các em phải lao động sớm để kiếm thêm thu nhập hoặc phụgiúp bố mẹ Mặc dù hiện nay điều kiện kinh tế đã khá giả nhưng những giađình nghèo vẫn chưa nhận thức được việc học hành của con cái họ là quantrọng, họ thường nói "học làm gì", bởi vì trình độ học vấn của họ cũng rấtthấp Vì vậy, tỷ lệ trẻ em nghèo, có HCĐB là không cao, và càng lên cao thì
số trẻ em đi học là thấp
- Trẻ em nghèo bị suy dinh dưỡng
Vấn đề dinh dưỡng ở những trẻ em nghèo cũng đang là vấn đề quantrọng Nhưng trong thực tế, điều kiện nhà ở không đảm bảo, chất lượng bữa
ăn đạm bạc cộng thêm vào đó là lao động sớm, không được chăm sóc sứckhỏe thường xuyên nên tình trạng còi cọc, thiếu cân nặng, da xanh xao và
Trang 28nhiều bệnh tật phổ biến ở các trẻ em sống trong những gia đình nghèo, hoàncảnh khó khăn Sức khỏe không đảm bảo nên khả năng chống chọi bệnh tậtcũng kém hơn những trẻ em bình thường khác.
- Vấn đề vui chơi giải trí
Việc vui chơi giải trí theo một thời gian biểu nhất định là không có đốivới trẻ em nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt Thời gian làm việc của những thànhviên trong gia đình cũng chiếm gần như toàn bộ thời gian trong ngày, vì vậyviệc quan tâm đến trẻ và chơi cùng trẻ là rất hiếm Thêm vào đó, mặc cảm tự
ti về bản thân và thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng với trẻ emnghèo, có HCĐB cũng là yếu tố hạn chế các em trong quá trình vui chơi, tạonên tâm lý e ngại tham gia hoạt động chung của tập thể Thời gian nghỉ ngơi,vui chơi giải trí không hợp lí không những ảnh hưởng tới sức khoẻ mà cònảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý bình thường của các em
* Nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em nghèo, có HCĐB:
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em bị nghèo đói đó là giađình không có thu nhập, làm nông nghiệp bị thất bát, mùa màng mất trắng,điều kiện kinh tế gia đình khó khăn không có nguồn lực cũng như cơ hội đểphát triển
- Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định
- Nguyên nhân về nhân khẩu học
- Đặc điểm tự nhiên và cơ cấu sản xuất:
- Những tác động của chính sách vĩ mô đến người nghèo
Trang 29- Bất bình đẳng về giới, bệnh tật và sức khỏe kém cũng là yếu tố đẩycon người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng.
- Đô thị hóa quá tải
* Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nghèo khổ của các gia đình thành thị
- Thiếu nhân lực lao động chính và đông con
Trong các khảo sát về nghèo đói, các khía cạnh về nguồn lực luôn được đặcbiệt quan tâm bởi chiến lược sinh sống của con người không thể thiếu cácnguồn lực Nghèo ở đô thị, con người với khả năng lao động là nguồn lực cơbản nhất quyết định tình trạng kinh tế của cá nhân và gia đình Tỷ lệ phụ nữ ởthành phố Vinh nghèo do chồng mất chiếm 34,5% Theo quan niệm của người
Việt, người chồng là trụ cột của gia đình nên có câu: “con không cha như nhà không nóc”.
Đông con cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân của hộnghèo Trong gia đình càng có nhiều người "ăn theo" thì những người laođộng chính càng khó để có thể kiếm được đủ ăn cho cả nhà, đấy là chưa kểđến những nhu cầu bình thường trong cuộc sống như việc học hành của concái, khám chữa bệnh cũng không thể được đáp ứng Có thể nói đông con vừa
là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói
- Nghề nghiệp không ổn định và thu nhập bấp bênh
Các gia đình nghèo ở thành phố Vinh có cơ cấu nghề nghiệp khá đa dạng, tậptrung chủ yếu ở hai nhóm nghề nghiệp thuộc khu vực phi chính thức là laođộng tự do và buôn bán nhỏ chiếm tỷ lệ cao nhất Tình trạng thay đổi côngviệc, thất nghiệp là hiện tượng phổ biến trong thị trường lao động này Nghềnghiệp không ổn định càng làm cho thu nhập của họ thêm bấp bênh Mức thunhập bình quân đầu người của hộ nghèo ở thành phố Vinh qua khảo sát là330.000đ/người/tháng (tức là 4.000.000đ/người/năm) Đây là mức thu nhậpthấp so với mức thu nhập bình quân đầu người ở thành phố Vinh năm 2009 là29.900.000/người/năm(1)
- Trình độ học vấn thấp
Trang 30Trình độ học vấn của người lao động được coi là một yếu tố vốn của conngười và là yếu tố quyết định khả năng tham gia vào thị trường lao động.Trình độ học vấn và nghèo khổ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Qua nghiêncứu cho thấy, trình độ học vấn của các thành viên gia đình nghèo ở thành phốVinh nhìn chung là thấp: chưa bao giờ đi học (5%); tiểu học (31%); Trunghọc cơ sở, (34,5%); Phổ thông trung học (26,5%); trung cấp, dạy nghề (2,5%)Việc vẫn còn nhiều người nghèo (phần lớn là người cao tuổi) mù chữ (5%)gây khó khăn trong tìm kiếm việc làm và làm giảm thu nhập của họ.
- Nghèo vốn xã hội
Vốn xã hội là các mối quan hệ gia đình, họ hàng, cộng đồng với xã hội của
cá nhân hay hộ gia đình nghèo Đây là những yếu tố tích cực có thể giúp họvượt qua được những hoàn cảnh có thể dẫn đến tình trạng nghèo khổ hoặcgiúp họ giảm bớt được tình trạng nghèo khổ Tuy nhiên, qua các trường hợpđược phỏng vấn cho thấy, khi có khó khăn trước hết họ tự tìm cách xoay xởnhư vay lãi, mua chịu, nếu không được mới nhờ cậy hàng xóm Nhưng vìcộng đồng của họ cũng nghèo nên khả năng giúp đỡ lẫn nhau cũng bị hạnchế Anh em, họ hàng cũng nghèo nên không phải hộ nghèo nào cũng nhậnđược sự giúp đỡ từ phía người thân, họ hàng Trong số các gia đình nghèo ởthành phố Vinh có 52,5% nhận được sự hỗ trợ từ gia đình nội, ngoại, 47,5%các gia đình trả lời không nhận được bất kỳ một sự hỗ trợ vật chất và tinhthần gì từ gia đình nội, ngoại
- Tính dễ bị tổn thương
Theo Ellen Wartten, "Dễ bị tổn thương không hoàn toàn đồng nghĩa với nghèo đói, nhưng họ rất ít khả năng tự bảo vệ, bấp bênh và dễ bị rơi vào rủi
ro, sốc và căng thẳng" Trong số những người nghèo, lại có những nhóm ở
tình trạng bấp bênh hơn những người nghèo khác Việc làm không ổn định,thu nhập thấp, bấp bênh làm cho tình cảnh của những người nghèo trở nênkhó khăn hơn Những nhóm người này không hẳn là bần hàn nhưng bất cứmột biến động đời sống hay xã hội nào dù là nhỏ cũng có thể đẩy họ vàocảnh bần cùng
Qua nghiên cứu ở thành phố Vinh có 49,5% gia đình nghèo cho rằng giađình có người ốm đau là một nguyên nhân khiến gia đình họ rơi vào tình
Trang 31trạng nghèo Bên cạnh rủi ro về bệnh tật, một nguy cơ khác đẩy gia đình rơivào tình trạng nghèo là tệ nạn xã hội Có 16% số gia đình nghèo cho rằng tệnạn xã hội là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèocủa gia đình Khi một người trong gia đình có liên quan đến tệ nạn xã hội(chủ yếu là nghiện rượu và ma túy) thì đi kèm với điều đó là thiếu tráchnhiệm với gia đình.
- Nguyên nhân tác động liên quan đến chính sách giảm nghèo
Trong những năm qua, chính quyền thành phố đã quan tâm và chú trọng đếncông tác giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo của thành phố giảm rõ rệt qua từngnăm: năm 2007: 5,6%; năm 2008 là 4,3%, năm 2009 là 3%; chỉ tiêu đặt racho năm 2010 là 2% Đến quý III/2009, toàn thành phố có 3.653 hộ nghèođược vay vốn, 662 người được vay vốn giải quyết việc làm và 59 ngườiđược vay vốn xuất khẩu lao động [6; 4]
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công tác giảm nghèo vẫn còn tồntại những hạn chế liên quan đến công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động giảmnghèo ở nhiều phường, xã Công tác chỉ đạo của lãnh đạo địa phương và banchỉ đạo chưa linh hoạt trong việc huy động và khai thác các tiềm năng, nộilực của địa phương để giảm nghèo hiệu quả Thêm vào đó, tốc độ giảmnghèo ở các xã còn chậm hơn nhiều so với các phường, tỷ lệ hộ nghèo ở 9
xã còn cao (8,16%), số hộ thoát nghèo do bán đất ở chiếm gần 5% [5; 4].Một số hộ nghèo có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất chưa tiếp cậnđược nguồn tín dụng ưu đãi Trong khi đó, tình trạng cho vay chưa đúng đốitượng hoặc sử dụng sai mục đích, thiếu hiệu quả và không có khả năng trả
nợ vẫn còn Các chương trình tập huấn về kỹ thuật và kinh nghiệm làm ăncho hộ nghèo chưa linh hoạt, thiếu mô hình trình diễn, chưa đáp ứng yêu cầu
và khó vận dụng Việc du nhập và phát triển một số ngành nghề mới còn hạnchế, hiệu quả thấp Việc xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo chưađược quan tâm đúng mức, vẫn ít có mô hình điển hình
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến trẻ em nghèo cho dù bất cứ lí do nào đi nữathì nó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của các em, tới pháttriển của đất nước Trẻ em là tương lai của đất nước sự tồn tại của trẻ em
Trang 32nghèo là sự mất mát về mặt kinh tế và xã hội đối với sự phát triển trong tươnglai của đất nước.
1.2.1.2 Các chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam dành cho trẻ em nghèo, có HCĐB
Trẻ em là đối tượng được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm Cáchiến pháp của nhà nước Việt Nam đều thể hiện quan điểm Trẻ em phải đượcbảo vệ, chăm sóc, giáo dục đầy đủ để trở thành những công dân có ích của xãhội
Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định quan điểm đó bằng những quiđịnh về trách nhiệm chăm sóc bà mẹ trẻ em, quyền học tập của trẻ, chính sáchkhuyến khích học tập, nghĩa vụ nuôi dạy con của các bậc cha mẹ, việc chămsóc trẻ mồ côi…"Trẻ em được gia đình, nhà nước, và xã hội bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục" (Điều 65) Trong đó không kể đến trẻ em bình thường hay khókhăn đặc biệt "Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt được hưởng quyền trẻ em; hỗ trợ cá nhân gia đình chăm sóc nuôidưỡng trẻ em; khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia giúp đỡ trẻ em;thành lập các cơ sở trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn"
Những quan điểm này đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luậtcủa nhà nước Trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Ngay từ những năm
1945, Đảng và Nhà nước có sắc lệnh trong đó có những điều khoản chăm sócbảo vệ trẻ em
Năm 1960 quốc hội thông qua điều luật: "Toàn dân bảo vệ và chăm sócthiếu nhi nhi đồng"
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ "vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi íchtrăm năm trồng người" trong những năm qua Đảng, Nhà nước và nhân dân đãthực hiện tốt lời dạy đó Để hưởng ứng khẩu hiệu "Vì ngày trẻ em ra đời" các
tổ chức ủng hộ các em mồ côi, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở tất cả các
Trang 33lĩnh vực văn hoá, kinh tế, giáo dục, y tế đều đồng loạt tổ chức nhiều hoạtđộng để nhằm bù đắp phần nào những kém may mắn mà các em gặp phải.
Trong lĩnh vực giáo dục các em nhận thức được sự quan tâm sự bìnhđẳng từ các thầy cô giáo Ngành y tế đã tổ chức nhiều đợt khám chữa bệnhmiễn phí nhằm phục hồi sức khoẻ, chức năng cho các em
Các hoạt động văn hoá cũng được mở rộng nhiều hơn với nhiều hoạtđộng tạo nhiều sân chơi thú vị cho các em Các phương tiện thông tin đạichúng đã đang và ngày càng có nhiều chương trình nói về những trẻ em cầnđược sự giúp đỡ, cưu mang
Tháng 12/1979, nhân năm quốc tế thiếu nhi, thường vụ quốc hội đãthông qua pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Năm 1991 Quốc hội thông qua luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em đồng thời với luật phổ cập tiểu học
Năm 1994 ra đời bộ luật lao động
Năm 1995 ra đời luật dân sự
Năm 1997 sửa đổi luật dân sự
Nhìn chung văn bản hệ thống pháp luật trên đã củng cố cơ sở pháp lýcho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Ngoài ra, Đảng và Nhà nước ta còn ban hành nhiều quy định khác nữađối với từng lĩnh vực trong đời sống của các em, cụ thể như sau :
- Thông tư 14/2005/TT - BYT của bộ y tế hướng dẫn thực hiện khám bệnhchữa bệnh và quản lí sử dụng, quyết toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh chotrẻ em dưới 6 tuổi tại cơ sở y tế công lập Đặc biệt mới đây là việc cấp thẻBHYT cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn như người nghèo, dân tộcthiểu số…trong đó có trẻ em
- Thông tư liên tịch 86/ 2008 TTLT- BTC - BLĐTBXH của bộ tài chính và bộlao động về việc hướng dẫn quản lý và sử dụng nguồn kinh phí thực hiện quy
Trang 34định số 19/2004/QĐ - TTG ngày 12/02/2004 của Thủ tưởng chính phủ về việcphê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang,trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em lao động sớm trong điều kiện độc hại nguyhiểm giai đoạn 2005 - 2011
Bên cạnh đó, còn có nhiều chính sách quy định cụ thể khác nữa của Đảng vàNhà nước với vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như quy định việc làm, ưuđãi trong học nghề…
Trên đây là những quy định cụ thể của Đảng và Nhà nước ta đối với việc bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nó là cơ sở để các giađình, chính quyền các ban ngành địa phương cùng vào cuộc để đảm bảo tốthơn cuộc sống cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
1.2.1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Phường Đông Vĩnh, thành phố Vinh là một phường có diện tích khá rộng, vàđang trải qua quá trình đô thị hóa và phát triển từ nền kinh tế nông nghiệp lêncông nghiệp và dịch vụ Năm 2011 là năm thứ hai phường thực hiện kế hoạchphát triển kinh tế xã hội 5 năm 2010 – 2015, đồng thời cũng là năm diễn ranhiều sự kiện trọng đại của đất nước, vì vậy nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội, quốc phòng - an ninh là hết sức quan trọng, các hoạt đông văn hóa vănnghệ, thể dục thể thao diễn ra hết sức sôi động
* Vài nét về tình hình kinh tế
Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và dịch vụ:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều chuyển biến tích cực theo hướngtập trung, khai thác được nhiều tiềm năng, lợi thế tại chỗ Tiểu thủ côngnghiệp - xây dựng và dịch vụ thương mại có bước phát triển, nhất là các loạihình dịch vụ cho thuê nhà trọ, gia công cơ khí, các đại lý buôn bán ngày càngđông, đưa giá tri sản xuất của ngành công nghiệp - TTCN đạt 33.128 triệuđồng, tăng 21,6%; ngành dịch vụ đạt 38.344 triệu đồng, tăng 14%
Trang 35- Quỹ tín dụng nhân dân đã cho gần 40 thành viên mới vay vốn, hiện nay tổngnguồn vốn của Quỹ là 18.882 triệu đòng, cho vay sản xuất kinh doanh 16.848triệu đồng, huy động được 14.459 triệu đồng tiền gửi tiết kiệm góp phần trongphát triển kinh tế và tạo việc làm cho nhân dân địa phương.
Về nông nghiệp:
Mặc dù trong năm qua do điều kiện về thời tiết khắc nghiệt, nắng hạn kéo dài,bão lụt và sâu bệnh phá hoại Điều kiện hoạt động của các Hợp tác xã (HTX)gặp nhiều khó khăn Nhưng UBND phường đã tập trung chỉ đạo 2 HTX khắcphục khó khăn, đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển đôi cơ cấu kinh tế câytrồng, vật nuôi, tiếp tục phát triển mô hình gia trại và các hoạt động dịch vụđảm bảo cho bà con xã viên sản xuất
Về công tác khuyến nông và thú y:
Phường đã tổ chức 4 đợt tiêu độc, khử trùng và tiêm phòng cho đàn gia súc,gia cầm; kịp thời dập dịch khi có dịch bệnh xảy ra trên địa bàn Triển khai xâydựng mô hình trồng hoa 1.5 ha, nuôi tôm càng xanh 0.5 ha.Tổng giá trị sảnxuất ngành sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi đạt 22.968 triệu đồng, tăng2,7% so với năm 2010
* Vài nét về tình hình văn hoá - xã hội
Công tác văn hóa – Thông tin:
- Phường đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền và tổ chức các hoạt động vănhóa văn nghệ - thể dục thể thao chào mừng các ngày lễ lớn Phối hợp với cácngành, đoàn thể tổ chức giao lưu văn nghệ, đêm thơ, giải bóng chuyền, liênhoan tiếng hát Làng Sen, tiếng hát đồng quê, bóng đá thiếu niên Tham giacác hoạt động do thành phố tổ chức, đạt giải nhất trong giải bóng đá thiếu nhitruyền thống thành phố Vinh lần thứ 30
- Tổ chức tốt hội nghi tổng kết 10 năm triển khai thực hiện cuộc vận động"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", biểu dương 7 tập thể và công
Trang 36nhận 78 gia đình văn hóa tiêu biểu giai đoạn 2001 - 2010 Tỷ lệ gia đình vănhóa đạt 91,7%, công nhận 3 ngõ phố văn minh, thẩm định 2/2 khối đạt cáctiêu chí giữ vững danh hiệu đơn vị văn hóa 3 năm liền (2009 – 2011), thẩmđịnh và đề nghị Thành phố công nhận đơn vị văn hóa khối Vĩnh Xuân.
Công tác y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình:
- Làm tốt công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thựcphẩm; chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; các chương trình y tế quốcgia được thực hiện tốt; tổ chức uống Vitamin A cho các bà mẹ và trẻ em đảmbảo đúng quy định; tiêm phòng vacxin Sởi bổ sung cho 921 trẻ từ 1 - 5 tuổi
- Thực hiện tốt công tác dân số/KHHGĐ theo chương trình đề ra, tổ chứcchiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ kỹ thuật KHHGĐ năm 2011 đạtkết quả; tỷ suất sinh thô đạt 14,14% giảm 0,25%0 so với kế hoạch, tỷ lệ sinhcon thứ 3 trở lên là 4,4% giảm so với cùng kỳ năm 2010; tỷ lệ vợ chồng sửdụng biện pháp tránh thai đạt 83,4%
Công tác giáo dục, khuyến học:
- Năm 2010 - 2011, tỷ lệ học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học và
tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 100% Tỷ lệ danh hiệu bé khỏe, bé ngoan đạt 97%;trường mầm non bán công được công nhận trường tiên tiến xuất sắc và là đơn
vị văn hóa được UBND tỉnh tặng bằng khen, hoàn thành tốt công tác giáo dụcnăm 2011
- Hội khuyến học phối hợp với Trung tâm học tập cộng đồng và Ban khuyếnnông phường tổ chức 4 lớp tập huấn về sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủysản có hơn 650 lượt người tham gia
Công tác chính sách xã hội:
- Phường đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà các đối tượng chính sách, hộ nghèođặc biệt khó khăn với số tiền 34.350.000 đồng; nhận và phát quà của cấp trên168.800.000 đồng; chế độ điều dưỡng hỗ trợ sữa chữa nhà, ưu đãi giáo dục
Trang 37đào tạo 491.000 đồng, không để xảy ra sơ sót Làm tốt chính sách đối vớingười có công, đảm bảo chế độ cho các đối tượng; tổ chức lễ tưởng niệm vàtiễn đưa hai hài cốt kiệt sỹ về nghĩa trang thành phố nghiêm túc, trang trọng.
- Phối hợp với Công ty cổ phần vận tải xăng dầu đường biển PETROLIMEXthành phố Vinh xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình ông Nguyễn Văn Thân,
thương binh ¾ ở khối 14 với số tiền công ty tài trợ 30 triệu đồng, phường
trích quỹ tình nghĩa tặng 10 triệu đồng
- Cấp mới 183 thẻ, cấp lại 920 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi
- Tổ chức tặng quà cho các cháu học sinh giỏi, học sinh nghèo vượt khó với
số tiền 12.500.000 đồng; thực hiện tốt các hoạt động tháng hành động vì trẻ
em năm 2011
- Nhận và cấp phát 875 kg gạo, 24.100.000 đồng cho 57 hộ nghèo trên địabàn nhân các ngày lễ tết; UBND phường trích ngân sách gần 7 triệu đồng vàcấp 5000 kg gạo cứu tế của thành phố
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đó, địa bàn phường Đông Vĩnh - thànhphốVinh còn tồn tại một số hạn chế như:
- Chỉ đạo xây dựng đề án chuyển đổi mô hình hoạt động của 2 HTX nôngnghiệp còn chậm
- Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục, luật pháp chưa thường xuyêntrong năm, chưa phổ biến văn hóa mới cho đội ngũ cán bộ khối và nhân dân
- Xây dựng ngõ phố văn minh không đạt kế hoạch đề ra; tình hình trộm cắptài sản vẫn còn xảy ra, tệ nạn ma túy và số đề còn tiềm ẩn
Trang 38Chương 2: Vai trò của nhân viên CTXH trong việc giúp đỡ và cung cấp các dịch vụ xã hội cho trẻ em nghèo, có HCĐB tại phường Đông Vình - thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
2.1 Thực trạng đội ngũ nhân viên CTXH ở Việt Nam nói chung và địa bàn phường Đông Vĩnh - thành phố Vinh nói riêng
Một thực tế dễ nhận thấy là CTXH đang là một nghành, một nghề rất mới ởnước ta Việc thảo luận và phê duyệt mã nghề cho CTXH là một điểm mốcquan trọng trong sự phát triển của nghề này ở Việt Nam Nếu tiến hành mộtcuộc phỏng vấn về các ngành nghề đào tạo mà bạn biết thì tôi chắc rằng rấtnhiều người sẽ rất ngỡ ngàng trước cái tên CTXH Băn khoăn lớn nhất làCTXH là gì? học CTXH ra trường sẽ làm gì cho xã hội và làm việc ởđâu? Khi mà nhận thức của xã hội nói chung còn mập mờ và chưa sáng rõ vềcái nghề này thì thử hỏi làm sao bố trí công việc phù hợp cho những người ratrường cũng như thấy rõ sự cần thiết của các nhân viên CTXH?
Hơn nữa, vì CTXH là một ngành học rất mới nên kinh nghiệm cũng như độingũ những người có thâm niên trong lĩnh vực này ở nước ta còn rất hiếm Hầuhết sinh viên ra trường đều phải tự họ hỏi và rèn luyện những kiến thức, kỹnăng, phương pháp mình đã học vào thực tế chứ không có những người thựctập viên giám sát và giúp đỡ Kiến thức trường lớp khi áp dụng vào thực tế lạiđòi hỏi sự linh hoạt, làm cho đội ngũ những nhân viên CTXH gặp không ítkhó khăn trong việc thực hành nghề nghiệp của mình
Số lượng đào tạo những người làm việc trong ngành CTXH cũng chưa đápứng được nhu cầu cần sự trợ giúp của xã hội Có thể khẳng định rằng, ở hầuhết các xã phường đến các cấp trung ương ở nước ta hiện nay đội ngũ nhânviên CTXH còn rất thiếu về cả chất lượng và số lượng Chính tình trạng nàydẫn tới hậu quả là nhiều vấn đề của xã hội không được can thiệp và giải
Trang 39quyết, những nhóm người yếu thế đã khó khăn lại càng khó khăn hơn và gây
ra nhiều hệ quả nghiêm trọng
2.2 Vai trò của nhân viên CTXH trong việc giúp đỡ trẻ em nghèo, có HCĐB tại phường Đông Vĩnh - thành phố Vinh
Hỗ trợ, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em nghèo, có HCĐB là mục tiêu hướng tớitrong quan điểm của Đảng và nhà nước ta Hiện nay, trong xã hội đã và đang
có rất nhiều chính sách, hoạt động nhằm cải thiện và nâng cao cuộc sống chotrẻ em nghèo như chính sách về y tế, giáo dục, việc làm, trợ cấp xã hội…Trong thực tế CTXH được công nhận mã nghề chưa lâu, nhưng có rất nhiềucán bộ thuộc các cơ quan nhà nước, các nhân viên thuộc các trung tâm xã hội,những cán bộ làm việc trong các tổ chức chính phủ và phi chính phủ dù chưađược đào tạo về CTXH, nhưng họ đang ngày đêm thực hiện các công việc vàđảm nhận vai trò của một nhân viên CTXH Các vai trò chính của họ có thểđược biết đến như vai trò giáo dục, vai trò cung cấp thông tin, kết nối nguồnlực, biện hộ và trao quyền…mà họ làm vì sự phát triển chung của cộng đồng
Là một nhân viên CTXH họ cần phải có tấm lòng và đạo đức nghề nghiệp.Một khi nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhân viên CTXH sẽ đượcthừa nhận và tạo điều kiện để phát huy, góp phần đem lại cuộc sống tốt đẹphơn cho những người yếu thế, trong đó có trẻ em nghèo, có HCĐB
Trong nghiên cứu này, tác giả khóa luận xin đi sâu vào tìm hiểu và đưa ra một
số đánh giá trong quá trình thực hiện vai trò của nhân viên CTXH trong việctrợ giúp trẻ em nghèo, có HCĐB tại phường Đông Vĩnh - thành phố Vinh
- Vai trò tìm hiểu và đánh giá nhu cầu của trẻ em nghèo, có HCĐB:
Để giúp đỡ đối tượng hiệu quả thì một trong những việc làm mà nhân viênCTXH cần thực hiện là tìm hiểu nhu cầu của trẻ em nghèo, có HCĐB tạiphường Đông Vĩnh là gì? Từ việc xác định được nhu cầu của thân chủ, nhânviên CTXH sẽ biết được mình cần làm gì để giúp đỡ thân chủ Và để tìm hiểu