1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chung về quản lý chất lượng cung cấp nước sạch trên địa bàn thành phố cao lãnh – tỉnh đồng tháp

45 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 477,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia “thiếu nước” do lượng nước mặt bình quân đầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840 m3, thấp hơn chỉ tiêu 4.000 m3người mỗi năm của Hội Tài nguyên Nước quốc tế (IWRA). Đây được xem là một nghịch lý đối với một quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc như nước ta. Đồng Bằng Sông Cửu Long là một trong những vùng dồi dào nước trên thế giới với tổng dòng chảy trung bìnhnăm của sông Mekong là 475 tỉ m3, trong đó mưa tại chỗ ở ĐBSCL chiếm 11%, tức chiếm 52 tỉ m3; tuy nhiên nhiều hộ dân nơi đây vẫn thiếu nước cho lao động sản xuất, đặc biệt là nguồn nước sạch đảm bảo nhu cầu sinh hoạt trong đời sống hàng ngày. Liên Hiệp Quốc (LHQ) cảnh báo, tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt và các điều kiện vệ sinh môi trường là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề đối với đời sống con người. Theo kết quả thống kê của bộ Y Tế, có khoảng 2025% số nhà máy nước hiện nay không đạt yêu cầu vệ sinh. 20% không đạt chỉ tiêu lý hóa, 10 – 15% không đạt yêu cầu tiêu chuẩn vi sinh, hàm lượng Clo dư không đảm bảo... Nghiên cứu của Nguyễn Văn Sánh và ctv. (2010), cho thấy hầu hết nguồn nước dưới đất đều bị nhiễm Coliform với mật số cao (42.400 MPN100 mL). Chất lượng nước cấp SHNT nhiều nơi không đảm bảo quy chuẩn quy định, nhất là chỉ tiêu sắt, asen (As) (Nguyễn Việt Kỳ, 2009; Đặng Ngọc Chánh và ctv., 2010). Bên cạnh đó, việc khai thác và cung cấp nước sạch hiện nay kém hiệu quả, theo nhận định của Cục Y tế Dự phòng – Bộ Y tế thì còn nhiều mô hình, cơ chế quản lý khai thác các công trình cấp nước tập trung nhiều nơi chưa hiệu quả và thiếu bền vững. Phương thức hoạt động cơ bản vẫn mang tính phục vụ, chưa chuyển được sang phương thức dịch vụ, thị trường hàng hóa (Bộ Y tế, 2012). Việc lựa chọn mô hình quản lý ở nhiều nơi chưa phù hợp, còn tồn tại nhiều mô hình quản lý thiếu tính chuyên nghiệp, như mô hình xã, cộng đồng hay tổ hợp tác quản lý. Năng lực cán bộ, công nhân quản lý vận hành còn yếu. Nhiều địa phương chưa ban hành quy chế quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nước tập trung (Bộ Y tế, 2012). Xuất phát từ thực tiễn trên, để góp phần cải thiện nâng cao năng lực quản lý chất lượng cung cấp nước sạch cho người dân, chúng ta cần phải có các giải pháp quản lý thích hợp sao cho chất lượng nước sạch đạt chuẩn tốt nhất. 2. Mục tiêu nghiên cứu Đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân ở thành phố Cao Lãnh. Phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nâng cao quản lý chất lượng cung cấp nước sạch. Phân tích đánh giá mức độ ô nhiễm các nguồn nước đang khai thác hiện nay ở thành phố Cao Lãnh. Cung cấp nước sạch đạt QCVN 01:2009BYT. Giải pháp tối ưu, ứng dụng khoa học công nghệ, các chương trình giám sát tự động vào công nghệ xử lý và hệ thống đường ống phân phối nước sạch. 3. Tình hình nghiên cứu Hiện nay, được biết chưa có một đề tài nào được viết có nội dung như trên. Đề tài liên quan: “Đánh giá thực trạng cấp nước và hiện trạng chất lượng nước cấp ở vùng nông thôn tỉnh Tiền Giang”. Ngô Thụy Diễm Trang (2018), Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các đơn vị tham gia kinh doanh cung cấp nước sinh hoạt cho người dân. Nguồn nước thô đang nước khai thác, sử dụng. Chất lượng nguồn nước thô và nước sạch. Mức độ hài lòng của người dân. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Không gian: Trên địa bàn Thành phố Cao Lãnh – tỉnh Đồng Tháp. Thời gian: Phân tích hiện trạng giai đoạn hiện nay (Năm 2015 2019). Định hướng phát triển đến năm 2030. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp thu thập số liệu Thu thập số liệu là một việc rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học (NCKH). Mục đích của thu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát và thực hiện thí nghiệm) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giả thuyết hay các vấn đề mà nghiên cứu đã đặt ra. Có 2 loại số liệu thu thập là: thứ cấp và sơ cấp. Sơ liệu thứ cấp: có đặc điểm là chỉ cung cấp các thông tin mô tả tình hình, chỉ rõ qui mô của hiện tượng chứ chưa thể hiện được bản chất hoặc các mối liên hệ bên trong của hiện tượng nghiên cứu. Vì số liệu thứ cấp, dù thu thập từ bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp, nó cũng là những thông tin đã được công bố nên thiếu tính cập nhật, đôi khi thiếu chính xác và không đầy đủ. Tuy nhiên, số liệu thứ cấp cũng đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu do các lý do: Các số liệu thứ cấp có thể giúp người quyết định đưa ra giải pháp để giải quyết vấn đề trong những trường hợp thực hiện những nghiên cứu mà các số liệu thứ cấp là phù hợp mà không cần thiết phải có các số liệu sơ cấp. Ví dụ như các nghiên cứu thăm dò hoặc nghiên cứu mô tả. Ngay cả khi số liệu thứ cấp không giúp ích cho việc ra quyết định thì nó vẫn rất quan trọng vì nó giúp xác định và hình thành các giả thiết về các giải pháp cho vấn đề. Nó là cơ sở để hoạch định việc thu thập các số liệu sơ cấp; cũng như được sử dụng để xác định tổng thể chọn mẫu và thực hiện chọn mẫu để thu thập số liệu sơ cấp. Đề tài số liệu thứ cấp được thu thập tại các Sở, ngành trong tỉnh như Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đồng Tháp, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Đồng Tháp và Công ty Dowasen. Thông tin tập trung về công tác quản lý và các quy định của pháp luật trong lĩnh vực cấp nước và chất lượng nước các trạm giai đoạn 20152019. Sơ liệu sơ cấp là những số liệu chưa có sẵn, được thu thập lần đầu, do chính người nghiên cứu thu thập. Trong thực tế, khi số liệu thứ cấp không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, hoặc không tìm được số liệu thứ cấp phù hợp thì các nhà nghiên cứu sẽ phải tiến hành thu thập số liệu sơ cấp. Số liệu được thu thập thông qua bản mẫu, phiếu hỏi, phiếu khảo sát,... có nội dung, đối tượng và cỡ mẫu rõ ràng. Các số liệu sơ cấp sẽ giúp giải quyết cấp bách và kịp thời những vấn đề đặt ra. Số liệu sơ cấp là do trực tiếp thu thập nên độ chính xác cao hơn. Tuy nhiên, số liệu sơ cấp phải qua quá trình nghiên cứu thực tế mới có được, vì vậy việc thu thập số liệu sơ cấp thường tốn nhiều thời gian và chi phí. 5.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Xử lý và phân tích số liệu là một trong các bước cơ bản của một nghiên cứu, bao gồm xác định vấn đề nghiên cứu; thu thập số liệu; xử lý số liệu; phân tích số liệu và báo cáo kết quả. Xác định rõ vấn đề nghiên cứu giúp việc thu thập số liệu được nhanh chóng và chính xác hơn. Để có cơ sở phân tích số liệu tốt thì trong quá trình thu thập số liệu phải xác định trước các yêu cầu của phân tích để có thể thu thập đủ và đúng số liệu như mong muốn. Điều cốt lõi của phân tích số liệu là suy diễn thống kê, nghĩa là mở rộng những hiểu biết từ một mẫu ngẫu nhiên thành hiểu biết về tổng thể, hay còn gọi là suy diễn quy nạp. Muốn có được các suy diễn này phải phân tích số liệu dựa vào các test thống kê để đảm bảo độ tin cậy của các suy diễn. Bản thân số liệu chỉ là các số liệu thô, qua xử lý phân tích trở thành thông tin và sau đó trở thành tri thức. Đây chính là điều mà tất cả các nghiên cứu đều mong muốn. 5.3. Phương pháp thống kê Thống kê là một hệ thống các phương pháp (thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu và tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu) nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định. Thống kê được chia ra làm 2 lĩnh vực, đó là: thống kê mô tả và thống kê suy luận. Do đó, mỗi lĩnh vực có riêng một chức năng của nó, tổng hợp 2 chức năng của 2 lĩnh vực này ta sẽ được chức năng của thống kê. Thống kê mô tả (Descriptive statistics): là các phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu. Thống kê suy luận (Inferential statistics): là bao gồm các phương pháp ước lượng các đặc trưng của tổng thể, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng nghiên cứu, dự đoán hoặc ra quyết định trên cơ sở thu thập thông tin từ kết quả quan sát mẫu.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

 Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia “thiếu nước” do lượng nước mặt bình quânđầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840 m3, thấp hơn chỉ tiêu 4.000 m3/người mỗi năm củaHội Tài nguyên Nước quốc tế (IWRA) Đây được xem là một nghịch lý đối với mộtquốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc như nước ta. 

Đồng Bằng Sông Cửu Long là một trong những vùng dồi dào nước trên thế giới vớitổng dòng chảy trung bình/năm của sông Mekong là 475 tỉ m3, trong đó mưa tại chỗ ởĐBSCL chiếm 11%, tức chiếm 52 tỉ m3; tuy nhiên nhiều hộ dân nơi đây vẫn thiếu nướccho lao động sản xuất, đặc biệt là nguồn nước sạch đảm bảo nhu cầu sinh hoạt trong đờisống hàng ngày. 

Liên Hiệp Quốc (LHQ) cảnh báo, tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt và các điềukiện vệ sinh môi trường là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề đối vớiđời sống con người Theo kết quả thống kê của bộ Y Tế, có khoảng 20-25% số nhà máynước hiện nay không đạt yêu cầu vệ sinh 20% không đạt chỉ tiêu lý hóa, 10 – 15%không đạt yêu cầu tiêu chuẩn vi sinh, hàm lượng Clo dư không đảm bảo

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Sánh và ctv (2010), cho thấy hầu hết nguồn nướcdưới đất đều bị nhiễm Coliform với mật số cao (4-2.400 MPN/100 mL) Chất lượngnước cấp SHNT nhiều nơi không đảm bảo quy chuẩn quy định, nhất là chỉ tiêu sắt, asen(As) (Nguyễn Việt Kỳ, 2009; Đặng Ngọc Chánh và ctv., 2010) Bên cạnh đó, việc khaithác và cung cấp nước sạch hiện nay kém hiệu quả, theo nhận định của Cục Y tế Dựphòng – Bộ Y tế thì còn nhiều mô hình, cơ chế quản lý khai thác các công trình cấpnước tập trung nhiều nơi chưa hiệu quả và thiếu bền vững Phương thức hoạt động cơbản vẫn mang tính phục vụ, chưa chuyển được sang phương thức dịch vụ, thị trườnghàng hóa (Bộ Y tế, 2012) Việc lựa chọn mô hình quản lý ở nhiều nơi chưa phù hợp,còn tồn tại nhiều mô hình quản lý thiếu tính chuyên nghiệp, như mô hình xã, cộng đồnghay tổ hợp tác quản lý Năng lực cán bộ, công nhân quản lý vận hành còn yếu Nhiềuđịa phương chưa ban hành quy chế quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nướctập trung (Bộ Y tế, 2012)

Trang 2

Xuất phát từ thực tiễn trên, để góp phần cải thiện nâng cao năng lực quản lý chấtlượng cung cấp nước sạch cho người dân, chúng ta cần phải có các giải pháp quản lýthích hợp sao cho chất lượng nước sạch đạt chuẩn tốt nhất.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân ở thành phố Cao Lãnh

- Phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nâng cao quản lý chất lượng cung cấpnước sạch

- Phân tích đánh giá mức độ ô nhiễm các nguồn nước đang khai thác hiện nay ởthành phố Cao Lãnh

- Cung cấp nước sạch đạt QCVN 01:2009/BYT

- Giải pháp tối ưu, ứng dụng khoa học công nghệ, các chương trình giám sát tựđộng vào công nghệ xử lý và hệ thống đường ống phân phối nước sạch

3 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, được biết chưa có một đề tài nào được viết có nội dung như trên

Đề tài liên quan:

- “Đánh giá thực trạng cấp nước và hiện trạng chất lượng nước cấp ở vùng nôngthôn tỉnh Tiền Giang” Ngô Thụy Diễm Trang (2018), Tạp chí Khoa học Trường Đạihọc Cần Thơ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Các đơn vị tham gia kinh doanh cung cấp nước sinh hoạt cho người dân

- Nguồn nước thô đang nước khai thác, sử dụng

- Chất lượng nguồn nước thô và nước sạch

- Mức độ hài lòng của người dân

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Không gian: Trên địa bàn Thành phố Cao Lãnh – tỉnh Đồng Tháp

- Thời gian: Phân tích hiện trạng giai đoạn hiện nay (Năm 2015- 2019) Định hướngphát triển đến năm 2030

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Trang 3

Thu thập số liệu là một việc rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học (NCKH).Mục đích của thu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát

và thực hiện thí nghiệm) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giảthuyết hay các vấn đề mà nghiên cứu đã đặt ra Có 2 loại số liệu thu thập là: thứ cấp và

sơ cấp

Sơ liệu thứ cấp: có đặc điểm là chỉ cung cấp các thông tin mô tả tình hình, chỉ

rõ qui mô của hiện tượng chứ chưa thể hiện được bản chất hoặc các mối liên hệ bêntrong của hiện tượng nghiên cứu Vì số liệu thứ cấp, dù thu thập từ bên trong hoặc bênngoài doanh nghiệp, nó cũng là những thông tin đã được công bố nên thiếu tính cậpnhật, đôi khi thiếu chính xác và không đầy đủ Tuy nhiên, số liệu thứ cấp cũng đóngmột vai trò quan trọng trong nghiên cứu do các lý do: Các số liệu thứ cấp có thể giúpngười quyết định đưa ra giải pháp để giải quyết vấn đề trong những trường hợp thựchiện những nghiên cứu mà các số liệu thứ cấp là phù hợp mà không cần thiết phải cócác số liệu sơ cấp Ví dụ như các nghiên cứu thăm dò hoặc nghiên cứu mô tả Ngay cảkhi số liệu thứ cấp không giúp ích cho việc ra quyết định thì nó vẫn rất quan trọng vì nógiúp xác định và hình thành các giả thiết về các giải pháp cho vấn đề Nó là cơ sở đểhoạch định việc thu thập các số liệu sơ cấp; cũng như được sử dụng để xác định tổngthể chọn mẫu và thực hiện chọn mẫu để thu thập số liệu sơ cấp

Đề tài số liệu thứ cấp được thu thập tại các Sở, ngành trong tỉnh như Sở Tàinguyên và môi trường tỉnh Đồng Tháp, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Đồng Tháp vàCông ty Dowasen Thông tin tập trung về công tác quản lý và các quy định của phápluật trong lĩnh vực cấp nước và chất lượng nước các trạm giai đoạn 2015-2019

Sơ liệu sơ cấp là những số liệu chưa có sẵn, được thu thập lần đầu, do chính

người nghiên cứu thu thập Trong thực tế, khi số liệu thứ cấp không đáp ứng được yêucầu nghiên cứu, hoặc không tìm được số liệu thứ cấp phù hợp thì các nhà nghiên cứu sẽphải tiến hành thu thập số liệu sơ cấp Số liệu được thu thập thông qua bản mẫu, phiếuhỏi, phiếu khảo sát, có nội dung, đối tượng và cỡ mẫu rõ ràng Các số liệu sơ cấp sẽgiúp giải quyết cấp bách và kịp thời những vấn đề đặt ra Số liệu sơ cấp là do trực tiếpthu thập nên độ chính xác cao hơn Tuy nhiên, số liệu sơ cấp phải qua quá trình nghiêncứu thực tế mới có được, vì vậy việc thu thập số liệu sơ cấp thường tốn nhiều thời gian

và chi phí

Trang 4

5.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Xử lý và phân tích số liệu là một trong các bước cơ bản của một nghiên cứu,bao gồm xác định vấn đề nghiên cứu; thu thập số liệu; xử lý số liệu; phân tích số liệu vàbáo cáo kết quả Xác định rõ vấn đề nghiên cứu giúp việc thu thập số liệu được nhanhchóng và chính xác hơn Để có cơ sở phân tích số liệu tốt thì trong quá trình thu thập sốliệu phải xác định trước các yêu cầu của phân tích để có thể thu thập đủ và đúng số liệunhư mong muốn

Điều cốt lõi của phân tích số liệu là suy diễn thống kê, nghĩa là mở rộng nhữnghiểu biết từ một mẫu ngẫu nhiên thành hiểu biết về tổng thể, hay còn gọi là suy diễnquy nạp Muốn có được các suy diễn này phải phân tích số liệu dựa vào các test thống

kê để đảm bảo độ tin cậy của các suy diễn Bản thân số liệu chỉ là các số liệu thô, qua

xử lý phân tích trở thành thông tin và sau đó trở thành tri thức Đây chính là điều mà tất

cả các nghiên cứu đều mong muốn

5.3 Phương pháp thống kê

Thống kê là một hệ thống các phương pháp (thu thập, tổng hợp, trình bày số

liệu và tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu) nhằm phục vụ cho quátrình phân tích, dự đoán và ra quyết định

Thống kê được chia ra làm 2 lĩnh vực, đó là: thống kê mô tả và thống kê suyluận Do đó, mỗi lĩnh vực có riêng một chức năng của nó, tổng hợp 2 chức năng của 2lĩnh vực này ta sẽ được chức năng của thống kê

- Thống kê mô tả (Descriptive statistics): là các phương pháp liên quan đến

việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khácnhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu

- Thống kê suy luận (Inferential statistics): là bao gồm các phương pháp ước

lượng các đặc trưng của tổng thể, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng nghiên cứu,

dự đoán hoặc ra quyết định trên cơ sở thu thập thông tin từ kết quả quan sát mẫu

5.4 Phương pháp điều tra khảo sát thực nghiệm

Khi tiến hành một cuộc khảo sát thực địa, phải quyết định chính xác xem cầnloại thông tin nào trước khi quyết định nghiên cứu về chất lượng và số lượng đến mứcnhư thế nào Đó chính là những mục tiêu của việc nghiên cứu Ví dụ, có thể thiết kế một

Trang 5

bảng câu hỏi có tất cả những câu hỏi về số lượng ở phần đầu, với một phần nhỏ ở cuốicho các câu hỏi mở, hoặc ngược lại.

Sau đó chọn phương pháp thu thập thông tin điều tra: là phương pháp sử dụngbảng hỏi gồm nhiều câu hỏi thường dùng để khảo sát thực địa Người ta thường áp dụngphương pháp phỏng vấn trực tiếp trong điều tra Ở Việt Nam cũng có thể khảo sát thựcđịa bằng phỏng vấn qua điện thoại và điều tra qua thư, nhưng tỉ lệ hồi âm thường thấp.Tương tự, điều tra qua thư điện tử cũng có tỉ lệ hồi âm thấp, nhưng có thể giúp gửi sốlượng thư lớn mà hầu như không mất tiền

Ở phần này tiến hành khảo thực tế, thu thập các số liệu liên quan đến nguồnnước sinh hoạt ở Thành phố Cao Lãnh, các dữ liệu cần thiết về điều kiện môi trườngnhằm xác định các khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến nguồn nước sạch hiện nay củaThành phố Cao Lãnh

dự báo nhanh, chi phí dự báo thấp và kết quả dự báo trong nhiều trường hợp cũng rấttốt Sau đây là một số phương pháp dự báo định tính chủ yếu: Lấy ý kiến của ban quản

lý điều hành, Phương pháp lấy ý kiến của lực lượng bán hàng, Phương pháp nghiên cứu thị trường người tiêu dùng, Phương pháp chuyên gia

Phương pháp dự báo định lượng

Các phương pháp dự báo định lượng dựa vào các số liệu thống kê và thông quacác công thức toán học được thiết lập để dự báo nhu cầu cho tương lai Khi dự báo nhucầu tương lai, nếu không xét đến các nhân tố ảnh hưởng khác có thể dùng các phươngpháp dự báo theo dãy số thời gian Nếu cần ảnh hưởng của các nhân tố khác đến nhucầu có thể dùng các mô hình hồi quy tương quan

5.6 Phương pháp so sánh

Trang 6

Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánhvới một chỉ tiêu cơ sở

Ở đây dựa trên các QCVN và quy định nhà nước để đánh giá mức độ an toàncủa nguồn nước cũng như chất lượng nước sạch

5.7 Phương pháp phỏng vấn

Là phương pháp được tiến hành bởi một người điều khiển theo hướng rất linhhoạt với một các chuyên gia, các nhà điều hành, được phỏng vấn Người điều khiển cónhiệm vụ hướng dẫn trả lời các nội dung cần thu thập Mục đích nhằm đạt được nhữnghiểu biết sâu sắc vấn đề nghiên cứu bằng cách lắng nghe ý kiến nhóm người trên, nộidung phù hợp với những vấn đề mà người nghiên cứu đang quan tâm Giá trị củaphương pháp này là ở chỗ những kết luận ngoài dự kiến thường đạt được từ nhữngthông tin trả lời của nhóm này Phương pháp đang được sử dụng phổ biến trong thực tếnghiên cứu hiện nay

6 Những kết quả đạt được của tiểu luận

Trong phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng, vấn đề nghiên cứu

về quản lý chất lượng cung cấp nước sạch còn rất nhiều hạn chế Do nhiều nguyên nhânkhách quan và chủ quan thì vấn đề này chỉ mới hạn chế ở một số công trình nghiên cứuliên quan cho đến nay vẫn chưa có ai chính thức tiến hành nghiên cứu Vì thế đây là cơ

sở để tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề này

Từ đây, tiểu luận sẻ cơ sở tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các bạn muốn tìmhiểu về nội dung tương tự sau này

Ưu điểm của tiểu luận: Nội dung sát với tình hình thực tế, có giải pháp mới phù hợp

và tính ứng dụng cao tại Thành phố Cao Lãnh – tỉnh Đồng Tháp

Nhược điểm của tiểu luận: Cần phân tích lại kỷ hơn khi áp dụng ở địa phương khác.

7 Kết cấu tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất lượng cung cấp nước sạch.Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng cung cấp nước sạch trên địa bàn Thànhphố Cao Lãnh

Chương 3: Đánh giá chung về quản lý chất lượng cung cấp nước sạch trên địabàn Thành phố Cao Lãnh

Trang 7

Phần kết luận.

Tài liệu tham khảo

Trang 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

Quản lý chất lượng hiện đã được áp dụng trong mọi ngành nghề, không chỉ trongsản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình tổ chức, từ quy mô lớn đến quy mônhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không Quản lý chất lượng đảm bảocho tổ chức làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng, theo triết lý "làmviệc đúng" và "làm đúng việc", "làm đúng ngay từ đầu" và "làm đúng tại mọi thờiđiểm"

a Các nguyên tắc quản lý chất lượng:

- Hướng vào khách hàng: Mọi tổ chức đều phụ thuộc vào khách hàng của mình và

vì thế cần hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, cần đáp ứng các yêucầu của khách hàng và cố gắng vượt cao hơn sự mong đợi của họ

- Sự lãnh đạo: Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất giữa mục đích và phương hướngcủa tổ chức Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ để có thể hoàn toàn lôicuốn mọi người tham gia để đạt được các mục tiêu của tổ chức

- Sự tham gia của mọi người: Mọi người ở tất cả các cấp là yếu tố của một tổ chức

và việc huy động họ tham gia đầy đủ sẽ giúp cho việc sử dụng được năng lực của họ vìlợi ích của tổ chức

- Cách tiếp cận theo quá trình: Kết quả sẽ đạt được một cách hiệu quả khi cácnguồn lực và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình

- Cách tiếp cận phải theo một hệ thống rõ ràng

- Cải tiến liên tục: là các kết quả thực hiện phải là mục tiêu thường trực của tổ chức

- Quyết định dựa trên sự kiện: Mọi quyết định có hiệu lực được dựa trên việc phântích dữ liệu và thông tin

Trang 9

- Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng: Tổ chức và người cung ứng phụthuộc lẫn nhau và mối quan hệ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ragiá trị.

Tám nguyên tắc quản lý chất lượng này tạo thành cơ sở cho các tiêu chuẩn về hệthống quản lý chất lượng trong bộ tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000

b Các quá trình quản lý chất lượng

Lập kế hoạch chất lượng: Quá trình này còn gọi là xây dựng chuẩn Muốn quản lý

chất lượng thì phải xây dựng được toàn bộ các quy trình theo chuẩn, nếu chỉ có mộtphần theo chuẩn thì chỉ gọi là tiếp cận quản lý chất lượng

Kiểm soát chất lượng (Quality control - QC): Là một phần của quản lý chất lượng

tập trung vào thực hiện các yêu cầu chất lượng Kiểm soát chất lượng là việc kiểm soátcác quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ thông qua kiểm soát các yếu tố như con người,máy móc, nguyên vật liệu, phương pháp, thông tin và môi trường làm việc

Yếu tố nguyên vật liệu: là yếu tố chính đầu vào, có ảnh hưởng chủ yếu đến chất

lượng sản phẩm Để sản phẩm đầu ra có chất lượng thì nguyên vật liệu đầu vào phải cóchất lượng Yếu tố thiết bị và công nghệ là các yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt ảnhhưởng đến sự hình thành chất lượng sản phẩm Yếu tố con người ở đây bao gồm toàn

bộ nguồn nhân lực trong một tổ chức từ lãnh đạo cao nhất đến các nhân viên đều thamgia vào quá trình tạo chất lượng Tuy nhiên ở đây người ta nhấn mạnh đến vai trò củalãnh đạo và trưởng các phòng, ban, bộ phận, những người chịu trách nhiệm chính trongviệc kiểm soát chất lượng sản phẩm, dịch vụ

Khi đánh giá chất lượng, có thể tin tưởng những khách hàng đã sử dụng sản phẩm,dịch vụ nhiều lần Mức độ sử dụng lặp lại với tần suất cao cho thấy chất lượng đáp ứngđược nhu cầu sử dụng của khách hàng Bên cạnh đó, cũng có thể dựa vào các trung tâm,

tổ chức có chuyên môn, hoạt động độc lập với nhà sản xuất hay cung cấp dịch vụ Đừngđánh giá chất lượng dựa trên những quan điểm chủ quan, phiếm diện hay theo số đông

Kiểm soát chất lượng gồm các việc sau:

* Kiểm soát con người:

- Được đào tạo

- Có kỹ năng thực hiện

- Được thông tin về nhiệm vụ được giao

Trang 10

- Có đủ tài liệu, hướng dẫn cần thiết.

- Có đủ điều kiện, phương tiện làm việc

* Kiểm soát phương pháp và quá trình, bao gồm:

- Lập quy trình sản xuất, phương pháp thao tác, vận hành;

- Theo dõi và kiểm soát quá trình

* Kiểm soát đầu vào:

- Người cung cấp phải được lựa chọn

- Dữ liệu mua hàng đầy đủ

- Sản phẩm nhập vào phải được kiểm soát

* Kiểm soát thiết bị Thiết bị phải:

- Phù hợp với yêu cầu

- Được bảo dưỡng

* Kiểm soát môi trường:

- Môi trường thao tác (ánh sáng, nhiệt độ)

- Điều kiện an toàn

Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance):

Tập trung vào việc ngăn ngừa khiếm khuyết Đảm bảo chất lượng đảm bảo rằng cáctiếp cận, kỹ thuật, phương pháp và quy trình được thiết kế cho các dự án được thực hiệnmột cách chính xác Các hoạt động đảm bảo chất lượng theo dõi và xác minh rằng cácquá trình quản lý và phát triền phần mềm được tuân thủ và có hiệu lực Đảm bảo chấtlượng là một quá trình chủ động để phòng chống khiếm khuyết Nó nhận ra sai sót trongcác quy trình Đảm bảo chất lượng phải được thực hiện trước kiểm soát chất lượng(Quality Control)

Cải tiến chất lượng: Trong một quá trình sản xuất, chi phí do lãng phí thường

chiếm một lượng đáng kể trong chi phí sản xuất Cải tiến chất lượng đóng vai trò quan

trọng trong việc giảm lãng phí Vấn đề chất lượng bao gồm 2 lọai: vấn đề chất lượng cấp tính, vấn đề chất lượng mạn tính.

Vấn đề chất lượng cấp tính: là vấn đề thỉnh thỏang xảy ra, làm thay đổi hiện trạng

hệ thống, cần có giải pháp để phục hồi hiện trạng, đó là bài toán kiểm sóat chất lượng

đã khảo sát ở phần trước Vấn đề chất lượng mạn tính là vấn đề thường xuyên xảy ra,

Trang 11

cần có giải pháp để thay đổi hiện trạng, để hệ thống tốt hơn, đó là bài toán cải tiến chấtlượng sẽ được khảo sát ở chương này.

Việc phân biệt vấn đề chất lượng là quan trọng, vì thứ nhất mỗi lọai vấn đề có mộtcách thức, phương pháp giải quyết vấn đề khác nhau Vấn đề chất lượng cấp tính đượcgiải quyết bởi các công cụ kiểm sóat chất lượng. Vấn đề chất lượng mạn tính được giảiquyết bởi các công cụ cải tiến chất lượng Thứ đến, vấn đề chất lượng cấp tính thường

là vấn đề cấp bách cần được giải quyết ngay, còn vấn đề chất lượng mạn tính thường làvấn đề thường xuyên, không cấp bách, khó giải quyết, và thường được chấp nhận nhưmột vấn đề không thể tránh được

Một thực tế nguy hiểm là, vấn đề cấp tính thường được ưu tiên giải quyết liên tục

mà bỏ quên vấn đề mạn tính là vấn đề gây lãng phí rất lớn Các tổ chức thường thiếu cơchế để nhận dạng và lọai bỏ lãng phí hay là thiếu cải tiến chất lượng

Chất lượng  vừa là một cơ hội vừa là thách thức, nhu cầu khách hàng đối với sảnphẩm ngày càng cao, cần không ngừng cải tiến chất lượng  sản phẩm Cải tiến chấtlượng là những họat động trong toàn bộ tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu suất, tạothêm lợi ích cho tổ chức, khách hàng Cải tiến chất lượng là nỗ lực không ngừng nhằmduy trì, nâng cao chất lượng sản phẩm với nguyên tắc sản phẩm sau phải tốt hơn sảnphẩm trước và khoảng cách giữa các đặc tính sản phẩm với những yêu cầu của kháchhàng ngày càng giảm

c Quản lý hiệu suất với KPI

Đánh giá công việc theo chỉ số KPI – test

KPI theo tiếng Anh là Key Performance Indicator có nghĩa là chỉ số đánh giá

thực hiện công việc Thông thường mỗi chức danh sẽ có bản mô tả công việc hoặc kếhoạch làm việc hàng tháng Nhà quản lý sẽ áp dụng các chỉ số để đánh giá hiệu quả củachức danh đó Dựa trên việc hoàn thành KPI, công ty sẽ có các chế độ thưởng phạt chotừng cá nhân

Vậy thế nào là một KPI? Điều đó do bạn định ra các chỉ số cho từng chức danh,nhưng một kpi cũng phải đáp ứng được 5 tiêu chuẩn của một mục tiêu Bạn cần xemthêm về quản trị theo mục tiêu để biết 5 tiêu chuẩn này

Để thực hiện KPI, công ty nên xây dựng một hệ thống các mục tiêu từ cao xuốngthấp theo phương pháp MBO, tuy vậy có những công việc khó có thể thiết lập được các

Trang 12

mục tiêu, khi đó người ta sẽ xây dựng các chuẩn cho quá trình (gọi là phương phápquản lý theo quá trình MBP), các chuẩn đó cũng là các kpi.

Trong phần dưới đây, bạn chúng tôi xin trao đổi một số kpi cho các bộ phận

 KPI cho sale – marketing:

*Tỷ lệ phản hồi / tổng số gửi đi:

- Công thức = tổng số phản hồi khách hàng / tổng số thông tin gửi tới khách hàng

- Tỷ lệ này đo lường hiệu quả của marketing trực tiếp của các sale rep.Các chươngtrình markeing trực tiếp có thể là gửi thư, gửi email…

*Tỷ lệ khách hàng bị mất sau khi mua hàng lần đầu:

- Công thức = bằng tổng số khách hàng mua hàng lần đầu bỏ đi/tổng số khách hàngmua hàng lần đầu

- Tỷ lệ này thấp có thể do các nguyên nhân: sản phẩm của bạn không phù hợp, sảnphẩm tốt nhưng quảng cáo không tốt dẫn đến khách hàng không phải mục tiêu lại đimua hàng của bạn…

*Mức độ biết đến sản phẩm: được đo lường trước và sau quảng cáo

- Tỷ lệ = số người nhận ra sản phẩm của bạn/tổng số người thu thập

- Tỷ lệ này được đo lường trước và sau khi quảng cáo

Tham khảo thêm –>đánh giá công việc theo phương pháp kpi – full

 Đánh giá KPI hiệu quả nhân sự:

*Tỷ lệ vòng đời nhân viên:

- Tỷ lệ vòng đời của nhân viên = tổng thời gian phục vụ trong DN của tất cả nhânviên/ tổng số nhân viên doanh nghiệp đã tuyển

- Bạn có thể tính vòng đồi cho toàn công ty và cho chức danh, cho bộ phận

- Đối với chức danh nếu vòng đồi quá thấp điều này có thể không phải do phía công

ty mà do bản chất của xã hội, ví dụ các chức danh hay làm thời vụ

- Đối với các bộ phận, một phần có thể do cách quản lý của trưởng bộ phận dẫn đếnvòng đồi của NV thấp

*Tỷ lệ nhân viên không hoàn thành nhiệm vụ:

- Công thức = số nhân viên không hoàn thành/ tổng số nhân viên

- Bạn xem xét tỷ lệ này của toàn công ty và của từng bộ phận

Trang 13

- Tỷ lệ quá thấp của công ty hoặc từng bộ phận làm bạn cần chú ý Đôi khi bạncũng cần phải xem lại, các tỷ lệ quá thấp là do sếp bộ phận đó đánh giá quá khắt khe,ngược lại hầu như không có nhân viên bị đánh giá kém hoặc tốt cũng làm bạn lưu ý (sếp

có xu hướng bình quân chủ nghĩa)

 KPI cho sản xuất:

- Tỷ lệ này giúp bạn xác định mức tiêu hao trung bình của NVL từ đó có quyết định

tỷ lệ phù hợp cho các đơn hàng sắp tới Ở các đơn vị gia công, tỷ lệ tiêu hao thấp giúpcho DN sẽ có thêm nguồn thu nhập khi bán lại các NVL tiêu hao còn dư

1.1.2 Nguồn nước và tài nguyên nước

Nguồn nước: là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử

dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dướiđất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác

Tài nguyên nước: là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng

vào những mục đích khác nhau, bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước ngầm(nước dưới đất), nước biển

Nước được dùng trong sinh hoạt hàng ngày, các hoạt động nông nghiệp, côngnghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt,97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực Phần còn lại khôngđóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trênmặt đất và trong không khí

Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt và sạchtrên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thếgiới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng

Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh

Trang 14

thái chỉ mới được lên tiếng gần đây Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đấtngập nước trên thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị củachúng Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảmnhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền Chương trình khung trong việc định vị cácnguồn tài nguyên nước cho các đối tượng sử dụng nước được gọi là quyền vềnước (water rights).

1.1.3 Nước mặt

Nước mặt được định nghĩa tại  Khoản 3 Điều 2 Luật tài nguyên nước 2012   với nội

dung như sau: Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.

Nguồn nước mặt tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực

ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng

và băng tuyết Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sửdụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất Do đó, tài nguyên nước nói chung và tàinguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế

xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia

Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phongphú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đódiện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới Tuy nhiên, một đặcđiểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian(dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất khôngđều giữa các hệ thống sông và các vùng

Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sôngHồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, ThuBồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các

hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%),các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%)

Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta là phần lớnnước sông (khoảng 60%) lại được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài,trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%) Nếu chỉ xét thànhphần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng

Trang 15

có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3 km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông

Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%)

1.1.4 Nước ngầm (nước dưới đất)

Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất, được  tích trữtrong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hangcaxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người

Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nướcngầm tầng sâu Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong cáclớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình Nước ngầm tầng mặt thườngkhông có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt Do vậy, thành phần và mực nước biến đổinhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ônhiễm Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên

và phía dưới bởi các lớp không thấm nước Theo không gian phân bố, một lớp nướcngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:

1.1.5 Nước sạch

Nước sạch được định nghĩa tại Khoản 12 Điều 2 Luật Tài nguyên nước 2012 với nội

dung như sau: Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam.

Bên cạnh đó, tại Điều này còn có định nghĩa về một số quy định liên quan như sau:

- Nước sinh hoạt là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của conngười

Trang 16

- Nguồn nước sinh hoạt là nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể

xử lý thành nước sinh hoạt

Bộ Y Tế cũng có một số Quy định về chất lượng như sau:

- Đối với chất lượng nước sinh hoạt: cơ sở cung cấp nước phải đảm bảo QCVN02:2009/BYT do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y

tế ban hành theo Thông tư số: 05/2009/TT - BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009

- Đối với chất lượng nước ăn uống: cơ sở cung cấp nước phải đảm bảo QCVN

01:2009/BYT do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y

tế ban hành theo Thông tư số: 04/2009/TT - BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009

1.2 Nội dung quản lý chất lượng cung cấp nước sạch

Để kiểm soát nước ăn uống và nước sinh hoạt, Bộ Y tế soạn thảo và Bộ Khoa học

và Công nghệ đã lần lượt ban hành QCVN 01:2009/BYT-Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia

về chất lượng nước ăn uống và QCVN 02:2009/BYT-Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia vềchất lượng nước sinh hoạt Đối với QCVN 01:2009/BYT, quy chuẩn này quy định vềchất lượng nước ăn uống được Bộ Y tế ban hành năm 2009 với 109 chỉ tiêu, trong đó có

15 chỉ tiêu chất lượng nhóm A (tần suất giám sát 1 tháng/lần); 16 chỉ tiêu chất lượngnhóm B (tần suất giám sát 6 tháng/lần) và 78 chỉ tiêu chất lượng nhóm C (tần suất giámsát 2 năm/lần); Đối với QCVN 02:2009/BYT, quy chuẩn này quy định mức giới hạncác chỉ tiêu chất lượng đối với nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thường vớiquy mô nhỏ (< 1.000m3/ngày đêm) và các hình thức cấp nước hộ gia đình So vớiQCVN 01:2009/BYT, QCVN 02:2009/BYT quy định ít chỉ tiêu chất lượng nước hơn(14 chỉ tiêu) được chia thành hai mức I và II áp dụng cho các đối tượng khác nhau Trong quá trình áp dụng các quy chuẩn này kể từ khi ban hành tới nay đã gặp phảimột số tồn tại cần phải khắc phục, cụ thể bao gồm:

 Việc phân theo nước ăn uống và nước sinh hoạt là không cần thiết, bởi trongthực tế là khó có thể xác định một cách rõ ràng hai mục đích sử dụng này Màngược lại, nước sinh hoạt thường được sử dụng luôn làm nước ăn uống tại các hộgia đình

 QCVN 01:2009/BYT đang quy định quá nhiều chỉ tiêu/thông số bắt buộc phảigiám sát đối với chất lượng nước thành phẩm, tuy nhiên, các Trung tâm Y tế Dựphòng tỉnh/thành phố, các công ty cấp nước tập trung chỉ tập trung vào kiểm tra

Trang 17

chất lượng nước cuối đường ống (tại các hộ gia đình), nên việc áp dụng theoQCVN 01:2009/BYT dường như không khả thi với nhiều tỉnh/thành do lượngmẫu phải phân tích nhiều, vượt quá khả năng về nhân lực và kinh phí của cácđơn vị Một số đơn vị sản xuất và cung cấp nước ăn uống cũng không có khảnăng phân tích tất cả 109 chỉ tiêu theo quy định Ngoài ra, các chỉ tiêu chất lượngnước ăn uống này không giúp họ kiểm soát Bên cạnh đó, hầu hết các Trung tâm

Y tế Dự phòng/ Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh/thành phố chưa có đủ nănglực để phân tích toàn bộ 109 chỉ tiêu nước, đặc biệt là các chỉ tiêu nhóm B và C.Đồng thời, nhiều kết quả phân tích trong nhiều năm đã không phát hiện sự hiệndiện của một số chỉ tiêu được quy định trong QCVN

 Bên cạnh đó, việc quy định tới 109 chỉ tiêu bắt buộc phải phân tích theo QCVN01:2009/BYT đã tạo ra gánh nặng chi phí cho người sử dụng nước, hơn nữa, chiphí này nhiều khi được xem là sự lãng phí khi rất nhiều chỉ tiêu không được pháthiện trong nước ăn uống thành phẩm mà vẫn phải phân tích xác định nồng độhàng năm

 Ngoài ra, về mặt kỹ thuật trong QCVN 01:2009/BYT đang yêu cầu áp dụngchuẩn xác (áp dụng cứng) phương pháp thử cho mỗi thông số xét nghiệm, do vậykhông phù hợp với thực tế khoa học kỹ thuật phát triển thì các phương pháp thửquy định cũng sẽ thay đổi theo Điều này đã gây lung túng cho người áp dụngQCVN 01:2009/BYT hiện hành

 Với QCVN 02:2009/BYT, việc chỉ quy định 14 chỉ tiêu so với 109 chỉ tiêu củaQCVN 01/2009/BYT nghiễm nhiên đã cho phép loại nguồn nước này có thể kémsạch hơn nước uống hoặc với các cơ sở cung cấp nước sinh hoạt có công suất lớnhơn 1.000m3/ngày.đêm Điều này là không công bằng trong hoạt động cấp nước

và quyền được tiếp cận nguồn nước chất lượng của người dân ở những nơi màkhông có sự phân biệt rõ ràng giữa chất lượng trong thực tế kiểm tra, giám sáttheo QCVN 02:2009/BYT cũng xuất hiện ít nhiều điểm chưa phù hợp về việccấn áp dụng giới hạn tối đa cho phép nào hay áp dụng QCVN nào đối với nhữngtrạm cấp nước tập trung có công suất < 1.000m3/ngày đêm nhưng cho các khu

đô thị, dân cư để phục vụ cho mục đích ăn uống, sinh hoạt

Trang 18

 Ngoài ra, trong QCVN 02:2009/BYT có sự phân biệt giữa chất lượng nước giữahai vùng đô thị và nông thôn, thông thường chất lượng nước của vùng nông thônthường kém hơn Điều này vô hình chung đã tạo ra sự bất bình đăng trong tiếpcận nguồn nước đối với cư dân nông thôn khi so sánh với cư dân đô thị

Kế hoạch cấp nước an toàn (WSP), dưới sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO), đã được áp dụng tại Việt Nam từ năm 2006, đến nay đã ở giai đoạn thứ 3 củachương trình Cách tiếp cận mới này không chỉ là là một phương tiện hữu hiệu để quản

lý các rủi ro nhằm giảm thiểu những tác động gây ra cho sức khỏe cộng đồng (các bệnhlây truyền qua đường nước) mà còn giúp kiểm soát chất lượng quá trình sản xuất/xử lýnước, từ đó giảm gánh nặng cho các đơn vị liên quan do phải phân tích quá nhiều chỉtiêu chất lượng nước, giảm số lượng chỉ tiêu cần phân tích và giúp đơn vị tiết kiệmđược kinh phí xét nghiệm Do đó, xây dựng QCVN mới về chất lượng nước sạch trên

cơ sở hợp nhất, sửa đổi QCVN 01:2009/BYT và QCVN 02:2009/BYT là hết sức cầnthiết ở giai đoạn hiện nay

1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng nước sạch

1.3.1 Đối với nước ăn uống (QCVN 01:2018/BYT)

ST

Giới hạn tối đa cho phép Phương pháp thử

Mức độ giám sát

I Chỉ tiêu cảm quan và thành phần vô cơ

TCVN 6185 - 1996(ISO 7887 - 1985)

A

6,5-8,5

TCVN 6492:1999 hoặc SMEWW 4500 -

5. Độ cứng, tính theo

CaCO3(*) mg/l 300 TCVN 6224 - 1996 hoặc SMEWW 2340 C A

Trang 19

13. Hàm lượng Cadimi mg/l 0,003

TCVN6197 - 1996(ISO 5961 - 1994) hoặc SMEWW 3500 Cd

C

14. Hàm lượng Clorua(*) mg/l 250

300(**)

TCVN6194 - 1996(ISO 9297 - 1989) hoặc SMEWW 4500 -

C

17. Hàm lượng Xianua mg/l 0,07

TCVN 6181 - 1996(ISO 6703/1 - 1984) hoặc SMEWW 4500 -

CN

-C

18. Hàm lượng Florua mg/l 1,5 TCVN 6195 - 1996

(ISO10359 - 1 - 1992) hoặc SMEWW 4500 -

B

Trang 20

24. Hàm lượng Molybden mg/l 0,07 US EPA 200.7 C

25. Hàm lượng Niken mg/l 0,02 TCVN 6180 -1996 (ISO8288 -1986)

26. Hàm lượng Nitrat mg/l 50 TCVN 6180 - 1996(ISO 7890 -1988) A

27. Hàm lượng Nitrit mg/l 3 TCVN 6178 - 1996 (ISO 6777-1984) A

28. Hàm lượng Selen mg/l 0,01 TCVN 6183-1996 (ISO 9964-1-1993) C

29. Hàm lượng Natri mg/l 200 TCVN 6196 - 1996 (ISO 9964/1 - 1993) B

30. Hàm lượng Sunphát (*) mg/l 250 TCVN 6200 - 1996 (ISO9280 - 1990) A

31. Hàm lượng Kẽm(*) mg/l 3 TCVN 6193 - 1996 (ISO8288 - 1989) C

32. Chỉ số Pecmanganat mg/l 2 TCVN 6186:1996 hoặc ISO 8467:1993

II Hàm lượng của các chất hữu cơ

a Nhóm Alkan clo hoá

Trang 21

III Hoá chất bảo vệ thực vật

Ngày đăng: 30/08/2021, 18:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w