1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8 xã thanh mai,

80 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Tác Xã Hội Cá Nhân Trong Việc Trợ Giúp Phụ Nữ Nghèo Đơn Thân Nâng Cao Cuộc Sống Tại Xóm 8, Xã Thanh Mai, Huyện Thanh Chương, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Quyên
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Bích Thủy
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 394 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là nhucầu được học tập, sáng tạo, nghiên cứu…để phát triển một cách toàn diện.Khi người phụ nữ nghèo đơn thân được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng thì họ cũng mong muốn được tạo điều

Trang 1

Trờng Đại học Vinh Khoa lịch sử

********************

Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8- xã Thanh Mai, huyện Thanh Chơng, tỉnh Nghệ An

Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành: công tác xã hội

Nghệ An, 2012

Trang 2

Trờng Đại học Vinh Khoa lịch sử

********************

Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8- xã Thanh Mai, huyện Thanh Chơng, tỉnh Nghệ An

Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành: công tác xã hội

Giáo viên hớng dẫn: nguyễn thị bích thủy

Sinh viên thực hiện : nguyễn thị quyên

Lớp : 49B2 - CTXH

Nghệ an, 2012

Trang 3

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói“ nước lấy dân làm gốc, dân lấy

ăn làm trời” Nước nhà muốn giàu mạnh thì trước hết người dân phải được ấm

no và hạnh phúc.Trải qua gần 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảngnhân dân ta đã đạt được những thành tựu rực rỡ Trước hết công cuộc đổi mới

đã đưa nước ta từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thịtrường có mối quan hệ giao lưu hợp tác với các nước khác trên thế giới GDPhàng năm luôn đạt mức cao Trong những năm (1991- 2000), tăng trưởngkinh tế của Viêt Nam đạt 7,5- 8.4, các ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật đư-

ợc đầu tư phát triển Các vấn đề y tế, giáo dục, các cơ sở vật chất kỹ thuật

đư-ợc đầu tư và phát triển mạnh mẽ, các vấn đề về văn hoá giáo dục cũng đưđư-ợcquan tâm phát triển, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nângcao

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó thì cho đến nay Việt Nam vẫn

là một nước nghèo, tính bền vững và tỷ lệ tái nghèo hiện nay đang là vấn đềđáng lo ngại Đặc biệt khi người nghèo là những người phụ nữ đơn thân thìvấn đề đói nghèo của họ càng trở nên trầm trọng khi họ không chỉ thiếu đói vềvật chất mà còn khủng hoảng về tinh thần Vì thế việc hạn chế tình trạng phụ

nữ nghèo đang trở thành nhiệm vụ chung cho các cấp, các ban nghành đoànthể và của cả cộng đồng xã hội

Huyện Thanh Chương là một huyện nghèo của tỉnh Nghệ An Thựchiện chủ trương và chính sách của Đảng và nhà nước, nhân dân huyện ThanhChương đã phát huy mọi thế mạnh vào phát triển KT- XH và đã đạt đượcnhiều thành tựu Chương trình XĐGN cho người dân nói chung và cho người

Trang 4

phụ nữ nói riêng được quan tâm, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ người nghèođược vận dụng, triển khai với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể.

Địa bàn hành chính tương đối rộng lớn( 34 xã) với những đặc điểm

KT-XH khác nhau, trong đó xã Thanh Mai thuộc huyện Thanh Chương là mộttrong những xã có điều kiện khó khăn về KT- XH Mặc dù Đảng bộ và chínhquyền xã quan tâm và triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng

và nhà nước nhưng thực trạng về đói nghèo nói chung và phụ nữ nghèo đơnthân nói riêng vẫn còn tương đối cao chiếm tới 22 hộ ( chiếm 3.5%) trongtổng số 621 hộ nghèo của xã Chính vì thế để kinh tế xã nhà phát triển thì việcđầu tiên là phải giúp đỡ người dân mà trước hết là phụ nữ nghèo, đặc biệt làphụ nữ nghèo đơn thân phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống

Với vị trí và ý nghĩa quan trọng đó thì vấn đề đặt ra là phải tìm ra giảipháp nhằm giúp đỡ phụ nữ nghèo nói chung và phụ nữ nghèo đơn thân nóiriêng phát triển kinh tế

Từ những yêu cầu mang tính cấp thiết đó chúng tôi đã quyết định lựa

chọn đề tài: “ Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo

đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8- xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An”.

2.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Trang 5

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đây là đề tài mang tính thực tiễn xã hội sâu sắc mà đối tượng là các cánhân có vấn đề trong cuộc sống Việc nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực tế cuộcsống của những phụ nữ nghèo, giúp họ nhận thấy thực trạng cuộc sống củamình để thay đổi Đồng thời nghiên cứu cũng có mong muốn đem lại nhữnghiểu biết về chính sách của phụ nữ nghèo cho những người xung quanh vànhững cá nhân, tổ chức cơ quan có trách nhiệm nhìn nhận vấn đề để có cáchthức trợ giúp phù hợp

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm và phát hiện các tiềm năng phục vụ cho quá trình trợ giúp thân chủ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tiến hành thu thập thông tin, phân tích tài liệu có liên quan đến đề tài

nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng, đặc điểm, những khó khăn và nhu cầu của phụ

nữ nghèo đơn thân

- Đánh giá hiệu quả trợ giúp

- Thực hành các kỹ năng thuộc tiến trình CTXH cá nhân để trợ giúp

Trang 6

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thânphát triển kinh tế

5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Đề tài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm mụcđích tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề, nhu cầu của thân chủ, tìm hiểu những chínhsách và biện pháp mà chính quyền đã triển khai trong khi hỗ trợ phụ nữ nghèođơn thân tại địa phương

Ở đề tài nghiên cứu này sinh viên đã tiến hành phỏng vấn sâu ba trườnghợp:1 thân chủ; 1 trưởng ban XĐGN của xã; 1 chủ tịch hội phụ nữ xã Nhữngphỏng vấn này nhằm mục đích thu thập được những thông tin về thực trạng,

Trang 7

nguyên nhân đói nghèo, những nhận thức của cá nhân, những khó khăn màphụ nữ nghèo đang gặp phải, những nguyện vọng cũng như mong muốn củaphụ nữ nghèo, Những thông tin thu được là căn cứ giúp sinh viên đánh giá,

bổ sung cho những kết quả từ những ngiên cứu định lượng

5.3 Phương pháp phân tích tài liệu

Đề tài nghiên cứu đã sử dụng một số tài liệu liên quan như một số bàibáo, tạp chí chí khoa học về phụ nữ, một số giáo trình như giáo trình nhậpmôn công tác xã hội, giáo trình phương pháp nghiên cứu xã hội học, giáotrình công tác xã hội cá nhân,…Báo cáo tình hình phát triển KT- XH quý 1của xã Thanh Mai, năm 2012

5.4 Phương pháp công tác xã hội cá nhân

Thực hiên phương pháp CTXH cá nhân thông qua tiến trình gồm 7 bước:Bước 1:Tiếp cận thân chủ

Bước 7: Lượng giá và kết thúc

Phương pháp CTXH cá nhân được áp dụng vào can thiệp trực tiếp vớimột đối tượng cụ thể

Việc sử dụng phương pháp CTXH cá nhân kết hợp với vãng gia nhằmmục đích tạo lập mối quan hệ để thu thập thông tin, chia sẻ, thấu cảm, tìmhiểu những nhu cầu của họ để có kế hoạch trị liệu phù hợp

Trang 8

6 Giả thuyết ngiên cứu

- Phụ nữ nghèo đơn thân ở xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnhNghệ An đang có xu hướng gia tăng

- Phụ nữ nghèo đơn thân ở xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnhNghệ An gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống

- Những phương pháp trợ giúp của nhân viên CTXH đã góp phần nângcao nhận thức, tạo điều kiện cho phụ nữ nghèo đơn thân xã Thanh Mai ổnđịnh cuộc sống

Trang 9

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về xoá đói giảm nghèo

Việt Nam là một nước nông nghiệp, do vậy mà vấn đề chăm lo, đảmbảo cuộc sống cho người dân là một vấn đề được Đảng và nhà nước đặc biệtquan tâm Ngay những năm đầu thành lập Đảng , thì Đảng đã lãnh đạo nhân

dân nêu cao khẩu hiệu“ Lấy ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày nghèo”; thực hiện khẩu hiệu“ Người cày có ruộng” Đây là chủ trương xuyên suốt của

Đảng và nhân dân ta trong thời kì 1930- 1945

Sau khi nước nhà dành độc lập thì việc đầu tiên và trước mắt của Đảng

và nhà nước là củng cố chính quyền, chăm lo đời sống cho nhân dân Trongthời điểm lịch sử đó thì giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm là ba thứ giặcnguy hiểm, Hồ Chủ Tịch đã đặt giặc đói lên trên hết và chính Người đã ra sức

kêu gọi toàn dân ra sức chống giặc đói Người cho rằng “ Chúng ta dành

được tự do, độc lập mà dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập cũng không làm

gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ…” Đó là tư tưởng hành động xuyên suốt của Người Do đó mà ở thời

điểm này xuất hiện hàng loạt các phong trào như“ Ngày đồng tâm”; “ Hũ gạo

cứu đói” Người kêu gọi“ Lá lành đùm lá rách” để cùng nhau vượt qua giai

đoạn khó khăn này Tư tưởng của Người chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trongcác chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về xoá đói giảm nghèo

Phát biểu tại hội nghị sản xuất cứu đói ngày 13/6/1955 Chủ Tịch Hồ

Chí Minh đã từng căn dặn các đại biểu:“ Chính sách của Đảng và chính phủ

là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và

Trang 10

chính phủ có lỗi; nếu dân dốt thì Đảng và chính phủ có lỗi và dân đủ ăn đủ mặc thì chính sách của Đảng và chính phủ sẽ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù hay mấy thì cũng không thực hiện được”.Tư tưởng này luôn được quán triệt và được xây dựng thành các chính

sách, chương trình hành động cụ thể trong mấy chục năm qua

Phát huy tư tưởng đó, trong đại hội lần VI:“ Vấn đề lương thực phải

được giải quyết một cách căn bản” Đây là chủ trương rất quan trọng nhằm

đảm bảo an toàn lương thực cho nước ta trong những năm đầu thực hiện côngcuộc đổi mới Đây là bước ngoặt đánh dấu bước tiến mới về mọi mặt trongxây dựng và phát triển đất nước

Nghị quyết đại hội VII của Đảng chỉ rõ:“ Đảm bảo vững chắc nhu cầu

lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn giáp hạt ở một số vùng” Nghị quyết đã tập trung vào giải quyết cơ bản tình trạng nghèo đói.

Tiếp tục phát huy những thành quả cũng như khắc phục những hạn chế

mà nghị quyết đại hội VII mang lại, nghi quyết đại hội VIII đã xác định đóinghèo là một trong những chương trình phát triển kinh tế xã hội vừa cấp bách

trước mắt, vừa cơ bản và lâu dài Đồng thời cũng nhấn mạnh “ Phải thực hiện

tốt chương trình XĐGN, nhất là với vùng căn cứ địa cách mạng, vùng đồng bào dân tộc Xây dựng và phát triển quý XĐGN bằng những nguồn vốn trong

và ngoài nước…” Đồng thời lần đầu tiên cũng đưa ra chỉ tiêu XĐGN đến

năm 2000 và các năm tới là phải giảm tỉ lệ nghèo đói xuống còn khoảng 10%đến năm 2000, bình quân giảm 300000 hộ/ năm Trong 2-3 năm đầu của kếhoạch 5 năm, tập trung xoá cơ bản hộ đói kinh niên

Ở đại hội IX của Đảng vấn đề XĐGN càng được nhận thức sâu sắc Cóthể nói XĐGN là một trong những nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế xãhội giai đoạn 2001- 2010 Việc thực hiện tốt công tác XĐGN sẽ góp phần

Trang 11

đời sống mọi mặt cho nhân dân và từng bước đưa nước ta hội nhập cùng thếgiới Chính vì thế mà mục tiêu của chiến lược XĐGN được đặt ra trong thời

kì 2001- 2010 là:“ Cơ bản xoá đói, giảm mạnh số hộ nghèo, cơ bản phấn đấu

tới 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo Thường xuyên củng cố thành quả XĐGN ”.

Đại hội X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh“Tập trung đầu tư xây dựng kết

cấu hạ tầng kinh tế xã hội và trợ cấp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo vươn lên tự thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững, kết hợp chính sách nhà nước với sự giúp

đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo ”.

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng: xuyên suốt chủ trương, chính sáchcủa Đảng và nhà nước ta về XĐGN đó là vệc tăng trưởng kinh tế gắn liền với

sự tiến bộ và đảm bảo công bằng xã hội Việc phát triển một cách đồng bộ vềkinh tế cũng như xã hội nhằm tạo nên một sự phát triển bền vững, ổn định lâu

dài, phát triển đi đôi với tái tạo, khôi phục góp phần thực hiện mục tiêu “ Dân

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”

1.1.2 Các lý thuyết vận dụng vào đề tài

1.1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của Maclow

MasLow tên đầy dủ là Abraham MasLow (1908- 1970) Ông là một

nhà tâm lí học người Mỹ Ông được thế giới biết đến như là người tiên phongcho trường phái tâm lý học nhân văn Đây là trường phái nhấn mạnh nhữnggiá trị, sự tự do, sáng tạo, khuynh hướng tự chủ, kinh nghiệm của con người

Theo ông, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồntại và phát triển Bao gồm:

Trang 12

Nhu cầu vật chất

Nhu cầu an toàn

Nhu cầu tình cảm xã hội

Nhu cầu được tôn trọng

Nhu cầu được hoàn thiện mình

Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự bậc thang, từ nhu cầu cơ bảnlàm nền tảng đến nhu cầu cao hơn Vì vậy mà lý thuyết của ông còn gọi làthang nhu cầu

Áp dụng thuyết nhu cầu của MasLow thì bậc thang nhu cầu của phụ nữnghèo đơn thân được chiếu theo thứ bậc như sau:

1 Nhu cầu vật chất

2 Nhu cầu tình cảm xã hội

3 Nhu cầu an toàn

4 Nhu cầu được tôn trọng

5 Nhu cầu được hoàn thiện mình

* Nhu cầu vật chất

Đó là những nhu cầu về ăn uống, mặc chỗ ở…Đây là những điều kiệnphục vụ cho quá trình phát triển và duy trì thể lực Đối với phụ nữ nghèo đơnthân thì họ là những người có hoàn cảnh sống bần cùng, nghèo đói khổ cực

Họ đói về cái ăn và không có điều kiện để chăm sóc tốt cho sức khoẻ của bảnthân Chính vì thế mà nhu cầu vật chất là nhu cầu quan trọng được xếp vào vịtrí đầu tiên đối với phụ nữ nghèo đơn thân

* Nhu cầu tình cảm xã hội

Đó là những nhu cầu được yêu thương, gắn bó, chia sẻ…của những conngười trong xã hội Đối với phụ nữ nghèo đơn thân thì họ khao khát nhận

Trang 13

được tình yêu thương và chia sẻ từ phía mọi người trong xã hội để họ cảmthấy mình là một phần trong nhóm xã hội mà họ sống và muốn nhận được sựchia sẻ từ xã hội để họ không cảm thấy cô đơn, lạc lõng Đây là nhu cầu quantrọng mà theo tôi được xếp vị trí thứ hai.

* Nhu cầu được an toàn

Là nhu cầu được quan tâm, chăm sóc, bảo vệ về mọi mặt như chămsóc sức khoẻ, bảo vệ khỏi sự phân biệt kì thị, khỏi sự bóc lột, hành hạ…Khinhững nhu cầu này được đảm bảo thì phụ nữ nghèo đơn thân sẽ không bị đedoạ, tránh được những hiểm hoạ trong cuộc sống

* Nhu cầu được tôn trọng

Đó là nhu cầu được chấp nhận có một vị trí trong một nhóm người,được mọi người tôn trọng và thừa nhận Người phụ nữ nghèo đơn thân đượctôn trọng, sẽ tạo cho họ cảm giác tự tin, có nghị lực và cảm thấy mình có một

vị trí trong xã hội Nhờ đó mà giúp cá nhân phụ nữ nghèo vươn lên trongcuộc sống, vượt qua hoàn cảnh của cá nhân

* Nhu cầu được hoàn thiện

Đây là nhu cầu cao nhất trong thang nhu cầu của MasLow Đó là nhucầu được học tập, sáng tạo, nghiên cứu…để phát triển một cách toàn diện.Khi người phụ nữ nghèo đơn thân được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng thì

họ cũng mong muốn được tạo điều kiện để tham gia vào các hoạt động laođộng sản xuất để cải thiện cuộc sống của bản thân

Việc xem xét thuyết nhu cầu của MasLow với bậc thang nhu cầu củaông để áp dụng vào đề tài nghiên cứu nhằm xác định, đánh giá những nhu cầuthực tế của thân chủ, xem họ đang ở bậc thang nhu cầu nào để từ đó có nhữngbiện pháp can thiệp kịp thời đạt hiệu quả

Trang 14

1.1.2.2 Lý thuyết nhận thức và hành vi

Thuyết hành vi ra đời năm 1913 do Watson- một trong những ngườiđầu tiên sáng lập ra Nếu như hành vi ứng xử là hình thức của mối quan hệgiữa kích thích và phản ứng, là sự ngẫu nhiên mang tính vô thức, không cóđộng cơ mà chỉ có phản ứng thì thuyết hành vi là các quan điểm, lý thuyếtnhằm lý giải nguyên nhân, đặc điểm và phương pháp trị liệu hành vi

Các đại diện tiêu biểu của thuyết này là Watson, Gambrill, với những

mô hình trị liệu và những đặc điểm ngiên cứu về hành vi Lý thuyết này chorằng hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc lý giải về môi trườngtrong quá trình học hỏi Theo thuyết này thì những hành vi không phù hợp là

do xuất hiện từ những nhận thức sai trái Do vậy mà để điều chỉnh hành vi thìtrước hết phải thay đổi nhận thức

Qua đó chúng ta có thể thấy rằng nhận thức có vai trò quan trọng trongviệc điều chỉnh các chức năng tâm lý và làm thay đổi hành vi của con người.Qúa trình thay đổi hành vi tuỳ thuộc vào nhận thức của mỗi cá nhân

Mục đích của công tác xã hội hành vi là nhằm làm tăng những hành vimong muốn và giảm những hành vi không mong muốn Do đó các cá nhânđáp lại những sự kiện xã hội một cách phù hợp Điều này cũng làm tăng khảnăng của các cá nhân để hướng đến một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc Đisâu vào các vấn đề của thân chủ là những hình thức trợ giúp bởi vì nó làmtăng tốc độ học hỏi nhưng cũng thiếu bằng chứng cho rằng điều đó là cầnthiết cho mọi người để thay đổi

Cá nhân phụ nữ nghèo là những người gặp nhiều khó khăn trong cuộcsống, họ luôn mặc cảm, tự ti trước hoàn cảnh của bản thân mình Vì thế việc

áp dụng lý thuyết nhận thức hành vi vào đề tài nghiên cứu này nhằm giúp phụ

nữ nghèo nhận thức được hoàn cảnh của bản thân mình: đó là cuộc sống đói

Trang 15

nghèo, tâm lý mặc cảm, ngại giao tiếp Tất cả những yếu tố đó sẽ làm chovấn đề của thân chủ trở nên nghiêm trọng hơn Vì thế mà nhân viên xã hộibằng những hiểu biết của mình về lý thuyết nhận thức hành vi để giúp thânchủ nhận thức được rằng việc thân chủ nghèo khó là một thực tế cần đượcthay đổi, tâm lý tự ti, mặc cảm sẽ làm cho thân chủ càng rơi vào bế tắc Muốnthay đổi thì thân chủ phải nhận thức được rằng chính thân chủ là người phải

tự thay đổi trong cách suy nghĩ của bản thân mình, thấy được mối quan hệ vớinhững người xung quanh sẽ là nguồn lực giúp thân chủ vươn lên thoát nghèo.Khi thân chủ đã có sự thay đổi trong nhận thức thì thân chủ sẽ thay đổi hành

vi và có những hành vi mang tính tích cực để giải quyết vấn đề của bản thânmình

1.1.3 Các khái niệm công cụ

* Công tác xã hội

Cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về CTXH

Theo “Foundation of social work practice”- cơ sở thực hành CTXH thì

CTXH được nêu như sau: “ CTXH là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi

người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở độ phù hợp trong xã hội CTXH được coi như một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những nghiên cứu đã được chứng minh Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hoá’’.[ 3, tr27]

Theo hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ( Nasw- 1970) định nghĩa:

“ CTXH là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”.[3, tr28]

Trang 16

Theo hiệp hội công tác xã hội thế giới: “ Công tác xã hội là hoạt động

chuyên ngiệp nhằm tạo ra sự phát triển của xã hội thông qua sự tham gia vào quá trình giải phóng các vấn đề xã hội, tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng Công tác xã hội giúp cho con người phát triển đầy đủ , hài hoà và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân”.[3, tr28]

Trong đề tài ngiên cứu này tôi đi làm rõ khái niệm CTXH nhằm giúpmọi người hiểu được vị trí, vai trò của công tác xã hội trong việc đem lạinhững điều tốt đẹp cho xã hội nói chung và cho phụ nữ nghèo đơn thân nóiriêng

* Nhân viên CTXH

Nhân viên CTXH là người được đào tạo một cách chuyên ngiệp vềCTXH có bằng cấp chuyên môn Đó là những cán bộ những chuyên gia cókhả năng phân tích về vấn đề xã hội, biết tổ chức vận động, giáo dục, biếtcách thức hành động nhằm mục đích tối ưu hoá sự thực hiện vai trò chủ thểcủa con người trong lĩnh vực của cuộc sống xã hội, góp phần tích cực vàoquá trình cải thiện, tăng cường chất lượng cuộc sống của cá nhân, nhóm vàcộng đồng

“ Người cán bộ CTXH chuyên nghiệp phải là những người biết kết hợp chặt chẽ lý thuyết với thực tiễn, thành thạo các phương pháp và kỹ năng chuyên môn”.[3, tr63]

Đề tài ngiên cứu này tôi sử dụng khái niệm nhân viên CTXH nhằmmục đích là xác định rõ vai trò của nhân viên CTXH trong việc trợ giúp cácđối tượng yếu thế nói chung và trong việc khai thác tiềm năng cũng như việccung cấp các dịch vụ và kết nối các nguồn lực nhằm giúp người phụ nữ nhậnthức được vấn đề của mình để có những thay đổi phù hợp

Trang 17

* Công tác xã hội cá nhân

Bắt đầu trở thành một khoa học chuyên nghiệp từ những năm 1800, từ

đó cho đến nay, CTXHCN có rất nhiều khái niệm khác nhau:

Theo Helen Harris Perlam: “ CTXHCN là một tiến trình được các cơ

quan lo về an ninh con người sử dụng để giúp đỡ các cá nhân đối phó hữu hiệu với các vấn đề thuộc chức năng xã hội của họ”.[11, tr3]

Theo Lê Văn Phú“ CTXHCN là phương pháp can thiệp để giúp đỡ một

cá nhân thoát khỏi những cá nhân trong điều kiện về vật chất và tinh thần, chữa trị, phục hồi và vận hành các chức năng của họ để giúp họ tự nhận thức

và giải quyết các vấn đề xã hội bằng khả năng của chính mình”.[11, tr3]

Nói tóm lại: “CTXHCN là một cách thức, một quá trình nghiệp vụ mà

nhân viên xã hội sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng( cá nhân hoặc gia đình) phát huy tiềm năng tích cực tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề cải thiện cuộc sống của mình”.[11, tr3]

* Nghèo đói:

Có rất nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về nghèo đói Tuynhiên, chúng ta có thể thống nhất quan điểm nghèo đói được đưa ra tại hộinghị chống nghèo đói khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do US CAP tổ chức

tại Băngkok- Thái Lan tháng 9/1993 đã định nghĩa như sau: “ nghèo là tình

trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.

Về khái niệm ở Việt Nam, trước 1995 khái niệm nghèo và đói đượchiểu như sau:

Trang 18

Nghèo: “ là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một

phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.

Đói: “ là tình ttrạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối

thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống”.

Xoá đói giảm nghèo

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Thuận:“ XĐGN là tổng thể các hoạt động trực

tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản nhu ăn mặc, ở, đi lại…để người nghèo có thể tồn tại và phát triển đạt tới mức trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng”.

Nhìn chung, khái niệm đói nghèo được sử dụng ở Việt Nam là để chỉtình trạng nghèo và tình trạng đói Thực ra, hai vấn đề nghèo và đói là khácnhau: thông thường nói đến đói là hiểu tình trạng không đủ nhu cầu về ăn, cònnói đến nghèo là nói đến tình trạng khó khăn chung về việc không có khảnăng đáp ứng các nhu cầu cơ bản song chủ yếu lại là các nhu cầu về phi lươngthực thực phẩm như nhà ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xãhội Nghèo thường bao hàm đói và đói cũng là một chỉ báo của nghèo

* Phụ nữ nghèo đơn thân

Qua quá trình điều tra nghiên cứu, theo tác giả có thể hiểu: Phụ nữnghèo đơn thân là nhóm phụ nữ có độ tuổi từ 16 trở lên thường có học vấnthấp, sức khoẻ kém, goá chồng hoặc không có chồng, nhận thức hạn chế, gặpnhiều khó khăn trong đời sống kinh tế, sinh hoạt Họ dễ bị tổn thương và rất ít

cơ hội để cải thiện đời sống và thăng tiến bản thân Họ thường là chủ hộ domất đi người chồng không có chồng hoặc chồng bỏ đi nên họ bất đắc dĩ trởthành trụ cột gia đình

Trang 19

Phụ nữ nghèo đơn thân nghèo có đời sống khó khăn về vật chất, nghèonàn về tinh thần và hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ.

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Vấn đề nghèo đói và chiến lược XĐGN vừa là mục tiêu vừa là chiếnlược của các quốc gia trên thế giới Trên bình diện quốc tế, LHQ đã xác địnhXĐGN là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong các mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ

Xét trên phạm vi quốc gia thì vấn đề đói nghèo, phân hoá giàu nghèo

và XĐGN ở nước ta luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo, nghiên cứu củaĐảng và nhà nước, các cơ quan, các tổ chức và các đoàn thể khác Mặt khácthì đói nghèo cũng đang là chủ đề nghiên cứu thu hút nhiều luồng tranh luậnkhác nhau

Có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nghèo đói Bên

nông thôn, hội nông dân, hội phụ nữ,… thì cho đến nay đã có nhiều côngtrình nghiên cứu đi sâu vào đề tài XĐGN ở nước ta như đề tài nghiên cứu:

“XĐGN ở nước ta hiện nay” của tiến sỹ Nguyễn Thị Hằng( Nhà xuất bản

nông ngiệp- 1997), đề tài giảm nghèo“ Giảm nghèo trong nông thôn hiện

nay” của tác giả Nguyễn Văn Tiên Cùng với đề tài này có:“ Giảm nghèo Việt Nam” của UNICEF năm 1995;…

Ngoài ra thì các nghiên cứu vĩ mô cũng đề cập rõ nét đến các yếu tố

phân tầng xã hội ở Việt Nam như:“Báo cáo về tình trạng nghèo đói và công

bằng ở Việt Nam” của tổ chức Oxfam năm 1999 Cũng phải kể đến công

trình: “ Kinh tế thị trường và sự phân hoá giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền

Trang 20

núi phía Bắc nước ta hiện nay” do hai tác giả Lê Du Phong và Hoàng Văn

Hoa chủ biên

Điểm xuyên suốt trong các đề tài nghiên cứu là nội dung của nó baoquát được vấn đề đói nghèo ở các góc độ và chiều cạnh khác nhau, giúpchúng ta có cái nhìn tổng thể và toàn diện hơn về đói nghèo ở nước ta

Bên cạnh đó,có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề nghèo đói của phụ nữ.Trước hết phải kể đến đề tài nghiên cứu của viện nghiên cứu môi

trường và phát triển: “ Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ;

xoá đói giảm nghèo và giải pháp việc làm”, mục đích của đề tài là xem xét,

đánh giá thực trạng tình hình nông thôn vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam dướigóc độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam và thực hiệncác mục tiêu thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết trên các lĩnh vực chủ yếu:XĐGN và giải quyết việc làm

Một đề tài khác thuộc nhóm này: “ Vai trò của phụ nữ nông thôn trong

phát triển kinh tế ở Đồng bằng sông Hồng” do trung tâm ngiên cứu khoa học

về phụ nữ và gia đình tiến hành năm 2006 Đề tài đã khẳng định vai trò củaphụ nữ trong việc đưa kinh tế phát triển đi lên Đồng thời cũng đã đề cập đếnvai trò của các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội như hội liên hiệp phụ nữ, hộinông dân…đối với sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung và phong tràoXĐGN nói riêng

Khoá luận tốt nghiệp của tác giả xã hội học Hà Thị Thu Hoà với đề tài:

“ Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội”, năm

2008 đã đi sâu vào tìm hiểu thực trạng đói nghèo của các hộ gia đình tại hai

xã Cổ Nhuế và Xuân Phương thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội, làm rõ các hoạtđộng của các đoàn thể với công tác XĐGN đặc biệt là vai trò của hội liên hiệpphụ nữ ở ngoại thành Hà Nội Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường

Trang 21

hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội trong hoạt động XĐGN trên địabàn hai xã này.

Những đề tài nghiên cứu nêu trên đã đề cập tới các khía cạnh khác nhaucủa vấn đề nghèo đói của phụ nữ, về nguyên nhân, thực trạng và cách thứcthoát nghèo cho phụ nữ ở một số vùng nông thôn Việt Nam Tuy nhiên chưa

đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu đời sống thực tế của phụ nữ nghèo nôngthôn, đặc biệt là chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này tại xã ThanhMai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Trước nhu cầu mang tính bức thiết

đó, chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “ Công tác xã hội cá nhân trong

việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8, xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ an” Việc lựa chọn đề tài này

nhằm giúp mọi người thấy được một góc đời sống của phụ nữ nghèo nóichung và phụ nữ nghèo đơn thân nói riêng, những giải pháp, can thiệp đượcđưa ra nhằm phần nào có thể giúp phụ nữ vươn lên thoát nghèo ổn định cuộcsống

1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Thanh Mai là một xã nghèo thuộc huyện Thanh Chương có ranh giớiđược xác định như sau: Phía Bắc giáp xã Thanh Tùng, xã Thanh Hà; PhíaNam giáp xã Thanh Xuân; Phía Tây giáp xã Thanh Giang Phía Đông giáp xãThanh Thuỷ

Địa hình của xã phần lớn chủ yếu là đồi núi Đây là nơi có giao thôngtương đối khó khăn, đời sống kinh tế đang ở mức thấp chủ yếu là thuần nông.Với tổng diện tích tự nhiên là 4779 ha, tổng dân số năm 2010 khoảng 7200người

Nhìn một cách tổng thể thì xã có điều kiện khó khăn về phát triển mọimăt đời sống xã hội, mức sống của người dân còn thấp Tuy nhiên trong

Trang 22

những năm qua nhân dân xã nhà đã nỗ lực phấn đấu do vậy mà mức sống củangười dân không ngừng được nâng lên

Đất nước bước vào giai đoạn hội nhập, phát triển, xã nhà luôn nhậnđược sự quan tâm giúp đỡ về mọi mặt của huyện uỷ, HĐND- UBND và cácban, phòng, đoàn thể cùng với tinh thần đoàn kết, thống nhất cao do đó màtrong nhiệm kì những năm 2005- 2010 xã nhà đã đạt được nhiều thành tựu

- Về kinh tế- xã hội

Trong lĩnh vực nông ngiệp: Nhờ áp dụng những tiến bộ KH- KT nênnăng suất và sản lượng không ngừng tăng lên, diện tích trồng lúa hàng năm ổnđịnh 370 ha, năng suất 2010 ước đạt 63 tạ/ ha

Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng: Đã được đầu

tư, nâng cấp và phát triển Hệ thống các công trình thủy lợi, các công trìnhphúc lợi được đầu tư và phát triển đúng mức nhằm đáp ứng nhu cầu phát triểnkinh tế- xã hội

- Về văn hóa – giáo dục

Được sự quan tâm của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, côngtác xã hội hóa giáo dục được triển khai, phong trào khuyến học được phátđộng đã thu hút được sự tham gia đông đảo của nhân dân Chất lượng dạy họccủa các nhà trường được nâng lên, ở các cấp học, giáo viên đạt chuẩn 100%,hàng năm số giáo viên dạy giỏi đã tăng lên

- Về công tác y tế, dân số- gia đình và trẻ em

Lĩnh vực này cũng được địa phương thực hiện tốt Các nghị quyết củahuyện ủy, đề án chuẩn quốc gia về y tế xã, nâng cao chất lượng chăm sóc sứckhỏe ban đầu cho nhân dân, đã tổ chức thực hiện tốt chương trình quốc gia về

kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản Công tác truyền thôngdân số được thực hiện thường xuyên và rộng rãi

Trang 23

- Công tác chính sách xã hội

Các công tác chính sách đều được tuyên truyền phổ biến, triển khaithực hiện một cách ngiêm túc Các chế độ chính sách ưu đãi hỗ trợ trong nhândân được bình xét, giải quyết dân chủ Các hoạt động từ thiện, nhân đạo, ủng

hộ người nghèo được phát động rộng rãi và tạo sự đồng tình cao trong cáctầng lớp nhân dân Các chủ trương lớn của đảng và nhà nước về giải quyếtchế độ cho người có công với cách mạng, quân dân tham gia kháng chiến, đốitượng chất độc da cam, chế độ thanh niên xung phong… đều được triển khaimột cách kịp thời đầy đủ đảm bảo theo quy định của pháp luật Chương trình

dự án đầu tư xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm góp phần nâng cao đờisống vật chất cho nhân dân được quan tâm, giảm tỉ lệ hộ đói nghèo xuốngthấp

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì vẫn còn một sốhạn chế gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội

Trang 24

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN NÂNG CAO CUỘC SỐNG TẠI XÃ THANH MAI, HUYỆN THANH CHƯƠNG,

TỈNH NGHỆ AN 2.1 Một vài nét về đời sống của phụ nữ nghèo đơn thân xã Thanh Mai

Xã Thanh Mai là một xã nghèo của huyện Thanh Chương, với vị tríđịa lý và các điều kiện kinh tế- xã hội không thuận lợi đã có tác động lớn đến

sự phát triển kinh tế Xã có điều kiện tự nhiên khó khăn, kinh tế chủ yếu làthuần nông, trình độ dân trí còn tương đối thấp nên đời sống của nhân dân gặprất nhiều khó khăn, tình trạng nghèo đói, điều kiện để chăm sóc y tế, vấn đềđầu tư cho giáo dục còn nhiều hạn chế Mặc dù Đảng uỷ và chính quyền địaphương đã quan tâm, kịp thời đưa ra các chủ trương chính sách nhưng đờisống của người dân vẫn gặp rất nhiều khó khăn, công tác xoá đói giảm nghèo

đã được triển khai thực hiện nhưng kết quả mang lại vẫn ở mức thấp, tìnhtrạng nghèo đói và tái nghèo vẫn tiếp diễn Trong đó thì phụ nữ nghèo chiếm

tỷ lệ tương đối cao với 22 gia đình phụ nữ nghèo đơn thân trong toànxã( Theo khảo sát ba tháng đầu năm 2012 của ban XĐGN xã)

Trang 25

Danh sách phụ nữ nghèo đơn thân xã Thanh Mai

Qua bảng số liệu chúng ta có thể thấy trong những tháng đầu năm

2012 thì tổng số hộ nghèo đơn thân là 22 hộ chiếm 3,5% trên tổng số 621 hộnghèo đói của xã Đây là một tỷ lệ khá cao, xét một cách tổng thể thì tất cảcác hộ nghèo đều có cuộc sống rất khó khăn, đối với phụ nữ nghèo đơn thânthì vấn đề đói nghèo càng trở nên trầm trọng Bởi lẽ họ vừa là người phụ nữ,vừa là người trụ cột chính trong gia đình nên tất cả mọi công việc đều do mộttay họ đảm nhận, trong khi điều kiện kinh tế của họ gặp rất nhiều khó khăn.Gia đình phụ nữ nghèo phần lớn thiếu tư liệu sản xuất, thiếu vốn đầu tư Bảnthân người phụ nữ nghèo trình độ thấp, thiếu kiến thức nên khó khăn trong

Trang 26

việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất,cuộc sống gia đình phụ nữ nghèo đơn thân chủ yếu dựa vào nguồn thu từnông nghiệp, ngoài ra không có thêm nguồn thu nào khác nên đời sống của họrất chật vật và thiếu thốn Mặc dù chính quyền địa phương, hội phụ nữ xã,…

đã động viên, giúp đỡ một phần nào đó nhưng kết quả mang lại vẫn chưa cao

Vì thế mà các gia đình phụ nữ nghèo đơn thân rất cần sự chung tay giúp đỡ từphía chính quyền, các ban nghành đoàn thể và của cộng đồng xã hội để họ cóđiều kiện vươn lên thoát nghèo

2.2 Kỹ năng sử dụng

* Kỹ năng giao tiếp ( giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ)

Đây là một kỹ năng được nhân viên xã hội sử dụng khi tiếp xúc vớithân chủ, với cán bộ chính quyền địa phương tại xã Thanh Mai và với những

cá nhân liên quan cần cho đề tài nghiên cứu Kỹ năng giao tiếp sử dụng nhuầnnhuyễn giúp nhân viên xã hội tự tin hơn vào khả năng của bản thân và giúptiếp cận bác V nhanh chóng và thuận lợi hơn và có khả năng khai thác đượclượng thông tin đầy đủ và đa chiều từ phía bác V và những người xung quanh

mà cần thiết cho đề tài nghiên cứu Trong quá trình giao tiếp với bác V thìnhân viên xã hội phải sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu mang tính cảm thông và chia

sẻ để bác V thấy được thiện chí của nhân viên xã hội khi đến với bác

* Kỹ năng đặt câu hỏi

Đây là một kỹ năng rất khó đòi hỏi người đi hỏi phải linh hoạt và có sựhiểu biết Việc sử dụng kỹ năng này có thể thu được thông tin muốn thu thập

từ phía đối tượng, từ cán bộ các ban ngành liên quan và từ những người xungquanh Ở đề tài nghiên cứu này nhân viên sử dụng kỹ năng đặt câu hỏi đối vớithân chủ, với hàng xóm thân chủ, với trưởng ban XĐGN xã Thanh Mai, vớichủ tịch hội phụ nữ xã Thanh Mai Tuy nhiên trong quá trình đặt câu hỏi thì

Trang 27

nhân viên CTXH cũng cần phải khéo léo, không nên đặt những câu hỏi mangtính phê phán thân chủ, tránh những câu hỏi tế nhị, các câu hỏi đặt ra phải dựatrên nguyên tắc tôn trọng đối tượng Việc sử dụng tốt kỹ năng này sẽ giúpnhân viên xã hội thu thập được thông tin từ thân chủ, từ các cơ quan bannghành liên quan.

* Kỹ năng thấu cảm

Là kỹ năng mà nhân viên công tác xã hội phải đặt mình vào vị trí củabác V để hiểu được cuộc sống vật chất nghèo khổ, thiếu thốn của bác, hiểuđược cảm nhận của bác V khi bị những người xung quanh xa lánh, hiểu được

vì sao bác V lại sống cô lập, không giao tiếp với những người xung quanh Từ

đó mà nhân viên CTXH không phán xét hành vi của bác V mà cùng bác vượtqua vấn đề của mình

* Kỹ năng lắng nghe tích cực

Lắng nghe đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp, chúng ta không chỉnghe bằng tai mà nghe cả bằng mắt để hiểu những điều người khác nói Kỹnăng này là một công cụ cơ bản của nhân viên xã hội, để thực hiện thì cầnphải rèn luyện thường xuyên qua quá trình lâu dài Mục đích của lắng nghe là

để hiểu được cảm xúc, suy nghĩ của người nói Vì thế lắng nghe trở thành mộthoạt động được thực thi có ý thức đối với nhân viên xã hội Trong đề tàinghiên cứu này nhân viên xã hội sử dụng kỹ năng lắng nghe tích cực để nghethân chủ tâm sự về hoàn cảnh của mình, những sự tự ti, mặc cảm của thân chủkhi nghĩ về hoàn cảnh của bản thân Lắng nghe sự trao đổi của lãnh đạo hộiphụ nữ, của ban XĐNG…để hiểu sâu hơn vấn đề

Thông qua lắng nghe, nhân viên xã hội giúp cho đối tượng xác địnhđược vấn đề ở đây là đói nghèo triền miên, khủng hoảng về tâm lý , làm họcảm thấy nhân viên xã hội không cố làm thay đổi họ, động viên họ tiếp tục

Trang 28

chia sẻ Ngoài ra còn giúp cho đối tượng giải tỏa, giải phóng mình khỏi sựkiềm chế của người khác, cũng như là việc phát triển một mối quan hệ gầngũi.

Để lắng nghe hiệu quả thì nhân viên xã hội cần phải chú ý đó là:

Bắt đầu bằng gợi chuyện

Nghe nhiều hơn nói, để đối tượng nói và gây ấn tượng

Tiếp nhận đơn giản, giữ im lặng thích hợp

Biểu lộ sự quan tâm bằng cách nhìn vào mắt họ

Tỏ ra thân thiện, cởi mở, tạo bầu không khí thoải mái

Xóa bỏ những thành kiến với đối tượng và nghe có phản hồi…

xã hội có thể có cái nhìn ban đầu về điều kiện kinh tế của bác V

Biểu hiện qua nét mặt: tươi cười hay buồn rầu, khuôn mặt con ngườiđôi khi phản ảnh những cảm nghĩ nội tâm và đối với nhân viên xã hội thì biểuhiện qua nét mặt là cơ sở để quan sát

Ngôn ngữ cơ thể: mối quan hệ giữa cơ thể và tâm hồn được thể hiệnqua cử động của cơ thể để biểu lộ cảm nghĩ Những điều nảy sinh trong ngônngữ cơ thể là truyền thông không lời nhưng đó là truyền thông không tự ý hay

sự truyền tải tín hiệu ngoài ý muốn của người truyền đạt

Trang 29

* Kỹ năng vấn đàm

Vấn đàm trong công tác xã hội là cuộc đối thoại trực tiếp giữa nhânviên xã hội với một hay nhiều người để thu thập thông tin, cung cấp thông tinnhằm đưa ra trị liệu, cách can thiệp hỗ trợ đối tượng

Thông qua vấn đàm giữa nhân viên xã hội với bác V, với trưởng banXĐGN, chủ tịch hội phụ nữ giúp nhân viên xã hội thu thập thông tin về đốitượng hay chia sẻ thông tin cho đối tượng, khảo cứu và đánh giá vấn đề củađối tượng, đưa ra sự giúp đỡ cho đối tượng

Để cuộc vấn đàm diễn ra thành công thì phải:

Có mục đích và kế hoạch cụ thể

Có phương pháp và kỹ năng

Một cuộc vấn đàm thường có 4 giai đoạn

Giai chuẩn bị: Trước khi vấn đàm cần chuẩn bị các yếu tố liên quan đó

là xác định mục đích của cuộc vấn đàm, nắm vững bản chất của cuộc vấnđàm, chuẩn bị thời gian địa điểm, các câu hỏi, phương tiện lưu giữ thông tin

Giai mở đầu: Trong giai đoạn này, nhân viên xã hội chủ yếu là chàohỏi, làm quen, tìm hiểu về đối tượng Giải thích về mục đích của cuộc vấnđàm, giúp cho đối tượng bình tĩnh, thoải mái Quan trọng nhất là cần phảiđảm bảo tính bí mật cho những thông tin mà đối tượng cung cấp

Giai triển khai: Đây là phần chính của cuộc vấn đàm, nhân viên xã hộithảo luận cùng với đối tượng về nội dung vấn đề, tính chất cũng như nguyênnhân của vấn đề

Giai kết thúc: Trước khi kết thúc cần kiểm tra, tóm tắt lại thông tin vớiđối tượng, nếu cần thiết thì để thời gian cho đối tượng bổ sung hoặc làm rõthông tin Cần lưu ý về thời gian cho cuộc vấn đàm không nên kéo quá dài,nếu chưa đạt được mục đích thì cũng kết thúc và hẹn vào buổi tiếp theo

Trang 30

* Kỹ năng ghi chép

Ghi chép là sự ghi lại của nhân viên xã hội về các sự việc, hiện tượng,tình huống, kết quả hoạt động của nhân viên xã hội và đối tượng trong quátrình giải quyết vấn đề

Khi thực hiện tiến trình CTXHCN, một điều quan trọng là cần phải ghilại tất cả những gì xảy ra trong tiến trình đó

Thông qua ghi chép, nhân viên xã hội có thể:

Lưu trữ các thông tin làm cơ sở cho việc theo dõi tiến trình hoạt động

và quá trình tương tác giữa nhân viên xã hội và đối tượng

Làm cơ sở đánh giá kết quả của sự tương tác giữa nhân viên xã hội vàđối tượng

Lưu ý những vấn đề, những cản trở xuất hiện

Giúp nhân viên xã hội nhận thức được trình độ, kỹ năng của họ

Cung cấp thông tin, hồ sơ trong việc chuyển giao đối tượng

Là cơ sở cho việc kiểm huấn các nhân viên công tác xã hội

Có 3 loại ghi chép đó là: ghi chép tóm tắt, ghi chép phúc trình, ghi chépnhật ký

2.3 Tiến trình CTXH với cá nhân phụ nữ nghèo đơn thân tại xóm 8- xã Thanh Mai

2.3.1 Tiếp cận đối tượng

Đây là bước đầu tiên có ý nghĩa quan trọng trong quá trình can thiệpnhằm mục đích tạo lập mối quan hệ với thân chủ tạo điều kiện thuận lợi choquá trình can thiệp, trợ giúp sau này

Bản thân phụ nữ nghèo đơn thân luôn là những người có tâm lý tự ti,mặc cảm, sống khép mình Do vậy mà việc tiếp xúc được với phụ nữ nghèo

Trang 31

không phải là một việc dễ dàng Vì thế mà đòi hỏi sự khéo léo, chân thành từphía NVCTXH để tạo sự tin tưởng cho thân chủ Được sự giúp đỡ và giớithiệu của hội LHPH xã, NVXH đã trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với chi hộitrưởng hội phụ nữ xóm Việc tiếp xúc này nhằm thiết lập mối quan hệ với cán

bộ cơ sở để thuận lợi cho quá trình tìm hiểu thông tin về cuộc sống của phụ

nữ nghèo tại cơ sở

Qua tìm hiểu và xem xét, tác giả đã đặc biệt quan tâm đến hoàn cảnhcủa bác Nguyễn Thị V bởi bác có hoàn cảnh sống rất éo le, con gái tật nguyền

và có sức khỏe yếu Bác không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn thiếu hụt vềtình cảm, bác luôn tự ti và mặc cảm về hoàn cảnh của mình

Thông qua một số hồ sơ thì tác giả đã thu thập được một số thông tin vềthân chủ như sau:

Được sự giúp đỡ của BCH xóm và sự giới thiệu của chi hội phụ nữ nênngày 24/3/2012 nhân viên xã hội đã trực tiếp xuống nhà bác V để tìm hiểu vềvấn đề.Lần đầu tiên tiếp xúc với thân chủ nhân viên xã hội đã có cái nhìn banđầu về cuộc sống nghèo khổ của thân chủ cũng như thái độ bi quan vào cuộcsống

Trang 32

“ Hôm trước bác cũng có nghe chị Hoa- chi hội trưởng hội phụ nữ xóm nói có cháu muốn đến thăm nhà bác để tìm hiểu một số thông tin Cháu thấy rồi đó, hoàn cảnh của bác như thế này đây, nghèo khổ, con thì tật nguyền, người xung quanh thì dị nghị đủ điều, khi mô cũng quẩn quanh với đói nghèo, cái số bác nó thế rồi” ( Pv lúc 14h 30p, ngày 24/ 3/ 2012, nhà

thân chủ )

Thông qua lời nói ban đầu của thân chủ, NVXH nhận thấy thân chủ rất

bi quan, phó mặc cho số phận trước tình cảnh thực tại của bản thân mình.Trong buổi tiếp xúc ban đầu, trước thái độ bi quan của thân chủ, NVXH đãdùng những lời lẽ thân thiện để trấn an tinh thần thân chủ, động viên thân chủ

và thể hiện thái độ muốn chia sẻ, giúp đỡ thân chủ một cách chân thành

Qua buổi nói chuyện ban đầu thì NVXH cũng đã giới thiệu được vềbản thân mình, xuất trình những giấy tờ liên quan cũng như mục đích củacông việc cho thân chủ biết để tạo niềm tin ban đầu cho thân chủ, tạo khôngkhí cởi mở, hòa nhã trong lần giao tiếp đầu tiên Tuy nhiên đối tượng là người

có vấn dề nên lúc nào cũng có cảm giác tự ti, mặc cảm Do đó mà NVXH

phải biết động viên, khích lệ trước suy nghĩ bi quan của thân chủ “ Cháu thật

sự khâm phục và đánh giá cao nghị lực của bác” để giúp thân chủ giảm bớt

sự tự ti và thấy được tiềm năng của mình, thấy được sự nỗ lực của bản thân đãđược người khác nhìn nhận và đánh giá cao

Trong buổi tiếp xúc ban đầu này, thì tác giả khóa luận đã thu thập đượcmột số thông tin giúp cho việc xác định được vấn đề ban đầu của thân chủ:

“Số bác là số nghèo khổ, lúc nhỏ đã đói khổ, trước đây gia đình bố mẹ bác cũng nghèo lắm, không dủ cơm mà ăn, cơm được một phần mà đến hai,

ba phần sắn Sau khi bố mẹ bác mất, anh trai bác lập gia đình nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo.Lúc bác sinh cái Luyến nghĩ lại mà tủi nhục, đói khổ gạo

Trang 33

khinh bỉ, mỉa mai, nghĩ mà nhục” (PV, lúc 16h25p, ngày 24/3/2012, tại nhà bác V)

Bằng việc sử dụng kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe kết hợp kỹnăng quan sát, NVXH có thể thấy được gia đình thân chủ gặp rất nhiều khókhăn về đời sống vật chất, bản thân thân chủ cũng không gặp may mắn trongcuộc sống Vì thế mà thân chủ trở nên bi quan, chán nản trong cuộc sống

Trong lần tiếp xúc ban đầu, thân chủ có vẻ dè dặt, cảnh giác khi tiếpxúc với người lạ, nhưng bằng sự chân thành, sự đồng cảm của NVXH nênthái độ của thân chủ đã dần thay đổi

NVXH đã sử dụng một số kỹ năng nghề nghiệp CTXH để tạo tin tưởng

ở thân chủ như kỹ năng giao tiếp không lời( ánh mắt, cử chỉ, nét mặt, giọngnói, tư thế ) Ngoài ra còn tạo bầu không khí thân mật, cởi mở, thoải máitrong giao tiếp với bác V Đồng thời cũng giúp bác V bộc lộ ý kiến, trao đổithông tin về những vấn đề mà bản thân gia đình bác đang gặp phải cũng nhưbày tỏ được nhu cầu, nguyện vọng của mình để NVXH hiểu và lên kế hoạchtrợ giúp phù hợp

2.3.2 Xác định vấn đề

Qua một thời gian trực tiếp vãng gia xuống nhà thân chủ để trao đổinhằm thu thập thông tin và tiến hành các hoạt động ngiên cứu, đồng thờithông qua các kỹ năng và phương pháp CTXH, nhân viên công tác xã hội đã

xác định được vấn đề mà thân chủ đang gặp phải “ Nhà bác khổ lắm, ruộng

thì ít, vốn không có, con cái ốm đau, tàn tật, vay mượn thì người ta cũng từ chối vì họ biết không biết khi nào bác mới có trả ” ( PV, lúc 7h45p, ngày

8/4/2012, tại nhà thân chủ)

Thông qua chia sẻ của thân chủ thì nhân viên xã hội thấy thân chủ đanggặp khó khăn về vật chất do thiếu tư liệu sản xuất, thiếu nguồn vốn, con ốm

Trang 34

đau tàn tật, thân chủ cần sự giúp đỡ nhưng mọi người xung quanh xa lánh, từchối giúp đỡ mặc dù sự giúp đỡ đó nằm trong khả năng có thể của họ Chúng

ta biết rằng bản thân thân chủ không có khả năng tự xoay xở để giải quyết vấn

đề của bản thân, người xung quanh thì từ chối không giúp đỡ nên gia đìnhthân chủ vẫn trong tình trạng đói nghèo, cuộc sống rất vất vả Thân chủ rấtcần sự chung tay giúp đỡ từ những người xung quanh

Trao đổi với chủ tịch hội phụ nữ xã Thanh Mai về hoàn cảnh của bác V

thì nhân viên xã hội cũng được biết: “ Chị V vừa nghèo khó lại sống cô lập vì

hoàn cảnh hai mẹ con phụ nữ nương tựa nhau mà không có đàn ông, vật chất

đã túng thiếu mà tinh thần cũng nặng nề”.(PVS, số 3, lúc 14h30p, ngày

2/4/2012, tại phòng phụ nữ xã Thanhh Mai)

Từ những trao đổi trên thì nhân viên xã hội nhận thấy thân chủ đanggặp những vấn đề sau:

Thân chủ là người đang gặp khó khăn về kinh tế: Gia đình thân chủthuộc diện đói nghèo của xã, lại không có thu nhập gì ngoài nông nghiệp,trong khi chi phí cho cuộc sống hàng ngày rất nhiều nên kinh tế của thân chủrất khó khăn

Thân chủ gặp khó khăn trong việc chăm sóc con bị tàn tật: Con gái thânchủ bị tật chân bẩm sinh, sức khoẻ lại yếu Nên thân chủ phải dành nhiều thờigian cho việc đưa đón con đi học, giúp con trong sinh hoạt hàng ngày

Thân chủ luôn tự ti, mặc cảm về bản thân: Hoàn cảnh gia đình thân chủnghèo đói, bản thân thân chủ là người phụ nữ không có chồng mà có con, congái lại tàn tật nên thân chủ rất ngại cho hoàn cảnh của mình, sống khép mình,hạn chế giao tiếp với những người xung quanh

2.3.3 Thu thập thông tin

Trang 35

Sau những buổi vãng gia, gặp gỡ cùng trò chuyện cũng như trao đổicùng với thân chủ thì nhân viên xã hội đã nhận thấy được sự tin cậy nhất địnhcủa thân chủ dành cho nhân viên xã hội Đây là một trong những điều kiệnquan trọng giúp tác giả khóa luận thuận lợi hơn trong bước thu thập thông tinnày.

Việc thu thập thông tin liên quan đến vấn đề của thân chủ không phải làmột vấn đề dễ dàng, muốn thu thập được những thông tin phục vụ cho đề tàinghiên cứu thì đòi hỏi nhân viên xã hội phải biết sử dụng phối kết hợp nhiều

kỹ năng như kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng phỏng vấn sâu ,

để khai thác được những thông tin chính xác về từng chiều cạnh vấn đề màthân chủ đang gặp phải Quá trình thu thập thông tin phải được tiến hànhxuyên suốt tiến trình can thiệp và có thể thông qua các nguồn sau: thân chủ,hàng xóm, trưởng ban XĐGN xã, chi hội trưởng hội phụ nữ xóm, chủ tịch hộiliên hiệp phụ nữ xã Những thông tin thu thập được bao gồm:

Trang 36

* Những thông tin về vấn đề của thân chủ

Đầu tiên NVXH lắng nghe thân chủ tự bộc lộ về gia đình, bản thân,những khó khăn, bức xúc mà họ đang gặp phải, qua đó để NVXH xác định lạinhững vấn đề mà thân chủ đang gặp phải

Vấn đề 1:Thân chủ có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn

Thông qua những thông tin mà thân chủ cung cấp thì tác giả nhận thấy:hiện tại cuộc sống gia đình thân chủ gặp rất nhiều khó khăn, thân chủ có mộtsào ruộng để sản xuất làm nguồn thu nhập chính Khi có thời gian rảnh rỗi thìbác V đi cuốc cỏ thuê, hái đọt chè thuê hoặc một số việc khác để kiếm tiềnđóng tiền học cho con và những lần con đau ốm hay đi khám bệnh

“ Bác chỉ có một sào ruộng, mỗi năm sản xuất một mùa lúa Mùa màng xong không ai thuê gì nữa thì bác cuốc đất trồng rau trong vườn,Mỗi tháng nếu không có thời gian làm thuê thì bác không có thu nhập nào khác ngoài tiền trợ cấp của cái L(180.000 /tháng), tiền thu vào thì không có mà tiền tiêu thì nhiều nên nghèo túng vẫn là nghèo túng thôi mà cháu”.

( PV,lúc 15h, ngày 13/4/2012, tại nhà thân chủ) Thông qua những lời trao đổi của thân chủ, NVXH nhận thấy hoàncảnh của thân chủ rất khó khăn, kinh tế túng quẫn, nguồn thu nhập của thânchủ không có gì thêm ngoài sào lúa và tiền trợ cấp xã hội hàng tháng của congái, trong khi cuộc sống hàng ngày của thân chủ cần chi tiêu rất nhiều khoản,

do vậy mà cuộc sống của hai mẹ con thân chủ gặp rất nhiều khó khăn

Vấn đề 2: Việc thân chủ luôn có cảm giác tự ti, mặc cảm

Xuất phát từ sự đói nghèo, những định kiến của xã hội Qua trò chuyệnvới thân chủ, tôi nhận thấy thân chủ luôn mặc cảm với bản thân mình Hàngngày tiếp xúc với những người xung quanh, bác luôn thấy tự thương hại chohoàn cảnh của mẹ con bác Vì lẽ đó mà bác trở nên sống khép mình, hạn chếqua lại và giao tiếp với những người xung quanh

Trang 37

“ Từ khi bác sinh cái L, hàng xóm láng giềng cũng ít khi qua lại Nhớ lại lúc đó mà thấy nhục, lời ra tiếng vào, có người còn bảo bác là già, dã nghèo mà vẫn không hết dại Nếu cái L mà khỏe mạnh thì còn đỡ, nhưng đằng này ông trời không thương bắt nó bị tật chân bẩm sinh nên người ta càng xa lánh hơn Đời bác thế này rồi thì đã đành nhưng chỉ tội cái L tàn tật,

đi lại khó khăn, sau này bác mà chết đi không biết nó sẽ sống như thế nào” (

PV, lúc 15h, ngày 13/4/2012, tại nhà thân chủ )

Chúng ta thấy rằng cuộc sống của thân chủ đặc biệt khó khăn từ khicon gái thân chủ ra đời, gánh nặng vật chất càng trở nên nặng nề khi bác phảichăm sóc cho cô con gái tàn tật, tinh thần của thân chủ cũng trở nên chán nản,

bi quan trước thái độ của những người xung quanh đã đẩy bác tới đỉnh caocủa sự tuyệt vọng, cam chịu số phận

Qua lời kể của thân chủ, tôi nhận thấy việc thân chủ có cảm giác tự ti,mặc cảm đó vừa là do tự thân chủ và cũng do định kiến xã hội, sự xa lánh,lòng thương hại của những người xung quanh Do đó mà đã đẩy mối quan hệgiữa thân chủ với những người xung quanh ra một khoảng cách ngày càng xa

Vấn đề 3: Thân chủ gặp khó khăn trong việc chăm sóc con gái tàn tật.

Qua quan sát và tiếp xúc thì NVXH thấy em L con bác V là cô bé bị tậtchân bẩm sinh Em có thể đi lại được nhưng rất khó khăn bởi sức khỏe của

em rất yếu.Chính vì thế mà bác V phải dành rất nhiều thời gian cho con

“ Từ khi lọt lòng, chân cái L đã bị tật, nhà không có tiền nên muốn chữa cũng chịu Lúc còn nhỏ nó yếu lắm, giờ đi học đến lớp 6 nhưng vẫn ngày 2 lần đưa đến trường rồi lại đón về Trời nắng thì chớ, chứ trời mưa gió thì khổ lắm, nhìn con mà chảy nước mắt nhưng không biết làm gì”.

(PV, lúc 15h, ngày13/4/2012, tại nhà thân chủ )

Trang 38

Chúng ta thấy rằng việc chăm sóc, đưa đón con gái khá vất vả và chiếmnhiều thời gian của thân chủ Thân chủ rất đau khổ trước số phận của con gáimình, dù có rất thương con gái nhưng do không đủ khả năng về kinh tế nênthân chủ không thể chăm sóc con được tốt hơn.

“ Nhìn con nhà hàng xóm cùng tuổi với L nhà bác mà bác thấy thương

con vô cùng, mỗi lần con bé ra kho văn hóa là mấy đứa nhỏ trong xóm lại tránh không chơi với nó ” ( PV, lúc 15h, ngày 13/4/2012, tại nhà thân chủ )

Qua lời thân chủ NVXH nhận thấy, không chỉ có bản thân thân chủ bịmọi người xa lánh, mà ngay con gái thân chủ cũng bị gét bỏ, làm cho hai mẹcon bác trở nên cô độc, sống lẻ loi trong với những người xung quanh

Ngoài những thông tin thu thập được từ thân chủ, thì NVXH còn chủđộng thu thập thông tin từ những người khác để nguồn thông tin thu được đachiều xung quanh vấn đề của thân chủ

NVXH đã tìm hiểu trao đổi với hàng xóm của bác thì được biết hoàncảnh của bác đặc biệt khó khăn từ khi con gái ra đời

“ Chị V khổ lắm, trước giờ đều khổ, sinh được cái L thì bị tàn tật khổ hết nói, tôi rất thương cho hoàn cảnh của chị, đã thế chị còn bị người ta nói lời ra tiếng vào, chắc chị buồn lắm nhưng số chị đã thế rồi không biết làm gì

mà phải cam chịu, hoàn cảnh mình đã thế rồi mà Nếu tôi mà rơi vào hoàn cảnh như chị chắc gì tôi lại làm được như chị” ( Chị N, hàng xóm, 37 tuổi,

làm ruộng)

Qua trao đổi với hàng xóm thì NVXH cũng biết được thêm về hoàncảnh khó khăn của thân chủ Qua đó cũng giúp nhân viên xã hội thấy đượcthái độ của những người xung quanh về vấn đề của thân chủ, họ luôn tỏ thái

độ gay gắt, thương hại cho hoàn cảnh của mẹ con bác Đây chính là một trongnhững nguyên nhân làm cho bác rơi vào tình trạng khủng hoảng về tinh

Trang 39

thần.Đây là một trong những yếu tố quan trọng để nhân viên xã hội có thể xácđịnh được nguồn lực hỗ trợ thân chủ trong quá trình trị liệu.

Ngoài ra, thông qua hội phụ nữ xóm, NVXH cũng đã kịp thời thu đượcnhững thông tin về hoàn cảnh của thân chủ, về những hoạt động của hội phụ

nữ dành cho thân chủ, như các hoạt động thăm hỏi,tặng quà ngày vì ngườinghèo, người khuyết tật

“ Chị V là một trong những phụ nữ thuộc diện nghèo đơn thân của xã

có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, con thì tật nguyền, có mỗi sào ruộng, vốn liếng không có, làm thuê cuốc mướn không đủ mà ăn Các chị em phụ nữ trong xóm cũng đã có động viên giúp đỡ chị một phần nào đó cho chị, những ngày lễ như 8/3 hay 20/ 10 chi hội phụ nữ xóm cũng đến tặng quà, động viên chị nên tham gia sinh hoạt với các chi em trong chi hội phụ nữ”.( Chị M, 28

tuổi, chi hội trưởng hội phụ nữ xóm 8)

Những thông tin mà hội phụ nữ cung cấp một lần nữa giúp NVXHkhẳng định hoàn cảnh khó khăn của thân chủ, thấy được sự quan tâm của hộiphụ nữ dành cho thân chủ Đây là nguồn lực quan trọng trực tiếp ảnh hưởngđến thân chủ trong quá trình giúp thân chủ giải quyết vấn đề

Đồng thời để thu thập được nguồn thông tin phong phú, tôi cũng đã gặptrực tiếp và trao đổi với chú Bằng- là trưởng ban XĐGN của xã và được chúxác nhận trường hợp của bác V là một trong những trường hợp đặc biệt khókhăn

“Chị V có hoàn cảnh khó khăn lắm, phụ nữ nuôi con một mình mà con còn tàn tật nên hoàn cảnh lắm Đợt vừa rồi, chúng tôi cũng đã làm thủ tục tạo điều kiện cho chị để được cấp vốn xây dựng nhà tình thương đó, mong sao cho cuộc sống của chị tốt hơn”.

Trang 40

Như vậy, thông qua các buổi tiếp xúc, trao đổi với thân chủ và nhữngngười liên quan, thông qua các hoạt động mà chi hội phụ nữ dành cho thânchủ, thì NVXH đã phần nào định hướng được cụ thể hơn trong việc lập ra kếhoạch để can thiệp cho thân chủ, như NVXH có thể là cầu nối để giúp thânchủ vượt qua cảm giác tự ti, mặc cảm, tham gia sinh hoạt cùng chi hội phụ nữ.Bên cạnh đó thì NVXH đã cùng thân chủ trao đổi về những nguyên nhân củavấn đề mà thân chủ đang gặp phải như các nguyên nhân sau:

Thứ 1: Do từ nhỏ thân chủ đã sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, bố

mẹ bác V đều làm ruộng nhưng vẫn không đủ ăn Do vậy mà không có vốn đểlại cho anh ,em bác

Thứ 2: Hiện tại thiếu điều kiện sản xuất như đất đai, nguồn vốn Hai mẹ

con bác chỉ có mỗi sào ruộng để trồng lúa, vốn thì không có, hàng tháng thunhập chỉ chủ yếu dựa vào tiền trợ cấp xã hội của em L Do đó là nguồn vốnđầu tư vào sản xuất không có nên năng suất sản xuất không có

Thứ 3: Trình độ học vấn thấp nên khó khăn trong việc áp dụng KHKT

vào sản xuất để nâng cao năng suất Từ nhỏ gia đình khó khăn nên bác chỉhọc tới lớp 3 là phải bỏ học ở nhà giúp đỡ gia đình, vì thế mà trình độ học vấncủa bác rất thấp Trong khi hiện nay quá trình sản xuất đòi hỏi phải áp dụngtiến bộ khoa học vào nâng cao năng suất và sản lượng, do đó mà bác tiếp thurất chậm và khó khăn

Thứ 4: Con gái tật nguyền, sức khỏe yếu nên bác V phải dành nhiều

thời gian chăm sóc, đưaa đón em L đi học, chi phí khám chữa bệnh cho em Lmỗi lần đi khám định kỳ cho em

Thứ 5: Chịu nhiều định kiến xã hội: không chồng mà có con, nên thân

chủ sống khép mình, không giao lưu, học hỏi kinh nghiệm sản xuất từ những

Ngày đăng: 31/08/2021, 00:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Thị Bình(2003), gia đình Việt Nam và phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước, nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: gia đình Việt Nam và phụ nữ Việt Nam trongthời kỳ CNH- HĐH đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Nhà XB: nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2003
3. Lê Văn Phú(2007), nhập môn công tác xã hội,nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: nhà xuất bản Đại họcquốc gia Hà Nội
Năm: 2007
4. Lê Thị Quý, giáo trình xã hội học giới, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình xã hội học giới
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục ViệtNam
5. Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên),(2006), giáo trình tâm lý học đại cương, nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình tâm lý học đạicương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên)
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2006
6. Bùi Xuân Mai( chủ biên),(2008), giáo trình tham vấn, nhà xuất bản lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình tham vấn
Tác giả: Bùi Xuân Mai( chủ biên)
Nhà XB: nhà xuất bảnlao động – xã hội
Năm: 2008
7. Trần Đình Tuấn (2008),công tác xã hội - lý thuyết và thực hành, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: công tác xã hội - lý thuyết và thực hành
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: nhàxuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
9. Trần Văn Kham ( người dịch), lý thuyết xã hội học hiện đại (lần xuất bản thứ 2, 1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: lý thuyết xã hội học hiện đại
10.Nguyễn Hải Hữu (chủ biên), giáo trình nhập môn an sinh xã hội, nhà xuất bản lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình nhập môn an sinh xã hội
Nhà XB: nhà xuất bản lao động xã hội
11.Pham Thị Oanh, giáo án giảng dạy công tác xã hội cá nhân, Vinh 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo án giảng dạy công tác xã hội cá nhân
12.Phạm Văn Quyết- TS.Nguyễn Quý Thanh, phương pháp nghiên cứu xã hội học, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp nghiên cứuxã hội học
Nhà XB: nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội-2001
1. Bộ lao động, thương binh và xã hội(2004), chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo Khác
8. Trường Đại học lao động xã hội (2005), giáo trình công tác xã hội cá nhân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Kế hoạch trị liệu cho thõn chủ - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8  xã thanh mai,
Bảng 2.2. Kế hoạch trị liệu cho thõn chủ (Trang 51)
Bảng phỏng vấn sõu số 1: thõn chủ - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8  xã thanh mai,
Bảng ph ỏng vấn sõu số 1: thõn chủ (Trang 71)
Bảng phỏng vấn sõu số 2: Trưởng ban XĐGN xó - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8  xã thanh mai,
Bảng ph ỏng vấn sõu số 2: Trưởng ban XĐGN xó (Trang 73)
Bảng phỏng vấn sõu số 3: Hội trưởng hội phụ nữ xó - Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp phụ nữ nghèo đơn thân nâng cao cuộc sống tại xóm 8  xã thanh mai,
Bảng ph ỏng vấn sõu số 3: Hội trưởng hội phụ nữ xó (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w