Trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, nông thôn luôn đóng vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,... Nói đến nông thôn là nói đến làng Việt, làng Việt có vị trí đặc biệt đối với lịch sử đất nước nói chung và đối với mỗi người dân Việt Nam nói riêng. Làng là cơ sở, nền tảng của văn hóa, văn minh Việt. Đó là một đơn vị kinh tế xã hội độc lập nhưng không tách rời môi trường trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa. Làng Việt phát triển phong phú, đa dạng: làng Việt Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung Bộ và mỗi vùng lại có những tiểu vùng riêng mà ở đó các làng Việt vừa chứa đựng những đặc điểm giống nhau đồng thời lại ẩn chứa nét riêng.
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nội dung nghiên cứu 2
3 Kết cấu của đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 3
1 Một số khái niệm 3
1.1 Nông thôn 3
1.2 Văn hóa nông thôn 4
2 Điều kiện và cơ sở hình thành văn hóa nông thôn Việt Nam truyền thống 5
2.1 Điều kiện lịch sử 5
2.2 Cơ sở hình thành 6
3 So sánh làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ 16
3.1 Làng Việt Bắc Bộ 17
3.2 Làng Việt Nam Bộ 18
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, nông thôn luôn đóng vai trò quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Nói đến nông thôn là nói đến làng Việt, làng Việt có vị trí đặc biệt đối với lịch sử đất nước nói chung và đối với mỗi người dân Việt Nam nói riêng Làng là cơ sở, nền tảng của văn hóa, văn minh Việt Đó là một đơn vị kinh tế xã hội độc lập nhưng không tách rời môi trường trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa Làng Việt phát triển phong phú, đa dạng: làng Việt Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung Bộ và mỗi vùng lại có những tiểu vùng riêng mà ở đó các làng Việt vừa chứa đựng những đặc điểm giống nhau đồng thời lại ẩn chứa nét riêng
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay khi mà đất nước đang trên đà phát triển ngày một hiện đại và giàu đẹp hơn Không nằm ngoài sự phát triển đó ở các vùng nôn thôn, các làng quê đã có nhiều sự thay đổi để bắt kịp sự phát triển của đất nước Nhưng đó cũng chính là vấn nạn cần quan tâm vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của nhân dân Để không cho một nét văn hóa độc đáo có từ hàng ngàn năm bị phai nhạt và lãng quên Để cho mọi người thấy được những nét độc đáo mà không đâu trên thế giới ngày nay có và gìn giữ được thì việc nghiên cứu và tìm tòi về văn hóa nông thôn truyền thống lại cần
thiết đến vậy Chính vì lý do này mà em chọn “Các điều kiện và cơ sở hình
thành văn hóa nông thôn Việt Nam truyền thống và vận dụng kiến thức về điều kiện lịch sử để so sánh làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ” là đề tài
cho bài tập này
Trang 42 Nội dung nghiên cứu
Bài tập bước đầu phân tích, làm rõ một số khái niệm liên quan tới đề tài
để nhìn nhận đúng đắn về vấn đề nghiên cứu, từ đó phân tích điều kiện lịch sử
và cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội hình thành văn hóa nông thôn Việt Nam truyền thống Đồng thời vận dụng kiến thức về điều kiện lịch sử để so sánh làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ
3 Kết cấu của đề tài
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
1 Một số khái niệm
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về “nông thôn”, nổi bật như:
Nông thôn được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất mà ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam.[3]
Nông thôn là khu vực không gian lãnh thổ mà ở đó cộng đồng cư dân có cách sống và lối sống riêng, lấy sản xuất nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chủ yếu và sống chủ yếu dựa vào nghề nông (nông, lâm, ngư nghiệp), có mật
độ dân cư thấp và quần cư theo hình thức làng xã; có cơ sở hạ tầng kinh tế kém phát triển, trình độ về dân trí, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như tư duy hàng hóa và kinh tế thị trường thấp kém hơn so với đô thị; có những mối quan hệ bền chặt giữa các cư dân dựa trên bản sắc văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền và tín ngưỡng, tôn giáo.[8]
Như vậy qua phân tích các khái niệm trên đều khẳng định hoạt động kinh tế chủ yếu của nông thôn là sản xuất nông nghiệp và so sánh nông thôn trong sự đối lập, khác biệt với đô thị Khái niệm thứ nhất nhấn mạnh vào quản
lý hành chính Khái niệm thứ hai nhấn mạnh đến sự yếu kém, chậm phát triển hơn của nông thôn so với đô thị về trình độ dân trí, khoa học kỹ thuật và tư duy kinh tế thị trường, đồng thời khẳng định hạt nhân gắn bó các thành viên ở nông thôn dựa trên bản sắc văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền về tín ngưỡng, tôn giáo
Ở Việt Nam, cho đến năm 2009, có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn, trong khi tỷ lệ này vào năm 1999 là 76,5% Con số đó những năm trước còn lớn hơn nhiều Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất
Trang 6mạnh mẽ đến toàn xã hội Ngay cả những Việt kiều sống ở các nước văn minh, tiên tiến nhất thế giới, vẫn giữ nhiều nét đặc biệt của nông thôn Việt Nam
Về khái niệm “văn hóa”, tới nay người ta đã thống kê có hơn 600 định nghĩa về văn hóa Nghĩa lục sự xác định khái niệm “văn hóa” không đơn giản bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc nhìn nhận riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cầu nghiên cứu Hai định nghĩa được nhiều người tán đồng nhất là định nghĩa của UNESCO và của GS Hà Văn Tấn
Theo khái niệm của UNESCO năm 2002: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy làm hình thành một hệ thống các giá trị, các truyền thống, các thị hiếu, những yếu tố xác định tính riêng của mỗi tộc người” Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc
thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc
Định nghĩa của GS Hà Văn Tấn: “Văn hóa là hệ thống ứng xử của con
người với thiên nhiên và xã hội, là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội, diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định” GS Hà Văn Tấn đã nhấn mạnh đến những hệ thống ứng của con người và những chuẩn mực được thể hiện ra trong mọi sinh hoạt, mọi hành vi, mọi nếp nghĩ, từ cách ăn, cách ở, cách lao động sản xuất đến cách sinh hoạt và ứng xử
Như vậy ta có thể hiểu khái quát: Văn hoá nông thôn là tất cả sản phẩm vật thể và phi vật thể có giá trị do người dân sống ở nông thôn sáng tạo, gìn giữ qua nhiều thế hệ
Trang 72 Điều kiện và cơ sở hình thành văn hóa nông thôn Việt Nam truyền thống
2.1 Điều kiện lịch sử
Nói đến văn hóa nông thôn tức nói đến tổ chức làng Việt Làng là một đơn vị cư trú và là một hình thức tổ chức xã hội quan trọng của nông thôn ở Việt Nam Làng Việt hình thành từ sớm, bắt đầu từ vùng trung du và châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, gắn liền với công cuộc dựng nước, giữ nước từ thời
kỳ các Vua Hùng và đối phó với thiên tai như bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, dịch bệnh,…
Những nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, kể từ khi có nghề trồng lúa nước, thì xóm làng bắt đầu hình thành Thuở ban đầu, con người từ vùng thượng du về đồng bằng để làm nông nghiệp, chuyển từ quan hệ huyết thống sang quan hệ láng giềng, phân chia nơi ở theo địa vực Họ dần biết hợp tác trong việc khai phá đất đai, đào kênh mương tưới nước, đắp đê chống lũ,… những công việc không thể thực hiện bởi một cá nhân hay một gia đình Sự cố kết ấy đã tạo ra đơn vị tụ cư nhỏ gọi là xóm, xóm phát triển rộng mà hình thành nên làng Sự cố kết cộng đồng dựa trên nhu cầu: đoàn kết để chống ngoại xâm, hợp tác để làm thủy lợi và trị thủy mà từ nhiều làng hình thành nên quốc gia sơ khai Và theo tiến trình lịch sử, các cuộc khai phá các vùng đất trong thời kỳ chúa Nguyễn đã đưa lãnh thổ người Việt được mở rộng vào Nam, mô hình làng Việt từ Bắc Bộ được dịch chuyển vào Nam, tiếp thu các yếu tố của văn hóa Chăm Pa, Khơ – me nên đã mang một diện mạo mới cho làng xã Việt Làng trở thành một đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã) từ thế kỷ VII dưới thời thuộc nhà Đường
Với những đặc điểm trên, cấu trúc làng truyền thống của người Việt thường gắn với hình ảnh con đê làng, cổng làng, đình làng, cây đa, bến nước và không gian trong làng là những xóm dân cư, nhà vườn, ao khép kín Cấu trúc
Trang 8làng là không gian nông thôn, mang đậm dấu ấn văn hoá lịch sử của người Việt
vụ đóng vai trò quan trọng Mỗi năm có 24 tiết khí, mỗi tiết ứng sẽ với một công đoạn của sản xuất nông nghiệp, buộc phải tuân thủ; nếu không sẽ ảnh
hưởng tới năng suất của mùa vụ Chẳng hạn, đối với tiết Kinh Trập (5-6/3) là
lúc sâu bọ sinh sôi và phá hại mùa màng vụ xuân của người dân Chính vì vậy cần tiến hành phòng trừ sâu bệnh để bảo vệ mùa màng bằng cách làm cỏ lúa
Thứ hai, do chưa có các thiết bị khoa học kỹ thuật hỗ trợ nên hoạt động sản xuất của nông dân chủ yếu là các công đoạn thủ công, sử dụng các kỹ thuật
cơ bắp và làm ăn dựa theo những kinh nghiệm đã được đúc kết từ lâu
Thứ ba, phụ thuộc nặng nề vào thiên nhiên “Ơn trời mưa nắng phải
thì”, khi gặp phải bão lụt lớn hay sâu bệnh sẽ gây thiệt hại cho mùa màng vì
vậy mà hoạt động sản xuất nông nghiệp có năng suất thấp và bấp bênh, thường
theo quy luật có tính chu kỳ: năm tạm được mùa, năm bình thường và năm mất
mùa Theo thống kê trong chính sử, từ 1010 - 1858, có 106 năm bị lụt, 84 năm
bị hạn, 13 năm bị sâu bệnh nặng, 29 năm bị động đất, 19 năm bị dịch bệnh, 69 năm mất mùa lớn dẫn đến đói to, chỉ có 21 năm được mùa Trước năm 1989,
an ninh lương thực không đảm bảo, người nông dân luôn phải đối phó với miếng cơm manh áo thường ngày; đời sống vật chất rất thấp
b) Thủ công nghiệp
Trang 9Thủ công nghiệp là một bộ phận không tách rời của nông nghiệp, do tính chất mùa vụ nên người nông dân có thời gian nhàn rỗi do đó thường gắn với các nghề thủ công; số lượng các làng nghề rất ít và sản xuất cũng mang những đặc điểm của nông nghiệp nên kỹ thuật không thể cải tiến, không dẫn đến tách thủ công nghiệp khỏi nông nghiệp; ngược lại, việc làm nghề phụ thuộc lớn vào nông nghiệp do sử dụng các vật liệu là sản phẩm của nông nghiệp; từ đó không hình thành các công trường thủ công để tiến lên sản xuất
tư bản chủ nghĩa Một bộ phận cư dân làng nghề ỷ thế độc quyền của mình để làm dối, làm ẩu kiếm lợi
c) Thương nghiệp
Thương nghiệp truyền thống của người Việt nhìn chung không mấy phát triển Nguyên nhân, do ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo coi nghề buôn là “mạt nghệ”, nông nghiệp mới được coi là “nghề gốc” và thương nhân
là tầng lớp cuối cùng trong “tứ dân” (sĩ - nông - công - thương) Hơn nữa, trong thương nghiệp thì nội thương là chủ yếu, được thực hiện qua hệ thống các chợ làng và luồng buôn bán tiểu thương do những người phụ nữ tranh thủ lúc nông nhàn đi buôn ở các chợ để kiếm thêm thu nhập cho gia đình; cơ cấu mặt hàng chủ yếu là nông sản mà phần nhiều là tự sản tự tiêu trong vòng kinh
tế tự túc tự cấp, số người có cửa hiệu buôn ở thành phố không nhiều, nên không hình thành các trung tâm thương nghiệp lớn Các chợ làng tạo ra một
“vùng liên làng” theo chu kỳ phiên chợ trong từng táng Một số làng gần nhau được phân chia theo tính chất luân phiên, tạo ra một sự lưu thông hàng hóa, một vòng khéo kín Chẳng hạn ở vùng Vónh Bảo (Hải Phòng) có câu ca dao
“Một Râu, hai Mét, ba Ngà / Tư Cầu, năm Táng, sáu Ngà, lại Râu / Bảy Ngà, tám Mét, chín Chầu / Mồng mười chợ Táng, một Râu lại về”
Tóm lại, kinh tế truyền thống của người Việt tuy phát triển hơn các tộc người thiểu số nhưng vẫn ở trình độ thấp, sản xuất dựa trên cơ sở nông nghiệp,
Trang 10trong đó trồng trọt là chủ đạo Có thể coi nền kinh tế đó như là một vườn cây, trong đó là trồng trọt - nông nghiệp là cây cổ thụ tỏa bóng rợp che hết ánh sáng của các cây - ngành khác, làm cho các cây ngành này chỉ là những cây leo bám quanh cây cổ thụ, cố kết rất vững bền nhưng vươn lên rất chậm chạp
2.2.2 Cơ sở xã hội
*Một thiết chế tự quản với nhiều tổ chức, gồm: xóm ngõ, dòng họ, phe
giáp, phường hội và kỳ mục, chức dịch, lấy hương ước làm cơ sở quản lý
chính
a) Xóm
Xóm là phân thể của làng về mặt cư trú và có cuộc sống riêng của chúng, dưới thời Việt Nam Cộng hòa còn gọi là liên gia, đây là nơi gồm những gia đình sinh sống gần nhau và có quan hệ láng giềng kết hợp cùng với quan hệ huyết thống tại các vùng nông thôn Người nông dân ứng xử với nhau theo
nguyên tắc “Bán anh em xa mua láng giềng gần”
Xóm là một cộng đồng được kết tinh trong một hình thái thờ phụng về tín ngưỡng - phong tục ở dưới cấp làng qua việc thờ thần thổ địa ở điếm xóm
và qua tục đặt hậu xóm (thường là những phụ nữ không con hoặc không chồng con đặt hậu) Trên bình diện công việc chung của làng, xóm là cái khung địa vực mà chính quyền quan chủ ở cấp xã lựa chọn để tổ chức các đội tuần phiên
để bảo vệ an ninh Làm phiên (hay ra phiên) là nghĩa vụ bắt buộc của nam giới
từ 18 đến 49 tuổi Họ phải canh gác “Nội hương ấp, ngoại đồng điền”, được
hưởng lúa sương túc theo đầu sào ruộng (mỗi sào 1 lượm)
b) Gia đình
Gia đình là một tập hợp của những người có quan hệ hôn nhân và quan
hệ huyết thống, gắn bó với nhau bằng các quan hệ tình cảm và trách nhiệm, nuôi dưỡng và giáo dục
Trang 11Gia đình người Việt chủ yếu là tiểu gia đình phụ quyền, bao gồm 2 thế
hệ bố mẹ và con cái, một số trường hợp có 3 thế hệ sống cùng ông bà, số ít bốn thế hệ “Tứ đại đồng đường” Gia đình là một đơn vị xã hội cơ bản, đảm nhận các chức năng: Là đơn vị tổ chức sản xuất, kinh tế tự chủ; tái sản xuất sức lao động; duy trì nòi giống và thờ cúng tổ tiên; đơn vị giáo dục; trao truyền văn hóa; điều hòa tình cảm Do dựa trên cơ sở kinh tế là nền nông nghiệp ruộng nước và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, gia đình người Việt mang tính gia trưởng cao tức đề cao vai trò của người chồng, người cha; song vẫn tôn trọng vai trò của người phụ nữ, người vợ với vai trò “nội tướng”, “tay hòm chìa khóa” “Của chồng công vợ”, đề cao sự hòa hợp vợ chồng “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”
mẽ quan hệ hôn nhân và gia đình
Những trường hợp cùng tên họ nhưng khác huyết thống vốn có hoặc do đổi họ do các nguyên nhân: vì kỵ húy, chẳng hạn họ Hoa thành họ Văn, họ Hồng thành họ Cung; hay được vua cho đổi họ theo họ vua; hoặc theo họ khác (họ Phí đổi thành họ Bùi vào thời Trần); hoặc bị truy nã, loạn lạc (họ Mạc đổi thành họ Lều, Bùi); và có thể do là dân ngụ cư phải làm con nuôi một người có thế lực để không bị chèn ép, nhanh được trở thành dân chính cư
Dòng họ được tổ chức theo hai nguyên lý: Nguyên lý trưởng đích (chi trưởng, ngành trưởng được tôn trọng “Xanh đầu con nhà bác, bạc đầu con nhà
Trang 12chú” và nguyên tắc cửu tộc (chín đời, gồm bốn đời trên và bốn đời dưới của
một cá nhân), quan hệ với nhau theo nguyên tắc “Cửu đại hơn ngoại nhân”
Trưởng tộc và các chi trưởng cùng các bậc cao tuổi trong họ quyết định các công việc trong họ Duy trì các mối quan hệ huyết thống trên tinh thần
“giọt máu đào hơn ao nước lã” là gia phả (sổ ghi chép về lai lịch từng người của các đời thuộc các chi họ để nhận biết nhau và ứng xử với nhau), nhà thờ
họ, ruộng họ, quỹ họ và ngày giỗ họ Quan hệ trong dòng họ thể hiện tinh thần
đùm bọc, có trách nhiệm với nhau về vật chất “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú
dì”, hỗ trợ nhau về mặt tinh thần “Cháu nó lú nhưng chú nó khôn” và đôi khi
là “chính trị” nữa với quan niệm dân dã: “Một người làm quan cả họ được
bộ dòng họ rất lớn thì sự liên kết giữa các dòng họ lại suy giảm Vì thế, năm
1921, người Pháp lấy dòng họ để tổ chức lại bộ máy làng xã song đã thất bại