Có nhiều bài nghiên cứu trước đây trên thế giới đã sử dụng chỉ tiêu hệ số đòn bẩy tài chính làm biến đại diện cho rủi ro tín dụng như nghiên cứu của tác giả Alper và Anbar 2011 khi nghiê
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các hoạt động của nền kinh tế thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng không thể thiếu được sự đóng góp của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Với những chức năng đặc biệt, NHTM đã và đang ngày một nâng cao vai trò của mình trong thị trường kinh tế Trong những năm vừa qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đang chuyển sang cơ chế thị trường có điều tiết vĩ mô nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Vì vậy ngân hàng là ngành kinh tế chủ chốt quan trọng, chi phối và có sự ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngành kinh tế khác Nhận thức đƣợc vai trò của mình, các ngân hàng thương mại nước ta đang từng bước khẳng định sự lớn mạnh của mình trong mọi phương diện hoạt động, đặc biệt là hoạt động tín dụng nhằm phục vụ đắc lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân
Trong thành công chung của ngành , khối NHTM nhà nước đóng vai trò trọng yếu bằng việc đi đầu , dẫn dắt toàn ngành trong thực hiện chủ trương chính sách của Chính phủ và ngành Trong giai đoạn 2011 - 2015, khối NHTM đã đóng góp chính vào tăng trưởng toàn ngành với mức tăng trưởng tổng tài sản bình quân ở mức 13.8%/năm cao hơn mức 10.3%/năm của toàn hệ thống, tăng trưởng tín dụng ở mức 17.1%/năm so với mƣ́c 13.5%/năm toàn ngành (Trà Vân, 2016) Điều đó cho thấy rằng, ngân hàng đã thực hiện rất tốt vai trò cung cấp vốn, tạo công ăn việc làm mới đồng thời là nguồn cung cấp tín dụng chính cho nền kinh tế
Bên cạnh đó , mục tiêu quan trọng nhất của các NHTM là tăng trưởng lợi nhuận Đồng thời, hoạt động tín dụng đƣợc coi là hoạt động k inh doanh chính , cơ bản mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng Thƣc tế tại Việt Nam, theo báo cáo của NHNN , nợ xấu toàn hệ thống tính đến ngày 31/12/2010 là 58,000 tỷ đồng chiếm 2.52% tổng dƣ nợ nền kinh tế Trong giai đoạn 2012-2016, nợ xấu của ngành ngân hàng có xu hướng giảm về tỷ lệ nhưng vẫn tăng về quy mô Tỷ lệ nợ xấu cao
2 nhất năm 2012 là 4.12% và giảm qua các năm Năm 2016, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng chỉ còn 2.52% Đến cuối năm 2017, tỷ lệ nợ xấu của ngành ngân hàng là 9.5%, cao hơn gấp ba lần con số " dưới 3%" (Báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, 2017) Tuy nhiên tính đến 6 tháng đầu năm 2018, nợ xấu đƣợc có xu hướng giảm và tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống duy trì ở mức 2.18% và các ngân hàng đều có mức tăng trưởng lợi nhuận tốt Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận trung bình toàn ngành là 53.7% (Báo cáo Ngành - SBS, tháng 9/2018)
Nhƣ vậy, diễn biến của rủi ro tín dụng ngày càng phƣ́c tạp , không nhƣ̃ng ảnh hưởng tới hoạt động của nền kinh tế mà còn ảnh hưởng tới lợi nhuận của các ngân hàng Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài " Tác động
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của bài nghiên cứu chính là phân tích tác động của rủi ro tín dụng đối với khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam Từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp phù hợp để cải thiện tình hình tín dụng đồng thời nâng cao khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.2.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt đƣợc mục tiêu tổng quát thì đề tài cần đi sâu nghiên cứu các vấn đề cụ thể nhƣ sau:
Thƣ̣c trạng tín dụng và khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam giai đoạn
Tác động của rủi ro tín dụng tới khả năng sinh lời của của các NHTM Việt Nam
Đề xuất các nhóm giải pháp và gợi ý chính sách nhằm nâng cao khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi tổng quát: Hoạt động tín dụng và khả năng sinh lời c ủa các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 - 2017 nhƣ thế nào ? Các NHTM Việt Nam cần phải thực hiện những giải pháp nào để nâng cao khả năng sinh lời ? Để trả lời câu hỏi tổng quát trên, trong quá trình nghiên cứu, khóa luận cần tập trung trả lời các câu hỏi cụ thể sau:
Thực trạng rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay nhƣ thế nào ?
Rủi ro tín dụng được đo lường dựa trên các yếu tố nào ?
Từ các kết quả nghiên cứu , các ngân hàng thương mại Việt Nam cần thực hiện các giải pháp và chính sách gì để thúc đẩy nâng cao khả năng sinh lời ?
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 - 2017
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu 24 NHTMCP tại Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2007 đến năm 2017.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu: Phương pháp định lượng bằng cách sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình
4 phương tối thiểu (OLS) để ước lượng mô hình hồi quy đa biến, phương pháp hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model – FEM), phương pháp hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model – REM) Từ đó kiểm định các giả thuyết nghiên cứu nhằm tìm ra tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của NHTM
Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập, xử lý bao gồm:
Phương pháp nghiên cứu th ống kê mô tả: sử sụng dữ liệu thống kê, biểu đồ để mô tả thực trạng của rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2017
Phương pháp nghiên cứu định lượng : sử dụng mô hình phân tích hồi quy để nghiên cƣ́u, nhận dạng tác động của rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2017.
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Kế thừa và b ổ sung các điểm hạn chế của các bài nghiên cứu trước đây ở Việt Nam, tác giả thƣ̣c hiện nghiên cƣ́u đề tài này với k ỳ vọng có những đóng góp mới với dữ liệu đƣợc cập nhật rõ hơn, số liệu tài chính đƣợc thu thập theo năm, điều này giúp làm rõ hơn sự biến động của các yếu tố qua từng giai đoạn
Kết quả nghiên cứu đạt được sẽ đưa ra cho chúng ta cái nhìn rõ ràng về tầm ảnh hưởng của rủi ro tín dụng tới khả năng sinh lời của ngân hàng và tác động như thế nào Tƣ̀ đó , chúng ta có thể hiểu đƣợc sự quan trọng của hoạt động tín dụng cũng như ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và rút ra được những kinh nghiệm để đạt được mức tín dụng tốt nhất sao cho tại đó đảm bảo khả năng sinh lời cũng là tối ưu Tƣ̀ kết quả thƣ̣c nghiệm , bài nghiên cứu sẽ đƣa ra nhƣ̃ng giải pháp phù hợp để góp phần vào chiến lƣợc đảm bảo đồng thời cả hai mục tiêu giảm thiểu rủi ro tín dụng và tăng trưởng lợi nhuận
CẤU TRÚC CỦA BÀI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu bao gồm 5 chương:
CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm
CHƯƠNG 3: Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu
CHƯƠNG 5: Kết luận và khuyến nghị
Chương 1 đã trình bày sơ lược về tính cấp thiết của đề tài, cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu; làm rõ mục tiêu nghiên cứu và từ đó đề ra các câu hỏi nghiên cứu để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu; xác định đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và những đóng góp của đề tài mang lại
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi hoạt động của nền kinh tế Việc quản lý rủi ro có tầm quan trọng đặc biệt đối với các trung gian tài chính do họ có lợi thế hơn so với các tổ chƣ́c kinh tế khác Chính những lợi thế này giúp các ngân hàng khắc phục sự bất cân xứng thông tin giữa người đi vay và người cho vay trên thị trường tài chính (Jens Hagendorff, 2010)
Trong tất cả các loại rủi ro của ngân hàng thì rủi ro tín dụng được cho là rủi ro quan trọng nhất, nguy cơ cao nhất ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng (Boudriga và cộng sƣ̣ , 2009) Quan điểm đề cao tín dụng xảy ra trong giao dịch tiền vay, bên vay không trả các khoản nợ gốc và lãi trong thời gian đã th ỏa thuận (Koch và Macdonald , 2014) Quan điểm về rủi ro tín dụng cũng được Agarwal (2015) khẳng định rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng và tầm quan trọng của rủi ro tín dụng càng được thấy rõ trong cuộc khủ ng hoảng tài chính
Hiện nay có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng cụ thể :
Theo Fitch (1997): rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong ngh ĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất , rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
Theo Greuning và Bratanovic (1999), rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi , hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Điều này gây ra sƣ̣ cố đối với dòng tiền chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Đồng thời, Ernst và Young (2010) chỉ ra rằng tất cả các lãnh đạo trong tổ chƣ́c tín dụng đều quan tâm tới rủi ro tín dụng hơn cả trong các rủi ro của ngân hà ng, trong đó có 67% cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro ƣu tiên hàng đầu
Theo Coyle (2000), rủi ro tín dụng là khoản tổn thất từ việc khách không chi trả hoặc mất khả năng chi trả cho các khoản tín dụng đầy đủ và kịp thời
Rủi ro tín dụng là một rủi ro mặc định đối với một khoản nợ có thể phát sinh từ một người vay không thực hiện các khoản thanh toán bắt buộc (Basel I,
Rủi ro tín dụng là rủi ro mất vốn do khách hàng không thanh toán khoản vay đúng hạn hoặc các khoản tín dụng khác (Basel II, 2006)
Theo Jens Hagendorff (2010), rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay sẽ không đáp ứng được nghĩa vụ thanh toán nợ của mình
Theo Chen và Pan (2012), rủi ro tín dụng đƣợc xác định là mức độ biến động giá trị của các công c ụ nợ do sự thay đổi về chất lƣợng trong các khoản tín dụng của người đi vay và các đối tác
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 21/01/2013 thì rủi ro tín dụng là tổn thất tiềm tàng có khả năng xảy ra đối với TCTD khi khách hàng không thƣ̣c hiện hoặc không có khả năng thƣ̣c hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và /hoặc lãi khi đến hạn thanh toán theo cam kết với NHTM
2.1.2 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng ẩn chứa trong những khoản vay có vấn đề và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Có nhiều chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của một ngân hàng, trong các bài nghiên cứu trước đây về rủi ro tín dụng như Samuel và cộng sự
(2012), Gizaw và cộng sự (2015), Olawale và cộng sự (2015) thì các chỉ tiêu đại diện cho rủi ro tín dụng đƣợc đề cập chủ yếu từ các chỉ tiêu sau:
2.1.2.1 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ - NPLR
Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ nợ xấu (là nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 theo quy định tại Thông tư số 02/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam "Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài") trong tổng dư nợ của ngân hàng Để xác định tỷ lệ nợ xấu, ta dùng công thức sau:
Chỉ tiêu này thể hiện chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng đều cố gắng dùng các biện pháp để đƣa tỷ lệ nợ xấu về mức thấp nhất có thể và đảm bảo trong mức cho phép theo quy định từng thời kỳ
2.1.2.2 Dự phòng rủi ro tín dụng - LLPR
Dự phòng rủi ro tín dụng đƣợc trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản cho vay của ngân hàng
Trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, dự phòng là một khoản mục thuộc tài sản và làm giảm giá trị của tài sản Có, nhằm phản ánh sự suy giảm của tài sản trước những tổn thất có khả năng xảy ra Trong khi đó, trong bảng kết quả kinh
9 doanh, dự phòng là một khoản chi phí phi tiền mặt, đƣợc ghi nhận làm giảm lợi nhuận/vốn chủ sở hữu của ngân hàng
Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung:
Dự phòng chung đƣợc trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra, nhƣng chƣa xác định đƣợc khi trích lập dự phòng cụ thể
Dự phòng cụ thể đƣợc trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ đƣợc phân theo nhóm nợ cụ thể
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro hiện đƣợc quy định tại Thông tƣ số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Để xác định tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, ta dùng công thức sau:
KHÁI QUÁT VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI
Khả năng sinh lợi (profitability) là thước đo hiệu quả bằng tiền, đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng, là điều kiện cần nhƣng chƣa đủ để duy trì cân bằng tài chính Việc đánh giá khả năng sinh l ời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất , con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện Khả năng sinh l ời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản (Rose, 1996) Khả năng sinh lời được đo lường thông qua các tỷ số về khả năng sinh lời (Ehow, 2012)
Nhƣ vậy, ở cấp độ ngân hàng, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ Nhìn chung, khả năng sinh lời ít nhất cần đủ để đáp ứng đƣợc hai đòi hỏi cấp bách:
Đảm bảo duy trì vốn cho hoạt động của các ngân hàng (cho vay, đầu tƣ, )
Trả đƣợc các khoản gốc và lãi cho các nguồn huy động vốn
Lãi thu đƣợc từ các hoạt động sinh lời trong năm tài khóa có thể đƣợc trích chia cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ Nếu không tính tới thuế và lãi, khả năng sinh lời của tài sản cho phép tích lũy đủ tiền để đảm bảo vốn kinh doanh, đảm bảo hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng vốn và trả lợi nhuận đầu tƣ vốn cho các cổ đông Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn đề tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lời Trên thực tế, rủi ro trong hoạt động của ngân hàng do các cổ đông gánh chịu, lợi nhuận mà họ thu đƣợc không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của tài sản mà còn phụ thuộc vào chi phí huy động
Khả năng sinh lời quyết định đến hoạt động của một ngân hàng Nếu khả năng sinh lời cao, ngân hàng hoạt động hiệu quả, từ đó nâng cao uy tín và tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng hoạt động Chính vì vậy, bất kỳ ngân hàng nào cũng đặt mục tiêu tăng khả năng sinh lời lên hàng đầu và luôn đặt ra các chính sách, giải pháp để cải thiện khả năng sinh lời (Tạp chí Tài chính, 2015)
2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời có thể được đo bằng nhiều phương pháp khác nhau Theo đó, một số chỉ tiêu phổ biến nhƣ khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hƣ̃u (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hƣ̃u) - ROE; khả năng sinh l ời trên tổng tài sản (tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ) - ROA; tỷ lệ thu nhập lãi cận biên - NIM Mỗi chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau và cũng phản ánh những ý nghĩa khác nhau nhƣng không đáng kể Bài luận văn dựa theo nghiên cứu trước đây của Ali (2015), Gizaw và cộng sự (2015) dùng ROE và ROA là hai chỉ tiêu để đo khả năng sinh lời
2.2.2.1 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Asset)
Khả năng sinh lời trên tổng tài sản cũng đƣợc sử dụng phổ biến để đại diện cho khả năng sinh lời trong nhiều nghiên cứu trước đây chẳng hạn như: Nghiên cứu của Antoniadis và cộng sự (2010) trong nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của Ngân hàng Hy Lạp, Perry (2015) về mối quan hệ giữa quản trị rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng tại Zimbabwe hay Olawale và cộng sự (2015) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng tại Nigeria
Công thức tính ROA phổ biến nhƣ sau:
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Ý nghĩa: đo lường khả năng sinh lời trên một đồng tài sản có Tỷ số này phản ánh lợi nhuận của ngân hàng đƣợc sinh ra từ tổng tài sản và thể hiện tính hiệu quả
13 quản lý, khả năng quản trị trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng Tỷ số trên càng lớn thì ngân hàng hoạt động càng hiệu quả (Công ty Sirifin, 2008)
2.2.2.2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity)
Tỷ lệ thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu là tỷ số đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng Chỉ tiêu này thường được sử dụng đại diện cho khả năng sinh lời của ngân hàng trong nhiều nghiên cứu trước đây trên thế giới nhƣ: Ali (2015) trong nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Jordania, Ishmael (2015) khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng tại Ghana, hay nghiên cứu của Gizaw và cộng sự (2015) khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Ethiopia, Saeed và Zahih (2016) khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Anh
Công thức tính ROE phổ biến nhƣ sau:
𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Ý nghĩa: một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ số này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng và mức doanh lợi tương đối mà các cổ đông được hưởng khi đầu tư vào doanh nghiệp (Lưu Thị Hương,
MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là một hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các ngân hàng thương mại và là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng thương mại Đây là hoạt động mang lại thu
14 nhập lớn và chủ yếu cho các ngân hàng, nhƣng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và gây ra hậu quả nặng nề cho các ngân hàng Quy mô và mức độ thiệt hại mà rủi ro tín dụng gây ra nghiêm trọng hơn cả và có thể dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng, cũng nhƣ cả hệ thống ngân hàng (Chijoriga, 1997; Boahene et al, 2012)
Rủi ro và lợi nhuận là hai yếu tố luôn song hành cùng nhau Do vậy, khi xem xét tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của ngân hàng, chúng ta cần xem xét sự tác động đến cả hai chiều: cùng chiều và ngƣợc chiều nhau
Quan điểm thứ nhất cho rằng, rủi ro tín dụng tác động ngƣợc chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng Khi rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao làm lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống và ngƣợc lại Điều này có thể đƣợc giải thích: Khi ngân hàng cho những đối tƣợng khách hàng có mức độ rủi ro kinh doanh cao, cho vay dự án có độ rủi ro cao hoặc không kiểm soát tốt rủi ro tín dụng, lúc này ngân hàng đối mặt với xác suất không thu hồi đƣợc vốn và lãi từ khách hàng vay càng cao, dẫn đến thất thoát về tài sản, làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng (Achou và Tenguh, 2008; Alexiou and Sofoklis, 2009) Hơn nữa, rủi ro tín dụng càng tăng cao thì buộc ngân hàng trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng càng cao Chính những khoản chi phí dự phòng rủi ro này làm tăng chi phí của ngân hàng Do vậy, làm bào mòn lợi nhuận ngân hàng (Athanasoglou et al, 2008; Trujillo-Ponce, 2013)
Quan điểm thứ hai lại cho rằng, rủi ro tín dụng và lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với nhau, ngân hàng nào chấp nhận mức rủi ro cao thì cùng với đó là mức lợi nhuận cao, ngƣợc lại, rủi ro thấp thì lợi nhuận thấp Bởi vì những ngân hàng chấp nhận rủi ro cao thì họ cũng yêu cầu một mức lãi suất cho vay cao hơn cho những rủi ro đó Hoạt động tín dụng mặc dù chứa đựng rất nhiều rủi ro nhƣ vậy nhƣng xét ở một khía cạnh khác thì đây lại là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng Do vậy, hầu hết các ngân hàng chấp nhận rủi ro ở một mức độ nào đó vì mong muốn có mức lợi nhuận cao tương ứng với rủi ro mà hoạt động tín dụng mang lại Và khi các ngân hàng chấp nhận mức rủi ro tín dụng cao thì đồng thời cũng đưa ra mức lãi suất cho vay cao hơn tương xứng để bù đắp cho những rủi
15 ro mà ngân hàng có thể gánh chịu, vì thế có thể làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng (Maudos and Fernández de Guevara, 2004; Boahene et al, 2012) Hơn nữa, mặc dù rủi ro tín dụng cao nhƣng nếu các ngân hàng có biện pháp quản lý rủi ro tín dụng tốt thì có thể tìm thấy mức lợi nhuận cao nhƣng đồng thời cũng hạn chế những tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra Do vậy, các ngân hàng cũng có đƣợc nhiều cơ hội hơn để tăng năng suất tài sản, tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng và đồng thời có thể kiểm soát rủi ro tín dụng (Cooper et al, 2003; Tandelilin et al 2007)
Nhƣ vậy cho đến nay đã có có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng: có quan điểm cho rằng giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời ngân hàng luôn có sự đánh đổi nghĩa là có mối quan hệ cùng chiều với nhau, tức rủi ro tín dụng cao thì đồng thời mang đến cho ngân hàng khoản lợi nhuận cao hơn; nhƣng cũng đã có nhiều quan điểm cho rằng mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời ngân hàng là ngƣợc chiều nhau Cho nên có thể đƣa ra bằng chứng xác thực rằng liệu trên thực tế liệu rằng có hay không sự tồn tại mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng và nếu có thì rủi ro tín dụng tác động nhƣ thế nào đến lợi nhuận ngân hàng thì trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu này sẽ lƣợc khảo một cách chi tiết những nghiên cứu thực nghiệm trước đây nhằm củng cố thêm phần lý thuyết đã nghiên cứu.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM
2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại đã được sự quan tâm của nhiều nghiên cứu Rất nhiều nghiên cứu kể cả lý thuyết lẫn thực nghiệm đã đƣợc tiến hành để xem xét mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của ngân hàng Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu lại không thể hiện sự thống nhất: có rất nhiều nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ ngƣợc chiều giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của
16 ngân hàng, nhƣng cũng có những nghiên cứu thực nghiệm đƣa ra bằng chứng cho thấy giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời có mối quan hệ cùng chiều Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ rõ ràng giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng
Mối quan hệ giƣ̃a rủi ro tín dụng và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại là mối quan tâm của nhiều nhà nghiê n cứu để chứng minh rằng rủi ro tín dụng là một yêu tố tác động tới khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Và đƣa ra bằng chứng chứng minh rằng rủi ro tín dụng là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng (Achou and Tenguh, 2008; Hosna et al., 2009; Mekasha 2011; Tefera, 2011; Boahene, 2012; Funso et al., 2012); Musyoki and Kadubo, 2012)
Achou và Tenguh (2008) nghiên cứu sự tác động của quản lý rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Qatar Kết quả cũng cho thấy rằng rủi ro tín dụng tác động ngƣợc chiều đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng
Fadzlan Sufian và Royfaizal Razali Chong (2008) khi thực hiện nghiên cứu tại Philippines trong khoảng thời gian 1990 -2005, kết quả cho thấy ngân hàng Phipippines đối mặt với rủi ro tín dụng cao hơn có xu hướng nhận được mức lợi nhuận thấp hơn Kết quả thực nghiệm hàm ý rằng ngân hàng ở Philippines nên tập trung nhiều hơn vào quản lý rủi ro tín dụng đồng thời phải cải thiện tính minh bạch của hệ thống tài chính, từ đó sẽ giúp các tổ chức tài chính đánh giá rủi ro tín dụng có hiệu quả hơn, và tránh được một số trường hợp có nguy cơ rủi ro tín dụng xảy ra cao
Tương tự như kết quả trên, khi tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận các ngân hàng thương mại tại Trung Đông và Bắc Phi (MENA) trong giai 1989-2005, kết quả cũng đã tìm thấy rủi ro tín dụng có tác động tích cực và đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng (Ben-Naceur and Omran, 2008)
Athanasoglou (2008) khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Hy Lạp trong giai đoạn 1985 - 2001 đã tìm thấy rằng rủi ro tín dụng tác động ngƣợc chiều đến lợi nhuận ngân hàng Kết quả này đƣợc giải thích là bởi vì khi ngân hàng cho vay những khách hàng, hay những dự án có rủi ro cao hơn, điều này cũng có nghĩa là ngân hàng đang tích tụ ngày càng nhiều những khoản vay có khả năng không thu hồi đƣợc, hay mức độ tổn thất đối với những khoản vay này là rất lớn và điều này dẫn đến làm giảm khả năng sinh lời của các ngân hàng Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy rằng những người quản lý hệ thống ngân hàng Hy Lạp dường như đang cố gắng để tối đa hóa lợi nhuận, do vậy đã áp dụng một chiến lược phòng ngừa rủi ro, chủ yếu thông qua các chính sách cải thiện kiểm soát và giám sát rủi ro tín dụng
Alexiou và Sofoklis (2009) cũng đã tìm thấy kết quả tương tự khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng tại Hy Lạp trong giai đoạn 2000 - 2007 Nghiên cứu này cũng cho rằng việc các ngân hàng tiếp cận với những khoản vay có rủi ro tín dụng cao và gây ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận ngân hàng Do vậy các hệ thống giám sát của các ngân hàng tại Hy Lạp đã nâng cao các kỹ thuật quản lý rủi ro, đƣa ra chính sách cho vay nghiêm ngặt hơn để có thể kiểm soát rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng
Trong nghiên cứu của Honsa, A và cộng sự (2009) về quản trị rủi ro tín dụng và lợi nhuận của ngân hàng thương mại Thụy Điển giai đoạn 2000 - 2008 tìm thấy rằng tỷ lệ nợ xấu (NPLR) và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng (được đo lường bằng chỉ tiêu ROE), trong đó tỷ lệ nợ xấu ảnh hưởng đến lợi nhuận nhiều hơn so với tỷ lệ an toàn vốn, và mức độ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với mỗi ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu là không giống nhau
Tefera (2011) và Mekasha (2011) cũng đều có nghiên cứu tiến hành xem xét ảnh hưởng của quản lý rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Ethiopia, thông qua sử dụng các số liệu thứ cấp được thu thập từ các
18 báo cáo hàng năm của các ngân hàng thương mại và khảo sát các dữ liệu sơ cấp từ các nhà quản lý ngân hàng và nhân viên của ngân hàng Kết quả tương tự, cũng cho thấy rằng có một mối quan hệ ngƣợc chiều giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại ở Ethiopia
Tương tự một nghiên cứu thực nghiệm khác được tiến hàng tại Kenya, bằng cách sử dụng mô hình hồi quy để nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng (Aduda and Gitonga ,2011)
Một nghiên cứu khác có liên quan khi đánh giá tác động của các yếu tố rủi ro cụ thể của ngân hàng, và môi trường ngân hàng nói chung đến hiệu quả hoạt động của 43 ngân hàng thương mại hoạt động của 6 trong số các nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) trong giai đoạn 1998-2008 Thông qua việc sử dụng phân tích hồi quy theo mô hình tác động cố định (FEM), kết quả cũng ủng hộ trường phái cho rằng tồn tại mối tương quan dương giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng Và để giải thích cho kết quả này thì nghiên cứu cũng kết luận rằng mối tương quan dương này là hoàn toàn có thể đúng như thuyết đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận, tức là khi ngân hàng chấp nhận rủi ro tín dụng cao thì cũng đồng thời nhận đƣợc mức lợi nhuận cao hơn để bù đắp cho phần rủi ro phải gánh chịu và ngƣợc lại (Al- Khouri, 2011)
Tại Nigeria, Kargi (2011) và Kolapo (2012) với hai nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng vào lợi nhuận của các ngân hàng tại Nigeria giai đoạn 2004 - 2008 và giai đoạn 2000 - 2010, thì kết quả nghiên cứu của cả hai đều phát hiện rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận Trong các biến đo lường rủi ro tín dụng thì tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng tác động ngƣợc chiều lên ROA trong khi đó tỷ lệ cho vay và ứng trước lại tác động cùng chiều lên ROA
Prakash và Poudel (2012) với nghiên cứu về tác động của quản lý rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của 31 ngân hàng thương mại ở Nepal giai đoạn 2001 -
2011, tác giả cũng sử dụng khá hạn chế biến độc lập Bên cạnh hai biến đƣợc sử dụng nhƣ trong nghiên cứu của Honsa và cộng sự (2009) thì bài nghiên cứu sử dụng thêm biến đo lường chi phí của mỗi khoản vay Kết quả cho thấy, tỷ lệ nợ xấu (DR) và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tác động ngƣợc chiều lên ROA và có ý nghĩa thống kê trong khi đó biến đo lường chi phí cho mỗi khoản vay (CLA) cũng tác động ngược chiều lên ROA nhƣng không có ý nghĩa thống kê
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Theo các nghiên cứu trước đây trên thế giới, khi nghiên cứu các tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của ngân hàng, chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu thường đƣợc dùng để đại diện cho rủi ro tín dụng Chẳng hạn nhƣ Aduda và Gitonga (2011) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Kenya giai đoạn 2000-2009, Li và Zou (2014) khi nghiên cứu tác động của quản trị rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại tại Châu Âu, Ali (2015) khi nghiên cứu tác động của quản trị rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Jordan, Gyamerah và Amoah (2015) khi nghiên cứu các tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng tại Ghana giai đoạn 1999-2010, Gizaw và cộng sự (2015) khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại tại Ethiopia
Kết quả từ các nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ nợ xấu có tác động ngƣợc chiều đến khả năng sinh lời Mới đây nhất theo Seed và Zahid (2016) khi nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Vương Quốc Anh giai đoạn 2007-2015, tỷ lệ nợ xấu cũng được sử dụng đại diện cho rủi ro tín dụng Với tỷ lệ nợ xấu là chỉ số phổ biến khi thực hiện nghiên cứu của tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời, luận văn đƣa ra giả thuyết sau:
Giả thuyết 1(H1): Tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ ngƣợc chiều với khả năng sinh lời
Ngoài tỷ lệ nợ xấu, thì tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cũng đƣợc các nghiên cứu trước đây sử dụng để đại diện cho rủi ro tín dụng Cụ thể, theo Kolapo và cộng sự (2012) khi nghiên cứu rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Nigeria, Gizaw và cộng sự (2015) khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại tại Ethiopia của 8 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2003-2012, Olawale và cộng sự (2015) khi nghiên cứu rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Nigeria giai đoạn 2000-2013 Do đó, tác giả thực hiện xây dựng giả thuyết sau:
Giả thuyết 2 (H2): Tỷ lệ trích lập dự phòng có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời
Trong các bài nghiên cứu trước đây, tỷ lệ đòn bẩy tài chính cũng được sử dụng nhƣ đại diện cho rủi ro tín dụng nhƣ Ali (2015), Gizaw và cộng sự (2015) Các kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều của tỷ lệ đòn bẩy tài chính và ROA, mối quan hệ ngƣợc chiều của tỷ lệ an toàn vốn và ROE Theo Lê Thanh Ngọc và cộng sự (2015) thì ngoài chỉ tiêu tỷ lệ an toàn vốn đại diện cho đòn bẩy tài chính, tính trên khía cạnh rủi ro tín dụng thì chỉ tiêu hệ số đòn bẩy tài chính LEV cũng cần đƣợc quan tâm xem xét đến
Tương tự kết quả của Samuel và cộng sự (2012), Ali (2015) khi nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời của ngân hàng đã dùng biến LEV để đại diện cho rủi ro tín dụng, để bắt kịp theo quy ƣớc quốc tế và tạo tính mới của nghiên cứu tại Việt Nam, luận văn thực hiện xây dựng giải thuyết H3 nhƣ sau:
Giả thuyết 3 (H3): LEV có mối quan hệ tương quan cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng
Quy mô ngân hàng thường được đo lường qua tổng tài sản Trong các nghiên cứu trước đây, các tác giả Saeed và Zahid (2016), Indiael và Dickson (2013), Ishmael (2015), Olawale và cộng sự (2015), Hoffman (2011), Safari (2012) đều cho thấy sự ảnh hưởng cùng chiều của quy mô tổng tài sản đến khả năng sinh lời ROE và ROA Trong phạm vi luận văn tác giả đặt ra giả thuyết H4 nhƣ sau:
Giả thuyết 4 (H4): Quy mô tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời
Qua thực tiễn hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, một chỉ tiêu luôn được các ngân hàng quan tâm và được Ngân hàng Nhà nước kiểm soát hàng năm đó chính là tỷ lệ tăng trưởng tín dụng Chỉ tiêu này được Ngân hàng Nhà nước quy định cho từng ngân hàng thương mại cổ phần khi thực hiện kinh doanh trong năm kế tiếp Vì vậy, trong phạm vi luận văn tác giả đƣa biến tỷ lệ tăng trưởng tín dụng hàng năm để có tính mới của đề tài Như vậy, luận văn đề xuất giả thuyết sau:
Giả thuyết 5 (H5): Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời
Ngoài các biến xuất phát từ chính hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần, khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời từ các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới, các tác giả cũng đưa các biến từ nền kinh tế vĩ mô là tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Theo Ishmael (2015), Saeed và Zahid (2016), Liu và Wilson (2010), Safari (2012), Yilmaz (2013), Rachdi (2013), Salas và Saurina (2002), Hu và công sự (2004) luận văn cũng xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết H6, H7 nhƣ sau:
Giả thuyết 6 (H6): Tỷ lệ lạm phát có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời,
Giả thuyết 7 (H7): Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tác động cùng chiều với khả năng sinh lời
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Mô hình mà tác giả nghiên cƣ́u dƣ̣ kiến sẽ sƣ̉ dụng dƣ̣a vào mô hình nghiên cƣ́u của Million Gizaw và c ộng sự (2015), Perry (2015) để đƣa ra mô hình thực nghiệm đánh giá tác động của rủi ro tín dụ ng tới khả năng sinh lời của các NHTM Trong đó biến phụ thuộc ROA và ROE, biến độc lập tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng đƣợc sử dụng theo nghiên cứu của Million Gizaw và cộng sự; các biến độc lập còn lại đƣợc sử dụng theo nghiên cứu của Perry
Qua thực tiễn hoạt động và đặc điểm của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, tác giả xây dựng mô hình với một số điều chỉnh cho phù hợp, mô hình cụ thể nhƣ sau:
Các biến trong mô hình: i đại diện cho ngân hàng t đại diện cho thời gian nghiên cƣ́u tƣ̀ năm 2007 - 2017
𝑹𝑶𝑨 𝒊,𝒕 và 𝑹𝑶𝑬 𝒊,𝒕 là biến phụ thuộc, đo lường lợi nhuận i năm t
𝑳𝑳𝑷𝑹 𝒊,𝒕 : Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng ngân hàng i năm t
𝑳𝑬𝑽 𝒊,𝒕 : Hệ số đòn bẩy tài chính ngân hàng i năm t
𝑺𝑰𝒁𝑬 𝒊,𝒕 : Quy mô tổng tài sản của ngân hàng i năm t
𝑳𝑮 𝒊,𝒕 : Tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng i năm t
𝑪𝑷𝑰 𝒊,𝒕 : Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam tạ i thời điểm i năm t
𝑮𝑫𝑷 𝒊,𝒕 : Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tại thời điểm i năm t
CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU
Tác giả xây dựng hai mô hình nghiên cứu với hai chỉ tiêu đại diện cho khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần là khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lời trên tổng tài sản Ngân hàng có vốn điều lệ cao, hệ số đòn bẩy tài chính thấp thông thường sẽ thấy khả năng sinh lời trên tổng tài sản cao nhƣng khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu thấp Khi phân tích ROE thông thường sẽ làm mất đi ảnh hưởng của hệ số đòn bẩy tài chính, Vì vậy ROA thường đƣợc dùng khi phân tích khả năng sinh lời của các ngân hàng (IMF, 2002)
ROE đƣợc sử dụng phổ biến để đại diện cho khả năng sinh lời khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng nhƣ Gizaw và cộng sự (2014), Samuel và cộng sự (2015), Saeed và Zahid (2016) ROE là khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu, theo Olawale và cộng sự (2015), ROE đƣợc gọi là số nhân vốn chủ sở hữu, nó phản ánh việc lợi nhuận thu về của các cổ đông trên phần vốn góp của mình Nó cho thấy hiệu quả trong việc sử dụng đồng vốn góp ROE đƣợc tính bằng tỷ lệ của thu nhập ròng sau thuế trên tổng vốn điều lệ của ngân hàng (Perry, 2015)
ROA cũng thường được sử dụng khi phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng Vì khi sử sụng ROE sẽ làm lu mờ tác động của đòn bẩy tài chính theo Olawale và cộng sự (2015), nên chỉ tiêu ROA đƣợc dùng để đại diện cho khả năng sinh lời Chỉ số này đƣợc tính là tỷ lệ của thu nhập ròng và tổng tài sản Nó đo lường hiệu quả quản lý tài sản trong việc tạo ra lợi nhuận từ tài sản khan hiếm của ngân hàng Ngân hàng có ROA càng cao thì hiệu quả trong việc quản lý tài sản càng cao và cho thấy ngân hàng đó hoạt động tốt (Gizaw và cộng sự, 2015)
3.3.2.1 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ - NPLR
Theo IMF, nợ xấu là các khoản nợ mà bên vay thanh toán gốc và lãi của khoản vay trễ hạn từ 90 ngày trở lên hoặc dưới 90 ngày nhưng có nguy cơ không thanh toán được nợ Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, nợ xấu phát sinh càng nhiều có thể dẫn đến khủng hoảng tín dụng (Perry,
Nợ xấu gây ra cho ngân hàng mối nguy cơ mất vốn Vì vậy, trong các nghiên cứu trước đây của Josiah-James (2011), Li và Zou (2014), Ali (2015), Gizaw và cộng sự (2015), Olawale và cộng sự (2015), Samuel và cộng sự (2012) khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời đều sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để đại diện cho rủi ro tín dụng Theo kết quả của các bài nghiên cứu thì tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả cũng kỳ vọng tìm ra mối tương quan ngược chiều giữa tỷ lệ nợ xấu và khả năng sinh lời trong cả hai mô hình
Chỉ tiêu này được đo lường bằng cách lấy tổng nợ xấu (nhóm nợ từ 3 đến 5 theo tiêu chuẩn phân loại của Ngân hàng Nhà nước) chia cho tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng, theo số liệu báo cáo tài chính qua các năm của các ngân hàng thương mại cổ phần
3.3.2.2 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng - LLPR
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng – LLPR là khoản đƣợc trích ra từ lợi nhuận để dự phòng cho khả năng mất vốn của các khoản nợ xấu Việc trích lập dự phòng này đem lại an toàn cho người gửi tiền, phòng chống khủng hoảng tín dụng có thể ảnh hưởng đến thanh khoản và các khoản tiền gửi của họ
Theo ủy ban Basel thì các ngân hàng có thể trích lập dự phòng dưới vốn điều lệ Theo Gizaw và cộng sự (2015), Olawale và cộng sự (2015), các kết quả cho thấy
36 dự phòng rủi ro tín dụng tác động ngƣợc chiều với khả năng sinh lời Trong phạm vi luận văn, tác giả kỳ vọng tìm ra mối quan hệ ngƣợc chiều giữa tỷ lệ trích lập dự phòng và khả năng sinh lời trên cả hai mô hình Nếu có quan hệ ngƣợc chiều giữa tỷ lệ trích lập dự phòng và khả năng sinh lời cho thấy ngân hàng có dự phòng càng cao thì khả năng sinh lời càng thấp, điều này cũng dễ dàng giải thích do dự phòng đƣợc trích từ lợi nhuận của ngân hàng Chỉ tiêu này được đo lường bằng cách lấy tỷ lệ trích lập dự phòng và tổng dƣ nợ của các ngân hàng qua các năm
3.3.2.3 Hệ số đòn bẩy tài chính - LEV
Hệ số đòn bẩy tài chính bắt đầu đƣợc chú ý nhiều hơn sau cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn từ năm 2007 – 2009 Sau cuộc khủng hoảng cho thấy xu hướng tỷ lệ an toàn vốn thấp dần trước khủng hoảng không phản ánh giảm rủi ro trong hoạt động của ngân hàng Khi đó, sự tăng cao của hệ số đòn bẩy tài chính trước khủng hoảng và giảm sau khủng hoảng cho thấy đây là chỉ số phản ánh rủi ro chính xác hơn Luận văn sử dụng LEV nhƣ đại diện của khía cạnh rủi ro từ vốn, và đƣợc tính bằng hệ số của tổng dƣ nợ trên tổng vốn chủ sở hữu (Ali, 2015)
Quy mô tổng tài sản ngân hàng - SIZE
Quy mô tổng tài sản ngân hàng đƣợc đƣa vào mô hình để khảo sát tác động đến khả năng sinh lời Quy mô ngân hàng được đo lường bằng cách lấy logarit cơ số tự nhiên của giá trị tổng tài sản của các NHTMCP qua các năm Do giá trị tổng tài sản lớn và có chênh lệch nhiều so với giá trị của các biến khác, nếu đƣa vào mô hình có thể làm sai lệch kết quả của mô hình (Võ Hồng Đức và cộng sự, 2014) Các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới khi dưa biến quy mô tài sản ngân hàng thông thường đều đo lường bằng cách lấy logarit cơ số tự nhiên của giá trị tổng tài sản nhƣ Syafri (2012), Samuel và cộng sự (2012), Perry (2015)
Các lý thuyết kinh tế cho rằng các ngân hàng có quy mô lớn có thể nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc thu hút lƣợng lớn khách hàng bởi vì ngân hàng có
37 thể cung cấp dịch vụ mới mức giá thấp do khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô, từ đó mang lại lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng Ngoài ra, các ngân hàng có quy mô lớn có thể nâng cao sức mạnh của ngân hàng trên thị trường thông qua hình ảnh thương hiệu mạnh (Kosak và COK, 2008) Do đó có nhiều nghiên cứu trước đây đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa quy mô ngân hàng (SIZE) và lợi nhuận ngân hàng nhƣ: Kosmidou (2008), Flamini và cộng sự (2009)
Tuy nhiên nếu ngân hàng mở rộng quy mô quá lớn, vƣợt quá khả năng quản lý và kiểm soát của ngân hàng, lúc này sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho việc quản lý, ngân hàng có khả năng không kiểm soát chặt chẽ đƣợc chi phí phát sinh đặc biệt nhƣ chi phí hành chính, chi phí nhân sự, , đồng thời có thể khiến các nhà quản trị dễ mắc phải những sai lầm trong việc đưa ra quyết định, từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng (Pasiouras và Kosmidou, 2007); Stiroh và Rumble,
Tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm - LG
Giai đoạn nghiên cứu từ năm 2007 đến năm 2017 có tốc độ tăng trưởng tín dụng thay đổi liên tục Tốc độ tăng trưởng tín dụng nóng từ năm 2007 đến năm
NGUỒN DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nghiên cứu đƣợc thu thập từ báo cáo tài chính của 24 NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017 Do hiện nay chƣa có hệ
40 thống tổng hợp các dữ liệu chính thức, vì vậy tác giả thu thập báo cáo tài chính, báo cáo thường niên thủ công từ các website chính thống của các ngân hàng: http://vietsock.vn/, http://cafef.vn/ Riêng tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát đƣợc lấy theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (http://data.worldbank.org/)
Theo nhƣ thống kê của NHNN Việt Nam đƣợc cập nhật vào ngày 31/12/2017, hiện nay có tất cả 35 NHTM trong nước, tác giả chỉ lấy 24 NHTM, bỏ đi các ngân hàng còn lại Nguyên nhân là do số liệu của các NHTM khác trong giai đoạn nghiên cứu có một số ngân hàng sát nhập, một số ngân hàng không công bố thông tin tổng nợ xấu (nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 - theo chỉ tiêu phân loại của quy định của NHNN) Các ngân hàng thương mại cổ phần được lấy mẫu nghiên cứu bao gồm:
- 03 ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước: NHTMCP Công thương Việt Nam, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam, NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- 21 ngân hàng thương mại cổ phần có vốn tư nhân: NHTMCP An Bình, NHTMCP Á Châu, NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, NHTMCP Phát triển TPHCM, NHTMCP Kiên Long, NHTMCP Quân Đội, NHTMCP Hàng hải Việt Nam, NHTMCP Nam Á, NHTMCP Quốc dân, NHTMCP Phương Đông, NHTMCP Xăng dầu Petrolimex, NHTMCP Sài Gòn, NHTMCP Đông Nam Á, NHTMCP Sài Gòn Công Thương, NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội, NHTMCP Kỹ thương Việt Nam, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam, NHTMCP Việt Á, NHTMCP Quốc tế Việt Nam, NHTMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng, NHTMCP Bản Việt
Bảng 3.2: Danh sách các ngân hàng và thời gian thu thập số liệu
STT Tên viết tắt Tên ngân hàng Ngày thành lập
Thời gian thu thập dữ liệu
1 ABB Ngân hàng TMCP An
2 ACB Ngân hàng TMCP Á Châu 04/06/1993 2007-2017
3 BID Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam 26/04/1957 2007-2017
4 CTG Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 26/03/1988 2007-2017
5 EIB Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam 24/05/1989 2007-2017
6 HDB Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà TPHCM 11/02/1989 2007-2017
7 KLB Ngân hàng TMCP Kiên
8 MBB Ngân hàng TMCP Quân Đội 04/11/1994 2007-2017
9 MSB Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam 12/07/1991 2007-2017
10 NamA Ngân hàng TMCP Nam Á 21/10/1992 2007-2017
11 NVB Ngân hàng TMCP Quốc
12 OCB Ngân hàng TMCP Phương Đông 10/06/1996 2007-2017
13 PGB Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex 13/11/1993 2007-2017
14 SCB Ngân hàng TMCP Sài
15 SeaB Ngân hàng TMCP Đông
16 SGB Ngân hàng TMCP Sài
17 SHB Ngân hàng TMCP Sài
18 STB Ngân hàng TMCP Sài
19 TCB Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam 27/09/1993 2007-2017
20 VCB Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 01/04/1963 2007-2017
21 VietA Ngân hàng TMCP Việt Á 04/07/2003 2007-2017
22 VIB Ngân hàng TMCP Quốc tế
23 VPB Ngân hàng TMCP Việt
24 VietCapital Ngân hàng TMCP Bản
3.4.2.1 Phân tích tương quan
Trước khi thực hiện phân tích hồi quy, điều kiện cần phải thực hiện chính là phân tích tương quan để khảo sát mối tương quan giữa các biến độc lập, biến kiểm soát và biến phụ thuộc Phân tích tương quan cho thấy mức độ tương quan giữa các
43 biến, tác giả có thể bước đầu sử dụng kết quả này để chọn lọc các biến ban đầu để mô hình hiệu quả (Saeed và Zahid, 2016)
Phân tích tương quan cũng cho ra những dự báo đầu tiên về kết quả của mô hình nghiên cứu Ngoài ra, dựa vào kết quả phân tích tương quan tác giả bước đầu phát hiện những dấu hiệu về hiện tƣợng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập Từ đó tác giả thực hiện các bước kiểm định cần thiết và điều chỉnh mô hình nghiên cứu cho phù hợp Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình tương quan tuyến tính với nhau Các biến độc lập có tương quan tuyến tính chặt chẽ làm tăng độ lệch chuẩn của các hệ số hồi quy và giảm ý nghĩa thống kê làm cho các hệ số hồi quy kém ý nghĩa, ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
Luận văn sử dụng kiểm định đa cộng tuyến 1 lần Kiểm định này là thông qua phân tích tương quan nhằm kiểm định đa cộng tuyến của từng cặp biến độc lập Phân tích tương quan được sử dụng nhằm xem xét mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc lẫn nhau Trong trường hợp các biến độc lập có mối tương quan cao (lớn hơn hoặc bằng 0.8) và có ý nghĩa, đây có thể là dấu hiệu của hiện tƣợng đa cộng tuyến (Dong and Minh, 2013)
Dữ liệu nghiên cứu là loại dữ liệu bảng, tương tự các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới, luận văn thực hiện phân tích hồi quy thuông thường trên dữ liệu bảng qua ba mô hình: Pooled Regression – OLS, Fixed effects model – FEM và Random effects model – REM từ đó so sánh mô hình Pool OLS và Fixed effects model, dùng kiểm định Husman để so sánh lựa chọn giữa mô hình Fixed effects model và Random effects model (Olawale và cộng sự, 2015) Qua kết quả so sánh và kiểm định tác giả lựa chọn mô hình phù hợp nhất cho bài nghiên cứu
Pooled Regression – OLS là mô hình hồi quy kết hợp tất cả các quan sát Trong mô hình này phần dƣ đƣợc cho là không thay đổi theo thời gian và không quan sát được Tuy nhiên trường hợp phần dư không tương quan với biến độc lập thì ước lượng hồi quy sẽ bị ảnh hưởng Nếu phần dư tương quan với biến độc lập nào thì lại làm cho hồi quy Pool – OLS không hiệu quả Việc bỏ qua phần dƣ và cho rằng phần dư này không thay đổi theo thời gian thường trên thực tế không xảy ra Vì vậy, mô hình hồi quy đơn thuần Pool – OLS thường gặp phải nhiều nhược điểm và cho ra những kết quả hồi quy chƣa thật sự chuẩn xác Để khắc phục nhƣợc điểm của mô hình Pool – OLS thì hai mô hình FEM và REM thường được sử dụng Mô hình FEM với giả định mỗi quan sát đều có ảnh hưởng riêng đến biến độc lập trong mô hình Từ đó, phân tích mối tương quan giữa các phần dư của từng quan sát đến biến độc lập nhằm kiểm soát và tách ảnh hưởng các đặc điểm riêng biệt ra khỏi biến độc lập Qua đó, ƣớc lƣợng hệ số hồi quy, tác động thực của biến độc lấp đến biến phụ thuộc có hiệu quả hơn Mô hình hồi quy FEM là phù hợp với dữ liệu nghiên cứu khi phần dư tương quan đến các biến độc lập
Mô hình REM đƣợc sử dụng nhằm phân tích thêm tác động của những yếu tố riêng biệt tương quan đến biến độc lập theo thời gian Mô hình tách phần tác động của yếu tố riêng theo không gian và thời gian ra khỏi các biến độc lập, tạo phần dƣ biến thiên Mô hình REM phù hợp khi phần dư không tương quan với biến độc lập Tùy thuộc vào dữ liệu nghiên cứu mà tác giả sử dụng mô hình phù hợp
Bảng 3.3: Bảng lý thuyết kiểm định lựa chọn mô hình
So sánh Kiểm định thực hiện Gỉa thuyết kiểm định
Xét 2 mô hình : OLS : Y i,t = β 0 + βkX kit +à it
H 1 : có ít nhất một α m # α n (chọn FEM)
Nếu kiểm định có p-value < mức ý nghĩa α thì giả thuyết H 0 bị bác bỏ, hay nói cách khác là mô hình FEM phù hợp hơn mô hình Pooled OLS
Xét 2 mô hình : FEM : Y i,t = β 0 + β k X kit +à it REM : Y i,t = β 0 + β k X kit +εi+à it Giả thuyết kiểm định :
H 0 : các biến X không tương quan thành phần ngẫu nhiên (chọn REM)
H 1 : các biến X có tương quan thành phần ngẫu nhiêu (chọn FEM)
Nếu kiểm định có p-value < mức ý nghĩa α thì giả thuyết H 0 bị bác bỏ, hay nói cách khác là mô hình FEM phù hợp hơn mô hình REM
(Nguồn: Tổng hợp theo nghiên cứu của tác giả)
3.4.2.3 Kiểm định về phân phối chuẩn của phần dƣ
Giả định quan trọng của mô hình hồi quy tuyến tính là phần dƣ có phân phối chuẩn, giả định này còn có ý nghĩa hơn cả giả định các biến trong mô hình có phân phối chuẩn Phần dƣ của mô hình có thể không phân phối chuẩn nguyên nhân: sai sót trong quá trình thu thập dữ liệu, sử dụng mô hình không phù hợp, phương sai thay đổi… vì vậy việc kiểm định về phân phối chuẩn của phần dƣ cũng thật sự cần thiết
Có hai phương pháp chính để kiểm định phân phối chuẩn Phương pháp vẽ đồ thị nhƣ: xây dựng biểu đồ tần số Histogram, sử dụng biểu đồ tần số Q-Q plot, P-
P plot, đồ thị dotplot, graph box Trong phạm vi bài nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp vẽ đồ thị để kiểm định phân phối chuẩn của phần dư là xây dựng biểu đổ tầng số Histogram (Perry, 2015)
3.4.2.4 Kiểm định phương sai thay đổi
Một trong những giả thuyết quan trọng của mô hình hồi quy là phương sai của sai số thay đổi Phương sai số thay đổi sẽ làm mất tính hiệu quả của ước lượng, vì vậy cần thiết phải tiến hành kiểm định giả thuyết phương sai của sai số thay đổi
Trong mô hình hồi quy chuẩn nếu xuất hiện phương sai thay đổi sẽ gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng Các ƣớc lƣợng của hệ số hồi quy vững nhƣng không hiệu quả, dẫn đến các kiểm định hệ số hồi quy không còn đáng tin cậy Từ đó đƣa ra các kết luận, đánh giá sai lệch về kết quả và chất lƣợng của mô hình hồi quy, ngộ nhận các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu có ý nghĩa