1. Khái niệm: Chính luận là nhóm thể tài báo chí dùng lý lẽ để soi sáng sự kiện, giúp công chúng hiểu đúng sự thật, hướng họ đến hoạt động tích cực, phù hợp với quan điểm, tư tưởng, ý đồ của tác giả. 2. Đặc điểm: Chính luận mang đặc điểm chung của báo chí. Ngoài ra, chính luận còn có những đặc điểm riêng sau: a. Chính luận báo chí là nhóm thể tài báo chí dùng lý luận để soi sáng sự kiện. Mục đích: nhằm thay đổi nhận thức, tư duy lý luận của công chúng chứ không phải để cung cấp thông tin. b. Chính luận báo chí coi là một dạng văn nghị luận.( là một dạng văn mà ở đó người ta dùng lý lẽ, dẫn chứng để bàn bạc, làm rõ vấn đề nào đó nhằm để cho người đọc, người nghe hoạt động theo.) Chính luận thể hiện trực tiếp quan điểm của chủ thể sáng tạo để công chúng hiểu và hoạt động theo Biểu hiện: + Lối tư duy trong văn nghị luận khác với lối tư duy trong căn phản ánh (lối tư duy hình tượng). Trong chính luận là lối tư duy logic, nó dựa trên những dữ kiện, phán đoán để tư duy + Hình thức: thông thường, lối thể hiện của của văn là tình tiết, diễn biến được thể hiện, triển khai theo mạch cảm xúc. Còn trong văn chính luận, nó lại diễn biến theo diễn biến của sự kiện đó hoặc diễn biến theo trình tự nhận thức và theo cách khai triển vấn đề. Cụ thể, nếu trong văn học được thể hiện qua các tình tiết, hành động, lời nói thì trong chính luận, chủ đề tác phẩm được thể hiện qua hệ thống luận điểm, luận chứng, luận cứ. Nói cách khác, văn nghị luận là văn được thể hiện qua phương pháp nghên cứu khoa học rất chặt chẽ. Có 2 loại chính luận: chính luận nghệ thuật và chính luận báo chí. Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối. c. Chính luận thể hiện rõ nét, tập trung tư tưởng tác giả. Bản thân báo chí là phương tiện định hướng tư tưởng. Bởi lẽ chính luận báo chí là nhóm những thể tài không phản ánh hình thức mà phản ánh bên trong, làm thay đổi nhận thức của của công chúng về sự kiện ấy. Do đó tác giả phải bày tỏ quan điểm, tư tưởng của mình để định hướng cho nhận thức hoạt động. Nói cách khác, chính luận báo chí là xem xét, soi sáng những sự kiện bằng lý luận, mà đặc trưng của lý luận có tính chất định hương, chỉ đường. Do đó tác giả các phải bày tỏ quan điểm, thái độ. Thái độ, quan điểm của tác giả được bày tỏ bao nhiêu thì càng có khả năng định hướng bấy nhiêu. d. Những sự kiện trong tác phẩm chính luận được soi sáng bởi tư duy lý luận, tư duy logic.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THU HOÀI
ĐỀ TÀI: PHONG CÁCH NGÔN NGỮ TRONG CHÍNH LUẬN BÁO CHÍ
Chuyên ngành : Báo chí học
TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH LUẬN BÁO CHÍ
Giảng viên:
HÀ NỘI - 2021
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ báo chí không phải là một vấn đề mới, nó đã được đào sâu nghiên cứu theo từng góc cạnh, từng thời kỳ phát triển Nhưng trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, đây lại là một vấn đề nóng cần có quan tâm của toàn xã hội Tiếng Việt đang dần bị ăn mòn bởi thứ ngôn ngữ lai căng, thiếu trong sáng, pha tạp của một bộ phận người trẻ Do đó, báo chí phải đóng vai trò như một người dẫn đường trong công cuộc bảo tồn vào phát triển tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn Chúng ta sẽ đi sâu phân tích vấn đề ngôn ngữ báo chí ở phần sau
Từ khi ra đời và phát triển đến nay, báo chí luôn vận động trong sự đổi mới cả nội dung và hình thức thể hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng Điều đó làm hình thành một hệ thống các nhóm thể loại riêng của báo chí với những đặc điểm riêng, cách thức riêng, lợi thế riêng trong việc phản ánh hiện thực khách quan
Nhóm thể loại báo chí chính luận ra đời đáp ứng những nhu cầu đó Đồng thời, nó cũng làm xuất hiện những tác giả, nhà báo không ngừng sáng tạo trong việc sử dụng thể loại báo chí với ngôn ngữ, giọng điệu mang đặc trưng riêng để tạo ra những tác phẩm báo chí hấp dẫn bởi vừa có khả năng thông tin sự kiện, vừa sử dụng lý lẽ soi vào sự kiện hiện tượng nhằm định hướng công chúng đến hành động tích cực
Chúng ta có thể khẳng định rằng ảnh hưởng của báo chí trong xã hội hiện đại là vô cùng lớn Chính vì vậy, trách nhiệm của nó cũng không hề nhỏ Ngoài khả năng cung cấp thông tin và định hướng dư luận, báo chí còn có trách nhiệm góp phần định hình ngôn ngữ, đặc biệt là những tờ báo được viết cho giới trẻ
Trang 3I QUAN NIỆM CHUNG VỀ CHÍNH LUẬN
1 Quan niệm 1:
Chính luận là một nhóm thể tài báo chí Nó có chung hình thức là thông tin lý luận Chính luận bao gồm một số thể tài độc lập (bản thân nó chứa đựng phương pháp, bản chất riêng không phụ thuộc vào thể tài khác): xã luận, bình luận, tiểu luận, chuyên luận, điểm báo,
2 Quan niệm 2:
Trong thực tế, những quan niệm về chính luận và các thể tài trong nhóm chính luận hiện nay không thống nhất Cụ thể:
- Không thống nhất trong bản thân những người nghiên cứu báo chí
- Không thống nhất giữa báo chí của ta với thế giới Trên Thế giới không
có nhóm chính luận mà có từng thể tài cụ thể Còn ở Việt Nam, bản thân xã luận, bình luận là một thể loại riêng nhưng được xem xếp vào một nhóm là chính luận Nhưng trong đó các thể tài có tính chất, bản chất khác nhau
3 Quan điểm 3:
Mặc dù còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất nhưng ở những điểm
cơ bản thì nó có được sự thống nhất như: về phạm vi, nó đề cập đến những cái khái quát mang tính tiêu biểu, chỉ ra hướng vận động; thống nhất về đối tượng tác động Trong tác phẩm chính luận, các sự kiện riêng rẽ nhưng được xem xét một cách có hện thống, có logic (Xem xét trong mối quan hệ biện chứng)
II) KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CHÍNH LUẬN
1 Khái niệm:
Chính luận là nhóm thể tài báo chí dùng lý lẽ để soi sáng sự kiện, giúp công chúng hiểu đúng sự thật, hướng họ đến hoạt động tích cực, phù hợp với quan điểm, tư tưởng, ý đồ của tác giả
2 Đặc điểm:
Chính luận mang đặc điểm chung của báo chí Ngoài ra, chính luận còn
có những đặc điểm riêng sau:
a Chính luận báo chí là nhóm thể tài báo chí dùng lý luận để soi sáng
sự kiện
Trang 4- Mục đích: nhằm thay đổi nhận thức, tư duy lý luận của công chúng chứ không phải để cung cấp thông tin
b Chính luận báo chí coi là một dạng văn nghị luận.( là một dạng văn
mà ở đó người ta dùng lý lẽ, dẫn chứng để bàn bạc, làm rõ vấn đề nào đó nhằm
để cho người đọc, người nghe hoạt động theo.)
- Chính luận thể hiện trực tiếp quan điểm của chủ thể sáng tạo để công chúng hiểu và hoạt động theo
- Biểu hiện:
+ Lối tư duy trong văn nghị luận khác với lối tư duy trong căn phản ánh (lối tư duy hình tượng) Trong chính luận là lối tư duy logic, nó dựa trên những
dữ kiện, phán đoán để tư duy
+ Hình thức: thông thường, lối thể hiện của của văn là tình tiết, diễn biến được thể hiện, triển khai theo mạch cảm xúc Còn trong văn chính luận, nó lại diễn biến theo diễn biến của sự kiện đó hoặc diễn biến theo trình tự nhận thức
và theo cách khai triển vấn đề Cụ thể, nếu trong văn học được thể hiện qua các tình tiết, hành động, lời nói thì trong chính luận, chủ đề tác phẩm được thể hiện qua hệ thống luận điểm, luận chứng, luận cứ Nói cách khác, văn nghị luận là văn được thể hiện qua phương pháp nghên cứu khoa học rất chặt chẽ
- Có 2 loại chính luận: chính luận nghệ thuật và chính luận báo chí Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối
c Chính luận thể hiện rõ nét, tập trung tư tưởng tác giả
- Bản thân báo chí là phương tiện định hướng tư tưởng Bởi lẽ chính luận báo chí là nhóm những thể tài không phản ánh hình thức mà phản ánh bên trong, làm thay đổi nhận thức của của công chúng về sự kiện ấy Do đó tác giả phải bày tỏ quan điểm, tư tưởng của mình để định hướng cho nhận thức hoạt động Nói cách khác, chính luận báo chí là xem xét, soi sáng những sự kiện bằng lý luận, mà đặc trưng của lý luận có tính chất định hương, chỉ đường Do
đó tác giả các phải bày tỏ quan điểm, thái độ
- Thái độ, quan điểm của tác giả được bày tỏ bao nhiêu thì càng có khả năng định hướng bấy nhiêu d Những sự kiện trong tác phẩm chính luận được soi sáng bởi tư duy lý luận, tư duy logic
Trang 53 Vai trò của chính luận trong hoạt động báo chí
Có thể nói rằng, chính luận là nhóm thể tài có vai trò quan trọng trong hoạt động sáng tạo báo chí Nó có khả năng giáo duc, tuyên truyền, lý luận cho công chúng Cụ thể: Là nhóm thể tài có khả năng chuyển tải thông tin tổng hợp, khái quát cao Có khả năng chuyển tải thông tin mang tính định hướng, chiến lược Tạo ra cho công chúng 1 tầm nhận thức mới cao hơn, khái quát hơn
III NGÔN NGỮ CHÍNH LUẬN
– Là ngôn ngữ dùng trong các văn bản chính luận hoặc lời nói miệng trong các buổi hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,… nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng,…theo một quan điểm chính trị nhất định
– Có 2 dạng tồn tại: dạng nói & dạng viết
Các phương tiện diễn đạt
1 Về từ ngữ:
- Văn bản chính luận sử dụng ngôn ngữ thông thường nhưng có nhiều từ ngữ chính trị: Độc lập, đồng bào, bình đẳng, tự do, quyền lợi, phát xít, thực dân, kháng chiến, thống nhất, công bằng, dân chủ, đa số, thiểu số…
- Nhiều từ ngữ chính trị có nguồn gốc từ văn bản chính luận nhưng được dùng rộng khắp trong sinh hoạt chính trị nên thấm vào lớp từ thông dụng đến mức người dân dùng quen thuộc, không còn quan niệm đó là từ ngữ lí luận nữa
Ví dụ: đa số, thiểu số, dân chủ, phát xít, bình đẳng, tự do…
2 Về ngữ pháp:
- Câu văn trong văn bản chính luận thường là câu có kết cấu chuẩn mực, gần với những phán đoán logic trong một hệ thống lập luận, câu trước liên kết với câu sau, câu sau nối tiếp câu trước trong một mạch suy luận
- Các văn bản chính luận thường dùng những câu phức hợp có những từ ngữ liên kết như do vậy, bởi thế, cho nên, vì lẽ đó…; tuy… nhưng; dù… nhưng để phục vụ cho lập luận được chặt chẽ
3 Về biện pháp tu từ:
Trang 6- Ngôn ngữ chính luận không phải phải lúc nào cũng mang tính công thức, ước lệ, khô khan Ngược lại, nó có thể rất sinh động do sử dụng khá nhiều các biện pháp tu từ
- Tuy vậy việc dùng các biện pháp tu từ chỉ giúp cho lí lẽ, lập luận thêm hấp dẫn, vì mục đích của văn bản chính luận là thuyết phục người đọc, người nghe bằng lí lẽ và lập luận
- Ở dạng nói (khẩu ngữ), ngôn ngữ chính luận chú trọng đến cách phát
âm, người nói phải diễn đạt khúc chiết, rõ ràng, mạch lạc Trong trường hợp cần thiết thì ngữ điệu đóng vai trò quan trọng để thu hút người nghe
4 Đặc trưng phong cách ngôn ngữ chính luận
Là phong cách được dùng trong lĩnh vực chính trị xã hội
– Tính công khai về quan điểm chính trị: Văn bản chính luận phải thể hiện rõ quan điểm của người nói/ viết về những vấn đề thời sự trong cuộc sống, không che giấu, úp mở Vì vậy, từ ngữ phải được cân nhắc kĩ càng, tránh dùng từ ngữ mơ hồ; câu văn mạch lạc, tránh viết câu phức tạp, nhiều ý gây những cách hiểu sai
– Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận: Văn bản chính luận có hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng, mạch lạc và sử dụng từ ngữ liên kết rất chặt chẽ: vì thế, bởi vây, do đó, tuy… nhưng…, để, mà,…
– Tính truyền cảm, thuyết phục: Thể hiện ở lí lẽ đưa ra, giọng văn hùng hồn, tha thiết, bộc lộ nhiệt tình của người viết
Cách nhận biết ngôn ngữ chính luận trong đề đọc hiểu
- Nội dung liên quan đến những sự kiện, những vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng,…
- Có quan điểm của người nói/ người viết
- Dùng nhiều từ ngữ chính trị
– Được trích dẫn trong các văn bản chính luận ở SGK hoặc lời lời phát biểu của các nguyên thủ quốc gia trong hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự ,
…
Trang 7IV CÁC TÍNH CHẤT CỦA NGÔN NGỮ TRONG CHÍNH LUẬN BÁO CHÍ
Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản, có vai trong quan trọng hàng đầu của báo chí là thông tin Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập đến các sự kiện Nếu không có sự kiện thì không thể có tin tức báo chí Do vậy, nét đặc trưng nhất của ngôn ngữ báo chí chính là có tính sự kiện Chính nó đã tạo nên ở ngôn ngữ báo chí những tính chất cụ thể sau:
1 Tính chính xác
Đối với ngôn ngữ báo chí, đây là tính chất đặc biệt quan trọng Vì báo chí có chức năng định hướng dư luận xã hội Chỉ cần một sơ suất nhỏ nhất cũng có thể làm cho độc giả hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng không lường trước được Có thể đưa ra dẫn chứng: Sau chuyến tháp tùng một quan chức cao cấp sang thăm Trung
Quốc, một nhà báo đã viết một bài phóng sự, trong đó có câu: “Chúng tôi chia tay với tình hữu nghị dạt dào của hai nước Việt - Trung ” Rõ ràng từ
“với” ở đây được dùng sai (vì cụm từ “chia tay với…” biểu đạt ý nghĩa “từ
bỏ, từ giã”), cần phải thay nó bằng từ “trong”.
2 Tính cụ thể
Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí được hiểu là khi nhà báo miêu tả, tường thuật sự việc, phải cụ thể, cặn kẽ đến từng chi tiết nhỏ Có như vậy người đọc, người nghe mới có cảm giác mình là người trong cuộc, đang trực tiếp được chứng kiến những gì nhà báo nói tới trong bài báo
Mỗi sự kiện được đề cập trong tác phẩm báo chí phải gắn liền với một không gian, thời gian xác định; với những con người xác định (có tên tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, giới tính…cụ thể) Do đó, trong ngôn ngữ báo chí nên
Trang 8hạn chế tối đa việc dùng từ có tính chất mơ hồ như: “một người nào đó”, “ở một nơi nào đó”, “vào khoảng”, “hình như”,…
3 Tính đại chúng
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng Tất cả mọi người trong xã hội, không phụ thuộc nghề nghiệp, trình độ nhận thức, địa vị xã hội, lứa tuổi,
…đều là đối tượng phục vụ của báo chí Đây vừa là nơi để họ tiếp nhận thông tin, vừa là nơi để bày tỏ ý kiến Chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là thứ ngôn ngữ dành cho đại chúng, có tính phổ cập rộng rãi như theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nổi tiếng người Nga V.G.Kostomarov đã từng nói:
“Ngôn ngữ báo chí phải thích ứng với mọi tầng lớp công chúng sao cho một nhà bác học với kiến thức uyên thâm nhất cũng không cảm thấy chán và một
em bé có trình độ còn non nớt cũng không thấy khó hiểu”.
4 Tính ngắn gọn
Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn và súc tích Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc, người nghe Thêm vào đó, nó còn làm tốn thời gian của cả người viết lẫn người đọc, dễ dẫn đến các lỗi sai về mặt ngôn từ
5 Tính định lượng
Các tác phẩm báo chí thường bị giới hạn về mặt thời gian hay diện tích xuất hiện trên báo, đó là tính định lượng Vì thế, việc lựa chọn và sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kỹ lưỡng, hợp lý để phản ánh đầy đủ lượng sự kiện mà không vượt quá khung cho phép về thời gian và không gian
Theo bài: “Đặt tít ngắn có dễ?” trên trang web Nghề báo (nghebao.com),
có những tít báo rất dài, như: “Hội thảo đổi mới giáo dục đại học Việt Nam -Hội nhập và thách thức” (tít này dài 64 ký tự), sau khi được sửa lại là: “-Hội thảo đổi mới giáo dục đại học” (chỉ còn 33 ký tự) Chúng ta có thể nhận ra tít
sau khi sửa chỉ dài gần bằng phân nửa tít trước nhưng nội dung chính vẫn được
Trang 9giữ nguyên Vậy tại sao lại bắt độc giả ngồi đọc những dòng chữ dài lê thê và khiến cho họ cảm thấy “tức mắt” như vậy ?!
Bài viết trên cũng đã đưa ra chuẩn mực cho một tít báo là khoảng dưới 50
ký tự, theo đó là một vài gợi ý nhỏ khi viết tít:
- Bỏ những từ thừa
- Bỏ những từ “có cũng như không” như “của”, “về”, “được”,
- Bỏ “các”, “những” nếu có thể
- “Chặt” chữ trong từ nếu được: “thành lập”, “sang thăm”, “phòng chống”,
“tham dự”,
- Tránh câu bị động
- Không nhất thiết lúc nào cũng phải nói là Việt Nam
6 Tính biểu cảm:
Tính biểu cảm trong ngôn ngữ gắn liền với việc sử dụng những từ ngữ mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân…Ví dụ như:
“Sông Tô mà không lịch” (Báo Văn Hoá, 17/05/1999)
Nếu ngôn ngữ báo chí không có tính biểu cảm, chỉ là những chuỗi thông tin khô khan thì nó khó có thể thu hút được sự chú ý của độc giả Tính biểu cảm tác động mạnh mẽ tới tâm hồn người nghe, làm cho họ có những trạng thái cảm xúc nhất định theo như người viết mong đợi
7 Tính khuôn mẫu:
Trong văn phong báo chí, ta rất hay gặp những dạng tin như:
- Theo AFP, ngày…tại…trong cuộc gặp gỡ…Tổng bí thư…đã kêu gọi…
- TTXVH, ngày…người phát ngôn Bộ Ngoại giao…cho biết…
Đây chính là tính khuôn mẫu của báo chí, thường bao gồm 6 câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Bao giờ? Như thế nào? Tại sao?
Yếu tố khuôn mẫu không đi một mình Nó thường được kết hợp với thành
tố biểu cảm, nên ngôn ngữ báo chí thường mềm mại, hấp dẫn chứ không hề khô khan như trong một văn bản khoa học hay văn bản hành chính
Trang 10Báo in (nguồn:homepages.which.net)
Báo mạng
V HAI LOẠI HÌNH BÁO CHÍ TIÊU BIỂU
1 Báo in
Ra đời: Báo in (hay báo viết) là loại hình
báo chí ra sớm nhất, được thể hiện trên giấy
Tờ báo đầu tiên mang tên “Niewe Tydigen” ra
đời ở Bỉ vào năm 1605, tiếp sau là tờ “Aviso”
- 1609 ở Đức…Hơn 200 năm sau, tờ báo in
đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ của Việt Nam
mới xuất hiện vào năm 1865 có tên gọi: “Gia
Định Báo”
Ưu điểm: tính phổ cập cao, nội dung
sâu, người đọc có thể nghiên cứu Nhờ những đặc điểm này mà báo in luôn chiếm một chỗ đứng quan trọng so với các loại hình báo chí khác
Nhược điểm: thông tin chậm, khả năng tương tác hai chiều (giữa
người đọc và người viết) kém, khi sai thông tin thì rất khó đính chính
Phương tiện biểu đạt: chủ yếu qua chữ viết và một phần là hình ảnh.
Vì vậy, nói tới ngôn ngữ trên báo in, người ta sẽ nghĩ ngay đến phương diện chữ viết
2 Báo mạng điện tử
Ra đời: Báo mạng điện tử (báo
mạng) ra đời muộn hơn nhiều so với các
loại hình báo chí khác Tờ báo mạng đầu
tiên trên thế giới ra đời năm 1992 ở Mỹ
Còn tại Việt Nam, sự hình thành của báo
mạng gắn liền với sự kiện tạp chí “Quê
hương” công bố phiên bản trên mạng
Internet vào ngày 31 tháng 3 năm 1997