1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

14 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 425,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung phân tích những cơ hội và thách thức từ hai hiệp định CPTPP và EVFTA tác động đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp khuyến nghị nhằm giúp cho ngành thủy sản nước ta tận dụng được những cơ hội từ quá trình hội nhập.

Trang 1

CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI VÀ

TÁC ĐỘNG ĐẾN XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM

NEW-GENERATION FREE-TRADE AGREEMENTS AND

THEIR EFFECTS ON SEAFOOD EXPORT OF VIETNAM

TS Phạm Thị Bạch Tuyết Trường Đại học Sài Gòn

Tóm tắt

Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta hiện nay với kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới Xuất khẩu thủy sản đang có nhiều cơ hội trong việc mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu khi hai Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) mà Việt Nam tham gia bắt đầu có hiệu lực Tuy nhiên rất nhiều thách thức cũng đặt ra cho ngành thủy sản của nước ta liên quan đến các vấn đề như chất lượng sản phẩm, quy tắc xuất xứ, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, rào cản kĩ thuật, Bài viết tập trung phân tích những cơ hội và thách thức từ hai hiệp định CPTPP và EVFTA tác động đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp khuyến nghị nhằm giúp cho ngành thủy sản nước ta tận dụng được những cơ hội từ quá trình hội nhập

Từ khóa: Hiệp định thương mại tự do, thủy sản, xuất khẩu

Abstract

Seafood which is one of the key export products of our country with its constantly rising export turnover has made Vietnam become one of the largest seafood exporters all over the world Vietnam seafood exporters are having great opportunities to expand the market, improve the quality and increase the export value when two New-generation free-trade agreements (CPTPP, EVFTA) into which Vietnam has entered come into effect However, the seafood industry has also faced many challenges related to product quality, rules of origin, origin tracing and authenticity system, technology barriers This article will focus on the analyzing the opportunities and challenges brought by CPTPP, EVFTA and their effects on seafood export activities of Vietnam, while proposing some recommended solutions that helps the seafood industry take advantage of opportunities from the integration process

Keywords: Free trade agreement (FTA), seafood, export

1 Đặt vấn đề

Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương và song phương ở trong khu vực

và quốc tế Hiện nay Việt Nam đã đàm phán, ký kết và thực thi 16 hiệp định thương mại tự

Trang 2

do (FTA) gồm đã thực thi 12 FTA, ký và chuẩn bị phê chuẩn 1 FTA, đang đàm phán 3

FTA Trong năm 2019 tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đạt dấu mốc

quan trọng với việc nước ta đẩy mạnh tham gia và thực thi các FTA “thế hệ mới”, gồm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức

có hiệu lực với Việt Nam ngày 14/1/2019 và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) đã được ký kết ngày 30/6/2019, dự kiến có hiệu lực năm

2020 Đây là những FTA có mức độ cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sâu rộng và lộ trình ngắn hơn so với đa số các FTA mà nước ta đã ký kết và tham gia trước đây CPTPP và EVFTA sẽ mang lại nhiều cơ hội cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, trong

đó thủy sản là một trong những mặt hàng được hưởng lợi nhiều khi hiệp định có hiệu lực

Trong hơn 20 năm qua, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có bước phát triển mạnh

mẽ, kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ 621,4 triệu USD (1995) tăng lên 8.787,1 triệu USD (2018) với mức tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 13%/năm Quá trình tăng trưởng này đã đưa Việt Nam trở thành một trong năm nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, giữ vai trò chủ đạo cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu Trong năm 2018, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8,78 tỷ USD, tăng 5,8% so với năm 2017, là một trong sáu mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, sau điện thoại các loại và linh kiện; dệt may; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; da giầy Thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu sang 161 thị trường, trong đó có các thị trường lớn đạt trên 1 tỷ USD như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Những kết quả trên có sự đóng góp rất lớn nhờ tham gia tiến trình hội nhập quốc tế, trong đó thủy sản là một trong những ngành đi đầu về hội nhập quốc tế của Việt Nam Bên cạnh những FTA thế hệ cũ, việc Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA mang lại nhiều cơ hội cho xuất khẩu thủy sản nước ta, giúp cho thị trường xuất khẩu thủy sản ngày càng rộng mở, cơ hội từ ưu đãi thuế quan xuất nhập khẩu, khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm thủy sản, tăng sức cạnh tranh với các nước khác Tuy nhiên, sẽ có những thách thức mới cho ngành thủy sản Việt Nam khi tham gia CPTPP và EVFTA như các điều kiện về hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, quy tắc xuất xứ chặt hơn, có nhiều quy định mới và phức tạp hơn, trong khi sản phẩm của ta so với các nước đối tác FTA kém cạnh tranh hơn về giá thành Để tận dụng được lợi thế từ CPTPP và EVFTA cũng như tránh những hạn chế, bất lợi do những thách thức mang lại, chúng ta cần phải có những giải pháp để có thể tận dụng được tối đa các lợi ích từ hiệp định, đưa ngành thủy sản của nước ta có thể cạnh tranh, phát triển một cách bền vững

2 Cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hiệp định thương mại tự do (Free trade agreement - FTA) về cơ bản, là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định nhằm tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các nước thành viên với nhau Các FTA truyền thống được đàm phán, ký kết trong giai đoạn đầu, thường có phạm vi hẹp, mức độ tự do hóa hạn chế, thường chỉ bao gồm các cam kết tự do hóa thương mại trong lĩnh vực thương mại hàng hóa (xóa bỏ thuế quan đối với khoảng 70-80% số dòng thuế) Một số ít có thêm các cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ (mở cửa thêm các

Trang 3

dịch vụ so với mức mở cửa trong WTO) và các nguyên tắc chung về đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh Ngày nay, các FTA "thế hệ mới" có phạm vi cam kết rộng hơn, không chỉ bao gồm các nội dung cam kết về chính sách thuế quan, chính sách phi thuế quan đối với hàng hóa, dịch vụ mà còn mở rộng sang các lĩnh vực mới, đề cập tới vấn đề tự do hóa trong lĩnh vực dịch vụ và đầu tư, các biện pháp hạn chế định lượng, các rào cản kỹ thuật, quyền

sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua sắm chính phủ, lao động, thương mại điện tử, bảo hiểm và môi trường

Hiện nay có một số loại FTA mà Việt Nam tham gia như sau:

- FTA khu vực: là FTA được ký giữa các nước trong cùng một tổ chức khu vực Ví

dụ AFTA

- FTA song phương: được ký giữa 2 nước (FTA giữa Việt Nam và Chi Lê, Việt Nam - Nhật Bản )

- FTA đa phương: được ký giữa nhiều đối tác khác nhau Ví dụ như CPTPP ;

- FTA được ký giữa một tổ chức với một nước: FTA được ký giữa một bên là tổ chức ASEAN với Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc ; FTA giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu EU

Tham gia vào các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương là cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam FTA thế hệ mới sẽ tạo cơ hội trong việc gia tăng giá trị và mở rộng thị trường xuất khẩu nhờ hàng rào thuế quan bị bãi bỏ (thường về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực); giúp cho thủy sản Việt Nam tăng sức cạnh tranh nhờ sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất giá rẻ hơn như vận tải, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu vật tư, trang thiết bị; là cơ hội tăng cường hợp tác liên doanh để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến chuỗi sản xuất hàng giá trị gia tăng Bên cạnh đó FTA cũng tạo ra những thách thức cho doanh nghiệp thủy sản liên quan đến các vấn đề như quy tắc xuất xứ, rào cản kỹ thuật, bảo hộ thương mại, sự gia tăng cạnh tranh và vấn đề lao động, môi trường

Bài viết chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp thu thập từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Bộ Công thương để sử dụng phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong giai đoạn 1995 - 2018 và cơ hội cũng như thách thức trong thời gian tới Ngoài ra các thông tin và số liệu trong bài viết cũng kế thừa và tổng hợp từ các nghiên cứu đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí và các trang thông tin chính thức của các bộ ngành liên quan

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp thu thập, xử lí số liệu thống kê, phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp tài liệu, phương pháp bảng biểu, biểu đồ

3 Nội dung nghiên cứu

3.1 Nội dung của các Hiệp định tự do thế hệ mới đối với hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) bao gồm

11 nước thành viên tham gia (Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia,

Trang 4

Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam) chính thức có hiệu lực với Việt Nam

từ ngày 14/1/2019 Đây là một hiệp định tự do thế hệ mới với mức cam kết mở cửa mạnh

và phạm vi cam kết bao trùm nhiều lĩnh vực đã đem lại cơ hội rất lớn cho nhiều ngành kinh

tế của nước ta Thủy sản là một trong những ngành được hưởng lợi nhiều khi CPTPP có hiệu lực, nó không chỉ tạo cơ hội mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu mà còn giúp ngành nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản Việt Nam nâng cao chất lượng để phát triển bền vững Mức cam kết thuế quan trong CPTPP được mỗi thành viên đưa ra có mức cắt giảm thuế quan khá mạnh đối với ngành thủy sản có thể xóa bỏ thuế nhập khẩu hoàn toàn ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc theo lộ trình Cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với tất cả các dòng thuế thủy sản của Việt Nam là 8 nước Australia, New Zealand, Canada, Brunei, Malaysia, Singapore, Chile, Peru Còn Nhật Bản cam kết xóa bỏ thuế quan ngay với khoảng 65% (317/484) các sản phẩm thủy sản của Việt Nam, theo lộ trình 6 - 16 năm sẽ cắt giảm và xóa bỏ thuế với các sản phẩm thủy sản như 8 năm với cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, một số loại cá ngừ khác, 16 năm với cá nishin, saba, cơm, thu, Minh Thái, nục; Cam kết thuế quan với thủy sản của Mexico là xóa bỏ ngay 41% số dòng thuế (106/255) các sản phẩm thủy sản của Việt Nam, xóa bỏ theo lộ trình từ 3

- 16 năm với các sản phẩm thủy sản còn lại Tính đến ngày 30/10/2019 đã có 7 nước phê chuẩn CPTPP, trong đó 6 nước Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand, Singapore CPTPP chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 và Việt Nam có hiệu lực từ 14/1/2019 Đối với 4 nước chưa phê chuẩn CPTPP (Brunei, Chile, Malaysia, Peru) nên các cam kết thuế quan vẫn chưa có hiệu lực

Liên minh Châu Âu (EU) là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam EU là đối tác thương mại lớn thứ 5 của Việt Nam, và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ sau Hoa Kỳ Về xuất khẩu thủy sản, EU hiện đang là thị trường xuất khẩu thủy sản đứng thứ 2 của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 16,4% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước, đạt 1,44 tỷ USD năm 2018 Cho tới thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa có FTA nào với các quốc gia trong khu vực này Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam

và Liên minh châu Âu (EVFTA) đã được ký kết ngày 30/6/2019, dự kiến có hiệu lực năm

2020 Thủy sản là một trong những mặt hàng được hưởng lợi nhiều nhất khi EVFTA có hiệu lực với các cam kết xóa bỏ ngay khoảng 50% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, 50% số dòng thuế còn lại được xóa bỏ theo lộ trình từ 3 đến 7 năm, riêng với cá ngừ đóng hộp và cá viên áp dụng hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và 500 tấn Cam kết trên tạo nhiều cơ hội cho hàng thủy sản của Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, được hưởng nhiều ưu đãi với lộ trình miễn thuế xuống 0%, tăng khả năng cạnh tranh

so với các đối thủ chưa có FTA với EU như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia

Bảng 1: Cam kết mở cửa trong CPTPP và EVFTA cho sản phẩm thủy sản

của Việt Nam

Cam kết thuế quan của CPTPP cho Việt Nam

Cam kết thuế quan của EU cho Việt Nam

Thủy sản - Đối với Australia, New Zealand, - Xóa bỏ ngay khoảng

Trang 5

Canada, Brunei, Malaysia, Singapore, Chile, Peru: Cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với tất cả các sản phẩm thủy sản của Việt Nam

- Mexico: Xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với khoảng 41% (106/255) các sản phẩm thủy sản của Việt Nam Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình

3 - 16 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với các sản phẩm thủy sản còn lại

- Nhật Bản: Xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với khoảng 65% (317/484) các sản phẩm thủy sản của Việt Nam Cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình

6 - 16 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với các sản phẩm thủy sản còn lại

50% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực

- 50% số dòng thuế còn lại được xóa bỏ theo lộ trình từ 3 đến 7 năm

- Riêng với cá ngừ đóng hộp và cá viên áp dụng hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và

500 tấn

Nguồn: [5], [6]

Bên cạnh các cam kết về mặt thuế quan còn có rất nhiều vấn đề liên quan đến các biện pháp phi thuế quan trong CPTPP và EVFTA tác động đến ngành thủy sản như hàng rào kỹ thuật trong thương mại, biện pháp an toàn thực phẩm, phòng vệ thương mại, quy tắc xuất xứ , trong đó tiêu chuẩn về lao động và môi trường rất đáng quan tâm trong ngành thủy sản

Hàng rào kỹ thuật trong thương mại: Để có thể xuất khẩu thủy sản sang thị

trường các nước CPTPP và EU, nước xuất khẩu phải tuân thủ các nguyên tắc trong quy trình chế biến, đóng gói sản phẩm và bảo vệ môi trường Đối với EU quy định rất chặt chẽ với các loại dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm thủy sản trong quá trình sơ chế, bảo tồn môi trường: Các sản phẩm thủy sản được nhập khẩu vào EU phải có Giấy chứng nhận đánh bắt được hợp thức hóa bởi cơ quan có thẩm quyền Chứng nhận áp dụng cho tất cả sản phẩm đã chế biến hoặc chưa qua chế biến, trừ cá nước ngọt, cá cảnh và một số loại thân mềm khác

Biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật: Các doanh nghiệp cần

phải đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm ngay từ cơ sở sản xuất (bao gồm cơ sở

hạ tầng và quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn HACCP) Ngoài ra, các doanh nghiệp chế

Trang 6

biến và xuất khẩu thủy sản cần lưu ý một số quy định chung của EU liên quan tới quy tắc

vệ sinh thực phẩm có nguồn gốc động vật, dư lượng cho phép một số chất nhất định với sản phẩm thủy sản

Quy tắc xuất xứ: Trong CPTPP và EVFTA, quy tắc xuất xứ Chương III của sản

phẩm thủy sản khá chi tiết và cụ thể với những quy định về xuất xứ thuần túy, xuất xứ nội khối và xuất xứ một phần với mục đích để đảm bảo hàng hóa phải được sản xuất chủ yếu trong khu vực Hiệp định thì mới được hưởng ưu đãi thuế quan của Hiệp định Ngoài ra, CPTPP và EVFTA đều có cam kết về ngăn ngừa đánh bắt hải sản quá mức, giảm đánh bắt các loài chưa trưởng thành, tuân thủ các biện pháp bảo tồn, khai thác cạn kiệt

Cam kết về môi trường: Thủy sản là ngành có liên quan chặt chẽ tới môi trường,

đặc biệt là vấn đề khai thác tài nguyên thủy sản và xử lý chất thải từ quá trình đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản Vì vậy, các cam kết về môi trường sẽ tác động đến ngành thủy sản, không vì lợi ích thương mại mà giảm tiêu chuẩn môi trường Trong CPTPP có cam kết về đánh bắt hải sản, ngăn ngừa đánh bắt quá mức, giảm đánh bắt các loài chưa trưởng thành; cam kết không trợ cấp các tàu cá bị liệt vào danh mục đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo, không đúng quy định (IUU) Với EVFTA phải tuân thủ các biện pháp bảo tồn, quản lý và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản, cam kết trao đổi hợp tác thông tin

về các vấn đề liên quan tới việc kiểm soát, giám sát, thực thi các biện pháp quản lý đánh bắt hải sản

Về lao động: Cả CPTPP và EVFTA đều có nhóm nguyên tắc lao động cơ bản trong

tuyên bố của ILO năm 1998, bao gồm quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động; xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc; cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; xóa

bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp Đối với ngành thủy sản là ngành sử dụng nhiều lao động, lại có môi trường lao động khá đặc thù Vì vậy, các cam kết

về lao động sẽ tác động gián tiếp đến các doanh nghiệp và người lao động trong ngành thủy sản, đặc biệt phải chú ý đến các trường hợp liên quan đến yếu tố lao động trẻ em và lao động mùa vụ

3.2 Khái quát tình hình xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam

Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta hiện nay với kim ngạch xuất khẩu lớn đứng thứ sáu trong số các sản phẩm xuất khẩu của cả nước Trong những năm qua, xuất khẩu thủy sản liên tục tăng trưởng cả về số lượng và giá trị xuất khẩu Trong giai đoạn 1995 - 2000, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tăng từ 621,4 triệu USD năm 1995 lên 1,478 tỉ USD năm 2000 Sau khi Việt Nam

ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (có hiệu lực năm 2001) và tham gia hội nhập sâu vào kinh tế thế giới đã mở ra cánh cửa cho hàng xuất khẩu Việt Nam nói chung

và hàng thủy sản nói riêng được tiếp cận với các thị trường lớn nhất thế giới như Hoa Kỳ,

EU, Nhật Bản Nhờ đó kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản tăng nhanh chóng từ 1,478 tỉ USD năm 2000 lên 5,016 tỉ USD năm 2010, đến năm 2018 đạt 8,787 tỉ USD Năm 2018 xuất khẩu thủy sản đạt 8,787 tỷ USD, tăng 5,8% so với năm 2017 Các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam gồm tôm, cá tra, cá ngừ, mực và bạch tuộc, cua ghẹ

và giáp xác

Trang 7

Hình 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam giai đoạn 1995-2018 (triệu

USD)

Nguồn: [2], [3]

Năm 2018 xuất khẩu tôm đạt trên 3,55 tỷ USD, chiếm 41,1% trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, trong đó tôm chân trắng đạt 2,44 tỷ USD, tôm sú đạt 817,3 triệu USD Mặt hàng tôm được xuất khẩu sang 89 thị trường, trong đó 10 thị trường lớn nhất gồm EU, Hoa

Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Australia, ASEAN, Đài Loan (Trung Quốc), Thụy Sỹ với tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm 95,9% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm

cả nước EU là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam đạt 838,3 triệu USD (chiếm 23,6% tổng giá xuất khẩu tôm Việt Nam) Tôm chân trắng là sản phẩm chủ đạo xuất khẩu sang EU, chiếm tỷ trọng áp đảo 82% tổng các sản phẩm tôm xuất sang EU Anh,

Hà Lan, Đức là 3 thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất trong khối EU Cơ hội xuất khẩu tôm sang thị trường EU sẽ được đẩy mạnh trong thời gian tới khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) bắt đầu có hiệu lực, thuế xuất khẩu nhiều mặt hàng tôm sẽ về mức 0%

Mặt hàng cá tra xuất khẩu đạt 2,26 tỷ USD, chiếm 25,2% giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước, trong đó, cá tra tươi, ướp lạnh, đông lạnh đạt 2,24 tỷ USD; cá tra chế biến đạt 21,1 triệu USD Cá tra được xuất khẩu được sang 129 thị trường, trong đó 8 thị trường lớn nhất gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, ASEAN, Mexico, Brazil, Colombia và UAE với tổng kim ngạch xuất chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu cá tra cả nước EU

là thị trường nhập khẩu lớn thứ ba của Việt Nam về cá tra với kim ngạch đạt 243,9 triệu USD, chiếm 10,8%

Cá ngừ xuất khẩu đạt 652,9 triệu USD, trong đó cá ngừ tươi, ướp lạnh, đông lạnh đạt 346,5 triệu USD và cá ngừ chế biến đạt 325,8 triệu USD Về thị trường, cá ngừ xuất khẩu được sang 101 thị trường, trong đó 8 thị trường lớn nhất gồm Hoa Kỳ, EU, Israel, ASEAN, Nhật Bản, Canada, Mexico và Trung Quốc với tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm 87% tổng kim ngạch xuất khẩu cá ngừ cả nước Mực và bạch tuộc đạt giá trị xuất khẩu 672,3 triệu USD với 9 thị trường xuất khẩu chủ lực gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, ASEAN, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Isarel, Đài Loan và Australia chiếm 98,3% tổng kim ngạch xuất khẩu mực và bạch tuộc của cả nước (Bảng 2)

Trang 8

Bảng 2: Các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam năm 2018

Sản phẩm

thủy sản

Kim ngạch (triệu USD)

Tăng trưởng so với năm 2017 Thị trường chính

Tôm các

EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Australia, ASEAN

Cá tra 2.260,0 25,6% Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, ASEAN,

Mexico, Brazil, Colombia, UAE

Cá ngừ 652,9 12,2% Hoa Kỳ, EU, Israel, ASEAN, Nhật Bản,

Canada, Mexico, Trung Quốc Mực và

Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, ASEAN, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Isarel, Đài Loan, Australia

Nguồn: [1]

Thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu sang 161 nước trên thế giới, trong đó 5 thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất gồm Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang 5 thị trường này trong năm 2018 đạt 6,32

tỷ USD, chiếm 71,8% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, năm 2018 xuất khẩu đạt 1,63 tỷ USD, chiếm tỉ trọng 18,5%; các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang Hoa Kỳ là tôm, cá tra, cá ngừ

và cua ghẹ Đứng thứ hai là thị trường EU với giá trị xuất khẩu đạt 1,44 tỷ USD, chiếm 16,4%; các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực là tôm, cá tra, cá ngừ, bạch tuột, mực, nhuyễn thể và các loại thủy sản đông lạnh Tiếp theo là Nhật Bản đạt 1,39 tỷ USD, chiếm 15,8%; tôm, cá ngừ, mực và bạch tuộc là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực Trung Quốc xuất khẩu đạt 996 triệu USD, chiếm 11,3% và Hàn Quốc xuất khẩu đạt 864,9 triệu USD, chiếm 9,8%

Hình 2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam năm 2018 (%)

Nguồn: [1]

Trang 9

3.3 Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam khi tham gia các FTA thế hệ mới

a Cơ hội

Thứ nhất, cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, được hưởng nhiều ưu đãi về mặt thuế quan

CPTPP và EVFTA là hai hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có mức độ cam kết về mặt mở cửa thị trường, dỡ bỏ hàng rào thuế quan sâu hơn so với các FTA mà Việt Nam tham gia trước đó Thủy sản được đánh giá là một trong những ngành được hưởng lợi khá lớn về cắt giảm thuế quan ngay khi CPTPP và EVFTA có hiệu lực, nhờ đó kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng lên, thị trường được mở rộng, gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới

Các nước thành viên CPTPP đều là những thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam Năm 2018 kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang các nước CPTPP đạt giá trị 2,209

tỷ USD, chiếm 25,1% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước Trong 11 nước thuộc CPTPP, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, đạt 1,378 tỷ USD, tiếp theo là Canada (239,78 triệu USD), Australia (197,04 triệu USD), Mexico (115,48 triệu USD), Malaysia (114,22 triệu USD), Singapore (113,15 triệu USD) Tôm là mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu lớn nhất sang các nước CPTPP với 970,485 triệu USD; tiếp

đó là hải sản với 910,324 triệu USD; cá tra 328,348 triệu USD [4]

Trong CPTPP, hầu hết tất cả các nước đều cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực đối với tất cả các sản phẩm thủy sản của Việt Nam, tạo nhiều cơ hội cho nhóm hàng thủy sản tiếp cận với các thị trường này, trong đó xuất khẩu tôm, bạch tuộc, cá ngừ sẽ được hưởng lợi nhiều nhất Đáng chú ý, Canada, một thị trường lớn của Việt Nam chưa có FTA cam kết xóa bỏ 100% các dòng thuế đối với thủy sản Việt Nam ngay khi CPTPP có hiệu lực Đối với Mexico, một thị trường đang duy trì thuế cao cũng cam kết xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với khoảng 41% (106/255) các sản phẩm thủy sản của Việt Nam, cắt giảm và xóa bỏ thuế theo lộ trình 3 - 16 năm với các sản phẩm thủy sản còn lại Mặc dù là nước có mức cam kết mở cửa hạn chế nhất đối với thủy sản Việt Nam trong nhóm CPTPP, tuy nhiên, mức cam kết này vẫn mang lại nhiều lợi ích thuế quan đáng kể cho thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này khi so với mức thuế MFN mà Mexico áp dụng cho các sản phẩm thủy sản nhập khẩu là 13,51% đối với thủy sản tươi và 18% đối với chế phẩm thủy sản Nhật Bản, thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam cũng cắt giảm thuế sâu hơn cho thủy sản Việt Nam so với hai Hiệp định thương mại tự do song phương đã được thực thi trước đó (FTA ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) và Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA)) và được hưởng lợi từ nguyên tắc cộng gộp từ 11 nước thành viên CPTPP Các cam kết trên sẽ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu sang các nước thành viên, đặc biệt là các thị trường lớn, những đối tác thương mại chính của xuất khẩu thủy sản Việt Nam như Nhật Bản, Australia, Canada, Mexico; New Zealand và Australia cũng là những thị trường tiềm năng với sức tiêu thụ sản phẩm thủy sản đang tăng nhanh

Đối với hiệp định EVFTA, cơ hội cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam là vô cùng lớn khi được tiếp cận với thị trường của 28 quốc gia thành viên EU chưa có FTA nào với

Trang 10

Việt Nam Đồng thời, đây lại là thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam, đứng thứ 2 sau thị trường Mỹ, luôn chiếm trên 16%-17% trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Trong đó, tôm và cá tra là sản phẩm chủ lực xuất khẩu sang thị trường

EU, tôm chiếm 22% tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam và là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, cá tra chiếm 11%, các sản phẩm nhập khẩu lớn nữa là cá ngừ, mực và bạch tuộc Ngay khi Hiệp định có hiệu lực sẽ có gần 50% số dòng thuế đang có thuế suất

cơ sở 0-22%, sẽ được giảm về 0% (khoảng 840 dòng thuế) Khoảng 50% số dòng thuế còn lại có thuế suất cơ sở 5,5-26% sẽ được về 0% sau từ 3 đến 7 năm Riêng cá ngừ đóng hộp

và cá viên, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và 500 tấn Tôm nguyên liệu sẽ về mức thuế 0% từ mức hiện tại là 12.5%; thuế sản phẩm tôm về 0%

từ 20% hiện tại Các sản phẩm hải sản (hàu, điệp, mực ) sẽ được giảm ngay về 0% từ mức 20% Mực và bạch tuộc đông lạnh đang chịu mức thuế 6 - 8% sẽ giảm ngay về 0%,[4] Đây sẽ là cơ hội lớn góp phần đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy sản sang thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất nhì của Việt Nam những năm qua

Tham gia CPTPP và EVFTA không chỉ giúp Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi từ những thị trường xuất khẩu thủy sản trọng điểm như Nhật Bản, EU, Australia, Canada Hơn nữa tỉ trọng thủy sản của Việt Nam trong kim ngạch nhập khẩu thủy sản của nhiều thị trường còn khá khiêm tốn, vì thế dư địa phát triển thị trường còn nhiều Trong CPTPP, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, tuy nhiên thủy sản của nước ta còn chiếm thị phần rất nhỏ từ nhập khẩu thủy sản của Nhật Bản Đối với sản phẩm

cá và động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thủy sinh không xương sống khác chỉ chiếm thị phần 4,83%; các sản phẩm chế phẩm từ cá chiếm thị phần 14,14% Canada lần lượt là 7,34% và 30,7%; Australia là 13,7% và 12,3%; Mexico là 16,7% và 0,7% Nếu chúng ta biết tận dụng những ưu đãi từ các hiệp định mang lại thì sẽ là cơ hội cho sản phẩm thủy sản Việt Nam mở rộng thị trường, gia tăng giá trị và thị phần xuất khẩu

Thứ hai, gia tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Thủy sản Việt Nam đang có vị thế cạnh tranh mạnh mẽ với các nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới do một số nước đối thủ với Việt Nam đều chưa ký FTA với các nước đối tác thuộc nhóm CPTPP và EVFTA nên đây sẽ là lợi thế cạnh tranh về mặt thuế nhập khẩu thủy sản khi Việt Nam được hưởng mức thuế ưu đãi hơn Tại thị trường các nước thành viên CPTPP, các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam về thị phần xuất khẩu các sản phẩm thủy sản là Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Khi Việt Nam là thành viên của Hiệp định CPTPP sẽ có lợi thế hơn so với các đối thủ trong cạnh tranh xuất khẩu sang thị trường này, từ đó sẽ có cơ hội tăng thị phần xuất khẩu Ví dụ như Canada, một thị trường thế mạnh về xuất khẩu thủy sản Việt Nam, cam kết xóa bỏ 100% dòng thuế nhập khẩu với thủy sản Việt Nam sau khi hiệp định CPTPP có hiệu lực Việt Nam hiện đang đứng đầu xuất khẩu tôm (tôm đông lạnh và tôm chế biến) vào Canada và chiếm gần 1/3 thị phần nhập khẩu tôm của Canada Đối thủ cạnh tranh lớn nhất với Việt Nam là Ấn Độ nhưng nước này không phải thành viên CPTPP nên đây là cơ hội để sản phẩm tôm xuất khẩu Việt Nam cạnh tranh thị phần với Ấn Độ Hay cá ngừ Việt Nam mới chiếm thị phần rất nhỏ khoảng trên 1,1% thị phần, Việt Nam sẽ có cơ hội tăng lợi thế cạnh tranh với Thái Lan và Trung Quốc, hai đối thủ lớn nhất của Việt Nam nhưng không được hưởng mức thuế 0% do không phải là thành viên của CPTPP

Ngày đăng: 30/08/2021, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công thương, Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2018, Nhà xuất bản Công thương, Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2018
Nhà XB: Nhà xuất bản Công thương
2. Tổng cục Hải quan, Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và năm 2018, https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 12 và năm 2018
3. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê Việt Nam các năm, https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=720 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Việt Nam các năm
4. Tổng cục Thủy sản, Hiệp định CPTPP và EVFTA tạo cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản, https://tongcucthuysan.gov.vn/vi-vn/khcn-htqt/hiep-dinh-cptpp-va-evfta-tao-co-hoi-mo-rong-thi-truong-xuat-khau-thuy-san Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định CPTPP và EVFTA tạo cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản
5. Trung tâm WTO và hội nhập VCCI, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)(tóm lược), http://www.trungtamwto.vn/download/19285/ttwto-tom-luoc-evfta.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)(tóm lược)
6. Trung tâm WTO và hội nhập VCCI, Sổ tay doanh nghiệp: CPTPP và Ngành Thủy sản Việt Nam, http://www.trungtamwto.vn/download/19221/6.-vcci-cptpp-thuy-san.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay doanh nghiệp: CPTPP và Ngành Thủy sản Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w