Giới thiệu vài nét về huyện Quỳ Hợp
Quỳ Hợp, huyện miền núi thuộc phía Tây Bắc Nghệ An, được thành lập vào ngày 19/4/1963, tách ra từ huyện Quỳ Châu cũ Huyện có diện tích tự nhiên 94.220,55 ha, chiếm 5,71% tổng diện tích tỉnh Nghệ An, với dân số khoảng 120.000 người, trong đó đồng bào thiểu số chiếm 52,26% Vị trí địa lý của huyện được xác định rõ ràng.
- Phía Đông giáp huyện Nghĩa Đàn.
- Phía Tây giáp huyện Con Cuông.
- Phía Nam giáp huyện Tân Kỳ.
- Phía Bắc giáp huyện Quỳ Châu.
Huyện Quỳ Hợp bao gồm 21 xã và một thị trấn, với thị trấn Quỳ Hợp là trung tâm huyện lỵ, nằm cách thành phố Vinh 120 km về phía Tây Bắc Huyện được kết nối qua Tỉnh lộ 532, Quốc lộ 1 và Quốc lộ 48, cùng với các tuyến đường liên huyện và giao thông nối với các huyện lân cận.
Khái quát về phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp
Tổ chức cơ sở
- Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp là đơn vị trực thuộc UBND huyện Quỳ Hợp.
Tại 21 xã và một thị trấn, mỗi địa phương đều có cơ sở cấp xã với khối làm công tác văn hóa chuyên trách Mỗi xã thường có từ một đến hai cán bộ phụ trách công tác văn hóa.
Cơ cấu hành chính của phòng bao gồm một trưởng phòng, một phó phòng và bốn nhân viên Trưởng phòng chịu trách nhiệm quản lý và điều hành công việc, phân công nhiệm vụ cho phó phòng và các thành viên, ký các hồ sơ văn bản, cử cán bộ đi công tác, ký giấy đi đường và thanh toán các khoản chi phí liên quan Đồng thời, trưởng phòng cũng chủ trì các buổi họp trong phòng.
Phó phòng là người hỗ trợ cho trưởng phòng, điều hành các công việc trong phòng khi trưởng phòng đi vắng
Nhân viên trong phòng làm việc thực hiện nhiệm vụ theo sự giám sát của trưởng phòng, mỗi thành viên đảm nhận công việc phù hợp với chuyên môn của mình.
Mục tiêu, mục đích hoạt động của tổ chức
Quản lý văn hóa, thông tin và thể thao huyện cùng các cơ quan liên quan là nhiệm vụ quan trọng Cần lập kế hoạch kiểm tra và đôn đốc các xã, thị trấn, Trung tâm Văn hóa Thông tin Thể thao huyện, cũng như các đơn vị liên quan, thực hiện đúng kế hoạch và nhiệm vụ theo yêu cầu công tác.
Tuyên truyền các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến văn hóa, gia đình, thể dục thể thao, du lịch, bưu chính, viễn thông và Internet, công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin, phát thanh, báo chí, và xuất bản trên địa bàn huyện là rất quan trọng để nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội.
Chúng tôi chỉ đạo, tham mưu và hướng dẫn các lĩnh vực như văn hóa, văn nghệ, lễ hội, thể dục thể thao gia đình, du lịch, quảng cáo, báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, bảo tàng, thư viện, bưu chính, viễn thông, internet, công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin và các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên địa bàn huyện.
Nguyễn Tiến Cảnh( truởng phòng)
Vi Thị Hoa (cán bộ hiệp đồng)
Cao VănTuấn ( cán bộ biên chế)
Nguyễn Bá Sơn ( cán bộ biên chế) Đậu Ngọc Tuân( phó Phòng)
Trịnh HằngLong ( cán bộ hiệp đồng)
Tổ chức thực hiện công tác văn hóa tại cơ sở nhằm xây dựng huyện điểm văn hóa và đạt tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực văn hóa Mục tiêu này không chỉ nâng cao đời sống văn hóa của người dân mà còn góp phần phát triển bền vững cho địa phương.
Đối tượng phục vụ, các yếu quyết định mô hình làm việc của tổ chức đối với khách hàng
- Văn hoá, văn nghệ, lễ hội của các cơ quan, tổ chức, nhóm, đoàn thể diễn ra trên địa bàn huyện.
Bài viết tập trung vào các vấn đề gia đình quan trọng như bạo lực gia đình, tình trạng nghèo đói trong các hộ gia đình, sự bất bình đẳng trong mối quan hệ gia đình, và việc xây dựng nếp sống văn minh trong từng gia đình Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của xã hội Cần có những giải pháp hiệu quả để nâng cao nhận thức và cải thiện tình hình gia đình trong cộng đồng.
- Đối tượng còn là tất cả người dân trên địa bàn huyện
Các yếu tố quyết định mô hình làm việc của tổ chức đối với khách hàng.
Tổ chức này áp dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow để giải quyết các vấn đề dựa trên nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng, đồng thời hoạt động theo mô hình tổ chức quan liêu.
Ngân sách cho các hoạt động của tổ chức được nhà nước chi trả thông qua việc cơ sở trình đề án và yêu cầu lên cấp trên, như UBND tỉnh hoặc sở văn hóa thể thao tỉnh Nếu đề án được xem xét khả thi và hợp lý, cấp trên sẽ phê duyệt và cấp kinh phí để cơ sở triển khai thực hiện.
Các dịch vụ do cơ sở cung cấp
- Tập huấn tuyên truyền đối với đồng bào các dân tộc vùng cao về vấn đề dân sô kế hoạch hoá gia đình.
- Tập huấn về công tác quản lý hành chính nhà nước.
- Truyền thông, phổ biến tận người dân các chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình.
- Mỗi xã thị trấn đều có phòng truyền thông tuyên truyền cho người dân về nếp sống văn hoá lành mạnh.
Phòng quản lý công tác dân số tại các trạm y tế xã thực hiện chương trình tuyên truyền và tư vấn về sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, nhằm hướng dẫn người dân áp dụng biện pháp tránh thai phù hợp Đặc biệt, chương trình đảm bảo phụ nữ ở vùng nông thôn và khó khăn được tiếp cận dịch vụ KHHGĐ, đồng thời cung cấp tư vấn sàng lọc trước và sau sinh để hạn chế tình trạng trẻ em sinh ra với khuyết tật không đáng có.
Quan hệ công tác
Phòng và trưởng phòng thuộc UBND huyện, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng Sở Thông tin Truyền thông chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp từ UBND huyện và các phó chủ tịch Đồng thời, họ cũng phải tuân thủ sự chỉ đạo, kiểm tra và hướng dẫn chuyên môn từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như Sở Thông tin Truyền thông.
- Đối với các phòng, ban, ngành UBND huyện: Phòng, trưởng phòng Văn hoá và Thông tin thực hiện mối quan hệ phối hợp.
Các xã, thị trấn và các cơ quan, đơn vị liên quan cần phối hợp chặt chẽ với phòng VHTT huyện Trưởng phòng VHTT huyện có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng đã được giao.
Chi bộ phòng VHTT huyện có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và chính trị theo quy định Trưởng phòng chịu sự lãnh đạo của Chi bộ và Bí thư chi bộ, tuân thủ nguyên tắc tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách.
Ủy ban nhân dân cần tham mưu và ban hành các chủ trương, chính sách nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác văn hóa cũng như các hoạt động liên quan khác tại địa phương.
Chỉ đạo và điều hành công tác hóa trong các lĩnh vực y tế và giáo dục theo kế hoạch đã đề ra, nhằm đảm bảo ổn định đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm nhân viên phòng Văn Hoá và Thông
Nhân viên trong phòng được khuyến khích phát huy tính dân chủ và tự do thảo luận trong các buổi sinh hoạt, thể hiện sự thẳng thắn và nghiêm túc trong công việc Họ thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình một cách chân thành, cởi mở với đồng nghiệp và khách hàng Đồng thời, nhân viên cũng nỗ lực xây dựng và duy trì khối đoàn kết thống nhất cao, đảm bảo công việc được thực hiện có nề nếp và kỹ cương.
- Năng lực nhân viên cần phải có năng lực thực sự, là những người có trình độ Đại Học trở lên.
Để áp dụng hiệu quả các lý thuyết vào thực tiễn trong công tác xã hội, nhân viên cần trang bị kiến thức và kinh nghiệm phong phú Do đó, những nhân viên trẻ trong ngành cần nỗ lực học hỏi và làm việc chăm chỉ để phát triển kỹ năng và khả năng ứng phó linh hoạt với các tình huống khác nhau.
Vai trò của sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở
Sinh viên tham gia tích cực vào các hoạt động tại cơ sở và thực địa ở các xã, thị trấn, nhằm hỗ trợ công tác thực hành cho sinh viên và giúp đỡ cơ sở trong những trường hợp cần thiết.
- Sinh viên quản lý các văn bản đi, đến của phòng theo sự chỉ đạo của trưởng phòng.
- Sinh viên sắp xếp văn bản của phòng theo sự chỉ đạo của cán bộ phòng.
Sinh viên tham gia các hoạt động vui chơi giải trí tại cơ sở và các xã, thị trấn theo sự phân công của trưởng phòng, nhằm phát triển kỹ năng nghề nghiệp cần thiết.
Nhận xét về cơ sở thực tập
Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp chịu trách nhiệm quản lý các lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể thao, y tế và giáo dục tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Hiện nay, phòng đang triển khai đề án xây dựng huyện miền núi đạt chuẩn văn hoá, do đó, đối tượng phục vụ của phòng rất đa dạng Công tác tiếp cận cộng đồng luôn được Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp chú trọng và thực hiện thường xuyên.
Tại Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp, sinh viên sẽ cảm nhận được sự chuyên nghiệp và tác phong làm việc tốt của các anh chị ở đây Điều quan trọng không chỉ nằm ở cơ sở vật chất mà còn ở sự thân thiện, hợp tác và cởi mở của đội ngũ nhân viên Sinh viên được hỗ trợ nhiệt tình từ các kiểm huấn viên và nhân viên văn phòng, tạo nên một môi trường thực tập tích cực và hài lòng.
XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NGHÈO TẠI XÃ TAM HỢP, HUYỆN QUỲ HỢP
Lý do chọn đề tài
Phụ nữ đơn thân nghèo thường có học vấn thấp và nhận thức hạn chế, gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế và sinh hoạt Họ dễ bị tổn thương và ít có cơ hội cải thiện cuộc sống, thường làm các công việc nặng nhọc hoặc lao động chân tay mà không có trình độ chuyên môn Việc thiếu tiếp cận công nghệ, tín dụng và đào tạo khiến họ gặp khó khăn trong công việc gia đình, đồng thời thường nhận mức lương thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc Điều này, kết hợp với tình trạng sức khoẻ kém, tạo ra nguy cơ lớn cho việc thoát nghèo bền vững Do đó, phụ nữ đơn thân nghèo cần được xã hội quan tâm đặc biệt.
Hiện nay, có nhiều mô hình công tác xã hội nhóm phục vụ các đối tượng khác nhau, như mô hình B93 hỗ trợ người cai nghiện ma túy và nhóm đồng đẳng Hoa Hướng Dương dành cho người có HIV Tuy nhiên, chưa có mô hình công tác xã hội nhóm nào hỗ trợ phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp Nhận thấy sự cần thiết của mô hình này, nhóm nghiên cứu đã được sự cho phép của chủ tịch hội phụ nữ xã và lãnh đạo xã Tam Hợp để xây dựng mô hình công tác xã hội nhóm dành riêng cho phụ nữ đơn thân nghèo.
Mô hình công tác xã hội nhóm dành cho phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp không chỉ mang lại lợi ích cho các phụ nữ nghèo mà còn hỗ trợ cả gia đình của họ Hoạt động này tạo cơ hội cho sinh viên phát triển kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực hành nghề nghiệp, góp phần cải thiện đời sống cho các hộ gia đình nghèo trong khu vực.
Chúng tôi đã chọn nghiên cứu mô hình công tác xã hội nhóm dành cho phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp, Quỳ Hợp, vì đây là một mô hình có tiềm năng lớn để mở rộng và phát triển Không chỉ hỗ trợ phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp, mô hình này còn có khả năng lan tỏa đến phụ nữ nghèo ở các xã khác trong khu vực.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội nhằm phân tích mối tương tác giữa các thành viên trong nhóm và mối quan hệ với các hệ thống hỗ trợ khác Qua đó, đề xuất các biện pháp can thiệp nhóm hiệu quả.
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp công tác xã hội nhằm phân tích và đánh giá thực trạng đời sống của phụ nữ nghèo, đồng thời khám phá nguyên nhân hình thành nhóm dựa trên nhu cầu của họ Bằng cách vận dụng sáng tạo các lý thuyết xã hội học kinh điển và các chuyên ngành như xã hội học gia đình, công tác xã hội nhóm, công tác xã hội cá nhân, và xã hội học về giới, nghiên cứu này bổ sung lý luận cho việc ứng dụng phương pháp công tác xã hội trong thực tiễn.
Mô hình được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp, giúp họ có cơ hội chia sẻ và bày tỏ những khó khăn trong cuộc sống Việc phát triển hoạt động của mô hình không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho các gia đình mà còn tạo điều kiện cho việc trao đổi, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm trong kinh tế Qua đó, mô hình góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các biện pháp phát triển kinh tế, giảm nghèo cho các hộ gia đình nghèo ở xã Tam Hợp và khu vực nông thôn.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu nhu cầu và khó khăn của thân chủ trong quá trình thoát nghèo, từ đó xây dựng mô hình CTXH nhóm Mục tiêu là tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên CTXH và thân chủ, cũng như giữa các thân chủ với nhau và với chính quyền địa phương, làm nền tảng cho các hoạt động hỗ trợ sau này.
- Bước đầu đề xuất khuyến nghị và giải pháp cho công cuộc xoá đói giảm nghèo của địa phương trong thời gian tới.
Việc tham gia xây dựng mô hình công tác xã hội (CTXH) với phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp mang đến cho sinh viên thực tập cơ hội quý giá để nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm cho sự nghiệp tương lai Qua đó, mô hình CTXH này không chỉ hỗ trợ phụ nữ đơn thân nghèo mà còn có thể được mở rộng và áp dụng cho các nhóm đối tượng khác trong lĩnh vực công tác xã hội.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mô tả nhóm thân chủ: những khó khăn trong việc phấn đấu thoát nghèo, nhu cầu, nguyện vọng của nhóm thân chủ.
- Tăng cường năng lực giao tiếp, phát huy khả năng tự lực khả năng học hỏi,tự giải quyết vấn đề cho nhóm phụ nữ đơn thân nghèo.
- Ứng dụng tiến trình CTXH nhóm với nhóm phụ nữ đơn thân nghèo.
- Rút ra bài học kinh nghiệm khi bước đầu xây dựng mô hình CTXH trong thực tiễn để tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo của nghiên cứu.
- Làm rõ vai trò của nhân viên CTXH cũng như tiềm năng phát triển mô hình CTXH trong cuộc sống.
Nhân viên xã hội, thân chủ, phạm vi nghiên cứu
- Sinh viên thực tập: Hồ Thị Thiết.
Nhóm phụ nữ đơn thân nghèo đang tích cực tham gia các hoạt động tại các chi hội phụ nữ ở xã Tam Hợp, dưới sự quản lý của ban chấp hành phụ nữ.
Phạm vi không gian: Địa bàn xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp.
Phạm vi thời gian: Từ tháng 2/2011 đến tháng 4/2011.
phương pháp nghiên cứu và phương pháp thực hành
6.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Bài viết này phân tích và tổng hợp thông tin thứ cấp liên quan đến tình trạng nghèo đói ở nông thôn Việt Nam, đặc biệt tập trung vào huyện Quỳ Hợp và xã Tam Hợp Qua việc xem xét các báo cáo và dữ liệu hiện có, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về những thách thức mà người dân địa phương đang phải đối mặt, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện đời sống và phát triển bền vững cho khu vực này.
6.1.2 Phương Pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là một phương pháp quan trọng để thu thập thông tin từ thân chủ, yêu cầu người phỏng vấn, như nhân viên xã hội, cần chuẩn bị kỹ lưỡng các câu hỏi và thông tin liên quan Trong quá trình phỏng vấn, họ phải chú ý đến những thông tin thiếu sót, mơ hồ và xử lý các nhầm lẫn bằng kỹ năng giải quyết vấn đề hiệu quả.
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn sâu với một số phụ nữ đơn thân nghèo, thông qua chính họ và các cán bộ thực hiện chính sách xã, cùng lãnh đạo xóm, nhằm thu thập thông tin chi tiết hơn mà phiếu hỏi không thể hiện.
Phương pháp quan sát được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, kết hợp trong quá trình vãng gia.
Phương pháp quan sát được thực hiện tại nơi ở của những phụ nữ đơn thân nghèo trong các gia đình nghèo ở địa bàn xã Tam Hợp.
Mục đích của việc quan sát là để thu thập thông tin cơ bản về hoàn cảnh gia đình, cũng như thái độ và hành vi của thân chủ trong môi trường gia đình Điều này bao gồm cách họ giao tiếp với các thành viên trong gia đình và tương tác với các nhân viên công tác xã hội khi có sự tham gia tại nhà.
6.1.4 Phương pháp phỏng vấn bằng ankét (bảng hỏi)
Trong quá trình thực hiện báo cáo, sinh viên đã phát hành 20 bảng hỏi và thu lại 19 bảng từ phụ nữ đơn thân sống tại xã nghèo Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 đến 45 phút Trước khi tiến hành phỏng vấn, sinh viên đã chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung và các câu hỏi liên quan đến mô hình xóa đói giảm nghèo cho nhóm đối tượng này (Bảng hỏi được đính kèm ở phần mục lục).
6.1.5 phương pháp vãng gia Đây là quá trình mà nhân viên công tác xã hội đến các hộ gia đình để thăm hỏi, động viên và chia sẻ với họ Và trong quá trình thực hiện việc thực tập nghề và viết báo cáo này tôi đã trực tiếp tới thăm một số gia đình trong các xóm ở xã Tam Hợp, qua đó thể hiện tình cảm của mình với người dân và chính quyền ở nơi đây, và từ đó nhằm thu thập được một số thông tin cơ bản từ phía các gia đình góp phần cung cấp thêm số liệu chính xác để thực hiện tiến trình CTXH nhóm.
Nhân viên CTXH chủ yếu áp dụng phương pháp CTXH theo tiến trình nhóm trong thực hành, bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp vãng gia, phương pháp CTXH cá nhân và một số kỹ năng chuyên môn khác trong lĩnh vực công tác xã hội.
6.2.1 Phương pháp công tác xã hội nhóm: tiến trình CTXH nhóm
Phương pháp tận dụng mối quan hệ trong nhóm phụ nữ đơn thân nghèo, thông qua chương trình sinh hoạt nhóm, tạo ra bầu không khí tích cực, nhằm tác động đến từng cá nhân trong cộng đồng.
Trong tiến trình công tác xã hội nhóm, có nhiều cách phân chia giai đoạn Bài báo cáo này áp dụng mô hình bốn giai đoạn của Ronald và Robert F Rivas để thực hành với nhóm phụ nữ đơn thân nghèo Giai đoạn đầu tiên là chuẩn bị và thành lập nhóm, nơi các thành viên được lựa chọn và tổ chức để đạt được mục tiêu chung.
Giai đoạn chuẩn bị là bước đầu tiên trong tiến trình công tác xã hội nhóm, diễn ra sau khi nhân viên công tác xã hội tiếp nhận các trường hợp cần hỗ trợ từ yêu cầu của tổ chức hoặc qua giới thiệu từ các nhân viên khác Đây cũng là thời điểm mà nhân viên công tác xã hội nhận thấy cần thiết phải tổ chức các hoạt động nhóm để hỗ trợ thân chủ.
Giai đoạn này bao gồm các bước quan trọng như xác định mục đích hỗ trợ của nhóm CTXH, đánh giá khả năng thành lập nhóm, và tiến hành thành lập nhóm khi đã đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết.
Xác định mục đích hỗ trợ của CTXH nhóm
Việc thành lập nhóm phụ nữ đơn thân nghèo mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ các hộ gia đình nghèo, đặc biệt trong việc chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế và xây dựng mô hình chăn nuôi Nhân viên xã hội sẽ phân tích điểm mạnh, điểm yếu và nguồn lực tại địa phương để xác định các mục tiêu cụ thể cho quá trình trợ giúp, từ đó lựa chọn mô hình nhóm phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ.
Đánh giá khả năng thành lập nhóm và khả năng tài trợ cho các hoạt động nhóm là rất quan trọng trong nghiên cứu về các cơ quan cung cấp dịch vụ xã hội NVXH cần phân tích chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động của các tổ chức này, cũng như định hướng của họ đối với thân chủ Các tổ chức chỉ xem xét việc tài trợ khi lợi ích của nhóm phù hợp với mục đích và chính sách của họ.
Việc thành lập nhóm tại xã Tam Hợp đã tận dụng các nguồn lực trước đây như Hội chữ thập đỏ, Tòa án Nhân Dân và các doanh nghiệp tư nhân để hỗ trợ các hộ gia đình nghèo, đặc biệt là phụ nữ Để đánh giá khả năng tham gia của các thành viên, cần xem xét nhu cầu và điều kiện thực tế của họ, cũng như động cơ tham gia nhóm thông qua các buổi tiếp xúc trực tiếp và phỏng vấn tại nhà Đồng thời, cần xác định những thành viên tương lai có cùng quan điểm về nhiệm vụ của nhóm, đồng thời đánh giá những khó khăn và rào cản mà họ có thể gặp phải khi tham gia.
Để thành lập nhóm hiệu quả, NVXH cần đánh giá các nguồn lực hỗ trợ như tài chính, cơ sở vật chất và sự hỗ trợ từ cộng đồng, đoàn thể, chính quyền Việc đối chiếu mục đích của nhóm với các chương trình dịch vụ, chính sách và quy định của tổ chức là rất quan trọng để đảm bảo nhận được sự hỗ trợ cần thiết.
Định hướng cho các thành viên trong nhóm
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và tổng quan địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Gia đình, họ hàng, làng xóm
Hệ thống nguồn lực hỗ trợ cho nhóm phụ nữ đơn thân nghèo
Các tổ chức từ thiện
Người am hiểu về kỷ thuật kinh tế
Mô hình CTXH với phụ nữ đơn thân nghèo
Giúp đỡ nhóm thân chủ và gia đình
Vai trò của nhân viên xã hội (NVXH) trong việc phát triển mô hình cộng đồng tại Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng Hiện nay, các mô hình cộng đồng xã hội nhóm như nhóm đồng đẳng và nhóm chia sẻ đã bắt đầu hình thành và hoạt động hiệu quả Những mô hình này không chỉ đáp ứng nhu cầu và mong muốn của các thành viên mà còn góp phần vào việc đạt được các mục tiêu chung của cộng đồng.
Câu lạc bộ B93 hoạt động theo mô hình nhóm đồng đẳng, cung cấp các dịch vụ quản lý, giáo dục, tư vấn và hỗ trợ cho những người cai nghiện ma túy Mục tiêu của câu lạc bộ là giúp người cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng, nằm trong chương trình điều trị ma túy dựa vào cộng đồng.
Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội đã xây dựng một câu lạc bộ nhằm hỗ trợ những người trở về từ các trung tâm giáo dục lao động xã hội Câu lạc bộ cung cấp định hướng nghề nghiệp, tư vấn cá nhân và nhóm cho các thành viên, cũng như hỗ trợ gia đình họ Tham gia vào câu lạc bộ, các thành viên sẽ được thực hành kỹ năng phòng chống tái nghiện thông qua các buổi thảo luận nhóm, đồng thời tham gia các hoạt động truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS và các hoạt động cộng đồng khác.
Nhóm Hoa Xương Rồng là một nhóm đồng đẳng được thành lập bởi Hội Chữ thập Đỏ quận Đống Đa với sự hỗ trợ của Ủy ban Y tế Hà Lan Việt Nam Nhóm nhằm mục tiêu cung cấp hỗ trợ tinh thần, vốn vay và cơ hội việc làm cho phụ nữ có HIV và sau cai nghiện Tất cả phụ nữ tại Hà Nội sau khi cai nghiện đều có thể đăng ký tham gia Khi tham gia nhóm, họ không chỉ nhận được sự đồng cảm mà còn được hỗ trợ về y tế, văn hóa, vốn làm ăn và có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.
Nghiên cứu về mô hình CTXH hiện nay còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc đánh giá và tổng kết các hoạt động Nghiên cứu này nhằm khắc phục những hạn chế trước đó và phát huy những điểm tích cực, với điểm mới là kết hợp nghiên cứu lý thuyết và thực hành CTXH nhóm dành cho phụ nữ đơn thân nghèo.
1 2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Xã Tam Hợp được thành lập vào ngày 19/04/1963, ban đầu bao gồm cả xã Thọ Hợp, và chính thức tách thành hai xã vào năm 1965 Nằm ở phía đông huyện Quỳ Hợp, cách thị trấn Quỳ Hợp 10km, Tam Hợp là một xã bán sơn địa với hai tuyến đường lớn, Quốc lộ 48 và Tỉnh lộ 532, chạy qua Xã giáp với xã Đồng Hợp ở phía Bắc, xã Nghĩa Xuân và Minh Hợp ở phía Nam, xã Châu Lộc và Thọ Hợp ở phía Tây, và huyện Nghĩa Đàn ở phía Đông Với diện tích tự nhiên 2.902,33 ha và dân số 2.764 hộ, Tam Hợp có tổng cộng 13.149 nhân khẩu, trong đó có sự hiện diện của các dân tộc thiểu số.
589 hộ với 2.875 khẩu, thành phần dân tộc chủ yếu là người Kinh và người Thổ. Toàn xã có 19 đơn vị xóm, 23 chi bộ cơ sở.
Theo chuẩn nghèo mới năm 2011, tổng số hộ nghèo tại xã là 686 hộ, chiếm 24,67%, tăng 7,3% so với năm 2010, trong đó có 341 hộ cận nghèo, chiếm 12,1% Đặc biệt, có 188 phụ nữ đơn thân thuộc diện nghèo Nghiên cứu được thực hiện tại 19 xóm ở xã Tam Hợp, với mục tiêu tìm hiểu mô hình công tác xã hội nhóm dành cho phụ nữ đơn thân nghèo Các xóm được khảo sát đều có đặc điểm địa lý tự nhiên riêng biệt Hộ khảo sát là những phụ nữ đơn thân nghèo đã được xác nhận là hộ nghèo năm 2010 và đang tham gia sinh hoạt tại chi hội phụ nữ các xóm Chuẩn nghèo áp dụng là chuẩn chung của cả nước trong giai đoạn 2006 - 2010.
Cơ sở lý luận và kiến thức công tác xã hội áp dụng
1.2.1 Các công cụ khái niệm
1.2.1.1 Phụ nữ đơn thân nghèo
Phụ nữ đơn thân nghèo, thường từ 16 tuổi trở lên, thường có học vấn thấp và sức khoẻ kém, phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống kinh tế và sinh hoạt Họ thường là những người lao động thuần nông hoặc làm các công việc chân tay không chuyên môn và dễ bị tổn thương Do mất chồng hoặc không có chồng, họ trở thành trụ cột gia đình, nhưng lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ, tín dụng và đào tạo, từ đó hạn chế cơ hội cải thiện đời sống và thăng tiến bản thân.
Phụ nữ đơn thân nghèo phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống, từ điều kiện vật chất hạn chế đến sự nghèo nàn về tinh thần Họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ kinh tế, xã hội và văn hóa, dẫn đến ít cơ hội phát triển cho bản thân và gia đình.
Nhóm được định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng khía cạnh, nhưng theo quan điểm xã hội học, nhóm được hiểu là một hệ thống xã hội Mối quan hệ trong nhóm được xác định qua các mối quan hệ thành viên, bao gồm cả quan hệ trực tiếp và phân tán, cũng như tính bền vững tương đối của những mối quan hệ này.
Nhóm xã hội là tập hợp các cá nhân liên kết với nhau thông qua những mục tiêu chung Các thành viên trong nhóm cùng tham gia các hoạt động, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau để đạt được những mục đích lợi ích cho tất cả.
Quan niệm về nghèo đói ởViệt Nam
Nghèo là một thuật ngữ lâu đời trong văn hóa Việt Nam, không chỉ mới xuất hiện gần đây cùng với khái niệm “xoá đói giảm nghèo” Trong cộng đồng làng xã, người dân thường có những so sánh về mức độ nghèo đói của các hộ gia đình, đánh giá sự giàu có hay nghèo khổ dựa trên quan sát và thông tin giao tiếp hàng ngày Sự nhận thức này chủ yếu mang tính tâm lý và cảm giác, nhưng người dân cũng thường thống nhất một tiêu chí nào đó để xác định sự giàu nghèo.
Kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới vào năm 1986, phong trào xoá đói giảm nghèo đã nhanh chóng được hình thành và phát triển Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, ngay từ đầu thập niên 1990, các chính sách và chương trình đã được triển khai nhằm cải thiện đời sống của người dân.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo các địa phương triển khai Chương trình XĐGN, tạo thành phong trào mạnh mẽ từ năm 1995 - 1996 Đến năm 1998, chương trình này trở thành mục tiêu quốc gia quan trọng của Chính phủ Vào tháng 5/2001, Chính phủ ban hành chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN cho giai đoạn 2001 - 2010 Đói nghèo về lương thực được xác định dựa trên nhu cầu tối thiểu 2100 Kcal/người/ngày, và những người có chi tiêu dưới mức này được coi là nghèo về lương thực.
Con người hàng ngày cần chi tiêu cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm, và khi kết hợp chi phí này vào chỉ tiêu đói nghèo về lương thực, thực phẩm, ta sẽ có một chỉ tiêu đói nghèo chung.
Khái niệm đói nghèo ở Việt Nam thường được hiểu là tình trạng thiếu thốn về cả thực phẩm và các nhu cầu cơ bản khác Đói ám chỉ việc không đủ thức ăn, trong khi nghèo là tình trạng khó khăn tổng thể, không đủ khả năng đáp ứng các nhu cầu phi lương thực như nhà ở, y tế, giáo dục, văn hóa, và giao tiếp xã hội Nghèo thường bao gồm cả đói, và đói cũng là một chỉ số phản ánh tình trạng nghèo.
1.2.1.4 Phương pháp Công tác Xã Hội nhóm
Theo Toseland và Rivas, công tác xã hội nhóm bao gồm nhiều khái niệm và phương pháp tiếp cận khác nhau Mỗi góc độ và trường hợp cụ thể đều có những điểm mạnh riêng, cùng với cách ứng dụng phù hợp Các phương pháp này tạo ra một cái nhìn tổng quát về công tác xã hội nhóm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn phương thức phù hợp với từng tình huống cụ thể.
CTXH là một hoạt động có mục đích, bao gồm các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ, nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể.
Hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến từng cá nhân trong nhóm và toàn bộ hệ thống cung cấp dịch vụ Định nghĩa này nhấn mạnh rằng hoạt động không chỉ tập trung vào từng thành viên mà còn hướng đến sự phát triển chung của toàn thể nhóm.
Trong từ điển Công tác Xã hội của Barker (1995), công tác xã hội nhóm được định nghĩa là một phương pháp can thiệp, trong đó các thành viên chia sẻ mối quan tâm và vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động để đạt được mục tiêu cụ thể Khác với trị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu của công tác xã hội nhóm không chỉ là giải quyết vấn đề tâm lý mà còn bao gồm việc trao đổi thông tin, phát triển kỹ năng xã hội và lao động, cũng như thay đổi giá trị và hành vi chống lại xã hội thành nguồn lực tích cực Sự khác biệt giữa công tác xã hội nhóm và trị liệu tâm lý nhóm cần được làm rõ, vì thuật ngữ "trị liệu nhóm" thường gây nhầm lẫn trong lĩnh vực công tác xã hội.
Trị liệu nhóm là một phương pháp can thiệp hiệu quả cho những cá nhân gặp rối loạn cảm xúc và vấn đề xã hội, thông qua việc tập hợp từ hai người trở lên dưới sự hướng dẫn của nhân viên xã hội hoặc chuyên gia trị liệu Trong môi trường an toàn và được kiểm soát, các thành viên có thể chia sẻ vấn đề của mình, thảo luận về các giải pháp, trao đổi thông tin và khám phá kỹ thuật giải quyết vấn đề, từ đó giúp họ vượt qua khó khăn và cải thiện tình trạng tâm lý.
Theo tác giả trị liệu Nguyễn Thị Oanh (1998), trị liệu nhóm là phương pháp hỗ trợ trị liệu cá nhân cho bệnh nhân tâm thần và những người gặp rối loạn ức chế tâm lý nghiêm trọng Sự tương tác giữa các bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình trị liệu, tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, cần có kiến thức chuyên sâu về tâm lý, tâm lý trị liệu và tâm thần học.