Từ thực tiễn đất nước, đại hội IV đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể thựchiện trong 5 năm, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là “tập trung cao độ sức của cảnước, của các ngành, các cấp, tạo ra một
Trang 1MỤC LỤC Trang
Lời cảm ơn……….2.
A Dẫn luận………4.
B Nội dung………8.
Chương1: Khái quát về huyện Đông Sơn trước khi tiến hành đổi mới
1.1.Khái quát về điều kiện tự nhiên – xã hội của Đông Sơn………8
nhiên……… 8
1.1.2.Điều kiện lịch sử – xã hội………10.1.2.Tình hình kinh tế – xã hội Đông Sơn trước những năm đổi mới (1975 -1985)……… 16
Chương2: Đảng bộ Đông Sơn bước đầu lãnh đạo nhân dân Đông Sơn tiến hành công cuộc đổi mới (1986 - 1996)
2.1 Bối cảnh lịch sử và yêu cầu đổi mới của Đông Sơn………22
2.2 Đảng bộ Đông Sơn bước đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986 1990)……… 24.2.2.1 Quan điểm đổi mới của Đảng và chủ trương đường lối của Đảng
-bộ huyện……….24.2.2.2 Những chuyển biến bước đầu về kinh tế–xã hội của ĐôngSơn.26
2.2.2.1 Kinh tế………26.2.2.2.2 Văn hoá - giáo dục - y tế………28.2.2.2.3 Chính trị – quốc phòng – an ninh……… 30
Trang 22.3 Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhân dân tiến hành đổi mới trong thời kỳ
(1991 - 1995)……….33
2.3.1 Chủ trương, đường lối của Đảng bộ Đông Sơn……… 33
2.3.2 Những thành tựu ………35
2.3.2.1 Kinh tế………35
2.3.2.2 Văn hoá - giáo dục – y tế………37
2.3.2.3 Chính trị – quốc phòng – an ninh……… 39
2.3.3 Hạn chế……… 42
Chương3: Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhân dân tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới theo hướng CNH – HĐH (1996 - 2005) 3.1 Đảng bộ Đông Sơn bước đầu thực hiện đổi mới theo hướng CNH – HĐH (1996 - 2000)………44
3.1.1 Quan điểm CNH – HĐH của Đảng và chủ trương, đường lối của Đảng bộ huyện Đông Sơn ……….44
3.1.2.Thành tựu bước đầu……….46
3.1.2.1 Kinh tế………46
3.1.2.2 Văn hoá - giáo dục – y tế………48
3.1.2.3 Chính trị – quốc phòng – an ninh……… 50
3.1.3 Hạn chế……… 53
3.2 Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh đường lối theo hướng CNH- HĐH giai đoạn (2001 - 2005)……….54
3.2.1 Chủ trương đường lối của Đảng bộ Đông Sơn………
54 3.2.2 Những thành tựu……….56
3.2.2.1 Kinh tế………56
Trang 33.2.2.3 Chính trị – quốc phòng – an ninh……… 62.
3.2.3 Hạn chế……… 65
C Kết luận……… 66.
Tài liệu tham khảo……… 69.
Phụ lục LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ, văn phòng huyện uỷ, văn phòng uỷ ban nhân dân, ban tuyên giáo, thư viện huyện Đông Sơn đã giúp đỡ tôi về mặt tư liệu Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa lịch sử - ĐH Vinh, cùng gia đình đã quan tâm giúp đỡ tôi Và đặc biệt tôi chân thành cảm ơn cô giáo Ths Mai Thanh Nga người đã có công lớn trong quá trình hướng dẫn và giúp đõ tôi hoàn thành khoá luận này Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng đề tài vẫn không tránh khỏi hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
Sinh viên thực hiện
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc
ta đã giành được thắng lợi, cả nước bước vào thời kỳ cách mạng mới: Xây dựngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Trong giai đoạn (1976 - 1985), vừa tìm tòi, vừa thử nghiệm đất nước đãđạt được những thành tựu cơ bản trên các lĩnh vực kinh tế – chính trị – xã hội.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Đảng và nhà nước ta còngặp những khó khăn và hạn chế nhất định Đó là hậu quả của cuộc chiến tranh
30 năm với những vết thương chưa dễ gì khôi phục trong ngày một, ngày hai.Thêm vào đó, tình hình chính trị thế giới có những chuyển biến không có lợicho cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới cũng như các nước xã hội chủnghĩa Sự hỗ trợ và giúp đỡ một cách vô tư, nhiệt tình của các nước xã hội chủnghĩa không còn nữa, đặc biệt là cơ chế quan liêu bao cấp đã tỏ ra lỗi thời, lạchậu làm cho đất nước sau hơn 10 năm lâm vào khủng hoảng trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống như: sản xuất trì trệ, lạm phát phi mã, thất nghiệp tăng,đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Để phát huy những thành quả đã đạt được, đồng thời khắc phục nhữngkhó khăn, hạn chế đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng Việt Nam đã tiếnhành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) Đại hội là mốc quan trọngđánh dấu thời kỳ đổi mới toàn diện Từ đó tổng kết đánh giá đúng tình hìnhcủa đất nước, rút ra bài học kinh nghiệm trong 10 năm (1976 - 1985), Đảng ta
đã xác định những mục tiêu của cách mạng trong thời gian tới nhằm đưa nềnkinh tế đất nước đi lên Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Đông Sơn đãnhanh chóng tiếp nhận đường lối, quan điểm đổi mới một cách linh hoạt vàothực tiễn của địa phương mình, đã khai thác có hiệu quả tiềm năng nội lực,
Trang 5trong 20 năm đổi mới Đông Sơn đã và đang thu được những thành tựu đángkhích lệ.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này Vì đượcnghiên cứu công cuộc đổi mới ở huyện Đông Sơn không chỉ có ý nghĩa vềmặt khoa học, góp phần làm sáng rõ lý luận về đường mới kinh tế ở nước ta,
mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn ở chỗ: tổng kết đãnh giá những thành tựu
và hạn chế một cách khái quát nhất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong tiến trình đổi mới ở một huyện cụthể Từng là người con của quê hương Đông Sơn, tôi muốn góp một phần nhỏ
bé vào việc tìm hiểu lịch sử địa phương mình, nhất là trong những năm đổimới Đó chính là lý do để tôi chọn đề tài “Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhândân tiến hành công cuộc đổi mới từ 1986 - 2005 ” làm khoá luận tốt nghiệpđại học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu quá trình đổi mới nói chung, vấn đề “Đảng bộ Đông Sơnlãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới từ 1986 - 2005” nói riêng hiệnnay là một đề tài mới mẻ, mang tính thời sự Hầu hết các sự kiện đang trongquá trình đi lên, nên việc tổng kết đánh giá gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, đây
là một vấn đề hàm chứa trong đó cả tính lý luận và thực tiễn
Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam từ năm 1975 – đến nay những vấn đề lýluận và thực tiễn” của Trần Bá Đệ biên soạn – nhà xuất bản Đại Học QuốcGia Hà Nội năm 1988 đã nêu lên những thành tựu tiến bộ và hạn chế của đấtnước từ khi thực hiện đường lối đổi mới cho đến năm 1966
Trong cuốn “Tìm hiểu văn kiện Đại hội VIII và IX của Đảng hỏi vàđáp”, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia đã nêu lên câu hỏi và trả lời xungquanh Đại hội VIII, IX những thành tựu hạn chế trong 20 năm đổi mới
Trang 6Trong cuốn “Lịch sử đảng bộ huyện Đông Sơn” do huyện uỷ, UBND huyệnĐông Sơn biên soạn – NXB Thanh Hoá năm 2000 đã đề cập đến đặc điểm tựnhiên, xã hội và truyền thống đấu tranh của huyện Đông Sơn trong tiến trìnhlịch sử Trong đó đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với sự nghiệp đổimới của nhân dân Đông Sơn.
Ngoài ra, một số báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Đông Sơn các khoá
V, VI, VII, XX, XXI và báo cáo tổng kết của UBND huyện đánh giá tổng kếtnhững thành tựu và hạn chế của Đông Sơn trong quá trình thực hiện đổi mớicủa từng thời kỳ cụ thể
Nhìn chung các tác phẩm và tài liệu nói trên chưa được nghiên cứu mộtcách toàn diện và có hệ thống về những thành tựu tiến bộ và những hạn chếyếu kém, chưa nêu lên được những giải pháp cụ thể, bài học kinh nghiệmtrong suốt quá trình đổi mới từ 1986 – 2005 Để có một công trình nghiên cứuhoàn chỉnh “Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổimới từ 1986 - 2005” cần đầu tư nhiều thời gian và trí tuệ hơn nữa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tiếp nhận đề tài “Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhân dân tiến hành côngcuộc đổi mới từ 1986 - 2005” chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu lànhững thành tựu đạt được của nhân dân Đông Sơn cùng những tồn tại và hạnchế trong thời kỳ đổi mới Hay nói một cách khác đi là tìm hiểu về quá trìnhđổi mới nói riêng của Đông Sơn trong công cuộc đổi mới của đất nước nóichung
Với đối tượng nghiên cứu như vậy, trước hết chúng tôi đề cập đến điềukiện tự nhiên, điều kiện lịch sử xã hội những nhân tố ảnh hưởng đến sự nghiệpđổi mới, trọng tâm nghiên cứu của khoá luận là những thành tựu đạt được vànhững hạn chế trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới ở Đông Sơn Qua
Trang 7đúng đắn, sáng tạo và sự vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào hoàn cảnh
cụ thể của địa phương một cách phù hợp Trên cơ sở đó tôi mạnh dạn ra một
số nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong hơn 20 năm đổi mới trên địabàn huyện Đông Sơn, do đó phạm vi nghiên cứu của đề tài là ở một huyện cụthể và trong khoảng thời gian từ 1986 – 2005 Những vấn đề này nằm ngoàigiới hạn trên không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài “Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhân dântiến hành công cuộc đổi mới từ 1986 - 2005” tôi tập trung khai thác các nguồntài liệu sau
Tài liệu thành văn: Trước hết là các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốccủa Đảng Cộng sản Việt Nam (từ Đại hội VI - X), giáo trình lịch sử Việt Namhiện đại, các tài liệu viết về lịch sử, xã hội, con người Đông Sơn…Trong đó,tôi đặc biệt tập trung khai thác các báo cáo chính trị của BCH huyện uỷ,UBND qua các nhiệm kỳ (1986 - 2005)
Tài liệu điền dã: Những cuộc trao đổi với cán bộ lãnh đạo huyện, vănphòng huyện uỷ, ban tuyên giáo Quan sát thực tế qua trình đổi mới của ĐôngSơn
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếunhư sau: phương pháp lịch sử, phương pháp logic là những phương pháp cơbản để vận dụng nghiên cứu, ngoài ra sử dụng phương pháp chuyên ngànhnhư thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp tư kiệu thành văn và tưliệu điền dã để sử lý các số liệu báo cáo của huyện uỷ
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa khoá luận được chia thành 3 chương:
Trang 8Chương2: Đảng bộ Đông Sơn bước đầu lãnh đạo nhân dân tiến hành côngcuộc đổi mới (1986 - 1996)
Chương3: Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhân dân tiếp tục tiến hành sự nghiệpđổi mới theo hướng CNH – HĐH (1996 - 2005)
B NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT HUYỆN ĐÔNG SƠN TRƯỚC KHI
TIẾN HÀNH ĐỔI MỚI
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên- xã hội của Đông Sơn
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đông Sơn là một huyện đồng bằng của tỉnh Thanh Hoá, nằm ở cửa ngõphía tây thành phố Thanh Hoá, cách thành phố 5km theo quốc lộ 47 Phía bắcgiáp huyện Thiệu Hoá, phía nam giáp huyện Quảng Xương và Nông Cống,phía đông giáp thành phố Thanh Hoá và phía Tây giáp huyện Triệu Sơn
Là một huyện thuộc khu vực đồng bằng, Đông Sơn có nhiều điều kiện để pháttriển các nghành kinh tế Trên địa bàn huyện, ngoài hai tuyến đường quốc lộ
45 và 47 đi qua còn có tuyến đường sắt Bắc- Nam chạy qua các xã: ĐôngHưng, Đông Phú, Đông Nam tạo thành hệ thống giao thông xuyên huyện,phục vụ cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá và lưu thông các loại phương tiệngiao thông trong huyện Ngoài ra, trên địa bàn huyện Đông Sơn còn có hệthống kênh đào dày đặc: kênh nhà Lê, kênh Sông Hoàng, kênh Bắc, từ hậutiền sông nhà Lê chảy qua Kẻ Rị, Kẻ Chè, Kẻ Bôn rồi đến Bố Vệ, qua QuảngXương chảy ra biển Huyện Đông Sơn còn có hệ thống tưới tiêu cấp I và có
Trang 9325 ha ao hồ phân bố hầu hết các xã trong huyện, tạo điều kiện thuận lợi choviệc nuôi trồng thủy sản và góp phần phân phối nguồn nước ở địa phương.
Diện tích đất Đông Sơn nhỏ nhất huyện Thanh Hoá với 10.678.25ha.Bình quân diện tích đất tự nhiên là 0.09ha/người Trong đó, diện tích đất nôngnghiệp là 7.188.04ha, chiếm 67.33% diện tích đất tự nhiên và 74.42% diệntích đất đang sử dụng Bình quân diện tích đất nông nghiệp là 6.31 m2/người,thấp so với bình quân chung toàn tỉnh
Đông Sơn là một trong những vùng đất giàu của tỉnh Thanh Hoá Vùngđất này được kiến tạo từ rất sớm và có ít biến động về mặt địa chất Địa hìnhcủa Đông Sơn nhìn chung phức tạp, lắm sông nhiều núi nhưng khá thuận lợicho việc làm ăn sinh sống
Đông Sơn có hai con sông lớn chảy qua là sông Chu và sông Mã Haicon sông này lớn nhất xứ Thanh và là hệ thống giao thông đường thuỷ lớnnhất trong vùng Từ ngã ba Đầu, ngược dòng sông Chu có thể lên các huyệnmiền núi phía tây tỉnh Thanh Hoá, ngược dòng sông Mã có thể lên đến thượng
du Thanh Hoá lên đến tận Lào, ngược dòng sông Mã theo sông Lèn có thể ratận Ninh Bình, Hà Nam một cách thuận tiện Tuyến đường thuỷ này mới đượchình thành và có vai trò rất lớn trong việc giao lưu giữa vùng đất Giao Chỉ vàvùng đất Cửu Chân xưa Đoạn sông Mã, sông Chu chảy qua đất Đông Sơn tuykhông dài lắm nhưng lại có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, vậtchất của Đông Sơn từ bao thế hệ nay Ngoài hai con sông lớn, Đông Sơn còn
có hệ thống sông ngòi khác nối liền với các vùng phụ cận
Về khoáng sản, Đông Sơn có 10 xã có núi đá với nhiều chủng loại, trữlượng tương đối lớn, tạo điều kiện để phát triển các nghành sản xuất vật liệuxây dựng và chế tác đá Núi Nhồi xưa còn có tên gọi là núi Nhuệ Sơn, thuộclàng Nhồi, nằm trong địa phận xã Đông Hưng và Đông Tân Núi có nguồn đá
Trang 10Đồng- Ngọc Nữ thuộc xã Đông Hưng, tiếp theo sau ngọn núi Nhồi Đây làngọn núi tạo quang cảnh tự nhiên.
Đông Sơn còn là vùng có nhiều loại đất sét tốt để phát triển nghề làmgạch ngói, gốm sứ Nguồn tài nguyên này tập trung chủ yếu ở các xã ĐôngHưng, Đông Phú, Đông Quang, Đông Vinh, Đông Nam
Là một huyện thuộc khu vực đồng bằng của tỉnh Thanh Hoá, Đông Sơnmang nhiều đặc điểm của khí hậu địa phương- một điểm tiếp nối giữa Bắc vàBắc Trung Bộ Do vậy, nó vừa mang đặc điểm của khí hậu Bắc Bộ (có mùađông lạnh và khô với thời gian ngắn, đầu xuân khí hậu ẩm ướt và kèm theomưa phùn) lại vừa mang đặc điểm của khí hậu miền Trung(nắng lắm, mưanhiều bão lũ thường xuyên) Nhiệt độ trung bình của Đông Sơn từ 25-280C,lượng mưa trung bình từ 1.500- 2000ml và mưa theo mùa, độ ẩm từ 70-80%.Tổng số giờ nắng trong năm lên đến 1.500- 2.000giờ/năm, tổng số nhiệt độtrong năm 9.500-10.0000C Cũng như khí hậu cả nước, khí hậu ở Đông Sơnchịu ảnh hưởng của khí hậu phân tầng theo mùa và theo chiều hướng khácnhau giữa Bắc và Nam
Độ ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào đã tạo cho Đông Sơn phát triển nềnnông nghiệp nhiệt đới với cơ cấu cây trồng, vật nuôi phong phú Tuy nhiên,bên cạnh những thuận lợi ấy, khí hậu Đông Sơn còn chịu tác động của khí hậugió mùa Hằng năm, mùa khô hanh kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch.Mùa nắng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đếntháng 12 Thiên tai, lũ lụt thường xuyên xảy ra vào tháng 7 và tháng 8 hàngnăm
Tóm lại, vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên như trên đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội của huyện Đông Sơn Đó là sựphức tạp về địa hình, khắc nghiệt về khí hậu, khó khăn về hệ thống giao thông
Trang 11kiện cho Đông Sơn phát triển một nghành kinh tế đa dạng, là sự kết hợp củanền kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với các nghề phụ khác.
1.1.2 Điều kiện lịch sử- xã hội
Với nguồn tài nguyên phong phú và sự lao động cần cù, sáng tạo, người dânĐông Sơn đã xây dựng cho mình một cuộc sống phong phú, đa dạng về kinhtế- văn hoá
Về kinh tế, bên cạnh nghề chủ đạo là sản xuất nông nghiệp, ở Đông Sơn
từ ngàn đời xưa đã xuất hiện nhiều nghề thủ công truyền thống có giá trị nhưnghề làm đồ đá, nghề gốm, nghề đúc đồng, đan lát…
Nghề làm đồ đá là một trong những nghề cổ truyền được lưu truyền vàphát triển lâu đời nhất ở Đông Sơn Chứng tích về việc sản xuất, chế tác đồ đácòn để lại dấu ấn đậm nét trong các di tích khảo cổ học được phát hiện trênvùng đất Đông Sơn như: di tích Cồn Chân Tiên, di tích Đông Khối Tại đây,các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra một xưởng chế tạo công cụ sản xuất, chếtác đồ trang sức bằng đá có niên đại cách ngày nay hơn 2.000 năm Trong sốnày, nổi tiếng nhất là đá làng Nhồi
Nghề gốm là nghề thủ công phát triển khá mạnh ở Đông Sơn bởi lợi thếnguồn đất sét tốt và có hệ thống giao thông đường thuỷ thuận lợi Nghề này đã
có ở Đông Sơn từ ngàn xưa Trung tâm sản xuất ở vùng Đức Thọ và một sốlàng ven sông Mã, sông Chu Sản phẩm gốm làm ra chủ yếu là các loại chumvại và một số vật dụng khác như: lọ, hũ, chỉnh, chậu, ấm, tiểu sành…
Nghề đúc đồng ở Đông Sơn tuy ra đời muộn so với nghề chế tác đá vàlàm đồ gốm nhưng cũng là một trong những nghề có lịch sử lâu đời và nổitiếng ở Thanh Hoá Những chứng cứ khoa học được phát hiện từ lòng đấtĐông Sơn đã cho ta thấy vào thời kì văn hoá Đông Sơn, người xưa trên đấtnày đã đạt đến trình độ cao về kĩ thuật đúc đồng - nổi bật nhất là trống đồng
Trang 12Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cũng như các miền đất khác ở nước ta,Đông Sơn có nhiều thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính Đông Sơn lànơi có mốc lớn về mặt niên đại được nhiều nơi biết đến Những chứng tích vậtchất về sự tồn tại và phát triển của các tộc người thời đại kim khí cách ngàynay trên dưới 4.000 năm cho đến sơ kì thời đại đồ sắt cách ngày nay 2.000năm được phát triển khá tập trung trên đất Đông Sơn với nhiều loại di tích tiêubiểu Hệ thống các di tích khảo cổ học có diễn biến văn hoá từ sơ kì thời đạiđồng thau đến sơ kì thời đại đồ sắt được xác định: vùng đất Đông Sơn thờiVăn Lang- Âu Lạc là một trung tâm quan trọng của quận Cửu Chân Di tíchlịch sử Đông Sơn đã trở thành tên gọi của một nền văn hoá Nền văn minh tiêubiểu của người Việt cổ thời dựng nước và giữ nước: văn hoá Đông Sơn, trốngđồng Đông Sơn đã trở thành biểu tượng của nền văn minh Việt cổ.
Từ thời thuộc Hán đến thời Tần, miền đất này thuộc huyện Tư Phố và làmột phần thuộc huyện Cư Phong Sang thời Tuỳ- Đường, nó là miền đất thuộcCửu Chân Theo “di biên” của Cao Biền, vùng đất này có tên gọi là ĐôngDương Đến thời Đinh- Lê, khi đất nước giành được quyền độc lập tự chủ thìvùng đất Đông Sơn thuộc huyện Cửu Chân Đến thời Trần đã đặt tên là huyệnĐông Sơn Cho đến thời Lê Quang Thuận, huyện Đông Sơn lại thuộc phủThiệu Thiên Sau này, thời Gia Long đổi phủ Thiệu Thiên thành phủ ThiệuHoá Tên huyện Đông Sơn tồn tại đến ngày nay
Cho đến năm 1953, Đông Sơn đã tách 13 xã thành 22 xã bao gồm:Đông Khê, Đông Ninh, Đông Hoà, Đông Anh, Đông Thịnh, Đông Xuân,Đông Quang, Đông Vệ, Đông Hương, Đông Hải, Đông Yên, Đông Văn, ĐôngPhú, Đông Lĩnh, Đông Cương, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Hưng, ĐôngTân, Đông Thọ, Đông Giang, và Đông Chấn Đến năm 1963, xã Đông Giangcắt về thị xã Thanh Hoá và đến năm 1972 cắt tiếp 4 xã: Đông Thọ, Đông
Trang 135/7/1977 Hội đồng chính phủ ban hành Nghị định số 177/CP xác nhập 16 xã
cũ của huyện Thiệu Hoá cùng với huyện Đông Sơn trở thành một huyện mớigọi là Đông Thiệu Ngoài 20 xã cũ của huyện Đông Sơn, huyện Đông Thiệucòn có thêm 16 xã mới gồm: Thiệu Toán, Thiệu Viên, Thiệu Tân, Thiệu Đô,Thiệu Trung, Thiệu Châu, Thiệu Giao, Thiệu Vân, Thiệu Tâm, Thiệu Khánh,Thiệu Dương, Thiệu Chính, Thiệu Hoà, Thiệu Tân, Thiệu Minh, Thiệu Lýnâng tổng số xã của toàn huyện lên thành 36 xã Ngày 30/08/1982, Nghị quyếtcủa Hội đồng Bộ trưởng đổi tên huyện Đông Thiệu thành huyện Đông Sơn vàthị trấn Rừng Thông- huyện lỵ của Đông Sơn được thành lập Đến ngày18/01/1996, tại Nghị định số 72/CP của chính phủ, huyện Thiệu Hoá được táilập trên cơ sở 16 xã đã cắt sang huyện Đông Sơn năm 1977 Xã Đông Cươngđược củng cố và cắt về thành phố Thanh Hoá
Như vậy, đến năm 1996, huyện Đông Sơn được tái lập với diện tích tựnhiên là 10.766,26 ha, gồm 16 xã và 1 thị trấn Đơn vị hành chính của ĐôngSơn hiện nay gồm: thị trấn Rừng Thông, xã Đông Hoàng, Đông Ninh, ĐôngKhê, Đông Hoà, Đông Yên, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Thanh, Đông Tiến,Đông Anh, Đông Xuân, Đông Thịnh, Đông Văn, Đông Phú, Đông Nam, ĐôngQuang, Đông Vinh, Đông Tân và xã Đông Hưng
Với điều kiện địa lý, tự nhiên thuận lợi, người dân Đông Sơn từ ngàn xưa
đã tạo dựng nên một nền văn hoá rực rỡ, đóng góp cho đất nước, dân tộc ViệtNam những sản phẩm cùng với những con người ưu tú Đến ngày nay, ĐôngSơn vẫn có rất nhiều di tích lịch sử, văn hoá ghi nhận sự đóng góp của ông cha
ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như khẳng định vị thế của vùngđất và bàn tay khéo léo của cư dân ở đây
Từ xưa, người dân Việt cổ sống trên vùng đất này đã để lại cho chúng tanhững di sản nằm sâu trong lòng đất Nhóm di tích Núi Đọ, Quang Yên tiêu
Trang 14biểu cho di tích đồ đá là dấu vết của người dân Việt cổ sống cách đây gần 40vạn năm Đặc biệt, Đông Sơn là khu di tích được phát hiện năm 1924, quanhiều lần khai quật, nghiên cứu đã được khẳng định là có vết tích của nền vănminh rực rỡ từ xa xưa Di tích thành Đông Phố, quận trị của Quận Cửu Chânthời tiền Tống (nay thuộc xã Đông Ninh) cùng nhiều nhà thơ, các anh hùng dântộc và danh nhân của đất nước như: nhà thơ Nguyễn Chích (Vạn Lộc- ĐôngNinh), nhà thơ Nguyễn Nghi, Nguyễn Khải ở Đông Thanh Ngoài ra, ở ĐôngSơn còn có nhiều di tích cách mạng ghi nhận sự đóng góp của địa phương trongphong trào đấu tranh, giải phóng dân tộc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo củaĐảng: làng Hàm Hạ (Đông Tiến)- di tích cách mạng không chỉ riêng Đông Sơn
mà là của cả tỉnh Thanh Hoá Nơi đây, vào tháng 3/1927, tiểu tổ Hội Việt NamCách mạng Thanh Niên đầu tiên của tỉnh Thanh Hoá được thành lập Đến tháng6/1930, chi bộ Cộng sản đầu tiên của Thanh Hoá cũng được thành lập trênchính mảnh đất này Đông Sơn còn có khu di tích và danh thắng Rừng Thông.Tại đây, Hồ Chủ Tịch đã có buổi nói chuyện với các cán bộ chủ chốt của tỉnhtrong dịp Người về thăm vùng đất xứ Thanh vào tháng 2/1947
Đất Đông Sơn với nhiều danh lam thắng cảnh được nhiều người biết đến.Núi Nhồi thuộc làng Nhồi ở địa phận Đông Hưng là một trong những khu ditích tự nhiên của vùng đất xứ Thanh với những kiểu kiến trúc được tạo dựng từthời Lý Nó còn gắn liền với truyền thuyết của người mẹ bồng con dõi mắt nhìn
ra biển chờ chồng hoá đá (hòn Vọng Phu) Ngoài ra, núi Kim Đồng Ngọc Nữnằm sát sau dãy núi Nhồi thuộc xã Đông Hưng đã gắn liền với lịch sử của dântộc Đây là ngọn núi “mọc lên một ngọn núi nhỏ đứng xa trông như người congái đẹp, gọi là núi Kim Đồng Vua Lê Thánh Tông khi tuần du phương Nam cóbài thơ Quốc âm khắc tạo đá, lại dựng chùa Đại Bi ở cạnh núi, trong chùa cómột tượng phật, bên cạnh tượng phật đặt chân dung nhà vua” (theo sách “Đại
Trang 15Nam Nhất Thống Chí”) Không chỉ thế, Đông Sơn còn có khu di tích lịch sửHàm Rồng với vẻ đẹp của một vùng non nước hữu tình, và có truyền thốngcách mạng Cầu Hàm Rồng trên đất Đông Sơn trở thành biểu tượng về lòngdũng cảm và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đã đi vào huyền thoại lịch sử củadân tộc ở thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Đông Sơn nổi tiếng là mảnh đất có nhiều “nhân kiệt” từ những bậc đạiNho cho đến các vị anh hùng dân tộc với những đóng góp to lớn cho đất nước.Trong thời kỳ phong kiến, Đông Sơn có 18 vị đỗ tiến sĩ, là huyện có số lượngngười đỗ đại khoa nhiều nhất của phủ Thiệu Thiên Trong số đó, có nhiều ngườiđược bổ giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều đình như: Lưu Ngạn Quang,Nguyễn Văn Lễ, Lê Khả Trù, Lê Thế Thứ (Đông Thanh), Thiều Quý Linh(Đông Yên), Ngô Văn Thông ( Đông Lĩnh), ở thời Trần có Thiều Thốn (ĐôngTiến) là một tướng giỏi có nhiều đóng góp trong việc bảo vệ biên cương tổquốc, Nguyễn Chích (Đông Ninh), Nguyễn Mộng Tuân (Đông Anh) cùng LêLợi đã dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi quân Minh Trong đó, NguyễnTrích là người có nhiều đóng góp lớn vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa LamSơn Ông là một trong 19 vị công thần và được Lê Lợi phong tước ĐinhThương Hầu
Cuối thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, từng bước thoả hiệprồi đi đến đầu hàng thực dân Pháp Nước ta lại rơi vào ách đô hộ của thực dânphương Tây Không cam chịu cuộc sống nô lệ, nhân dân ta dưới sự lãnh đạocủa các sĩ phu yêu nước đã nổi dậy chống lại thực dân Pháp xâm lược và triềuđình nhà Nguyễn bán nước Tại Thanh Hoá, nhân dân Đông Sơn và các địaphương trong tỉnh đã tham gia vào khởi nghĩa của Lê Thế Tấu (Đông Lĩnh), LêVăn Thức (Đông Tiến) cùng thành lập nghĩa quân tại Bôn (xã Đông Thanh).Đội nghĩa quân này đã tiếp ứng, phối hợp với nghĩa quân của Tống Duy Tân,
Trang 16Phạm Bành, Hà Văn Mao chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương do Hàm Nghi
và Tôn Thất Thuyết khởi xướng
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sảntrên thế giới đã có ảnh hưởng to lớn vào Việt Nam Trong nước đã xuất hiện cácphong trào yêu nước, cách mạng mang màu sắc mới như: phong trào Đông Du,phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Duy Tân…
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủcộng hoà Hoà bình đến với nhân dân Việt Nam chưa được bao lâu thì thực dânPháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa Ngày 19/12/1946, kháng chiếntoàn quốc bùng nổ Cùng với nhân dân cả nước, với tinh thần “đốt lửa căm thù”,hàng trăm thanh niên Đông Sơn đã hăng hái xung phong lên đường giết giặc lậpcông Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến, Đông Sơn có 2233 thanh niên thamgia bộ đội, trong đó có 280 đồng chí đã hy sinh anh dũng; 2313 gia đình có con
em là bộ đội chủ lực Hàng chục nghìn lượt người đi thanh niên xung phong,hàng nghìn cán bộ thoát ly hoạt động trong các ngành kinh tế- xã hội phục vụkháng chiến [161- 1]
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đông Sơn là hậu phương lớn vớitinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” Đảng bộ vànhân dân Đông Sơn đã tiễn đưa 14.700 người con thân yêu lên đường cầm súngchiến đấu trên khắp các chiến trường Có 6.500 người tham gia lực lượng thanhniên xung phong và trên 3.000 người đi dân công phục vụ chiến đấu trên cáctuyến lửa Về vật chất, nhân dân toàn huyện đã đóng góp trên 250.000 tấnlương thực, 30.000 tấn thực phẩm [225 - 1]
Hơn 75 năm qua (1930- 2005), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dânĐông Sơn đã chiến đấu và lao động quên mình, góp phần xứng đáng vào sựnghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng quê hương tổ quốc Mảnh đất
Trang 17Đông Sơn đã sinh ra và nuôi dưỡng biết bao là bà mẹ Việt Nam anh hùng, cáctướng lĩnh, các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng, của quân đội Nhân dân ĐôngSơn cũng rất tự hào có Thượng Tướng Lê Khả Phiêu, người xã Đông Khê đãtrở thành Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.
1.2 Tình hình kinh tế- xã hội Đông Sơn trước những năm đổi mới (1975- 1985)
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước của dân tộc ta Đất nước đã được độc lập, thống nhất,giang sơn thu về một mối, Bắc- Nam nối liền một dải Dân tộc ta bước sang một
kỷ nguyên mới “kỷ nguyên độc lập- tự do và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xãhội” trong điều kiện hoà bình Song, bên cạnh đó, đất nước ta đang phải đối mặtvới không ít những khó khăn, thử thách do hậu quả chiến tranh để lại Nhiệm vụtrước mắt lúc này là động viên nhân dân bắt tay vào hàn gắn vết thương chiếntranh, nhanh chóng khôi phục kinh tế- xã hội đất nước, ổn định đời sống vậtchất, tinh thần cho nhân dân, đảm bảo trật tư an ninh, trấn áp các thế lực phảnđộng trong và ngoài nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV tháng 12/1976 trên cơ sở phân tích
rõ 3 đặc điểm của tình hình nước ta sau ngày giải phóng đã đề ra đường lốichung của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới: “Nắm vững chuyên chính vôsản phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời
ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học- kỹthuật, cách mạng tư tưởng- văn hoá Trong đó, cách mạng khoa học kỹ thuật làthen chốt, đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâmcủa cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xãhội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất lớn XHCN, xoá bỏ chế độ người bóclột người, xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu, không ngừng nâng cao cảnh giác, thường
Trang 18xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, xây dựng thành công
tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và CNXh góp phần tích cựcvào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập, dân tôc, dân chủ
và chủ nghĩa xã hôi”
Từ thực tiễn đất nước, đại hội IV đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể thựchiện trong 5 năm, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là “tập trung cao độ sức của cảnước, của các ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nôngnghiệp, ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp- ngư nghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ vàcông nghiệp thực phẩm nhằm giải quyết vững chắc nhu cầu của cả nước vềlương thực, thực phẩm và một phần quan trọng hàng tiêu dùng thông dụng, cảithiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, tạo tích luỹ chocông nghiệp hoá XHCN”
Sau 6 năm thực hiện chủ trương, đường lối của đại hội IV, chúng ta đãđạt được một số thành tựu trên một số lĩnh vực, nhưng nhìn chung đất nướcđang còn trong thời kỳ khó khăn do điều kiện chủ quan và khách quan tác động.Trước tình hình đó, Đảng ta đã đề ra đường lối phát triển mới trong Đại Hội V(3/1982) đó là: “ổn định dần dần, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất
và văn hoá cho nhân dân, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủnghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng vàxuất khẩu, hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở các tỉnh miền Nam,hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN ở miền Bắc, củng cố quan hệ sản xuấtCNXH trong cả nước, củng cố quốc phòng và giữ gìn trật tự xã hội” đồng thờiĐại Hôi cũng đề ra và thực hiện kế hoạch 5 năm lần 2 (1981- 1985)
Tiếp nhận và quán triệt đường lối, chủ trương Đại Hội IV, V và các kỳĐại Hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, Đông Sơn đã tiến hành các kỳ Đại Hội Đạibiểu Đảng bộ huyện lần thứ I (3/1978), II (6/1979), III (1/1983) Trong 10 năm
Trang 19(1975- 1985) cùng với cả nước bước vào giai đoạn mới- giai đoạn xây dựngCNXH trong điều kiện hoà bình Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của huyện Đảng
bộ, cán bộ, đảng viên và nhân dân Đông Sơn đã nổ lực phấn đấu, khắc phục khókhăn về thiên tai, thiếu thốn vật tư, vượt qua những biến động chung về hoàncảnh chung của cả nước và những vấp váp trong việc thực hiện Nghị quyết VIII
và các chính sách kinh tế về giá, lương, tiền…Với sự nỗ lực phấn đấu, nhân dânĐông Sơn đã đạt được những thành tựu bước đầu về mọi mặt của đời sống xãhội: kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, thông quahai kế hoạch nhà nước 5 năm (1976- 1985) Phải nói rằng trong những điềukiện đầy khó khăn như vậy, nhân dân Đông Sơn đã thu được những kết quả khảquan là điều đáng tự hào
Trên lĩnh vực kinh tế, về sản xuất nông nghiêp, vào thời điểm kết thúc kếhoạch 5 năm (1981- 1985), Đông Sơn đã đạt được tổng diện tích canh tác là25.310,8 ha Cả huyện có 26 hợp tác xã đã mở rộng diện tích reo trồng vớithành tích khá như: Thiệu Viên, Thiệu Hoà, Đông Quang, Đông Văn Tổng sảnlượng quy thóc vào năm 1985 dạt 74.682 tấn Điển hình là có hai hợp tác xãĐông Tiến và Đông Lĩnh đạt sản lượng từ 3000 đến 4000 tấn và có 12 hợp tác
xã đạt từ 2000 đến 3000 tấn Trong tổng diện tích gie trồng, diện tích trồng lúavẫn chiếm ưu thế trội hơn cả: 20.480,1 ha, chiếm 80,9% Năng suất lúa cả nămđạt 70 tạ/ha, sản lượng lúa cả năm đạt 71.425 tấn Những kết quả đó chứng tỏnăng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các năm Các chỉ số trên chothấy rằng trình độ và khả năng thâm canh trong sản suất nông nghiệp của ĐôngSơn đã được nâng cao và đã khẳng định được tính ưu việt của nó [329 - 1]
Bên cạnh cây lúa, một số hoa màu lương thực cũng có chiều hướng giatăng như, năm 1985, ngô tăng 32%, cây khoai tây tăng 26%, khoai lang 26%.Điều đáng ghi nhận là tổng sản lượng hoa màu lương thực năm 1985 đạt 2315,4
Trang 20tấn, chiếm tỷ trọng 1,3% trong tổng sản lượng lương thực quy ra thóc của cảhuyện [330 - 1].
Về chăn nuôi, mặc dù có tốc độ phát triển chậm nhưng chăn nuôi châu bòđược chú ý hơn trước nhằm cung cấp sức kéo cho sản xuất Đặc biệt, số trâu bòcủa nhân dân nuôi riêng có sự tăng trưởng đáng kể cả về số lượng lẫn chấtlượng Tổng đàn trâu vào thời điểm năm 1985 có 6.806 con, đàn bò có 4.604con Đàn trâu bò nuôi riêng của các gia đình xã viên lên tới 2.303 con Huyệncũng đã quan tâm đến việc lai tạo đàn gia súc, cho nhập về một số giống bò vàgiống lợn có năng suất cao đã đem lại những kết quả nhất định Tính đến năm
1985, tổng đàn vịt của Đông Sơn là 160.000 con, tăng hơn năm trước 10.000con Sản lượng cá thu hoạch được là 150 tấn, vựơt 13 tấn so với năm 1984[331-1]
Để có được những kết quả trên, huyện đã tích cực áp dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh phong trào thâm canh, chú trọng đầu
tư phân bón và các loại vật tư thiết bị phục vụ cho nông nghiệp, đảm bảo côngtác thuỷ lợi cho đồng ruộng, cũng như tăng cường khâu tuyển chọn giống cóchất lượng cao, chú trọng công tác bảo vệ thực vật chống sâu bệnh
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế của huyện, trong 10 nămqua Đông Sơn đã có được những bước tiến mới trong sản xuất tiểu thủ côngnghiệp Huyện đã chủ động khai thác các nguồn vật tư, chuyển hướng mặthàng, chú trọng phát triển các ngành sản xuất công nghiệp, vật liệu xây dựng,chế biến đồ mộc và lâm sản Chính nhờ vậy mà sản phẩm một số chủng loạihàng hoá ở Đông Sơn có sự tăng trưởng đáng kể Một số mặt hàng chủ yếu củangành này là cót nan, vôi nung, gạch, ngói…
Trang 21Sau ngày đất nước được giải phóng, một trong những nhiệm vụ của,Đảng, nhà nước cũng như các địa phương trong đó có Đông Sơn quan tâm thựchiện đó là công tác văn hoá- giáo dục- y tế.
Công tác giáo dục đã có sự chuyển hướng theo mục tiêu hướng nghiệp,coi trọng giáo dục đạo đức cho học sinh Số lượng học sinh các cấp cũng có sựtăng trưởng đáng kể: đến năm 1985 hệ số mẫu giáo có 6.990 cháu, học sinh cơ
sở có 32.132 em, học sinh trung học có 3.200 em Huyện đã có 3 lớp chuyên và
3 trường cấp III với 88 lớp và 3.955 học sinh, cơ sở vật chất trường lớp đã đượccải thiện đáng kể các phòng học tranh tre được xoá bỏ [334- 1]
Công tác y tế cũng được quan tâm theo tinh thần phòng bệnh hơn chữabệnh Nhờ vậy, đã phát hiện kịp thời các nguồn dịch và có kế hoạch đối phó,huyện cũng đã chú ý đến công tác sinh đẻ có kế hoạch Xây dựng 3 công trình(giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh), thực hiện tiêm phòng định kỳ thường xuyêncho các cháu, phát triển các loại cây thuốc dân tộc để khắc phục tình trạng thiếutân dược, đáp ứng nhu cầu chữa bệnh cho địa phương Trong công tác này, toànhuyện Đông Sơn năm 1985 có 2.928 hội viên phụ nữ thực hiện sinh đẻ có kếhoạch
Phong trào thể dục thể thao các hoạt động văn hoá được đẩy mạnh(huyện
đã tổ chức đại hội thể dục thể thao) Toàn huyện đã thành lập các đội văn nghệ
ở 8 xã, 15 xã có thư viện, bước đầu hình thành 5 nhà văn hoá ở các xã: ĐôngAnh, Đông Tân, Đông Văn, Thiệu Văn Huyện cũng đã tổ chức được một độichiếu bóng lưu động( tính đến năm 1985 đội đã thực hiện được 550 buổi chiếuvới 520.000 lượt người xem) Ngoài ra, các công trình phúc lợi toàn dân nhưtrường lớp, bệnh viện, nhà trẻ, thư viện…cũng được chú ý tu sửa Nhờ vậy đãđáp ứng phần nào các yêu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân địa phương[335- 1]
Trang 22Đất nước được độc lập, thống nhất là mơ ước và nguyện vọng thiết thacủa nhân dân ta Tuy nhiên, các thế lực phản động trong và ngoài nước luôn cấukết với nhau không từ bỏ âm mưu chia cắt để làm rối loạn, bất ổn tình hìnhchính trị- quốc phòng, an ninh của nước ta Do vậy, công tác chính trị đượchuyện uỷ chú trọng quan tâm Đảng bộ đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trịtập trung để quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, chốngchủ nghĩa cá nhân, chống tiêu cực, tổ chức nhân dân học tập và làm đúng phápluật, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng nhằm thiết thực góp phần làmcho Đảng trong sạch, vững mạnh Bên cạnh đó, công tác quốc phòng, an ninhđược duy trì thường xuyên, huyện luôn là địa phương làm tốt công tác nghĩa vụquân sự Chính những hoạt động đó đã dần dần nâng cao ý thức trách nhiệmcủa tầng lớp thanh niên trong việc tham gia bảo vệ Tổ Quốc, giữ gìn an ninhtrật tự, đẩy mạnh sản xuất.
Nhìn lại chặng đường 10 năm (1976- 1985) phát triển kinh tế- xã hội,Đảng bộ Đông Sơn đã tỏ rõ vai trò lãnh đạo, động viên và phát huy được sự ủng
hộ, tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong huyện vì một quê hươnggiàu mạnh
Chương 2
ĐẢNG BỘ ĐÔNG SƠN BƯỚC ĐẦU LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN TIẾN
HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986- 1996)
2.1 Bối cảnh lịch sử và yêu cầu đổi mới của Đông Sơn
Trang 23Qua 10 năm từ 1975- 1985, huyện Đông Sơn đã xây dựng và phát triển
để cùng cả nước khắc phục hậu quả chiến tranh bảo vệ chủ nghĩa xã hội Đảng
Bộ Đông Sơn đã lãnh đạo nhân dân nỗ lực khôi phục và phát triển kinh tế- xãhội và đã đạt được môt số thành tựu nhất định Tuy nhiên, quá trình đó còn bộc
lộ những khuyết điểm sai lầm và hạn chế khiến cho Đông Sơn rơi vào khủnghoảng toàn diện trong những năm 80
Nền kinh tế của huyện trong thời kỳ này còn bộc lộ yếu kém và huyện uỷthẳng thắn thừa nhận khi đánh giá thực trạng của địa phương: “việc củng cốquan hê sản xuất, tổ chức quản lý ở hợp tác xã còn nhiều lỏng lẻo, chậm sửachữa trong khâu khoán, mức khoán sản lượng ở một số hợp tác xã còn thấp,chưa hạch toán được kinh tế cho từng công, từng con, từng ngành sản xuất, việc
tổ chức kinh doanh còn châm, một số hợp tác xã còn tình trạng sản xuất độccanh nên cơ sở vật chất của hợp tác xã còn quá nghèo nàn, không có tích luỹ đểtái sản xuất mở rộng”
Ngành nông nghiệp cũng bộc lộ những yếu kém nhất định Đó là tìnhtrạng phát triển không đồng đều về thâm canh tăng năng suất lúa, công tác xúctiến mở rộng diện tích canh tác bằng phương pháp xen canh với gối vụ chưađược đẩy mạnh, việc hoàn chỉnh hệ thống thuỷ nông còn chưa được các cấp,các ngành quan tâm một cách đúng mức hơn nữa khâu giống là một khâu rấtquan trọng trong sản xuất nông nghiệp nhưng trong việc xác định và bố trí cơcấu giống cho từng vùng sản xuất của địa phương chưa đựơc thực hiện tốt.Ngành chăn nuôi phát triển rất chậm, các chính sách khuyến khích phát triểnngành này chưa được thực hiện tốt Tiểu thủ công nghiệp còn nghèo nàn, yếukém, tốc dộ phát triển còn rất chậm, chưa đa dạng các mặt hàng Một số ngànhmũi nhọn truyền thống của địa phương chưa được tập trung chú ý đầu tư như:
đồ đá, nghề dệt nhiễu…
Trang 24Công tác quản lý kinh tế chậm thay đổi theo cơ chế mới và còn nhiều yếukém thể hiện kém phổ biến trong cách nghĩ, cách làm của cán bộ từ cấp huyệnđến cơ sở Tư duy kinh tế còn mang nặng tính quan liêu, bảo thủ theo kiểu hànhchính bao cấp cả trong công sở quốc doanh và hợp tác xã Công tác lưu thôngphân phối sản phẩm còn rối ren, chưa hướng mạnh hoạt động về cơ sở, trướchết là cho sản xuất và đời sống có thời gian còn gây khó khăn cho sản xuất vàngười lao động, nhất là trong lĩnh vực thanh toán cấp phát đầu tư.
Công tác văn hoá- giáo dục- y tế còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đượcnhu cầu ngày càng cao của đời sống nhân dân Số lao động chưa có việc làmcòn nhiều, tỷ lệ tăng dân số khá cao, cách mạng tư tưởng còn buông lỏng, chưachăm lo đến việc xây dựng nếp sống văn hoá mới, con người mới trong hoàncảnh đất nước, địa phương thay đổi Công tác chính trị- quốc phòng- an ninhchưa thực sự vững chắc, đời sống nhân dân chưa được ổn định
Thực trạng kinh tế- xã hội Đông Sơn đã đặt ra câu hỏi là nguyên nhânnào dẫn đến tình trạng đó Đảng bộ Đông Sơn dám nhìn thẳng vào sự thật, đánhgiá đúng nguyên nhân Đảng bộ khẳng định “về khách quan cũng là nằm trongtình trạng khó khăn chung của đất nước, song nguyên nhân chủ quan vẫn là baotrùm, đó là thiếu biện pháp cụ thể và thống nhất quyết tâm cao để giải quyết yếukém, tinh thần trách nhiệm cá nhân chưa được minh định, việc kiểm tra đôn đốccòn thiếu thường xuyên và triệt để, một số địa phương vai trò của cán bộ chưamạnh, sự thống nhất kết hợp lãnh đạo, chỉ đạo giữa đảng, chính quyền và tậpthể chưa làm tốt” [339- 1]
Thực trạng kinh tế- xã hội của Đông Sơn sau hơn 10 năm- cũng lànguyên nhân chung của nhiều địa phương trong một giai đoạn chuyển đổi cơchế và tất nhiên khó có địa phương nào tránh khỏi những vấp váp như vậy.Song, điều quan trọng nhất vẫn là việc xác định rõ được những tồn tại, yếu kém
Trang 25và dám nhìn thẳng vào sự thật, có giải pháp cụ thể để khắc phục mới đảm bảođược sự phát triển thắng lợi trong những giai đoạn tiếp theo.
2.2 Đảng bộ Đông Sơn thời kỳ đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986-1990)
2.2.1 Quan điểm đổi mới của Đảng và chủ trương đường lối của Đảng
bộ huyện Đông Sơn
Sau ngày đất nước được độc lập, thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng,nhân dân cả nước đã phấn khởi bắt tay vào công cuộc kiến thiết và xây dựng đấtnước theo định hướng XHCN Bên cạnh những thành tựu nhất định, nhìn chungđất nước ta rơi vào “khủng hoảng trầm trọng” Thực trạng đó phản ánh nhữngmặt yếu kém, hạn chế và sai lầm trong 10 năm củng cố và xây dựng đất nước.Vấn đề đặt ra lúc này là muốn đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và đẩymạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải đổi mới Đổi mới theo quan điểm củaĐảng là quá trình giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng, động viên
và tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy được ý chí tự lực tự cường,cần kiệm xây dựng và bảo vệ tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đấtnước Quan điểm về sự cần thiết và cấp bách phải đổi mới đã trở thành một xuthế phổ biến trên thế giới lúc bấy giờ và nó đã được khẳng định bằng một thực
tế sinh động ở một đất nước gần chúng ta nhất đó là Trung Quốc Từ nhận thức
đó, trước năm 1986, nhiều chỉ thị, Nghị quyết của Ban chấp hành TW Đảng đãnêu ra về đổi mới tư duy kinh tế trong đó có Nghị quyết TW VIII (khoá 5)khẳng định: “phải dứt khoát xoá bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp, thựchiện đúng chế độ tập trung dân chủ, hoạch toán kinh tế và kinh doanh, xã hộichủ nghĩa thì mới đẩy mạnh được sản xuất kinh doanh có hiệu qủa” [84 - 17]
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề rađường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế quốc dân nhằm đưa đất nước thoát khỏi
Trang 26khủng hoảng, quá độ lên CNXH Đại hội nêu rõ để thực hiện được “nhiệm vụbao trùm và mục tiêu tổng quát” của chặng đường đầu tiên, thì trước hết trong
kế hoạch 5 năm (1986- 1990) cần thiết phải tập trung sưc người, sức của thụchiện bằng được nhiệm vụ, mục tiêu của ba chương trình lớn về kinh tế, đó làlương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu [106- 17]
Cụ thể là: trên tinh thần đó vào tháng 9/1986 Đại hội đại biểu Đảng bộhuyện Đông Sơn được triệu tập, Đại hội đã nhìn nhận đúng những thuận lợi vàkhó khăn cũng như đánh giá được những thành tích, chỉ ra những tồn tại Đạihội Đảng bộ huyện đã thoả luận và xác định phương hướng cho những năm tớicảu Đông Sơn với phương châm là “quyết ra sức phấn đấu vượt qua mội khókhăn thử thách, phát huy tinh thần làm chủ tập thể XHCN, ý thức tự lực tựcường, chủ động, sáng tạo, dấy lên một phong trào thi đua lao động mới, hoànthành xuất sắc các mục tiêu kinh tế- xã hội với tinh thần cách mạng tiến công,tiến với tốc độ nhan chất lượng mới, mau chóng xây dựng huyện Đông Sơnthành huyện giàu đẹp và vững mạnh”[347- 1] Với phương châm đó, Đại hội đã
đề ra nhiệm vụ cụ thể cho 3 năm tới (1986- 1988) là: “tập trung sức phấn đấu,phát triển một nền kinh tế toàn diện, trước hết xác định nông nghiệp là mặt trậnhàng đầu với mục tiêu số một là sản xuất lương thực, nhanh chống phát triểnchăn nuôi và các ngành tiểu thủ công nghiệp để tạo ra nguồn hàng phong phú,
đa dạng, nhất là các mặt hàng xuất khẩu với khối lượng ngày càng lớn, tốc độnhanh, chất lượng cao, kết hợp kinh tế với quốc phòng, làm tốt công tác anninh- chính trị và trật tự xã hội, tăng cường nâng cao năng lực và sức chiến đấucủa Đảng, xây dựng Đảng bộ huyện trong sạch vững mạnh”
Trong quá trình thực hiện và triển khai chủ trương, đường lối đổi mới,Đảng bộ Đông Sơn luôn bám sát vào nhanh chóng nắm bắt những chỉ thị, Nghị
Trang 27quyết TW Đảng, tỉnh uỷ kịp thời khắc phục những khó khăn tồn tại, nhằm pháthuy có hiệu quả nhất quá trình đổi mới của huyện nhà.
2.2.2 Những chuyển biến bước đầu về kinh tế – xã hội của huyện Đông Sơn
2.2.2.1 Về kinh tế
Về nông nghiệp, Đông Sơn là huyện thuộc vùng trọng điểm lúa nước của tỉnh,
có thuận lợi về đất, nước và có kinh nghiệm thâm canh Trong 5 năm qua huyện
đã dồn hết sức vào việc phát triển nông nghiệp, trọng tâm là sản xuất lươngthực, phát huy truyền thống thâm canh và đóng góp lương thực cho nhà nước.Huyện đã có nhiều cố gắng đổi mới cơ cấu cây trồng, đưa nhanh các giống mớinăng xuất cao vào sản xuất từng bước mở rộng vụ đông vào đất hai vụ lúa vớidiện tích ngày càng tăng Huyện cũng đã chú trọng làm tốt hơn công tác phòngchống sâu bệnh bảo vệ cây trồng, tăng cường đầu tư xây dựng các công trìnhthuỷ lợi đầu mối tiêu úng, chống hạn như: cống Chim Ri, trạm bơm B10,B9…bước đầu phát huy hiệu quả, khắc phục được một tình trạng ngập úng, hạn cụcbộ
Thực hiện nghị quyết X của bộ Chính trị, các xã đã mở đấu thầu nhậnkhoán ruộng, ao hồ, vườn cây, khắc phục được một bước tình trạng bình quân,
sử dụng có hiệu quả hơn tiềm năng lao động, đất đai, vật tư kỹ thuật, bước đầu
đã tạo ra không khí phấn khởi trong nông dân
Các dịch vụ nông nghiệp trong huyện đang từng bước được củng cố xâydựng và đổi mới phương thức hoạt động, gắn kinh doanh với phục vụ, chuyểndần các hoạt động dịch vụ nông nghiệp xuống hợp tác xã và gia đình.Trongđiều kiện vật tư, tiền vốn khan hiếm giá cả trượt nhanh, cơ chế kinh tế mới đanghình thành, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được xoá bỏ hẳn, các ngành
Trang 28dịch vụ nông nghiệp từng bước khắc phục khó khăn, đổi mới tự vươn lên đápứng được cơ bản nhu cầu: phân, nước, giống cho sản xuất.
Nhờ những cố gắng nói trên mà sản xuất nông nghiệp đã thu được nhữngkết quả quan trọng Năm 1989 toàn huyện đã sản xuất được 69 nghìn tấn lươngthực quy ra thóc, năm 1990 là 77 nghìn tấn, sản lượng lương thực bình quân hainăm 1989 - 1990 so với hai năm 1987 - 1988 tăng 9,7% và tăng 7,8% so vớibình quân thời kì 1981 - 1986 [2 - 3]
Về chăn nuôi, do có chủ trương đúng đắn: chuyển nhượng đàn trâu, bòcủa hợp tác xã cho xã viên, khoán cho từng hộ mà đàn trâu, bò trong huyện tăngnhanh, đạt mức độ ổn định trên 14.000 con, năm 1990 Đàn lợn giữ mức bìnhquân 38.000 con/năm, bằng mức bình quân thời kì 1985 - 1988 nhưng chuchuyển đầu con và trọng lượng xuất chuồng đều tăng [2 – 3]
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong điều kiện khó khăn về tiền vốn,vật tư, đời sống, thực hiện nghị quyết 217 của Hội đồng Bộ trưởng, các xínghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp huyện đã từng bước đổi mới cơ chếquản lý, một số đơn vị phát huy quyền tự chủ của xí nghiệp, đổi mới phươngthức kinh doanh, có thêm mặt hàng mới, đảm bảo giá bán sản phẩm ở mứcngười tiêu dùng chấp thuận nên sản xuất được giữ vững và có xu hướng pháttriển, đảm bảo đời sống công nhân và có tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng
Các thành phần kinh tế tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh có bướcphát triển mới Nhiều địa phương hộ gia đình tiếp tục giữ và phát huy nghề thủcông truyền thống như đúc đồng, đúc nhôm, đan cót, làm gạch, nung vôi, làm
đồ đá dân dụng và sản xuất đá xây dựng Hai năm 1987 – 1988 giá trị tổng sảnlượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cao hơn thời kì 1985 – 1986 Năm
1987 đạt 83 tỷ đồng đến năm 1988 đạt 90 tỷ đô la Một số mặt hàng tiêu thủ
Trang 29công nghiệp có tốc độ tăng đáng kể: nguồn đá xẻ tăng 2,5 lần, cót nan tăng20%, đá xây dựng tăng 25%, vôi tăng 25% [2 – 3].
Về xây dựng cơ bản, trong 5 năm qua là thời kỳ Đảng bộ và nhân dânhuyện huy động được nguồn vốn tự có, đồng thời tranh thủ được sự giúp đỡ củacác nghành, các tỉnh và trung ương, xây dựng được nhiều công trình phục vụsản xuất và đời sống Huỵên đã vận dụng có kết quả phương trâm nhà nước vànhân dân cùng làm, huyện và các xã cùng làm, biết lựa chọn và ưu tiên đầu tưcho các công trình trọng điểm, chủ yếu tập trung các công trình thuỷ lợi, giaothông phục vụ sản xuất xây dựng bệnh viện, trường học các công trình văn hoáphúc lợi xã hội Hai năm 1989 – 1990 huyện và các xã đã chi 4 tỷ 672 triệuđồng, gồm 822 triệu vốn của huyện, tỉnh đầu tư còn lại 3.850 triệu là vốn tự cócủa địa phương Huyện đã đầu tư vào giao thông, thuỷ lợi 2.795 triệu, vào xâydựng điện 760 triệu [ 3 – 3]
Thực hiện cơ chế kinh tế mới,các đơn vị trong nghành nội thương dãmạnh dạn đổi mới phương thức hoạt động, vừa đảm bảo kinh doanh vừa thiếtthực phục vụ, đảm bảo được nhu cầu các mặt hàng thiết yếu như muối, vảimặc, vật liệu xây dựng, phát triển mạng lưới đưa phục vụ đến cơ sở, mở thêmnhiều đại lý bán lẻ tạo thuận lợi cho nhân dân mua bán
2.2.2.2 Văn hoá - giáo dục – y tế
Sự nghiệp văn hoá - giáo dục – y tế của huyện trong 5 năm qua cơ bảnđược giữ vững và có mặt phát triển
Phong trào văn hoá truyền thống Đông Sơn được giữ vững, một số đơn vị
có phong trào văn hoá quần chúng tốt, hệ thống thông tin truyền thanh đượctăng cường, đảm bảo thông tin liên lạc kịp thời và thông suốt, nhờ cơ sở vậtchất chuyên nghành như: nhà văn hoá, sân văn hoá, thư viện, đài truyền thanhcác xã được sửa chữa và làm mới, công ty chiếu bóng huyện được thành lập, có
Trang 30thêm một đội chiếu bóng, một đội video catset phục vụ đời sống tinh thần chonhân dân Hoạt động văn hoá thông tin cũng đã chú trọng đến công tác tuyêntruyền những ngày kỷ niệm, bầu cử hội đồng nhân dân, Đại hội Đảng các cấp.Đến năm 1989 đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng giai đoạn một khu di tíchtưởng niệm Bác Hồ tại Rừng Thông, đã đưa vào hoạt động đài truyền thanhhuyện phát sóng FM, phương tiện sinh hoạt văn hoá gia đình phát triển nhờ vậy
sự hưởng thụ văn hoá - văn nghệ của nhân dân được nâng lên
Đối với nghành giáo dục, quán triệt các quan điểm đổi mới của Đảng vớimục tiêu “ vì con người”, trong chặng đường 1986 – 1990, Đảng bộ đã tậptrung vào hướng chính nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thuộc tất cả cácnghành học, cấp học, gắn liền văn hoá giáo dục với giáo dục đạo đức cáchmạng và giáo dục đời thường, đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp thực hiện tôtphương châm “dạy nghề, dạy người” cho hầu hết thanh niên ở độ tuổi cắp sáchđến trường, đến năm 1988 – 1989, cơ sở vật chất trường lớp được huyện và các
xã tăng cường đầu tư với tổng số vốn là 1,2 tỷ đồng Nhìn chung, các trường đã
đủ phòng học, bàn ghế cho học sinh học hai ca.Công tác cán bộ được sắp xếp,điều chỉnh lại phù hợp hơn, hệ thống trường tiểu học, trung học và các trườngdậy nghề, bổ túc văn hoá, bồi dưỡng giáo viên được từng bước sắp xếp lại,chính sách và chế độ đối với giáo viên cơ bản được đảm bảo và có mặt khá hơntrước Chất lượng lớp chọn,lớp chuyên có tiến bộ
Về y tế, một số nơi cơ sở vật chất được củng cố, đội ngũ cán bộ y tế xãtừng bước được hoàn thiện hơn, và đã có nhiều cố gắng trong công tác phòngchống dịch, điều trị bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Nguồndược liệu kể cả tân dược và đông dược được bổ sung và đáp ứng một phần quantrọng nhu cầu thuốc chữa bệnh thông thường cho nhân dân Chương trình tiêmchủng mở rộng phòng 6 bệnh cho trẻ em được y tế huyện và nhiều cơ sở chăm
Trang 31lo làm tốt Trong 5 năm việc thực hiện kế hoặch hoá dân số gia đình đượchuyện và các xã quan tâm chỉ đạo, trong thực hiện có sự phối hợp giữa nghành
y tế và các đoàn thể quần chúng và áp dụng nhiều biên pháp chuyên môn gắnvới tuyên truyền vận động và có chính sách thưởng phạt cụ thể nên đã đạt đượckết quả cao trong cuộc vận động và tuyên truyền
2.2.2.3 Chính trị – quốc phòng – an ninh
Tiếp thu quan điểm của Đảng: tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiếnlược là, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong 5 năm đầu thực hiện, Đảng bộ đãthường xuyên chú trọng lãnh đạo giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự xãhội, đẩy mạnh phong trào quốc phòng toàn dân an ninh nhân dân
Đối với công tác xây dựng chính quyền, các cấp uỷ Đảng đã thườngxuyên chăm lo xây dựng chính quyền vững mạnh, trong 5 năm qua, việc điềuhành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của chính quyền xã, huyện có bước chuyểnbiến tiến bộ của việc chăm lo xây dựng cơ sở vật chất, phát triển sản xuất, tổchức đời sống nhân dân, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, hoàn thành nghĩa vụđối với nhà nước Sau Đại hội Đảng bộ huyện, thực hiện quan điểm đổi mới củaĐại hội Đảng lần thứ VI, tổ chức chính quyền từ huyện đến xã đã được kiệntoàn củng cố, bước đầu nâng được chất lượng hoạt động của bộ máy chínhquyền
Đối với công tác tư tưởng, để nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên
và quần chúng theo kịp công cuộc đổi mới của đất nước, huyên uỷ đã chú trọng
tổ chức cho đảng viên, quần chúng học tập quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết của BCH TW, của Bộ Chính trị, các chínhsách mới của nhà nước Huyện đã có nhiều cố gắng phổ biến đến nhân dânnhững chủ trương chính sách mới “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Trang 32Không khí phấn khởi bàn luận việc chung nẩy nở ở nhiều nơi trong Đảng vàtrong nhân dân, tạo ra công luận ủng hộ cái mới và đấu tranh chống tiêu cực.
Công tác xây dựng Đảng, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ và Nghịquyết Đại hội Đảng Bộ huyện lần thứ V, trong 5 năm qua, công tác xây dựngĐảng đã được chuyển mạnh về cơ sở Sau đợt khảo sát các loại hình cơ sở, phântích chất lượng Đảng viên và chất lượng tổ chức Đảng, huyện đã tiến hành đợtsinh hoạt chính trị thực hiện Nghị quyết 24 của tỉnh “tăng cường củng cố tổchức cơ sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộđẩng viên” Đây là một đợt sinh hoạt chính trị lớn, sâu sắc trong toàn Đảng bộ,được đông đảo đảng viên và quần chúng đồng tình hưởng ứng Kết quả phânloại theo Nghị quyết 24 có 57,9% loại 1; 38,5% loại 2 và 3,6% loại 3, đã pháthiện được 125 Đảng viên mới, góp phần trẻ hoá nâng cao sức chiến đấu củaĐảng [8 - 3]
Về công tác quốc phòng- an ninh, thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị,huyện và các xã đã xây dựng kế hoạch động viên và diễn tập theo cơ chế Đảnglãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu, tổ chức lựclượng quốc phòng gắn với xây dựng làng xã an toàn làm chủ Lực lượng dânquân tự vệ đang đựơc tổ chức lại và chuyển hướng làm nòng cốt trong bảo vệsản xuất và trật tự trị an ở cơ sở, lực lượng dự bị động viên được quản lý chặtchẽ Nhiệm vụ tuyển quân hàng năm đều hoàn thành Các chính sách hậuphương quân đội được thực hiện tốt An ninh chính trị tiếp tục được giữ vững,
đã có nhiều hình thức đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi tội phạm, mở nhiều đợt truyquét tội phạm, phá nhiều ổ nhóm trộm cướp, lưu manh, côn đồ Lực lượng công
an và khối Nội chính đã tiến hành đấu tranh với bọn tham nhũng, trốn thuế,buôn lậu, làm hàng giả góp phần quan trọng vào việc giữ thế ổn định chung củahuyện
Trang 33Nhìn lại chặng đường đổi mới (1986- 1990), dưới ánh sáng của các Nghịquyết TW và sự chỉ đạo sát sao của tỉnh, Đảng bộ Đông Sơn đã vận dụng đườnglối của đảng vào địa phương một cách kịp thời, sáng tạo, với sự nhạy bén vềnhận thức, sự quyết tâm cao của đội ngũ chủ chốt, qua thực tiễn phong trào, cáctiềm năng thiên nhiên và sức lao động dồi dào của nhân dân đã được khơi dậy.Nhờ vậy, sản xuất đã có nhiều bước phát triển về lương thực, bộ mặt xã hội củahuyện có những thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, đời sống nhân dân ngàycàng được nâng cao Tư tưởng và tổ chức của Đảng bộ được củng cố, đoàn kếtđược tăng cường Tất cả những nỗ lực đó đã đã đảm bảo cho sự ổn định vềchính trị- xã hội, đó là những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo đầ cho quátrình đổi mới sâu sắc toàn diện trong thời gian tới.
2.2.3 Những hạn chế trong giai đoạn 1986 - 1990
Trong công cuộc phát triển kinh tế- xã hội, những năm 1986-1990 dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ, cán bộ và nhân dân huyện Đông Sơn đã đạt đượcnhững thành tự đáng ghi nhận Song, trong tiến trình đó, những mặt tồn tại vàyếu kém nhất định vẫn còn bộc lộ
Các mục tiêu kinh tế- xã hội đạt được còn thấp Tiềm lực kinh tế và nănglực sáng tạo của nhân dân chưa được khơi dậy đúng mức nên chưa phát huyđược đầy đủ, thay đổi mùa vụ quan trọng, vụ mùa còn bấp bênh Lao động nhànrỗi thiếu việc làm Phần lớn các xí nghiệp quốc doanh bị đình đốn sản xuất,kinh doanh thua lỗ Phân phối lưu thông còn nhiều bế tắc và lúng túng, tích luỹsản xuất còn kém
Hoạt động văn hoá thông tin ở nhiều cơ sở xuống cấp, nhiều hoạt độngchỉ dừng lại trên huyện Công tác thông tin tuyên truyền thông qua các phươngtiện thông tin đại chúng còn yếu, thông tin báo chí về xã thiếu
Trang 34Chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục tư tưởng đạo đức còn kém, sốlượng học sinh chán học và bỏ học ngày càng nhiều Trình độ chuyên môn củagiáo viên đang còn thấp, một số bộ phận giáo viên yếu kém cả về phẩm chất vànăng lực, chưa được quan tâm giải quyết, chậm sắp xếp lại các trường trên địabàn huyện.
Công tác phòng và chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân còn nhiềuvấn đề cần giải quyết, kinh phí của nhà nước không đủ cho nhu cầu y tế, nênchưa có biện pháp tháo gỡ Một số đơn vị tỉ lệ gia tăng dân số quá cao so vớitốc độ chậm phát triển kinh tế
Tình hình chính trị, trật tự xã hội vẫn còn nhiều phức tạp, tính cường bạotrong xã hội tăng, đạo đức trong một bộ phận xã hội sa sút nhất là trong bộ phậnthanh thiếu niên đang là mối quan tâm chung Cuộc đấu tranh chống tệ nạntham nhũng, gây rối trật tự xã hội đạt hiệu quả thấp, phong trào bảo vệ trật tự trị
an trong nhân dân nhiều nơi còn yếu, nhân dân địa phương còn băn khoăn lolắng, xã hội chưa thật an toàn Công tác xây dựng Đảng chưa chuyển kịp vớiyêu cầu đổi mới, một số cơ sở Đảng còn yếu kém kéo dài Một số đồng chí cóthiếu sót, tinh thần trách nhiệm yếu, hiệu quả công tác thấp…làm giảm lòng tincủa đảng và nhân dân
Nguyên nhân của yếu kém đó là phần do tác động khách quan, nhưng vềchủ quan là chủ yếu Trình độ, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng cáccấp chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới, lúng túng về phương thức lãnhđạo và sử lý những vấn đề mới nảy sinh, trong đó việc sắp xếp tổ chức bộ máycác đơn vị đầu mối làm chậm chạm, không đáp ứng kịp thời yêu cầu nảy sinh từ
cơ sở, chậm trễ trong việc cụ thể hoá chủ trương, Nghị quyết của Đảng…Tưtưởng Trông chờ, ỷ lại của một bộ phận cán bộ còn nặng nề, nhiệt tình công tácgiảm, kết quả đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Những thành tựu đạt
Trang 35được cũng như hạn chế trên đã để lại nhiều bài học quý giá cho Đảng bộ huyệnnhà trong những chặng đưòng tiếp theo.
2.3 Đảng bộ Đông Sơn lãnh đạo nhân dân thực hiện đổi mới trong thời kỳ 1991- 1995
2.3.1 Chủ trương đường lối của Đảng bộ huyện Đông Sơn
Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới (1986- 1990) nền kinh tế- xã hội đấtnước đã có những chuyển biến mới Những thành tựu đạt được trong thời gianqua là rất đáng khích lệ, song bên cạnh đó cũng còn không ít những hạn chế Đểtiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước đi lên, tháng 6/1991, Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII triệu tập tại thủ đô Hà Nội Đại hội khẳng địnhđường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo và thôngqua cương lĩnh xây dựng đất trong thoìư kỳ quá độ lên CNXH Đại hội khẳngđịnh phương châm chỉ đạo trong 5 năm tới là “tiếp tục đổi mới toàn diện vàđồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc, lấy đổimới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới các lĩnhvực khác nhất là dân chủ hoá xã hội, tổ chức và phương châm hoạt đọng của hệthống chính trị, các chính sách giáo dục, văn hoá xã hội” [61- 18]
Trên cơ sở những thành tích đã đạt được và những mặt còn tồn tại của huyệnnhà trong 5 năm đầu đổi mới 1986- 1990, tiếp thu chủ trương của trung ươngĐảng, tỉnh uỷ, tháng 10/1991, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VI (vòng II) đượctriệu tập Đại hội đã quán triệt nghị quyết Đại hội VII toàn quốc, Nghị quyếtĐại hội VIII của Đảng bộ về đường lối hoàn thiện hơn nữa công cuộc đổi mới,phát triển đất nước một cách toàn diện, đồng bộ và sâu sắc Đồng thời, Đại hội
đề ra phương hướng chung cho nhiệm vụ kinh tế- xã hội, mục tiêu tổng quát 5năm tới của huyện là: “vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinhtế- xã hội, tăng cường ổn định chính trị từng bước, ổn định phải cải thiện đời
Trang 36sống nhân dân, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, tạo đà phát triển trong giaiđoạn tiếp theo” [12 - 3].
Mục tiêu cụ thể trong 5 năm (1991-1995) được Đại hội vạch ra “đẩymạnh tốc độ phát triển nông nghiệp, thiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Sảnlượng lương thực bình quân hàng năm đạt 80.000 tấn thóc để có 400 kg trênngười, giá trị tiểu thủ công nghiệp hàng năm đạt 7%, tỷ lệ phát triển dân số đếnnăm 1995 là 1,9% ổn định cải thiện đời sống nhân dân tạo thêm nhiều việclàm, nâng cao tỉ lệ gia đình có đời sống khá, thu hẹp hộ nghèo và thiếu đói lúcgiáp hạt Giữ vững trật tự an toàn xã hội, tinh giảm bộ máy, phải đổi mới côngtác cán bộ, phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành và vậnđộng quần chúng của chính quyền và các tổ chức đoàn thể Xây dựng Đảngvững mạnh, đổi mới lãnh đạo của Đảng, củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạocủa cơ sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ,đảng viên” [12- 4]
Thực hiện chủ trương nhiệm vụ, mục tiêu của Đại hội VI, Đảng bộ vànhân dân Đông Sơn đã phát huy truyền thống tự lực, tự cường, chủ động, sángtạo, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu và đạt được kết quả cao trên nhiềulĩnh vực
2.3.2 Những thành tựu
2.3.2.1 Kinh tế
Về nông nghiệp, Đại hội VI Đảng bộ huyện xác định cơ cấu kinh tế làmặt trận hàng đầu, phát triển cả trồng trọt chăn nuôi, đẩy mạnh, chế biến nôngsản, hàng hoá, thực hiện đồng bộ các biện pháp thâm canh, tăng năng suất hai
vụ lúa mở rộng vụ đông
Thực tế những năm qua các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà