1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài báo cáo thực tập nghề công tác xã hội

93 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 533,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP

  • (Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ hợp)

  • 2.6. Quan hệ công tác

  • 2.7. Phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm nhân viên phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp

  • 2.8. Vai trò của sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.

  • 2.9. Nhận xét về cơ sở thực tập:

  • A/-PHẦN MỞ ĐẦU

  • 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

    • 6.1.5 phương pháp vãng gia

  • 6.2.1 Phương pháp công tác xã hội nhóm: tiến trình CTXH nhóm

  • a) Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm

  • b) Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động

  • c) Giai đoạn can thiệp

  • 6.2.2 Phương pháp vãng gia

  • 6.2.3 Phương pháp công tác xã hội cá nhân

  • PHẦN B/- NỘI DUNG CHÍNH

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

  • 1.2.1.1 Phụ nữ đơn thân nghèo

  • 1.2.1.2. Nhóm, nhóm xã hội

  • 1.2.1.3. Nghèo đói

  • Quan niệm về  nghèo đói ởViệt Nam

  • 1.2.1.4. Phương pháp Công tác Xã Hội nhóm

  • 1.2.1.5. Các mô hình tiếp cận công tác xã hội

  • 1.2.1.6. Các nhóm trong CTXH nhóm(Social wrok groups)

  • 1.2.3.1 Lý thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học Maslow.

  • Chương 2: MÔ TẢ NHÓM THÂN CHỦ

  • Nhóm gồm 42 thành viên. Đây là những người có hoàn cảnh vô cùng khó khăn, họ là những người nghèo về kinh tế, hèn về chính trị. Họ là những người sống không chồng nuôi con vì vậy họ cũng không có thời gian rảnh rỗi nhiều.

  • Các thành viên trong nhóm đều có những đặc điểm riêng biệt. Họ sống không tập trung mà rải rác ở các xóm khác nhau trong địa bàn xã vì vậy điều kiện đi lại để sinh hoạt nhóm cũng có nhiều bất cập.

  • Danh sách

  • TT

  • Họ Tên Năm

  • Năm sinh

  • Địa chỉ

  • Ghi chú

  • 1

  • Nguyễn Thị Hợp

  • 1964

  • Sơn Thành

  • 2

  • Hồ Thị Thuận

  • 1955

  • NT

  • 3

  • Lê Thị Hoa

  • 1962

  • NT

  • 4

  • Trần Thị Sâm

  • 1960

  • NT

  • 5

  • NguyễnThị Huyền

  • 1973

  • NT

  • 6

  • Vũ Thị Phượng

  • 1969

  • Châu Thành

  • 7

  • Trương Thị Liên

  • 1974

  • Tân Tiến

  • 8

  • Đào Thị Thảo

  • 1974

  • NT

  • 9

  • Trần Thị Liên

  • 1963

  • Bảo An

  • 10

  • Pham Thị Lâm

  • 1963

  • NT

  • 11

  • Lê thị Chung

  • 1980

  • NT

  • 12

  • Vũ Thị Quy

  • 1975

  • NT

  • 13

  • Vũ Thị Sâm

  • 1968

  • NT

  • 14

  • Lê Thị Thanh

  • 1978

  • NT

  • 15

  • Văn Thị Hân

  • 1960

  • Long Thành

  • 16

  • Trương Thị Thân

  • 1960

  • Đồng Chạo

  • 17

  • Trương Thị Duân

  • 1964

  • NT

  • 18

  • Trương Thị Hiền

  • 1972

  • NT

  • 19

  • Trương Thị Giàu

  • 1964

  • NT

  • 20

  • Trương Thị Nguyệt

  • 1982

  • NT

  • 21

  • Trương Thị Quỳnh

  • 1989

  • NT

  • 22

  • Bùi Thị Thuỷ

  • 1975

  • NT

  • 23

  • Trương Thị Huế

  • 1976

  • NT

  • 24

  • Cao Thị Kiểm

  • 1978

  • NT

  • 25

  • Đậu Thị Nhung

  • 1969

  • Hợp Tiến

  • 26

  • Đậu Thị Huế

  • 1960

  • NT

  • 27

  • Trương Thị Loan

  • 1976

  • Tân Mùng

  • 28

  • Hồ Thị Tuyêt

  • 1970

  • NT

  • 29

  • Nguyễn Thị Liên

  • 1963

  • NT

  • 30

  • Đậu Thị Nga

  • 1963

  • NT

  • 31

  • Hoàng Thị Nguyệt

  • 1972

  • Hợp Thành

  • 32

  • Vũ Thị Nga

  • 1970

  • NT

  • 33

  • Phan Thị Vương

  • 1959

  • NT

  • 34

  • Nguyễn Thị Liên

  • 1960

  • NT

  • 35

  • Nguyễn Thị Thôn

  • 1973

  • Bắc Sơn

  • 36

  • Nguyễn Thị Lương

  • 1967

  • NT

  • 37

  • Trần Thị Nguyễn

  • 1976

  • NT

  • 38

  • Hồ Thị Loan

  • 1978

  • Nam Sơn

  • 39

  • Đào Thị Lộc

  • 1965

  • NT

  • 40

  • Hoàng Thị Tư

  • 1970

  • NT

  • 41

  • Nguyễn Thị Lam

  • 1962

  • NT

  • 42

  • Hồ Thị Cần

  • 1958

  • NT

  • Nghề nghiệp và thu nhập chính

  • Phần lớn nghề nghiệp của thân chủ là lao động thuần nông, làm rau màu hoặc chăn nuôi nhỏ lẻ bớt những sản phẩm đó ra chợ để kiếm những khoản tiền ít ỏi. có những người có đất có vườn để lao động sản xuất, có người không có đất phải lao động làm công ăn lương theo ngày.

  • Nguồn thu nhập chính của gia đình phần lớn là từ sức lao động của thân chủ. Vì phần lớn họ ở theo mẫu gia đình hạt nhân, nên họ là trụ cột gia đình về kinh tế. Thu nhập bình quân thấp nhất của mỗi gia đình là 3 triệu/1 năm, song các khoản chi tiêu lại rất nhiều.

  • Nhưng thuận lợi và khó khăn của nhóm thân chủ

  • + Thuận lợi

  • Tất cả những thành viên đều có một ước mơ sẽ có một cuộc sống khá hơn, họ muốn tháo bổ vòng luẩn quẩn về kinh tế của mình nhưng cố đôi lúc chưa thực sự biết làm cách nào và chia sẽ cùng ai

  • Về cơ sở vật chất để sinh hoạt nhóm khá thuận lợi, các buổi sinh hoạt có thể diễn ra ở trung tâm Uỷ Ban xã.

  • + Khó khăn

  • Khó khăn chính của thân chủ là làm thế nào để phát triển kinh tế. Cũng đã có nhiều mô hình phát triển kinh tế do địa phương tổ chức có sụ đầu tư của các tổ chức trong và ngoài nước như: dự án trồng rau sạch, mô hình trồng gấc…song trên thực tế khi áp dụng triển khai thì gặp nhiều bất cập. Chính vì vậy, quá trình phấn dấu thoát nghèo của chị em phụ nữ đơn thân còn gặp rất nhiều khó khăn vất vả mặc dù họ đã rất cố gắng nhưng xoay đi đảo lại cũng chỉ nằm trong vòng luẩn quẩn đói nghèo.

  • Kinh tế khó khăn họ phải bươn chải khiếm sống vì vậy với họ thời gian cũng luôn chật vật không có thời gian rảnh để nghỉ ngơi. Có những lúc hộ phải lao động thêm cực nhọc, làm công ăn lương chịu sự quản lý hà khắc của chủ. Nhưng đổi lại họ cũng chỉ nhận được một khoản cù lao ít ỏi của nhưng người “làm thuê”. Nhóm thân chủ là những người nghèo về kinh tế và hèn về địa vị.

  • Chương 3: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NHÓM PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TAM HỢP, QUỲ HỢP

  • 3.1. Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm

  • Xây dựng mô hình CTXH nhóm cho phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp xuất phát từ hai lý do:

  • Do tính cần thiết và phù hợp của mô hình, sự nhất trí của hội phụ nữ địa phương

  • Do NVXH nhận thấy cần phải có những hoạt động nhóm CTXH cho phụ nữ đơn thân nghèo sau khi nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu thông tin qua cán bộ lãnh đạo địa phương và tổng kết kinh nghiệm trí thức CTXH đã được học.

  • 3.1.1 Giai đoạn chuẩn bị

  • 3.1.1.1 Mục đích hỗ trợ nhóm

  • Đây là công việc đầu tiên và vô cùng quan trọng của tiến trình can thiệp, giúp đỡ cho nhóm phụ nữ đơn thân nghèo, việc xác định việc xây dựng mô hình CTXH nhóm là vô cùng cần thiết. Nhóm thân chủ không chỉ gặp phải những vấn đề tự ti, mặc cảm, buồn chán… mà còn là những khó khăn trong việc phấn đấu thoát nghèo, thoát cảnh nghèo về kinh tế và hèn về chính trị như đã được trình bày trong phần mô tả thân chủ. Mục đích thành lập nhóm cũng phù hợp với nguyện vọng của chị em cũng như với chính quyền địa phương. Chị Th, Phó chủ tịch hội phụ nữ xã cho biết: “ việc thành lập nhóm là vô cùng cần thiết với chị e phụ nữ nghèo nói chung và phụ nữ đơn thân nói riêng. Với việc tổ chức sinh hoạt nhóm sẽ tạo cho chị em phụ nữ một môi trường sinh hoạt cải thiện về tinh thần cũng như vật chất cho họ. Trong môi trường sinh hoạt này những người phụ nữ kém may mắn có thể gạt bỏ tự ti mặc cảm, họ có thể chia sẽ với những người khác trong nhóm cũng như với nhân viên CTXH. Bên cạnh đó họ có thể trao đổi thông tin, kiến thức, kỹ năng làm kinh tế tốt hơn”

  • Mục đích hỗ trợ nhóm còn phù hợp với nhu cầu của nhóm thân chủ. Chị Q, 36 tuổi tâm sự: “ Nhiều khi có tâm sự buồn,tự ti nhưng cũng không biết tâm sự cùng ai, nói với những người mà không tin tưởng được thì sợ người ta cười chê, thành thử nặng lòng lắm. Đó là chưa nói đến những khi gặp khó khăn trong công việc nếu có người chia sẽ giúp đỡ thì tốt biết mấy”.

  • Trong tiến trình làm việc của mình nhân viên CTXH xác định mục đích hỗ trợ nhóm bằng cách sử dụng các chiến lược hỗ trợ can thiệp nhằm giúp các thành viên chia sẽ, bày tỏ những tâm tư nguyện vọng, những khó khăn trong cuộc sống từ đó nâng cao khả năng ứng phó của nhóm thân chủ. Thông qua các hoạt động nhóm, các thành viên có cơ hội trao đổi, tăng cường kiến thức, kỹ năng làm kinh tế cải thiện cuộc sống.

  • 3.1.1.2 Khả năng thành lập mô hình công tác xã hội nhóm phụ nữ đơn thân nghèo

  • * Khả năng tham gia của các thành viên

  • Sau khi xác định dược mục đích thành lập của nhóm phụ nữ đơn thân nghèo, NVXH tiếp tục tiến hành khả năng tham gia nhóm của các thành viên. Bức này rất quan trọng bởi vì sự tham gia của các thành viên trong nhóm là điều kiện quan trọng nhất đối với nhóm. Việc đánh giá khả năng tham gia cuả nhóm thân chủ dựa trên cơ sở đánh giá nhu cầu và điều kiện thực tế của họ.

  • Tất cả những thân chủ khi tham gia vào nhóm họ đều có nhu cầu, nguyện vọng được hoạt động cùng với hoạt động của nhóm. Nhìn chung động cơ, mong muốn và mục tiêu của nhóm thân chủ có những điểm chung, tham gia nhóm để chia sẽ học hỏi những kinh nghiệm cũng như khó khăn trong cuộc sống nhằm nâng cao kiến thức trong việc phát triển kinh tế.

  • Chị Văn Thị H,51 tuổi chia sẽ: “khi được tham gia vào nhóm tôi mong muốn được gặp gỡ và trò chuyện với những người có hoàn cảnh như mình. Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau nhưng gì cho rằng tất cả đều ước mơ có một cuộc sống khá khá hơn về kinh tế cũng như tinh thần cháu ạ. Nếu tham gia sinh hoạt nhóm mà có các chuyên gia am hiểu về kiến thức kinh tế đến để trao đổi về cách thức làm nông nghiệp thì tốt biết mấy.”

  • Trong quá trình vãng gia sinh viên đã tìm hiểu được nhu cầu và điều kiện tham gia nhóm của các thành viên là nhu càu cần được cung cấp dịch vụ xã hội – sự cần thiết về kỹ năng chuyên sâu trong lĩnh vực kinh tế, và đây cũng là nhu cầu quan trọng của nhóm thân chủ.

  • Điều kiện thực tế của từng thành viên cũng ảnh hưởng đến quá trình hoạt động chung của cả nhóm

  • - Địa điểm: sinh hoạt nhóm có thể chọn nhà văn hoá cộng đồng Ủy Ban xã làm địa điểm sinh hoạt. Đây cũng có thể được coi là địa điểm trung tâm nhất, hội trường rộng rãi thoải mái.

  • - Thời gian: thống nhất mỗi tuần một lần vào ngày cuối tuần

  • - Phương tiện liên lạc: Các thành viên tham gia vào nhóm đều có điện thoại di động

  • Song khó khăn đối với các thành viên cả nhóm là phương tiện đi lại, có một số cá nhân ở khá xa địa điểm sinh hoạt nhưng lại không có đầy đủ phương tiện để đi lại dẫn đến việc đi chậm, hoặc là rất cập rập.

  • Thời gian cũng là một khó khăn rất lớn đối với các thành viên trong nhóm. Có một số thành viên phải đi ở, đi làm thuê vì vậy thời gian sinh hoạt của họ là rất hạn hẹp.

  • Trong giai đoạn đánh giá khả năng tham gia của nhóm thân chủ, sinh viên sử dụng kỹ năng hỏi và vãng gia là chủ yếu. Nhu cầu, mong muốn và nguyện vọng của nhóm thân chủ có những đặc điểm chung, phù hợp với mục đích hỗ trợ của NVXH. Bên cạnh đó xem xét những thuận lợi, khó khăn. Khi tham gia sinh hoạt nhóm NVXH bàn bạc để phát huy những thuận lợi

  • hạn chế những khó khăn để các thành viên có thể tham gia và lên kế hoạch cho các giai đoạn tiếp theo của tiến trình.

  • * Hệ thống các nguồn lực

  • Hệ thống các nguồn lực là khả năng các nguồn lực hỗ trợ các thành viên nhóm và duy trì nhóm. Nguồn lực ở đây là tài chính, cơ sở vật chất, ngoài ra còn có thể là sự ủng hộ, hỗ trợ khác của cộng đồng, đoàn thể và chính quyền.

  • Với nhóm phụ nữ đơn thân nghèo ta có thể thấy có các nguồn lực hỗ trợ như: Gia đình, các tổ chức chính trị xã hội, cộng đồng, chuyên gia về lĩnh vực kinh tế, hội phụ nữ, chính quyền địa phương, cá nhân và tổ chức từ thiện. Đây là những nguồn lực đã và đang hỗ trợ cho thân chủ trong cuộc sống và những nguồn lực này có thể trực tiếp và gián tiếp hỗ trợ cho nhóm hoạt động, duy trì các hoạt động của các thành viên nhóm trên nền tảng lý thuyết hệ thống CTXH. Hệ thống nguồn lực có thể được mô tả qua sơ đồ như sau:

  • Sơ đồ mô tả hệ thống nguồn lực

  • Nguồn lực lớn nhất của nhóm thân chủ là gia đình, họ hàng đó là nguồn lực lớn hỗ trợ về kinh tế cũng như tinh thần cho thân chủ trong cuộc sống nói chung và trong quá trình tham gia nhóm nói riêng.

  • Chị Văn Thị H,52 tuổi chia sẽ: “ chị một mình nuôi 7 đứa con, giờ còn 3 đứa đang theo học, đứa lớn thì làm đủ nuôi nó là giỏi lắm rồi còn chị phải lo tiền cho các khoản chi tiêu trong nhà và cho các em học nữa vì vậy chị không thể không vay được em ạ. Mà vay Ngân Hàng thì có hạn chứ người ta có cho vay nhiều đâu. Cũng may là chị còn có họ hàng giúp đỡ chị cho vay tiền chứ không thì chị cũng không biết xoay đâu ra cả”. Đó là sự hỗ trợ về kinh tế mà thân chủ nhận được từ gia đình, họ hàng thân thích. Không những về vật chất mà về tinh thần thì gia đình, họ hàng cũng là một nguồn lực vô cùng lớn lao đối với thân chủ. Chị Lê Thị H, 50 tuổi cho biết: “Tôi một mình nuôi 2 đứa con, các cháu bỏ học cả rồi chúng cũng ở nhà cả nhưng dù sao cũng là mẹ con đàn bà thân cô thế cô vì vậy nhiều việc cũng cần có anh em, họ hàng giúp đỡ nhiều may mà còn nhờ cậy được họ hàng nhiều”.

  • Hội phụ nữ có vai trò rất lớn trong việc điều phối hoạt động chung của nhóm. Hội cũng có thể hỗ trợ kinh phí cũng như thúc đẩy các yếu tố hoạt động của nhóm

  • Trên thực tế hội phụ nữ đã triển khai một số mô hình phát triển kinh tế cho phụ nữ tại địa phương như: mô hình trồng rau sạch, mô hình chăn nuôi dê, mô hình trồng gấc…các hoạt động đó nhằm hỗ trợ, giúp đỡ nhóm phụ nữ tìm hiểu cách thức làm kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả lao động nông nghiệp mang lại lợi ích thiết thực cho người lao động. Đây là một nguồn lực rất quan trọng đối với sự hoạt động và phát triển của nhóm. Chị Trương Thị Đ, cán bộ phụ nữ xã nói: “ hội phụ nữ cũng đã phát triển một số mô hình để giúp đỡ chị em làm kinh tế, nhưng trên thực tế khi áp dụng thì kết quả đem lại không mấy khả thi lắm. chị nghĩ rằng mô hình chăn nuôi Hươu là có khả năng áp dụng được. Nếu có ai đó hướng dẫn về kỹ thuật chăn nuôi thì chị sẽ đề xuất triển khai mô hình nhằm giúp đỡ chị em làm kinh tế”.

  • Cá nhân và các tổ chức từ thiện là những nguồn lực hỗ trợ rất quan trọng, cần thiết cho nhóm phần lớn về kinh tế. Chị Đ, cán bộ chính sách cho biết: “cũng có nhiều cá nhân và các tổ chức hảo tâm như toà án, doanh nghiệp tu nhân hỗ trợ đối với những đối tượng chính sách ở đây. Hỗ trợ bằng quà cũng có, hỗ trợ bằng tiền cũng có bằng việc cho vay vốn với lãi suất thấp hoặc cho vay không lấy lãi suất”.

  • Ngoài những nguồn lực trên các tổ chức chính trị xã hội cũng có vai trò rất quan trọng. Chi Đ, cán bộ phụ nữ xã nói: “ Với những hộ nghèo nếu đúng đối tượng sẽ được vay từ nguồn ngân sách hỗ trợ tối đa là 15 triệu số tiềm đó sẽ được trả lại trong vòng 3 năm”. Như vậy với khoản vốn đó thân chủ có thể sử dụng vào việc tập trung đầu tư để cải thiện kinh tế gia đình.

  • Tại xã Tam Hợp hiện nay, tổ chức phi chính phủ Tây Ban Nha DYP đang đứng ra tài trợ cho nhóm phụ nữ thông qua hội phụ nữ bằng mô hình trồng rau sạch. Tổ chức hỗ trợ thuốc bảo vệ thực vật, hỗ trợ phân, giống, ngoài ra còn mở lớp tập tuấn về kỹ năng kiến thức cho nhóm phụ nữ

  • Chuyên gia về lĩnh vực kinh tế cũng được NVXH nhận định rằng đây là một nguồn lực hỗ trợ cần được cung cấp cho nhóm trong giai đoạn nhóm can thiệp và trợ giúp. Những chuyên gia kinh tế hay những người am hiểu về kiến thức kinh tế sẽ giải đáp những thắc mắc, chia sẽ những kinh nghiệm cách thức làm kinh tế cho năng suất tốt với các thành viên trong nhóm. Nguồn lực chuyên gia sẽ được kết nối thông qua chính quyền địa phương và thông qua hội phụ nữ hoặc thông qua NVXH

  • Cộng đồng, bạn bè, làng xóm chủ yếu giúp thân chủ về mặt tinh thần tình cảm. hay những lúc khó khăn “tối lửa tắt đèn”. Chị H, 50 tuổi chia sẽ: “ Mẹ con chị sống không có người trụ cột trong nhà đôi lúc cũng vất vã lắm em ạ, những hôm không có chuyện gì thì không sao chứ trời mà mưa, trời gió thì khổ lắm, hay những lúc có công việc gì quan trọng nếu không có làng xóm láng giềng giúp đỡ thì cũng không biết một mình xoay xở thế nào cả”.

  • Trong cộng đồng luôn tồn tại các nguồn lực khác nhau mà trong đó quá trình hoạt động nhóm phải khai thác các nguồn lực từ chính cộng đồng mà thân chủ đang sinh sống.

  • Hệ thống các nguồn lực giữ vai trò quyết định dến việc thành lập và duy trì hoạt động của nhóm. Trong đó NVXH cũng là một nguồn lực trợ giúp nhóm thân chủ, song với đặc thù của một nhóm can thiệp, NVXH đặt trong vai trò nắm bắt tổng hợp các hệ thống nguồn lực trên, kết nối hợp lý để hỗ trợ có hiệu quả cho thân chủ.

  • Sau khi phân tích tình hình trên của nhóm phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam hợp sinh viên đi đến quyết định thành lập nhóm.

  • 3.1.2 Giai thành lập nhóm

  • 3.1.2.1 Tuyển chọn thành viên nhóm

  • Thành viên nhóm là những người có tham gia sinh hoạt tại các chi hội phụ nữ, danh sách được ấn định do hội phụ nữ xã quản lý.

  • Trong nghiên cứu này sinh viên lựa chọn cách liên hệ với thân chủ vừa trực tiếp trong buổi họp hội phụ nữ vừa thông qua lãnh đạo địa phương, và các buổi vãng gia, trao đổi với các thành viên về việc sẽ thành lập nhóm.

  • Thời gian: Bắt đầu từ 14 giờ ngày 10/3/2011

  • Địa điểm: Nhà văn hoá cộng đồng UBND xã Tam Hợp.

  • 3.1.2.2 Thành phần nhóm

  • NVXH xác định thành phần nhóm trên hai nguyên tắc ( theo Toseland và Rivas)

  • Tính đồng nhất của nhóm: Những đặc điểm đồng nhất của nhóm thân chủ:

  • Các thành viên trong nhóm đều là phụ nữ không có chồng, sống đơn thân. Kinh tế gia đình đều được chính quyền địa phương xác định là nghèo.

  • Mục tiêu tham gia vào nhóm đều là để được chia sẽ,trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.

  • Họ đều là những người có vị thế thấp trong xã hội. không phải là những người lao động thuần nông thì cũng là những người “buôn thúng bán bưng”.

  • Điểm chung nhất của các thành viên trong nhóm họ là những người nghèo về kinh tế hèn về vị thế.

  • Bên cạnh tính đồng nhất của các nhóm viên, tính cách đa dạng của hộ cũng góp phần quan trọng vào việc giúp đỡ nhóm phát triển. Các nhóm viên có thể trao đổi hỗ trợ cái tương đồng . Trong hoạt động nhóm có thể thông cảm, chia sẽ, hoà đồng và tạo sự đoàn kết gắn bó vượt qua khó khăn.

  • Tính tương tác

  • Trong quá trình phấn đấu để thoát nghèo các cá nhân cảm thấy khó khăn trong việc ứng phó với những khó khăn trong cuộc sống đặc biệt là đối phó với cái vòng luẩn quẩn đói nghèo. Vì vậy mục tiêu chung của hoạt động nhóm là chia sẽ những kỹ năng, kiến thức giữa các thành viên với nhau. Điều này tác động tích cực đến việc nâng cao kiến thức cho từng thành viên trong nhóm.

  • 3.1.2.3 Quy mô nhóm

  • Nhóm gồm có 42 thành viên. Theo kỹ năng chuyên môn sinh viên nhận định đây là một nhóm lớn có những đặc điểm mạnh và hạn chế như sau.

  • Ưu điểm

  • Nhược điểm

  • - có sự tiếp xúc, trao đổi, học hỏi từ các thành viên.

  • -Trong sinh hoạt nhóm có nhiều ý kiến tham gia phong phú, đa dạng

  • - Có nhiều cơ hội lôi cuốn nguồn vốn đầu tư.

  • - Không có nhiều sự quan tâm chăm sóc tới các thành viên

  • - Ít khích lệ được sự tham gia và gắn bó của các thành viên nhằm nâng cao tính cố kết nhóm

  • - Nhóm và nhân viên CTXH không có nhiều cơ hội để trị liệu những vấn đề cho thành viên nhóm

  • Định hướng cho các thành viên trong nhóm

  • Sau khi các thành viên thống nhất sẽ thành lập nhóm, NVXH sẽ cung cấp những thông tin về nhóm và tiến trình hoạt động nhóm.

  • Sau khi xác định rõ mục đích hoạt động của nhóm, các thành viên lựa chon buổi họp đầu tiên vào ngày 15/3/2011

  • Địa điểm họp là tại nhà văn hoá cộng đồng xã

  • Nhiệm vụ của các nhóm viên là phải tham gia đầy đủ và tích cực các hoạt động của nhóm.

  • Nhiệm vụ của nhân viên CTXH là cùng tham gia các hoạt động của nhóm và kết nối các nguồn lực của nhóm

  • Tiến trình sinh hoạt nhóm được thực hiện thường xuyên, tổ chức mỗi tuần một buổi sinh hoạt. Ngoài ra nhóm còn tổ chức các buổi lao động gây quỷ như trồng sắn, trồng mía… để tăng nguồn ngân sách quỷ nhóm.

  • Tiếm trình công tác xã hội nhóm là do nhóm thân chủ thực hiện trên tinh thần được sự chỉ dẫn và cung cấp đầy đủ về mặt lý thuyết của NVXH.

  • 3.2 Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động

  • Sau quá trình chuẩn bị thành lập, nhóm phụ nữ đơn thân nghèo chính thức được thành lập. Buổi sinh hoạt nhóm đầu tiên bao gồm những nội dung về việc thành lập nhóm, thời gian và địa điểm đã được thống nhất từ trước theo kế hoạch.

  • Buổi sinh hoạt nhóm đầu tiên được diễn ra như sau:

  • * Giới thiệu các thành viên nhóm

  • Trong buổi sinh hoạt nhóm đầu tiên, NVXH định hướng cho buổi sinh hoạt. NVXH giới thiệu về bản thân và sinh viên để các thành viên tìm hiểu thông tin về nhau. Nội dung giới thiệu gồm có: Tên, tuổi, nơi ở, hoàn cảnh gia đình, những nhu cầu mong muốn khi đến với nhóm.

  • Do tính chất đây là một nhóm lớn vì vậy NVXH chọn cách thức giới thiệu bằng cách điểm danh tên, tuổi, nơi ở của các thành viên trong nhóm cho các thành viên đứng lên để các thành viên biết mặt người trong nhóm và khi đến tên mình thì thành viên lần lượt đứng lên chia sẽ về hoàn cảnh gia đình và nhu cầu mong muốn của bản thân khi vào nhóm. Điều quan trọng là nhân viên CTXH đã tạo ra được bầu không khí thoải mái vui vẻ, dành được quyền tự giới thiệu cho thành viên trong nhóm, tăng khả năng tự tin cho thân chủ.

  • * Thoả thuận nhóm

  • Các thành viên trong nhóm đã thoả thuận nhóm sẽ được hoạt động lâu dài và thường xuyên. Thống nhất mục tiêu chung:

  • - Mục đích hoạt động: Tạo môi trường cho các thành viên chia sẽ những khó khăn trong cuộc sống. Trao đổi những tâm tư, nguyện vọng và nâng cao kiến thức làm kinh tế.

  • - Thời gian sinh hoạt nhóm: 2 tháng 1 lần vào ngày chủ nhật cuối tuần, thời lượng sinh hoạt phụ thuộc vào nội dung của tường tuần.

  • - Quy định cho nhóm viên: tham gia tích cực các hoạt động của nhóm, đi họp đúng giờ, tham gia tốt các hoạt động chung của nhóm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, nếu trong các buổi sinh hoạt nhóm nếu có nhóm viên nào có công việc đột xuất không thể tham gia các buổi sinh hoạt nhóm cần phải báo cáo về sự vắng mặt của mình, tất cả các nhóm viên phải tham gia đầy đủ buổi sinh hoạt với số lượng là 42 thành viên.

  • - Sau khi thảo luận và nhóm đưa ra quyết định bầu chị Đ, hội phụ nữ làm nhóm trưởng. và thống nhất nhóm trưởng của nhóm sẽ có sự thay đổi hoặc luân chuyển trên tinh thần dân chủ. Nhóm trưởng chịu trách nhiệm điều phối, quản lý các hoạt động của nhóm.

  • - Trong bước này NVXH phải giải thích thật rõ ràng về vai trò trách nhiệm với nhóm

  • - Nội dung mỗi buổi sinh hoạt gồm 3 phần chính. Phần đầu tổng kết những gì đã làm được và những khó khăn dựa trên việc tiếp thu những ý kiến của các nhóm viên, phần hai triển khai các hoạt động và các công việc diễn ra trong buổi họp, phần cuối cùng là các nhóm viên thống nhất với nhau về nội dung sinh hoạt nhóm lần sau. Đó là tất cả những nội dung mà nhóm đã thống nhất.

  • * Xây dựng mục tiêu nhóm

  • Nhóm đã thảo luận và thống nhất việc xây dựng một mục tiêu cụ thể cho hoạt động của nhóm trong từng giai đoạn cụ thể. Trong buổi họp nhóm đầu tiên NVXH gợi ý cho việc xây dựng những mục tiêu nhóm sau:

  • Tạo bầu không khí thân thiện, chia sẽ và thấu hiểu lẫn nhau trong các buổi sinh hoạt.

  • Nâng cao kiến thức và kỹ năng phát triển kinh tế với kế hoạch ngắn hạn trong vòng 05 tháng. Hoạt động có sự tham gia và trợ giúp của chuyên gia về lĩnh vực kinh tế.

  • Trong vòng 05 tháng triển khai nhóm và hoạt động nhóm phải áp dụng (có thể là thí điểm một vài gia đình) triển khai thực hiện mô hình chăn nuôi Hươu do nhóm thống nhất thực hiện trên tinh thần đã phân tích tính khả thi của mô hình chăn nuôi này.

  • Mở rộng quy mô và phạm vi nhóm. Nếu thành viên tham gia vào nhóm đong có thể tách ra thành nhiều nhóm nhỏ để sinh hoạt mang tính chất hiệu quả hơn.

  • * Thảo luận đưa ra nguyên tắc bảo mật thông tin

  • Với những kỷ năng kiến thức đã được học về chuyên ngành công tác xã hôi cũng như lương tâm nghề nghiệp NVXH cần phải khẳng định với các nhóm viên của mình về nguyên tắc bảo mật thông tin cũng như yêu cầu các nhóm viên phải đảm bảo nguyên tắc giữ bí mật chỉ tiết lộ những thông tin khi được sự cho phép hoặc là những thông tin cần thiết.

  • * Dự đoán về những khó khăn cản trở

  • NVXH hộ trợ các nhóm viên xác định ra những khó khăn cản trở để các nhóm viên có thể biết trước những khả năng có thể xẩy ra khi gặp những khó khăn đó, khắc phụ những khó khăn. Hay nói cách khác làm tăng tính chủ động cho các nhóm viên. Đây là những khó khăn có thể ngăn cản các nhóm viên đạt được mục đích cũng như mục tiêu đề ra.

  • NVXH không phải là người liệt kê ra các khó khăn mà là người xâu chuổi những khó khăn mà các thành viên trong nhóm trình bày và rút ra nội dung mà các nhóm viên cho đó là khó khăn nhất bằng cách: NVXH đóng vai trò là người điều phối, trưởng nhóm là người điều hành, sau khi trưởng nhóm lấy ý kiến và được các thành viên phát biểu NVXH sẽ liệt kê tất cả những khó khăn đó lên bảng, sau đó cho cả nhóm thảo luận va cuối cùng cho các nhóm viên lựa chọn xem nội dung nào là khó khăn nhất căn cứ bằng cách cho các nhóm viên thống nhất bằng việc giơ tay.

  • Có rất nhiều khó khăn khác nhau mà các nhóm viên liệt kê ra như: Điều kiện phương tiện đi lại, các nhóm viên không tập trung vì vậy cũng khá khó khăn cho những ngươi ở xa nơi sinh hoạt, thời gian rảnh không nhiều… song hầu như tất cả các nhóm viên cho rằng khó khăn lớn nhất ở đây là thời gian để tham gia sinh hoạt nhóm bởi vì do tính chất của nhóm là nhóm lớn các nhóm viên không tập trung, hầu hết các chị đều phải nuôi con nên không thể tham gia sinh hoạt vào buổi tối được, ban ngày thì các chi phải làm kinh tế, làm thuê vì vậy cũng khó bỏ buổi ra để đi tham gia sinh hoạt được.

  • Dựa trên những khó khăn mà các nhóm viên đưa ra cả nhóm cung với nhân viên CTXH cùng bàn bạc giải pháp để khắc phục những khó khăn đó. Có thể bàn bạc lịnh động thời gian cho các nhóm viên, nếu không có phương tiện đi lại trong một số trường hợp bất đắc có thể linh động sinh hoạt tại nhà nhóm viên đó.

  • Trong giai đoạn này NVXH cần phải thống nhất được nhóm, điều phối được các hoạt động của nhóm.

  • 3.3 Giai đoạn can thiệp

  • Đây là giai đoạn tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, trị liệu và triển khai thực hiện các nhiệm vụ được xây dựng trong giai đoạn thành lập nhóm. Với tính chất là một nhóm đông (nhóm lớn) vì vậy NVXH xác định không thể can thiệp với từng cá nhân được nên quá trình can thiệp được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp trợ giúp. Quá trình trợ giúp mà sinh viên thực hiện chủ yếu ở đây là mời chuyên gia kinh tế về địa bàn, trao đổi với nhóm về các kiến thức trong lĩnh vực làm kinh tế. Trong giai đoạn này sinh viên tiến hành các hoạt động cụ thể sau:

  • Can thiệp trợ giúp từng cá nhân

  • Trong tiến trình trợ giúp này sinh viên đã thực hiện các buổi vãng gia đến một số gia đình nhóm viên có hoàn cảnh đặc biệt nhất. Trong đó có chị Vũ Thị Q là một trong những người có hoàn cảnh thực sự đặc biệt, kết quả vãng gia tại nhà chị Th:

  • Gia đình chị Vũ Thị Q: NVXH tiếp tục tìm hiểu sâu hơn những khó khăn của gia đình chị thông qua quan sát và thông qua cả quá trình vãng gia. Quan sát trong vãng gia và một số kỹ năng trong CTXH giúp cho nhân viên CTXH tìm hiểu được một số thông tim về thân chủ: Gia đình chị rất khó khăn. Chị không có chồng, một mình nuôi 3 đứa con mà cả bốn mẹ con đều bị tật. Ba đứa con chị bị tật bẩm sinh. Sinh viên đã sử dụng kỷ năng tham vấn để thân chủ tự nhận diện vấn đề của mình.

  • NVXH: Chị đã tường tham gia một hoạt động nào của cộng đồng nhằm chia sẽ kinh nghiệm để học hỏi nhau làm kinh tế chưa?

  • Thân chủ: Chị chưa từng tham gia vì chị nghĩ mình không có thời gian mà chị lại bị tật thế này chị sợ mình sẽ không làm tốt được việc gì cả lại làm ảnh hưởng chung đến hoạt động của cộng đồng. Từ lâu chị cũng đã không mạnh dạn để làm gì rồi

  • NVXH: Đã bao giờ chị nghỉ đến việc mình sẽ thành công hay có thể mình là người có thể làm tốt nhất trong hoạt động nhóm này không?

  • Thân chủ: Không, chị tham gia thế này nhưng chị nghĩ rằng sự thành công thì may ra có thể chứ làm giỏi nhất thì khó lắm.

  • NVXH: Em thấy chị là một người phụ nữ rất có nghị lực. Chị một mình mà có thể nuôi được ba đứa con trong khi khả năng đi lại của chị lại rất khó khăn điều đó không phải người phụ nữ nào cũng làm được vì vậy em nghĩ là nếu tự tin chắc chị cũng có thể làm được.

  • Thân chủ: Nhiều lúc chị cungc đã bỏ qua nhiều cơ hội bởi vì chị sợ mặc dù điều đó chị biết nếu cố gắng chị sẽ làm được. Được rồi từ nay chắc là chị phải cố gắng phải tự tin hơn ít rụt rè đi mới được.

  • NVXH cung cấp mô hình làm kinh tế phác thảo

  • Sau khi tìm hiểu về nhu cầu và nguyện vọng cũng như tình hình thực tế của phụ nữ đơn thân nghèo NVXH quyết định cunng cấp dịch vụ mô hình làm kinh tế cho các nhóm viên ở đây. Nội dung mô hình như sau:

  • Đầu tiên NVXH khảo sát tình hình chung về các mô hình trước đí đã được triển khai tại cơ sở có mô hình trồng rau sạch , mô hình trồng gấc, mô hình chăn nuôn dê… nhận thấy một điểm chunng là các mô hình trên chưa đem lại lợi ích thiết thực cho người dân vì tính chất không phổ biết, không có nơi tiêu thụ, không nhân rộng được do tính chất thổ nhưỡng, thiệt hại rủi ro…nhận thấy tính hạn chế của các mô hình đó trên tinh thần tiếp thu những mặt mạnh, hạn chế những mặt yếu kếm thiếu sót của những mô hình trứơc đó và phân tích tính khả thi của mô hình sinh viên đã định hướng phác thảo mô hình “ phát triển kinh tế bằng mô hình chăn nuôi hươu”.

  • * Sơ đồ swort

  • Điểm mạnh

  • - Nguồn thức ăn cho gia súc dồi dào

  • - Thị trường tiêu thụ thuận lợi

  • - Sức đề kháng cao chống các loại bệnh tật tốt

  • - Không cần nhiều thời gian, không cần bỏ nhiều sức lực

  • Điểm yếu

  • - Đòi hỏi người chăn nuôi phải có hiểu biết trong lĩnh vực chăn nuôi

  • - Đòi hỏi phải có nguồn vốn

  • Cơ hội

  • - Có nguồn vốn ngân sách có thể vay được là 15 triệu (khoản vay này tra lại trong vòng 3 năm) cũng là một nguồn vốn giúp cho các nhóm viên làm kinh tế

  • Thách thức

  • - Rủi ro trong chăn nuôi. Nguy cơ bệnh tật ốm đau có thể làm cho vật nuôi chết … không mang lại lợi nhuận kinh tế tức thì

  • * Nguồn lực có thể hỗ trợ

  • Nguồn lực hộ trợ là một yếu tố vô cùng quan trọng vì đây là mô hình để các hộ phụ nữ nghèo làm kinh tế nếu không có sự hỗ trợ thì chắc chắn nhóm sẽ không tiếp tục hoạt động được. Qua quá trình nghiên cứu sinh viên đã nhìn nhận thấy một số nuồn lực cố thể hỗ trợ cho mô hình phác thảo như :

  • - Nguồn vay từ ngân hàng chính sách

  • Nguồn từ họ hàng, người thân

  • Nguồn từ cộng đồng

  • nguồn từ tổ chức kinh tế chính trị

  • Từ những phân tích trên có thể triển khai cho tất cả các thành viên trong nhóm có nhu cầu và khả năng huy động được các nguồn lực để làm kinh tế

  • Trên thực tế mô hình chỉ là sự xem xét nghiên cứu, phân tích và phác thảo của NVXH dự tính trong thời gian tới (tháng 05) mô hình sẽ được triển khai thực hiện khi rút khỏi cơ sở thực tập kết thúc quá trình thực tập của mình sinh viên sẽ bàn dao quá trình triển khai chỉ đạo thực hiện mô hình lại cho nhóm nòng cốt.(nhóm đã được lập ra từ trước là hội trưởng hội phụ nữ và hai thành viên trong nhóm) cùng với sự chỉ đạo của kiểm huấn viên.

  • Tổ chức sinh hoạt nhóm dự kiến

  • Dự kiến sẽ tổ chức sinh hoạt nhóm lần tiếp theo vào tháng 5/2011. Đây là một mục tiêu quan trọng cần được thực hiện. Kế hoạch sinh hoạt được NVXH xây dượng dựa trên sự đánh giá về nhu cầu của nhóm thân chủ như sau:

  • Kế hoạch sinh hoạt nhóm (dự kiến thực hiện trong tháng 05 tới)

  • 1. Mục tiêu:- Các chị gặp gở, chia sẽ những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động phát triển kinh tế.

  • - Nâng cao kiến thức làm kinh tế thông qua việc thảo luận chia sẽ những kinh nghiệm

  • 2. Thời gian, địa điểm: - Thời gian là: 15/5/2011

  • - Địa điểm: Nhà văn hoá cộng đồng xã Tam Hợp

  • 3. Nội dung thảo luận:

  • Nội dung thứ nhất: Lượng giá lại những công việc đã làm được trong thời gian qua. Nội dung lượng giá tiến hành khoảng 15 phút. Trên cơ sở đó trao đổi về những tiến triển của công việc.

  • Nội dung thứ hai: Cho các chị được tự do phát biểu về những thuận lợi và khó khăn trong thời gian qua về việc hoạt động kinh tế. Đó là những nội dung cơ bản như:

  • Vốn

  • Thời gian

  • Kỹ thuật

  • Trao đổi với cán bộ kỹ thuật kinh tế

  • Những ảnh hưởng của hoạt động kinh tế tới đời sống chung của gia đình

  • Nội dung thứ ba: - Thảo luận về giải pháp mà các chị đã ứng dụng và thấy hiệu quả

  • Tổng kết thảo luận, thống nhất kế hoạch cho buổi sinh hoạt tiếp theo

  • 1. Chuẩn bi cho buổi thảo luận:

  • Thư ký gi lại biên bản sinh hoạt

  • Phấn, bảng để nhóm trưởng dễ dàng điều hành buổi sinh hoạt

  • - Nước uống và một số văn phòng phẩm cần thiết khác. Nếu buổi sinh hoạt có sự tham gia của các chuyên gia kinh tế cần có thêm nước, hoa quả …

  • 2. Nhiệm vụ của từng thành viên:

  • - Một nhóm trưởng trực tiếp điều hành buổi họp nhóm

  • - Ba nhóm phó trực tiếp điều hành các cuộc thảo luận nhóm( vì đây là nhóm lớn vì vậy khi thảo luận nhóm tách ra thành ba nhóm nhỏ để thảo luận)

  • - Một thư ký quan sát và ghi chép những nội dung của buổi họp nhóm

  • NVXH có vai trò cung cấp các nguồn lực để nhóm tiếp tục hoạt động

  • Quá trình công tác xã hội với nhóm phụ nữ đơn thân nghèo đang diễn ra ở giai đoạn hỗ trợ. Do điều kiện sinh hoạt có hạn sinh viên chưa thể tiếp tục điều phối nhóm thực hiện các hoạt động trong mục tiêu đề ra, vì vậy sinh viên bàn dao công việc lại cho nhóm nồng cốt.

  • Nhóm nồng cốt bao gồm ba thành viên:

  • Trương Thị Đức, chủ tịch hội phụ nữ xã

  • Văn Thi Hân, nhóm viên

  • Lê Thị Hoa, nhóm viên

  • Chương 4: BÀI HỌC KINH NGHIÊM RÚT RA TỪ TIẾN TRÌNH THỰC HIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM

  • Đây là đợt thực tập nghề hay nói đúng hơn là bước tập dượt ban đầu để sinh viên làm quen tiếp xúc với công việc chuyên ngành vì vậy không tránh khỏi những sai lầm thiếu sót. Từ những thiếu sót Và những điều đã làm được sinh viên đã rút ra những vấn đề sau:

  • 1. Đầu tiên là việc xác định mục đích hỗ trợ nhóm:

  • Sinh viên cần phải xác định rõ mục đích thành lập nhóm là gì? Nhóm sẽ mang lại lợi ích gì cho các thân chủ khi tham gia? Xác định mục đích hỗ trợ nhóm ảnh hưởng ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình nhóm. Từ đó đánh giá khả năng thành lập nhóm và tuyển chọn nhóm viên từ đó có thể mang lại lợi ích thực sự cho các nhóm viên

  • 2. Đánh giá khả năng thành lập nhóm:

  • Khả năng thành lập nhóm cần phải có sự tính toán kỹ lưỡng vì nó liên quan đến việc nhóm có được duy trì lâu dài hay không. Nếu bước đánh giá không chính xác sẽ dễ dẫn đến nguy cơ nhóm bị tan vỡ sớm

  • 3. Tuyển chọn nhóm viên:

  • Tuyển chọn nhóm viên là một công việc quan trọng, cũng giống như đánh giá khả năng thành lập nhóm nó liên quan đến tương lai, đến sự tồn tại của nhóm. Có nhiều cách thức tuyển chọn nhóm viên khác nhau song kinh nghiệm rút ra từ thực tế của sinh viên là cách thức liên hệ trực tiếp với các nhóm viên là cách thức vượt trội hơn cả. Cách thức này làm tăng tính gắn kết ngay từ ban đầu.

  • 4. Quy mô nhóm cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động nhóm

  • Quá trình thực tập với nhóm thân chủ là 42 thành viên sinh viên rút ra kinh nghiệm rằng, mặc dù trên không có sự quy định về nhóm nhất định song để tiến trình đạt hiệu quả cao nên để nhóm ở mức độ nhóm nhỏ. Vì trên thực tế nhóm nghiên cứu quá đông sẽ gây khó khăn trong việc tập hợp nhóm

  • 6 Trong giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động NVXH cần giới thiệu về mục đích hỗ trợ nhóm của mình cũng như cụ thể vai trò của NVXH trong nhóm. Điều đó sẽ làm cho thân chủ cảm thấy yên tâm hơn, thân chủ sẽ bớt đi phần hoài nghi và lo lắng.

  • Trong buổi sinh hoạt nhóm cần chuẩn bị kỹ lưỡng Tổ chức các buổi họp nhóm là điểm chính yếu cần lưu ý. Nhóm có hoạt động được hay không thể hiện ở chính các buổi sinh hoạt nhóm

  • Đó là những kinh nghiệm mà sinh viên rút ra từ thực tế nghiên cứu trong quá trình thực tập. CTXH là một ngành nghề mới mẽ đối với chúng ta, chúng ta cũng đang trong quá trình tìm tòi học hỏi. Vì vậy những chia sẽ này sẽ đóng góp một phần vào kho tàng kinh nghiệm kiến thức chuyên ngành CTXH nói chung và kiến thức công tác xã hội nhóm nói riêng

  • Chương 5: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI

  • Vai trò của NVXH được thể hiện rõ nhất là việc xây dựng tổ chức các hoạt động của nhóm phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp

  • Công việc tập hợp các thành viên lại có một ý nghĩa rất lớn. Để làm được người xây dựng nhóm cần có một kiến thức chuyên môn, những kỹ năng kinh nghiệm cần thiết. Chỉ có như thế thì mới có thể duy trì được các hoạt động của nhóm phụ nữ đơn thân nghèo đang có và sẽ phát triển trên diện rộng.

  • Thông thường một nhóm muốn duy trì và hoạt động tốt thì cần có người lãnh đạo, và với nghiên cứu này cũng vậy, vai trò của NVXH còn được thể hiện như là người lãnh đạo nhóm và đó cũng là tác nhân quan trọng để nhóm bầu ra người lãnh đạo.

  • Trong bước đầu xây dựng nhóm sinh viên trực tiếp đóng vai trò là người nhóm trưởng, thực hiện các buổi vãng gia thu thập thông tin của các gia đình và là người tổ chức các buổi họp nhóm, gặp gỡ nhóm giữa các thành viên lần đầu tiên.

  • Với những kỹ năng và nguyên tắc nghề nghiệp của một NVXH sinh viên có vai trò rất quan trọng trong việc lắng nghe,thấu cảm, chia sẽ với những người người phụ nữ đang gặp khó khăn hay mặc cảm. Đôi khi họ còn là những người mà bị người khác khinh rẽ vì vậy nhu cầu được chia sẽ ở họ là rất lớn. Và chính những thành viên trong nhóm cũng đã bày tỏ về điều cần thiết phải có NVXH . - Có nguồn vốn ngân sách có thể vay được là 15 triệu (khoản vay này tra lại trong vòng 3 năm) cũng là một nguồn vốn giúp cho các nhóm viên làm kinh tế

  • Thời gian

  • Địa điểm

  • Nội dung

  • Phương pháp

  • Tuần 1

  • Phòng văn hoá và thông tin huyện Quỳ Hợp

  • - Vấn đàm

  • - Làm việc nhóm.

  • Tuần 2

  • Phòng văn hoá và thông tin huyện Quỳ Hợp, các xã trên địa bàn huyện

  • Quan sát, vấn đàm và làm việc nhóm

  • Tuần 3

  • Hội trường, nhà văn hoá cộng đồng xã Tam Hợp

  • Vấn đàm, quản trò,làmviệc nhóm, quan sát

  • Tuần 4

  • Hội trường, nhà văn hoá cộng đồng xã Tam Hợp

  • Vấn đàm, điều phối

  • Tuần 5

  • Hội trường nhà văn hoá cộng đồng xã Tam Hợp

  • Điều phối, vấn đàm, lắng nghe, kỹ năng thu thập thông tin…

  • Tuần 6

  • Hội trường nhà văn hoá cộng đồng xã Tam Hợp,Các cơ sở xã

  • Hội trường nhà văn hoá cộng đồng xã Tam Hợp,Các cơ sở xã

  • Phòng văn hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp, hội trường nhà văn hoá cộng đồng xã Tam Hợp,Các cơ sở xã

  • 5. Đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu:

    • 1. Gia đình bà hiện nay có bao nhiêu nhân khẩu (cùng thu, chi chung)?  …………………….

    • Bà  cho biết thông tin chi tiết về  các thành viên?

      • d

      • Quan hệ với chủ hộ

    • 2. Gia đình bà có ai bị mất sức lao động?

    • B. Thu nhập chi tiêu.

    • C. Tình hình tín dụng, tiết kiệm, vay nợ.

    • F. Nguyên nhân nghèo và các giải pháp thoát nghèo

    • 17. Theo bà nguyên nhân nào là  nguyên nhân chính  khiến gia đình trở nên nghèo?

  • 2.6. Quan hệ công tác …………………………………………….………..5

  • 2.7. Phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm nhân viên phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp………………………………………………..6

  • 2.8. Vai trò của sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở ......………..6

  • 2.9. Nhận xét về cơ sở thực tập…………………………………………….7

  • Phần 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NGHÈO TẠI XÃ TAM HỢP, HUYỆN QUỲ HỢP …………………………………………………………………8

  • A/-PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………….…………..8

  • B/- PHẦN NỘI DUNG CHÍNH……………………………………….22

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI……………………………………….22

  • Chương 2: MÔ TẢ NHÓM THÂN CHỦ……………………………………………37

  • Chương 3: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NHÓM PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TAM HỢP, QUỲ HỢP ……...…….40

  • 3.1. Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm……………………………..40

  • 3.2 Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động……………………………...…..50

  • 3.3 Giai đoạn can thiệp…….……………………………………………..54

  • Chương 4: BÀI HỌC KINH NGHIÊM RÚT RA TỪ TIẾN TRÌNH THỰC HIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM……………………………………………………...…..59

  • Chương 5: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI.......….61

Nội dung

Giới thiệu vài nét về huyện Quỳ Hợp

Quỳ Hợp, huyện miền núi thuộc phía Tây Bắc Nghệ An, được thành lập vào ngày 19/4/1963, tách ra từ huyện Quỳ Châu cũ Huyện có diện tích tự nhiên 94.220,55 ha, chiếm 5,71% tổng diện tích tỉnh Nghệ An, với dân số khoảng 120.000 người, trong đó đồng bào thiểu số chiếm 52,26% Vị trí địa lý của huyện được xác định rõ ràng.

- Phía Đông giáp huyện Nghĩa Đàn.

- Phía Tây giáp huyện Con Cuông.

- Phía Nam giáp huyện Tân Kỳ.

- Phía Bắc giáp huyện Quỳ Châu.

Huyện Quỳ Hợp bao gồm 21 xã và một thị trấn, với thị trấn Quỳ Hợp là trung tâm huyện lỵ, nằm cách thành phố Vinh 120 km về phía Tây Bắc Huyện được kết nối qua Tỉnh lộ 532, Quốc lộ 1 và Quốc lộ 48, cùng với các tuyến đường liên huyện và giao thông nối với các huyện lân cận.

Khái quát về phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp

Tổ chức cơ sở

- Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp là đơn vị trực thuộc UBND huyện Quỳ Hợp.

Tại 21 xã và một thị trấn, mỗi địa phương đều có cơ sở cấp xã với khối làm công tác văn hóa chuyên trách Mỗi xã thường có từ một đến hai cán bộ phụ trách công tác văn hóa.

Cơ cấu hành chính của phòng bao gồm một trưởng phòng, một phó phòng và bốn nhân viên Trưởng phòng chịu trách nhiệm quản lý và điều hành công việc, phân công nhiệm vụ cho phó phòng và các thành viên, ký các hồ sơ văn bản, cử cán bộ đi công tác, ký giấy đi đường và thanh toán các khoản chi phí liên quan Đồng thời, trưởng phòng cũng chủ trì các buổi họp trong phòng.

Phó phòng là người hỗ trợ cho trưởng phòng, điều hành các công việc trong phòng khi trưởng phòng đi vắng

Nhân viên trong phòng làm việc thực hiện nhiệm vụ theo sự giám sát của trưởng phòng, mỗi thành viên đảm nhận công việc phù hợp với chuyên môn của mình.

Mục tiêu, mục đích hoạt động của tổ chức

Quản lý văn hóa, thông tin và thể thao huyện cùng các cơ quan liên quan là nhiệm vụ quan trọng Cần lập kế hoạch kiểm tra và đôn đốc các xã, thị trấn, Trung tâm Văn hóa Thông tin Thể thao huyện, cũng như các đơn vị liên quan, thực hiện đúng kế hoạch và nhiệm vụ theo yêu cầu công tác.

Tuyên truyền các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến văn hóa, gia đình, thể dục thể thao, du lịch, bưu chính, viễn thông và Internet, công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin, phát thanh, báo chí, và xuất bản trên địa bàn huyện là rất quan trọng để nâng cao nhận thức cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội.

Chúng tôi chỉ đạo, tham mưu và hướng dẫn các lĩnh vực như văn hóa, văn nghệ, lễ hội, thể dục thể thao gia đình, du lịch, quảng cáo, báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, bảo tàng, thư viện, bưu chính, viễn thông, internet, công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin và các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trên địa bàn huyện.

Nguyễn Tiến Cảnh( truởng phòng)

Vi Thị Hoa (cán bộ hiệp đồng)

Cao VănTuấn ( cán bộ biên chế)

Nguyễn Bá Sơn ( cán bộ biên chế) Đậu Ngọc Tuân( phó Phòng)

Trịnh HằngLong ( cán bộ hiệp đồng)

Tổ chức thực hiện công tác văn hóa tại cơ sở nhằm xây dựng huyện điểm văn hóa và đạt tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực văn hóa Mục tiêu này không chỉ nâng cao đời sống văn hóa của người dân mà còn góp phần phát triển bền vững cho địa phương.

Đối tượng phục vụ, các yếu quyết định mô hình làm việc của tổ chức đối với khách hàng

- Văn hoá, văn nghệ, lễ hội của các cơ quan, tổ chức, nhóm, đoàn thể diễn ra trên địa bàn huyện.

Bài viết tập trung vào các vấn đề gia đình quan trọng như bạo lực gia đình, tình trạng nghèo đói trong các hộ gia đình, sự bất bình đẳng trong mối quan hệ gia đình, và việc xây dựng nếp sống văn minh trong từng gia đình Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của xã hội Cần có những giải pháp hiệu quả để nâng cao nhận thức và cải thiện tình hình gia đình trong cộng đồng.

- Đối tượng còn là tất cả người dân trên địa bàn huyện

 Các yếu tố quyết định mô hình làm việc của tổ chức đối với khách hàng.

Tổ chức này áp dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow để giải quyết các vấn đề dựa trên nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng, đồng thời hoạt động theo mô hình tổ chức quan liêu.

Ngân sách cho các hoạt động của tổ chức được nhà nước chi trả thông qua việc cơ sở trình đề án và yêu cầu lên cấp trên, như UBND tỉnh hoặc sở văn hóa thể thao tỉnh Nếu đề án được xem xét khả thi và hợp lý, cấp trên sẽ phê duyệt và cấp kinh phí để cơ sở triển khai thực hiện.

Các dịch vụ do cơ sở cung cấp

- Tập huấn tuyên truyền đối với đồng bào các dân tộc vùng cao về vấn đề dân sô kế hoạch hoá gia đình.

- Tập huấn về công tác quản lý hành chính nhà nước.

- Truyền thông, phổ biến tận người dân các chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình.

- Mỗi xã thị trấn đều có phòng truyền thông tuyên truyền cho người dân về nếp sống văn hoá lành mạnh.

Phòng quản lý công tác dân số tại các trạm y tế xã thực hiện chương trình tuyên truyền và tư vấn về sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, nhằm hướng dẫn người dân áp dụng biện pháp tránh thai phù hợp Đặc biệt, chương trình đảm bảo phụ nữ ở vùng nông thôn và khó khăn được tiếp cận dịch vụ KHHGĐ, đồng thời cung cấp tư vấn sàng lọc trước và sau sinh để hạn chế tình trạng trẻ em sinh ra với khuyết tật không đáng có.

Quan hệ công tác

Phòng và trưởng phòng thuộc UBND huyện, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng Sở Thông tin Truyền thông chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp từ UBND huyện và các phó chủ tịch Đồng thời, họ cũng phải tuân thủ sự chỉ đạo, kiểm tra và hướng dẫn chuyên môn từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như Sở Thông tin Truyền thông.

- Đối với các phòng, ban, ngành UBND huyện: Phòng, trưởng phòng Văn hoá và Thông tin thực hiện mối quan hệ phối hợp.

Các xã, thị trấn và các cơ quan, đơn vị liên quan cần phối hợp chặt chẽ với phòng VHTT huyện Trưởng phòng VHTT huyện có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng đã được giao.

Chi bộ phòng VHTT huyện có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và chính trị theo quy định Trưởng phòng chịu sự lãnh đạo của Chi bộ và Bí thư chi bộ, tuân thủ nguyên tắc tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách.

Ủy ban nhân dân cần tham mưu và ban hành các chủ trương, chính sách nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác văn hóa cũng như các hoạt động liên quan khác tại địa phương.

Chỉ đạo và điều hành công tác hóa trong các lĩnh vực y tế và giáo dục theo kế hoạch đã đề ra, nhằm đảm bảo ổn định đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm nhân viên phòng Văn Hoá và Thông

Nhân viên trong phòng được khuyến khích phát huy tính dân chủ và tự do thảo luận trong các buổi sinh hoạt, thể hiện sự thẳng thắn và nghiêm túc trong công việc Họ thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình một cách chân thành, cởi mở với đồng nghiệp và khách hàng Đồng thời, nhân viên cũng nỗ lực xây dựng và duy trì khối đoàn kết thống nhất cao, đảm bảo công việc được thực hiện có nề nếp và kỹ cương.

- Năng lực nhân viên cần phải có năng lực thực sự, là những người có trình độ Đại Học trở lên.

Để áp dụng hiệu quả các lý thuyết vào thực tiễn trong công tác xã hội, nhân viên cần trang bị kiến thức và kinh nghiệm phong phú Do đó, những nhân viên trẻ trong ngành cần nỗ lực học hỏi và làm việc chăm chỉ để phát triển kỹ năng và khả năng ứng phó linh hoạt với các tình huống khác nhau.

Vai trò của sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở

Sinh viên tham gia tích cực vào các hoạt động tại cơ sở và thực địa ở các xã, thị trấn, nhằm hỗ trợ công tác thực hành cho sinh viên và giúp đỡ cơ sở trong những trường hợp cần thiết.

- Sinh viên quản lý các văn bản đi, đến của phòng theo sự chỉ đạo của trưởng phòng.

- Sinh viên sắp xếp văn bản của phòng theo sự chỉ đạo của cán bộ phòng.

Sinh viên tham gia các hoạt động vui chơi giải trí tại cơ sở và các xã, thị trấn theo sự phân công của trưởng phòng, nhằm phát triển kỹ năng nghề nghiệp cần thiết.

Nhận xét về cơ sở thực tập

Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp chịu trách nhiệm quản lý các lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể thao, y tế và giáo dục tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Hiện nay, phòng đang triển khai đề án xây dựng huyện miền núi đạt chuẩn văn hoá, do đó, đối tượng phục vụ của phòng rất đa dạng Công tác tiếp cận cộng đồng luôn được Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp chú trọng và thực hiện thường xuyên.

Tại Phòng Văn Hoá và Thông Tin huyện Quỳ Hợp, sinh viên sẽ cảm nhận được sự chuyên nghiệp và tác phong làm việc tốt của các anh chị ở đây Điều quan trọng không chỉ nằm ở cơ sở vật chất mà còn ở sự thân thiện, hợp tác và cởi mở của đội ngũ nhân viên Sinh viên được hỗ trợ nhiệt tình từ các kiểm huấn viên và nhân viên văn phòng, tạo nên một môi trường thực tập tích cực và hài lòng.

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NGHÈO TẠI XÃ TAM HỢP, HUYỆN QUỲ HỢP

Lý do chọn đề tài

Phụ nữ đơn thân nghèo thường có học vấn thấp và nhận thức hạn chế, gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế và sinh hoạt Họ dễ bị tổn thương và ít có cơ hội cải thiện cuộc sống, thường làm các công việc nặng nhọc hoặc lao động chân tay mà không có trình độ chuyên môn Việc thiếu tiếp cận công nghệ, tín dụng và đào tạo khiến họ gặp khó khăn trong công việc gia đình, đồng thời thường nhận mức lương thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc Điều này, kết hợp với tình trạng sức khoẻ kém, tạo ra nguy cơ lớn cho việc thoát nghèo bền vững Do đó, phụ nữ đơn thân nghèo cần được xã hội quan tâm đặc biệt.

Hiện nay, có nhiều mô hình công tác xã hội nhóm phục vụ các đối tượng khác nhau, như mô hình B93 hỗ trợ người cai nghiện ma túy và nhóm đồng đẳng Hoa Hướng Dương dành cho người có HIV Tuy nhiên, chưa có mô hình công tác xã hội nhóm nào hỗ trợ phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp Nhận thấy sự cần thiết của mô hình này, nhóm nghiên cứu đã được sự cho phép của chủ tịch hội phụ nữ xã và lãnh đạo xã Tam Hợp để xây dựng mô hình công tác xã hội nhóm dành riêng cho phụ nữ đơn thân nghèo.

Mô hình công tác xã hội nhóm dành cho phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp không chỉ mang lại lợi ích cho các phụ nữ nghèo mà còn hỗ trợ cả gia đình của họ Hoạt động này tạo cơ hội cho sinh viên phát triển kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực hành nghề nghiệp, góp phần cải thiện đời sống cho các hộ gia đình nghèo trong khu vực.

Chúng tôi đã chọn nghiên cứu mô hình công tác xã hội nhóm dành cho phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp, Quỳ Hợp, vì đây là một mô hình có tiềm năng lớn để mở rộng và phát triển Không chỉ hỗ trợ phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp, mô hình này còn có khả năng lan tỏa đến phụ nữ nghèo ở các xã khác trong khu vực.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội nhằm phân tích mối tương tác giữa các thành viên trong nhóm và mối quan hệ với các hệ thống hỗ trợ khác Qua đó, đề xuất các biện pháp can thiệp nhóm hiệu quả.

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp công tác xã hội nhằm phân tích và đánh giá thực trạng đời sống của phụ nữ nghèo, đồng thời khám phá nguyên nhân hình thành nhóm dựa trên nhu cầu của họ Bằng cách vận dụng sáng tạo các lý thuyết xã hội học kinh điển và các chuyên ngành như xã hội học gia đình, công tác xã hội nhóm, công tác xã hội cá nhân, và xã hội học về giới, nghiên cứu này bổ sung lý luận cho việc ứng dụng phương pháp công tác xã hội trong thực tiễn.

Mô hình được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp, giúp họ có cơ hội chia sẻ và bày tỏ những khó khăn trong cuộc sống Việc phát triển hoạt động của mô hình không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho các gia đình mà còn tạo điều kiện cho việc trao đổi, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm trong kinh tế Qua đó, mô hình góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các biện pháp phát triển kinh tế, giảm nghèo cho các hộ gia đình nghèo ở xã Tam Hợp và khu vực nông thôn.

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu nhu cầu và khó khăn của thân chủ trong quá trình thoát nghèo, từ đó xây dựng mô hình CTXH nhóm Mục tiêu là tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên CTXH và thân chủ, cũng như giữa các thân chủ với nhau và với chính quyền địa phương, làm nền tảng cho các hoạt động hỗ trợ sau này.

- Bước đầu đề xuất khuyến nghị và giải pháp cho công cuộc xoá đói giảm nghèo của địa phương trong thời gian tới.

Việc tham gia xây dựng mô hình công tác xã hội (CTXH) với phụ nữ đơn thân nghèo tại xã Tam Hợp mang đến cho sinh viên thực tập cơ hội quý giá để nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm cho sự nghiệp tương lai Qua đó, mô hình CTXH này không chỉ hỗ trợ phụ nữ đơn thân nghèo mà còn có thể được mở rộng và áp dụng cho các nhóm đối tượng khác trong lĩnh vực công tác xã hội.

Mục tiêu nghiên cứu

- Mô tả nhóm thân chủ: những khó khăn trong việc phấn đấu thoát nghèo, nhu cầu, nguyện vọng của nhóm thân chủ.

- Tăng cường năng lực giao tiếp, phát huy khả năng tự lực khả năng học hỏi,tự giải quyết vấn đề cho nhóm phụ nữ đơn thân nghèo.

- Ứng dụng tiến trình CTXH nhóm với nhóm phụ nữ đơn thân nghèo.

- Rút ra bài học kinh nghiệm khi bước đầu xây dựng mô hình CTXH trong thực tiễn để tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo của nghiên cứu.

- Làm rõ vai trò của nhân viên CTXH cũng như tiềm năng phát triển mô hình CTXH trong cuộc sống.

Nhân viên xã hội, thân chủ, phạm vi nghiên cứu

- Sinh viên thực tập: Hồ Thị Thiết.

Nhóm phụ nữ đơn thân nghèo đang tích cực tham gia các hoạt động tại các chi hội phụ nữ ở xã Tam Hợp, dưới sự quản lý của ban chấp hành phụ nữ.

 Phạm vi không gian: Địa bàn xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp.

 Phạm vi thời gian: Từ tháng 2/2011 đến tháng 4/2011.

phương pháp nghiên cứu và phương pháp thực hành

6.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Bài viết này phân tích và tổng hợp thông tin thứ cấp liên quan đến tình trạng nghèo đói ở nông thôn Việt Nam, đặc biệt tập trung vào huyện Quỳ Hợp và xã Tam Hợp Qua việc xem xét các báo cáo và dữ liệu hiện có, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về những thách thức mà người dân địa phương đang phải đối mặt, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện đời sống và phát triển bền vững cho khu vực này.

6.1.2 Phương Pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu là một phương pháp quan trọng để thu thập thông tin từ thân chủ, yêu cầu người phỏng vấn, như nhân viên xã hội, cần chuẩn bị kỹ lưỡng các câu hỏi và thông tin liên quan Trong quá trình phỏng vấn, họ phải chú ý đến những thông tin thiếu sót, mơ hồ và xử lý các nhầm lẫn bằng kỹ năng giải quyết vấn đề hiệu quả.

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn sâu với một số phụ nữ đơn thân nghèo, thông qua chính họ và các cán bộ thực hiện chính sách xã, cùng lãnh đạo xóm, nhằm thu thập thông tin chi tiết hơn mà phiếu hỏi không thể hiện.

Phương pháp quan sát được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, kết hợp trong quá trình vãng gia.

Phương pháp quan sát được thực hiện tại nơi ở của những phụ nữ đơn thân nghèo trong các gia đình nghèo ở địa bàn xã Tam Hợp.

Mục đích của việc quan sát là để thu thập thông tin cơ bản về hoàn cảnh gia đình, cũng như thái độ và hành vi của thân chủ trong môi trường gia đình Điều này bao gồm cách họ giao tiếp với các thành viên trong gia đình và tương tác với các nhân viên công tác xã hội khi có sự tham gia tại nhà.

6.1.4 Phương pháp phỏng vấn bằng ankét (bảng hỏi)

Trong quá trình thực hiện báo cáo, sinh viên đã phát hành 20 bảng hỏi và thu lại 19 bảng từ phụ nữ đơn thân sống tại xã nghèo Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 đến 45 phút Trước khi tiến hành phỏng vấn, sinh viên đã chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung và các câu hỏi liên quan đến mô hình xóa đói giảm nghèo cho nhóm đối tượng này (Bảng hỏi được đính kèm ở phần mục lục).

6.1.5 phương pháp vãng gia Đây là quá trình mà nhân viên công tác xã hội đến các hộ gia đình để thăm hỏi, động viên và chia sẻ với họ Và trong quá trình thực hiện việc thực tập nghề và viết báo cáo này tôi đã trực tiếp tới thăm một số gia đình trong các xóm ở xã Tam Hợp, qua đó thể hiện tình cảm của mình với người dân và chính quyền ở nơi đây, và từ đó nhằm thu thập được một số thông tin cơ bản từ phía các gia đình góp phần cung cấp thêm số liệu chính xác để thực hiện tiến trình CTXH nhóm.

Nhân viên CTXH chủ yếu áp dụng phương pháp CTXH theo tiến trình nhóm trong thực hành, bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp vãng gia, phương pháp CTXH cá nhân và một số kỹ năng chuyên môn khác trong lĩnh vực công tác xã hội.

6.2.1 Phương pháp công tác xã hội nhóm: tiến trình CTXH nhóm

Phương pháp tận dụng mối quan hệ trong nhóm phụ nữ đơn thân nghèo, thông qua chương trình sinh hoạt nhóm, tạo ra bầu không khí tích cực, nhằm tác động đến từng cá nhân trong cộng đồng.

Trong tiến trình công tác xã hội nhóm, có nhiều cách phân chia giai đoạn Bài báo cáo này áp dụng mô hình bốn giai đoạn của Ronald và Robert F Rivas để thực hành với nhóm phụ nữ đơn thân nghèo Giai đoạn đầu tiên là chuẩn bị và thành lập nhóm, nơi các thành viên được lựa chọn và tổ chức để đạt được mục tiêu chung.

Giai đoạn chuẩn bị là bước đầu tiên trong tiến trình công tác xã hội nhóm, diễn ra sau khi nhân viên công tác xã hội tiếp nhận các trường hợp cần hỗ trợ từ yêu cầu của tổ chức hoặc qua giới thiệu từ các nhân viên khác Đây cũng là thời điểm mà nhân viên công tác xã hội nhận thấy cần thiết phải tổ chức các hoạt động nhóm để hỗ trợ thân chủ.

Giai đoạn này bao gồm các bước quan trọng như xác định mục đích hỗ trợ của nhóm CTXH, đánh giá khả năng thành lập nhóm, và tiến hành thành lập nhóm khi đã đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết.

 Xác định mục đích hỗ trợ của CTXH nhóm

Việc thành lập nhóm phụ nữ đơn thân nghèo mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ các hộ gia đình nghèo, đặc biệt trong việc chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế và xây dựng mô hình chăn nuôi Nhân viên xã hội sẽ phân tích điểm mạnh, điểm yếu và nguồn lực tại địa phương để xác định các mục tiêu cụ thể cho quá trình trợ giúp, từ đó lựa chọn mô hình nhóm phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ.

Đánh giá khả năng thành lập nhóm và khả năng tài trợ cho các hoạt động nhóm là rất quan trọng trong nghiên cứu về các cơ quan cung cấp dịch vụ xã hội NVXH cần phân tích chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động của các tổ chức này, cũng như định hướng của họ đối với thân chủ Các tổ chức chỉ xem xét việc tài trợ khi lợi ích của nhóm phù hợp với mục đích và chính sách của họ.

Việc thành lập nhóm tại xã Tam Hợp đã tận dụng các nguồn lực trước đây như Hội chữ thập đỏ, Tòa án Nhân Dân và các doanh nghiệp tư nhân để hỗ trợ các hộ gia đình nghèo, đặc biệt là phụ nữ Để đánh giá khả năng tham gia của các thành viên, cần xem xét nhu cầu và điều kiện thực tế của họ, cũng như động cơ tham gia nhóm thông qua các buổi tiếp xúc trực tiếp và phỏng vấn tại nhà Đồng thời, cần xác định những thành viên tương lai có cùng quan điểm về nhiệm vụ của nhóm, đồng thời đánh giá những khó khăn và rào cản mà họ có thể gặp phải khi tham gia.

Để thành lập nhóm hiệu quả, NVXH cần đánh giá các nguồn lực hỗ trợ như tài chính, cơ sở vật chất và sự hỗ trợ từ cộng đồng, đoàn thể, chính quyền Việc đối chiếu mục đích của nhóm với các chương trình dịch vụ, chính sách và quy định của tổ chức là rất quan trọng để đảm bảo nhận được sự hỗ trợ cần thiết.

 Định hướng cho các thành viên trong nhóm

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Gia đình, họ hàng, làng xóm

Hệ thống nguồn lực hỗ trợ cho nhóm phụ nữ đơn thân nghèo

Các tổ chức từ thiện

Người am hiểu về kỷ thuật kinh tế

Mô hình CTXH với phụ nữ đơn thân nghèo

Giúp đỡ nhóm thân chủ và gia đình

Vai trò của nhân viên xã hội (NVXH) trong việc phát triển mô hình cộng đồng tại Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng Hiện nay, các mô hình cộng đồng xã hội nhóm như nhóm đồng đẳng và nhóm chia sẻ đã bắt đầu hình thành và hoạt động hiệu quả Những mô hình này không chỉ đáp ứng nhu cầu và mong muốn của các thành viên mà còn góp phần vào việc đạt được các mục tiêu chung của cộng đồng.

Câu lạc bộ B93 hoạt động theo mô hình nhóm đồng đẳng, cung cấp các dịch vụ quản lý, giáo dục, tư vấn và hỗ trợ cho những người cai nghiện ma túy Mục tiêu của câu lạc bộ là giúp người cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng, nằm trong chương trình điều trị ma túy dựa vào cộng đồng.

Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội đã xây dựng một câu lạc bộ nhằm hỗ trợ những người trở về từ các trung tâm giáo dục lao động xã hội Câu lạc bộ cung cấp định hướng nghề nghiệp, tư vấn cá nhân và nhóm cho các thành viên, cũng như hỗ trợ gia đình họ Tham gia vào câu lạc bộ, các thành viên sẽ được thực hành kỹ năng phòng chống tái nghiện thông qua các buổi thảo luận nhóm, đồng thời tham gia các hoạt động truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS và các hoạt động cộng đồng khác.

Nhóm Hoa Xương Rồng là một nhóm đồng đẳng được thành lập bởi Hội Chữ thập Đỏ quận Đống Đa với sự hỗ trợ của Ủy ban Y tế Hà Lan Việt Nam Nhóm nhằm mục tiêu cung cấp hỗ trợ tinh thần, vốn vay và cơ hội việc làm cho phụ nữ có HIV và sau cai nghiện Tất cả phụ nữ tại Hà Nội sau khi cai nghiện đều có thể đăng ký tham gia Khi tham gia nhóm, họ không chỉ nhận được sự đồng cảm mà còn được hỗ trợ về y tế, văn hóa, vốn làm ăn và có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.

Nghiên cứu về mô hình CTXH hiện nay còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc đánh giá và tổng kết các hoạt động Nghiên cứu này nhằm khắc phục những hạn chế trước đó và phát huy những điểm tích cực, với điểm mới là kết hợp nghiên cứu lý thuyết và thực hành CTXH nhóm dành cho phụ nữ đơn thân nghèo.

1 2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Xã Tam Hợp được thành lập vào ngày 19/04/1963, ban đầu bao gồm cả xã Thọ Hợp, và chính thức tách thành hai xã vào năm 1965 Nằm ở phía đông huyện Quỳ Hợp, cách thị trấn Quỳ Hợp 10km, Tam Hợp là một xã bán sơn địa với hai tuyến đường lớn, Quốc lộ 48 và Tỉnh lộ 532, chạy qua Xã giáp với xã Đồng Hợp ở phía Bắc, xã Nghĩa Xuân và Minh Hợp ở phía Nam, xã Châu Lộc và Thọ Hợp ở phía Tây, và huyện Nghĩa Đàn ở phía Đông Với diện tích tự nhiên 2.902,33 ha và dân số 2.764 hộ, Tam Hợp có tổng cộng 13.149 nhân khẩu, trong đó có sự hiện diện của các dân tộc thiểu số.

589 hộ với 2.875 khẩu, thành phần dân tộc chủ yếu là người Kinh và người Thổ. Toàn xã có 19 đơn vị xóm, 23 chi bộ cơ sở.

Theo chuẩn nghèo mới năm 2011, tổng số hộ nghèo tại xã là 686 hộ, chiếm 24,67%, tăng 7,3% so với năm 2010, trong đó có 341 hộ cận nghèo, chiếm 12,1% Đặc biệt, có 188 phụ nữ đơn thân thuộc diện nghèo Nghiên cứu được thực hiện tại 19 xóm ở xã Tam Hợp, với mục tiêu tìm hiểu mô hình công tác xã hội nhóm dành cho phụ nữ đơn thân nghèo Các xóm được khảo sát đều có đặc điểm địa lý tự nhiên riêng biệt Hộ khảo sát là những phụ nữ đơn thân nghèo đã được xác nhận là hộ nghèo năm 2010 và đang tham gia sinh hoạt tại chi hội phụ nữ các xóm Chuẩn nghèo áp dụng là chuẩn chung của cả nước trong giai đoạn 2006 - 2010.

Cơ sở lý luận và kiến thức công tác xã hội áp dụng

1.2.1 Các công cụ khái niệm

1.2.1.1 Phụ nữ đơn thân nghèo

Phụ nữ đơn thân nghèo, thường từ 16 tuổi trở lên, thường có học vấn thấp và sức khoẻ kém, phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống kinh tế và sinh hoạt Họ thường là những người lao động thuần nông hoặc làm các công việc chân tay không chuyên môn và dễ bị tổn thương Do mất chồng hoặc không có chồng, họ trở thành trụ cột gia đình, nhưng lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ, tín dụng và đào tạo, từ đó hạn chế cơ hội cải thiện đời sống và thăng tiến bản thân.

Phụ nữ đơn thân nghèo phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống, từ điều kiện vật chất hạn chế đến sự nghèo nàn về tinh thần Họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ kinh tế, xã hội và văn hóa, dẫn đến ít cơ hội phát triển cho bản thân và gia đình.

Nhóm được định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng khía cạnh, nhưng theo quan điểm xã hội học, nhóm được hiểu là một hệ thống xã hội Mối quan hệ trong nhóm được xác định qua các mối quan hệ thành viên, bao gồm cả quan hệ trực tiếp và phân tán, cũng như tính bền vững tương đối của những mối quan hệ này.

Nhóm xã hội là tập hợp các cá nhân liên kết với nhau thông qua những mục tiêu chung Các thành viên trong nhóm cùng tham gia các hoạt động, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau để đạt được những mục đích lợi ích cho tất cả.

Quan niệm về nghèo đói ởViệt Nam

Nghèo là một thuật ngữ lâu đời trong văn hóa Việt Nam, không chỉ mới xuất hiện gần đây cùng với khái niệm “xoá đói giảm nghèo” Trong cộng đồng làng xã, người dân thường có những so sánh về mức độ nghèo đói của các hộ gia đình, đánh giá sự giàu có hay nghèo khổ dựa trên quan sát và thông tin giao tiếp hàng ngày Sự nhận thức này chủ yếu mang tính tâm lý và cảm giác, nhưng người dân cũng thường thống nhất một tiêu chí nào đó để xác định sự giàu nghèo.

Kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới vào năm 1986, phong trào xoá đói giảm nghèo đã nhanh chóng được hình thành và phát triển Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, ngay từ đầu thập niên 1990, các chính sách và chương trình đã được triển khai nhằm cải thiện đời sống của người dân.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo các địa phương triển khai Chương trình XĐGN, tạo thành phong trào mạnh mẽ từ năm 1995 - 1996 Đến năm 1998, chương trình này trở thành mục tiêu quốc gia quan trọng của Chính phủ Vào tháng 5/2001, Chính phủ ban hành chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN cho giai đoạn 2001 - 2010 Đói nghèo về lương thực được xác định dựa trên nhu cầu tối thiểu 2100 Kcal/người/ngày, và những người có chi tiêu dưới mức này được coi là nghèo về lương thực.

Con người hàng ngày cần chi tiêu cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm, và khi kết hợp chi phí này vào chỉ tiêu đói nghèo về lương thực, thực phẩm, ta sẽ có một chỉ tiêu đói nghèo chung.

Khái niệm đói nghèo ở Việt Nam thường được hiểu là tình trạng thiếu thốn về cả thực phẩm và các nhu cầu cơ bản khác Đói ám chỉ việc không đủ thức ăn, trong khi nghèo là tình trạng khó khăn tổng thể, không đủ khả năng đáp ứng các nhu cầu phi lương thực như nhà ở, y tế, giáo dục, văn hóa, và giao tiếp xã hội Nghèo thường bao gồm cả đói, và đói cũng là một chỉ số phản ánh tình trạng nghèo.

1.2.1.4 Phương pháp Công tác Xã Hội nhóm

Theo Toseland và Rivas, công tác xã hội nhóm bao gồm nhiều khái niệm và phương pháp tiếp cận khác nhau Mỗi góc độ và trường hợp cụ thể đều có những điểm mạnh riêng, cùng với cách ứng dụng phù hợp Các phương pháp này tạo ra một cái nhìn tổng quát về công tác xã hội nhóm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn phương thức phù hợp với từng tình huống cụ thể.

CTXH là một hoạt động có mục đích, bao gồm các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ, nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành các nhiệm vụ cụ thể.

Hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến từng cá nhân trong nhóm và toàn bộ hệ thống cung cấp dịch vụ Định nghĩa này nhấn mạnh rằng hoạt động không chỉ tập trung vào từng thành viên mà còn hướng đến sự phát triển chung của toàn thể nhóm.

Trong từ điển Công tác Xã hội của Barker (1995), công tác xã hội nhóm được định nghĩa là một phương pháp can thiệp, trong đó các thành viên chia sẻ mối quan tâm và vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động để đạt được mục tiêu cụ thể Khác với trị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu của công tác xã hội nhóm không chỉ là giải quyết vấn đề tâm lý mà còn bao gồm việc trao đổi thông tin, phát triển kỹ năng xã hội và lao động, cũng như thay đổi giá trị và hành vi chống lại xã hội thành nguồn lực tích cực Sự khác biệt giữa công tác xã hội nhóm và trị liệu tâm lý nhóm cần được làm rõ, vì thuật ngữ "trị liệu nhóm" thường gây nhầm lẫn trong lĩnh vực công tác xã hội.

Trị liệu nhóm là một phương pháp can thiệp hiệu quả cho những cá nhân gặp rối loạn cảm xúc và vấn đề xã hội, thông qua việc tập hợp từ hai người trở lên dưới sự hướng dẫn của nhân viên xã hội hoặc chuyên gia trị liệu Trong môi trường an toàn và được kiểm soát, các thành viên có thể chia sẻ vấn đề của mình, thảo luận về các giải pháp, trao đổi thông tin và khám phá kỹ thuật giải quyết vấn đề, từ đó giúp họ vượt qua khó khăn và cải thiện tình trạng tâm lý.

Theo tác giả trị liệu Nguyễn Thị Oanh (1998), trị liệu nhóm là phương pháp hỗ trợ trị liệu cá nhân cho bệnh nhân tâm thần và những người gặp rối loạn ức chế tâm lý nghiêm trọng Sự tương tác giữa các bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình trị liệu, tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, cần có kiến thức chuyên sâu về tâm lý, tâm lý trị liệu và tâm thần học.

TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NHÓM PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TAM HỢP, QUỲ HỢP

Ngày đăng: 31/08/2021, 00:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mô hình CTXH với phụ nữ đơn thân - Bài báo cáo thực tập nghề công tác xã hội
h ình CTXH với phụ nữ đơn thân (Trang 22)
Nguồn lực hộ trợ là một yếu tố vô cùng quan trọng vì đây là mô hình để các hộ phụ nữ nghèo làm kinh tế nếu không có sự hỗ trợ thì chắc chắn nhóm sẽ không tiếp tục hoạt động được - Bài báo cáo thực tập nghề công tác xã hội
gu ồn lực hộ trợ là một yếu tố vô cùng quan trọng vì đây là mô hình để các hộ phụ nữ nghèo làm kinh tế nếu không có sự hỗ trợ thì chắc chắn nhóm sẽ không tiếp tục hoạt động được (Trang 56)
3. Bà cho biết tình hình thu nhập của gia đình trung bình một tháng trong năm 2011? - Bài báo cáo thực tập nghề công tác xã hội
3. Bà cho biết tình hình thu nhập của gia đình trung bình một tháng trong năm 2011? (Trang 75)
Tự tìm hiểu qua đài báo, truyền hình Khác (ghi rõ)  - Bài báo cáo thực tập nghề công tác xã hội
t ìm hiểu qua đài báo, truyền hình Khác (ghi rõ) (Trang 81)
22. Chính quyền địa phương đã có mô hình hỗ trợ nào nhằm hỗ trợ phụ nữ nghèo làm kinh tế không? - Bài báo cáo thực tập nghề công tác xã hội
22. Chính quyền địa phương đã có mô hình hỗ trợ nào nhằm hỗ trợ phụ nữ nghèo làm kinh tế không? (Trang 82)
viên về tình hình công việc - Trao đổi với hội trưởng  phụ nữ xã một số nội dung liên quan đến bản kế hoạch - Bài báo cáo thực tập nghề công tác xã hội
vi ên về tình hình công việc - Trao đổi với hội trưởng phụ nữ xã một số nội dung liên quan đến bản kế hoạch (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w