1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xu hướng bảo hộ thương mại trên thế giới hiện nay và ứng phó của Việt Nam

16 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 565,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đã chỉ ra các biểu hiện của chủ nghĩa bảo hộ thương mại trên thế giới và các tác động của việc hạn chế thương mại đến thương mại quốc tế. Đồng thời phân tích các ứng phó của Việt Nam trước xu thế bảo hộ thương mại của các quốc gia nhằm thích ứng với xu thế mới trong thương mại toàn cầu.

Trang 1

XU HƯỚNG BẢO HỘ THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY VÀ

ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM TRADE PROTECTION TRENDS AND RESPONSIBILITIES OF VIETNAM

PGS.TS Phan Thế Công ThS Hồ Thị Mai Sương Trường Đại học Thương mại

Tóm tắt

Từ nhiều năm qua, chính sách thương mại của các nước trên thế giới đang thể hiện

rõ hai xu thế đối ngược nhau, bao gồm tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại Trong

xu thế nhiều quốc gia bị thâm hụt thương mại lớn và kéo dài, các biện pháp bảo hộ hay hạn chế thương mại được những quốc gia này thực hiện nhằm bảo vệ sản xuất trong nước như các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, bao gồm: tăng thuế nhập khẩu, trợ cấp, hạn ngạch, Bài viết đã chỉ ra các biểu hiện của chủ nghĩa bảo hộ thương mại trên thế giới và các tác động của việc hạn chế thương mại đến thương mại quốc tế Đồng thời phân tích các ứng phó của Việt Nam trước xu thế bảo hộ thương mại của các quốc gia nhằm thích ứng với xu thế mới trong thương mại toàn cầu

Từ khóa: Chủ nghĩa bảo hộ; Bảo hộ thương mại, Hạn chế thương mại; Tự do hóa thương

mại

Abstract

For many years, trade policies of countries around the world have clearly shown two opposing trends, including trade liberalization and trade protection In the trend of many countries with large and prolonged trade deficits, trade protection or restrictive measures are implemented by these countries to protect domestic production such as tariff and non-tariff barriers, including: increasing import taxes, subsidies, quotas, etc The article has pointed out the manifestations of world trade protectionism and the effects of trade restrictions on international trade At the same time, analyze Vietnam's responses to the countries' trade protectionism trend in order to adapt to the new trend in global trade

Keywords: Protectionism; Trade protection, Trade restriction; Trade liberalization

1 Đặt vấn đề

Hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại tăng trưởng cao cho thương mại quốc tế đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế cho nhiều quốc gia trên thế giới Xu thế phát triển toàn cầu được đánh dấu bằng sự ra đời của Hiệp định chung về thế quan và mậu dịch (GATT) - tiền thân của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Ra đời vào năm 1995, WTO là tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra các nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới trong đó các thành viên sẽ đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại theo hướng tạo điều kiện thuận lợi trao đổi thương mại giữa các thành viên

Trang 2

Các quốc gia trên thế giới đã thu được nhiều lợi ích từ các hiệp định thương mại tự

do Theo báo cáo của WTO (2019), hiện nay các thành viên của WTO đã thực hiện 120 biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại góp phần tăng tổng giá trị thương mại do các biện pháp này khoảng 544,7 tỷ USD Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đã chứng minh sự đóng góp của toàn cầu hóa khoảng 1,5 - 2% tăng trưởng kinh tế thế giới, tỷ lệ đói nghèo giảm xuống ở các nước đang phát triển Đồng thời theo Ngân hàng Thế giới (WB), các nước đang phát triển có thể tăng thêm thu nhập 142 tỷ USD mỗi năm nếu các biện pháp bảo hộ thương mại được gỡ bỏ hoàn toàn (Nguyễn Mại, 2018)

Việt Nam đã thực hiện quá trình đổi mới từ năm 1986, mở cửa thị trường và thúc đẩy hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực Mốc quan trọng khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 đã đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Trong quá trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam, các hiệp định song phương và đa phương được đàm phán và ký kết, đặc biệt là các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Đây là cơ hội lớn cho Việt Nam như thu hút đầu tư nước ngoài; cắt giảm thuế quan của hàng hóa xuất nhập khẩu tạo nên cơ hội cạnh tranh;

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên thế giới đã xuất hiện một xu hướng đối lập với tự do hóa thương mại chính là chủ nghĩa bảo hộ Các quan điểm ủng hộ cho bảo hộ thương mại đưa ra các lý lẽ giải thích nguyên nhân mà các quốc gia thực hiện các biện pháp hạn chế thương mại Các nguyên nhân đó liên quan đến an ninh quốc phòng của quốc gia, giải quyết thâm hụt thương mại, giải quyết việc làm, bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ

và đảm bảo thương mại công bằng Hiện nay, chủ nghĩa bảo hộ đã có xu hướng gia tăng ở nhiều nước trên thế giới và biểu hiện của nó cũng rất đa dạng như việc Mỹ thực hiện các biện pháp thuế quan đối với các hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt áp thuế cao đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, gây nên cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung năm 2018; hoặc sự kiện Anh rút khỏi EU Ngoài ra, nhiều nước trên thế giới đã thực hiện các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ cũng là những biểu hiện cho việc thực hiện các biện pháp hạn chế thương mại trên thế giới Trước tình hình

đó, Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ từ vấn đề bảo hộ thương mại của các quốc gia là bạn hàng

Hiện nay, Việt Nam đã và đang thúc đẩy quá trình đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do FTA thế hệ mới nhằm tận dụng được các lợi thế của tự do thương mại Tuy nhiên, tác động tiêu cực của chủ nghĩa bảo hộ cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam trong quan hệ thương mại quốc tế Đặc biệt, xu hướng sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của nhiều quốc gia như Mỹ cũng tạo ra những khó khăn nhất định cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam Do đó, Việt Nam cần chủ động trong việc theo dõi các biến động về quan hệ kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới để có thể có những biện pháp ứng phó kịp thời theo nhiều kịch bản khác nhau

2 Tổng quan về chủ nghĩa bảo hộ thương mại

Theo Amadeo (2017), bảo hộ thương mại là chính sách bảo vệ nền công nghiệp trong nước với nước ngoài - chính sách này tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các quốc gia Chính sách bảo hộ có ý nghĩa trong ngắn hạn nhưng nó lại làm giảm khả năng

Trang 3

cạnh tranh của các quốc gia và các ngành công nghiệp của quốc gia đó trong thương mại quốc tế

Chủ nghĩa bảo hộ là tổng hợp các chính sách của chính phủ nhằm giúp các nhà sản xuất trong nước cạnh tranh với nước ngoài trong một lĩnh vực công nghiệp cụ thể, bằng cách nâng giá bán của các sản phẩm nước ngoài, giảm chi phí cho các nhà sản xuất trong nước và hạn chế sự gia nhập của các nhà sản xuất nước ngoài vào thị trường nội địa Các quan điểm bảo vệ chủ nghĩa bảo hộ thương mại cho rằng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm mục đích an ninh quốc phòng, giải quyết thâm hụt thương mại, giải quyết việc làm, bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ và đảm bảo thương mại công bằng (Abboushi, 2010)

Chủ nghĩa bảo hộ thương mại là một thuật ngữ kinh tế học để chỉ việc các quốc gia

áp dụng các biện pháp để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước cạnh tranh của nước ngoài như nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toàn lao động, môi trường, xuất xứ, hoặc các chính sách thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng Chính sách này nhằm bảo vệ sản phẩm trong nước với sản phẩm cùng loại được nhập khẩu từ đối thủ cạnh tranh nước ngoài với mức giá thấp hơn (Nguyễn Mại, 2018)

Abboushi (2010) cho rằng các phương thức nhằm bảo hộ sản xuất trong nước bao gồm: Sử dụng thuế quan đối với hàng nhập khẩu; áp dụng trần hạn ngạch đối với số lượng hàng hóa nước ngoài được bán ở thị trường trong nước, trong đó hạn chế cung cấp và tăng giá sản phẩm nhập khẩu; các biện pháp rào cản liên quan đến sản phẩm nhập khẩu; trợ cấp cho các nhà sản xuất trong nước như giảm thuế, trợ cấp tiền mặt; kiểm soát tiền tệ Cùng quan điểm trên, Amadeo (2017) đã đưa ra bốn công cụ cơ bản để bảo hộ thương mại bao gồm chính sách thuế, chính sách trợ cấp, hạn ngạch và chính sách tiền tệ Trong đó, chính sách được sử dụng nhiều nhất chính là chính sách thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu đối với hàng hóa, dịch vụ tăng lên làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tăng lên nhanh chóng và trở nên kém cạnh tranh với các hàng hóa trong nước Đây là phương pháp tốt nhất đối với các quốc gia có nhiều hàng hóa nhập khẩu giống như Mỹ Demir and Sepli (2017) phân chia các biện pháp bảo hộ thương mại bao gồm hai loại: biện pháp thuế quan và phi thuế quan Biện pháp thuế quan chủ yếu là thuế nhập khẩu - làm tăng giá của hàng nhập khẩu từ đó thúc đẩy sản xuất trong nước và giảm nhập khẩu Các biện pháp phi thuế bao gồm: Hạn ngạch nhập khẩu; Cấm nhập khẩu; Kiểm soát tiền tệ nước ngoài; Hệ thống đa tiền tệ, Thuế nhập khẩu biến đổi, bán phá giá, thành lập Cartels; Trợ cấp cho các ngành sản xuất kinh doanh trong nước; Trợ cấp xuất khẩu, thuế xuất khẩu; Hạn chế xuất khẩu tự nguyện; Nghĩa

vụ đóng góp trong nước; Chính sách mua hàng của các tổ chức công; Tiêu chuẩn sức khỏe,

an ninh và môi trường, Áp dụng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, thương mại và trí tuệ Ngoài ra, Yalcin, Felbermayr, and Kinzius (2017) cho rằng các biện pháp bảo hộ thương mại bao gồm những rào cản phi thuế như trợ cấp, các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ thương mại), các hiệp định về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), các hiệp định về việc sử dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS)

Như vậy, chủ nghĩa bảo hộ chính là xu thế các quốc gia sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại như thuế, trợ cấp, hạn ngạch, bán phá giá, nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của nước ngoài

Trang 4

3 Nhận diện chủ nghĩa bảo hộ thương mại trên thế giới trong giai đoạn hiện nay

3.1 Sự hình thành của bảo hộ thương mại trên thế giới trong giai đoạn hiện nay

Sự phát triển của tự do hóa thương mại trong tương lai chắc chắn là một vấn đề mà hầu hết các nước trên thế giới đều thúc đẩy tiến tới Tuy nhiên, tự do hóa thương mại song phương hay toàn cầu vẫn là một vấn đề đang được tranh cãi Do những lợi ích về kinh tế

và thương mại của việc tự do hóa toàn cầu, nên xu hướng giảm thuế của các quốc gia trong tương lai giúp gỡ bỏ các rào cản nhập khẩu Tuy vậy, tốc độ cắt giảm thuế của các quốc gia

có sự phát triển về kinh tế khác nhau có thể sẽ khác nhau Các quốc gia có nền kinh tế phát triển, vốn đã có mức thuế nhập khẩu thấp sẽ có tốc độ tự do hóa thương mại chậm Trong khi đó, các nước đang phát triển, với mức thuế nhập khẩu cao và nhu cầu tiêu dùng đa dạng sẽ có động lực hơn trong việc thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại

Tuy nhiên, xu hướng toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ, nhưng song hành là chủ nghĩa bảo hộ thương mại Nhiều nước trên thế giới đã gia tăng nhanh chóng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm bảo vệ sản xuất trong nước, trong đó bao gồm cả xu hướng bảo hộ thương mại bằng thuế quan và phi thuế quan Về các biện pháp thuế quan, các quốc gia phát triển có mức thuế quan thấp, nhưng tốc độ cắt giảm sẽ chậm hơn, các quốc gia đang phát triển có mức thuế quan cao nhưng có tốc độ cắt giảm thuế quan sẽ nhanh hơn

Tại Mỹ, một trong các hành động lập pháp đầu tiên của Tổng thống Donald Trump

là tuyên bố rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đàm phán lại Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), ngừng đàm phán FTA với EU, tiếp đó là

áp đặt thuế nhập khẩu khá cao đối với sản phẩm của nhiều nước như nhôm, thép cuốn; đặt

ra yêu sách với Trung Quốc cắt giảm thặng dư thương mại với Mỹ bằng cách mở cửa thị trường nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ (Nguyễn Mại, 2018) Mỹ kể từ năm 2016 các chính sách thương mại của Mỹ chuyển trọng tâm sang áp dụng các chính sách nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và củng cố nền kinh tế Các biện pháp phòng vệ thương mại cũng là các chính sách hạn chế thương mại mà Mỹ đã thực hiện trong nhiều năm qua Trong giai đoạn 2015 -

2017, Mỹ đã thực hiện thêm 133 vụ điều tra chống bán phá giá mới được Mỹ khởi xướng Tính đến cuối tháng 7 năm 2018, có khoảng 340 lệnh áp thuế chống bán phá giá và 109 lệnh thuế chống trợ cấp được Mỹ duy trì Hơn nữa, năm 2018, Mỹ đã thực hiện cách tiếp cận mới trong chính sách thương mại của Tổng thống Donald Trump, đưa ra nhiều biện pháp có tính chất hạn chế thương mại với phạm vi và quy mô ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều

so với các biện pháp phòng vệ thương mại truyền thống Tháng 3 năm 2018, Mỹ tuyên bố tăng thuế đối với mặt hàng nhôm và thép của các nước xuất khẩu vào Mỹ sau khi đã điều tra và kết luận rằng nhôm và thép nhập khẩu gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia Tiếp theo, các mặt hàng như ô tô, u-ra-ni-um cũng được Mỹ điều tra Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung cũng xuất pháp từ cách tiếp cận này Mỹ điều tra việc Trung Quốc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với rất nhiều sản phẩm của nước này và yêu cầu đánh thuế theo mức độ mà Trung Quốc vi phạm Quy mô của gói ấp thuế ban đầu là 50 tỷ USD, và đến năm 2018 đã tăng lên 250 tỷ USD sau khi Trung Quốc tiến hành trả đũa gói áp thuế ban đầu (Cục phòng vệ thương mại, 2019)

Sự kiện Brexit - nước Anh đã rời khỏi EU là một vấn đề hết sức quan trọng thu hút sự quan tâm của toàn thế giới Nước Anh và EU sẽ phải đàm phán lại các thỏa thuận

Trang 5

về thương mại Nếu các thỏa thuận với EU theo các hiệp định thương mại tự do ưu đãi của EU thất bại sau Brexit thì nước Anh sẽ trở lại theo các quy tắc của WTO, theo đó các mức thuế sẽ cao hơn so với các hiệp định ưu đãi của EU Hiện nay, EU chiếm khoảng một nửa thương mại hàng hóa của Anh, do đó, nếu sau Brexit không đạt được các thỏa thuận theo hiệp định thương mại tự do EU thì phần lớn thương mại của Anh sẽ bị áp dụng mức thuế cao

Trung Quốc là một cường quốc kinh tế trên thế giới đang thực hiện chính sách thương mại theo hướng hạn chế nhập khẩu bằng nhiều biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước, đồng thời thúc đẩy xuất khẩu Về cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp trả đũa Mỹ bằng cách áp thuế lên hàng hóa của Mỹ

Một số quốc gia khác trên thế giới ủng hộ quan điểm bảo hộ thương mại, đã thực hiện các biện pháp áp thuế nhập khẩu cao nên các sản phẩm này khó cạnh tranh với các sản phẩm trong nước Do đó, người tiêu dùng được mua các sản phẩm trong nước với mức giá thấp hơn; người sản xuất được bảo hộ nên có thể bán nhiều sản phẩm của mình thu được mức lợi nhuận cao hơn

Các biện pháp phòng vệ thương mại đã và đang được nhiều quốc gia áp dụng như chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ đang có xu hướng gia tăng Điều này cho thấy, các biện pháp hạn chế thương mại trên thế giới được áp dụng ngày càng rộng rãi Theo Bộ Công Thương (2019), trong khoảng giữa tháng 10 năm 2017 đến giữa tháng 5 năm 2018, các thành viên của WTO đã khởi xướng điều tra thêm 173 biện pháp phòng vệ thương mại chiếm tới 40% tổng số lượng các biện pháp thương mại mà các nước đã thực hiện, trong đó

137 biện pháp chống bán phá giá, 28 biện pháp chống trợ cấp và 8 biện pháp tự vệ

Theo thống kê của Cục phòng vệ thương mại (2019), trong năm 2018, các nước trên thế giới đã khởi xướng mới 140 vụ kiện phòng vệ thương mại trong đó có 87 vụ chống bán phá giá, 37 vụ chống trợ cấp và 16 vụ tự vệ Đối với biện pháp chống bán phá giá, số

vụ việc mới áp dụng trên số vụ khởi xướng ở Mỹ là nhiều nhất với 9/16, tiếp theo là Canada với 5/6 vụ, Ấn Độ 5/3 vụ, Thổ Nhĩ Kỳ 2/3 vụ, Trung quốc 1/6 vụ, Ác-hen-ti-na 1/9

vụ Đối với biện pháp chống trợ cấp, số vụ việc mới áp dụng trên số vụ khởi xướng ở Mỹ vẫn là nhiều nhất với 10/14 vụ, Canada 2/2 vụ, EU 1/2 vụ Ngoài ra, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan - Trung Quốc, cũng đã khởi xướng biện pháp chống trợ cấp Đối với biện pháp tự vệ, trên thế giới có 04 biện pháp tự vệ được khởi xướng và áp dụng ở các nước EU, Nhật Bản, Indonesia và SACU Bên cạnh đó, cũng có một số quốc gia cũng đã khởi xướng biện pháp tự vệ như Mỹ, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippin, Chi lê

Trang 6

Hình 1 Cơ cấu nhóm hàng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới

Nguồn: Bộ Công Thương (2019)

Về cơ cấu hàng hóa áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại thì phạm vi áp dụng rộng với nhiều nhóm hàng hóa Trong giai đoạn 2017 - 2018, sản phẩm áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại cao nhất là nhóm hàng sắt, thép với 40,2% lớn hơn rất nhiều so với nhóm hàng hóa tiếp theo là nhựa và sản phẩm nhựa với 11,2%; nhóm hàng hóa xe cộ và phụ tùng với 10,2% Các sản phẩm sản xuất từ sắt, thép cũng nằm trong danh mục sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, chiếm 9%

Trong các cuộc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng hộ thương mại, các quốc gia

có xu hướng mở rộng phạm vi về thị trường và mặt hàng; các vụ điều tra đều đặt ra các yêu cầu khắc khe hơn nhằm đưa ra mức độ bảo hộ cao; gia tăng các biện pháp phi truyền thống

3.2 Tác động của chủ nghĩa bảo hộ thương mại tới thương mại thế giới

Theo WTO (2019), hiện nay, các biện pháp hạn chế thương mại đã được các thành

viên WTO áp dụng đã gia tăng một cách nhanh chóng với khoảng 102 biện pháp, bao gồm các biện pháp tăng thuế, tăng các hạn chế định lượng, thắt chặt thủ tục hải quan, tăng thuế nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa,

Trang 7

Hình 2 Tác động của các biện pháp bảo hộ thương mại đến thương mại quốc tế giai đoạn 2012 - 2019 (Đơn vị: Tỷ USD)

Nguồn: WTO (2019)

Trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2019, tổng giá trị thương mại bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng các biên pháp bảo hộ thương mại có nhiều sự biến động Giai đoạn tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2013, tác động này là 201 tỷ USD, trong khi giai đoạn tháng 10 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017 lại giảm còn 79 tỷ USD Con số này lại tăng nhanh chóng trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 10 năm

2019 Giai đoạn từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 10 năm 2019, tổng giá trị thương mại bị ảnh hưởng do việc áp dụng các biện pháp này dự tính khoảng 747 tỷ USD - tăng khoảng 27% so với năm 2017 (ở mức 588 tỷ USD) Đây là con số lớn nhất trong giai đoạn 2012 -

2019 Những mặt hàng chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các biện pháp hạn chế nhập khẩu mới này tập trung vào: khoáng sản và dầu đốt (17,7%); máy móc thiết bị cơ khí (13%); máy móc, bộ phận điện (11,7%) và; kim loại quý (6%)

Theo WB (2020), các nước G20 đã thực hiện các biện pháp bảo hộ thương mại từ năm 2018 đã ảnh hưởng đến thương mại thế giới với tổng giá trị hơn một nghìn tỷ đô la chiếm gần 7% thương mại toàn cầu Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung không chỉ tác động đến hai nước mà còn tác động đến các nước thứ ba Năm 2019 đánh dấu sự leo thang căng thẳng của cuộc chiến trang thương mại Mỹ - Trung, các biện pháp áp thuế mới được thực hiện trên hầu hết các mặt hàng xuất nhập khẩu của hai quốc gia, dẫn đến thiệt hại lớn cho thương mại quốc tế Cuộc chiến này có tác động đến các mối quan hệ thương mại trên thế giới như giữa Mỹ với EU hay giữa Hàn Quốc và Nhật Bản

Theo dự báo của OECD (2020), thương mại quốc tế và GDP của hai nước Mỹ, Trung và của toàn cầu sẽ có sự khác nhau sau khi hai nước ký kết được thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 vào tháng 1 năm 2020 Thỏa thuận giai đoạn 1 đi đến thống nhất Trung Quốc cam kết mua ít nhất 200 tỉ USD các sản phẩm nông nghiệp cùng những hàng hóa và dịch vụ khác của Mỹ trong vòng hai năm 2020 - 2021, hơn mức cơ bản là 186 tỉ USD

trong năm 2017

Trang 8

Hình 3 Ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung trong giai đoạn 2020 -

2021 trước và sau khi ký thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 (đơn vị: %)

Nguồn: OECD (2020)

Căng thẳng trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung làm giảm GDP của toàn cầu và GDP của Trung Quốc và Mỹ, đồng thời tác động làm giảm thương mại quốc tế Tuy nhiên, dưới tác động của thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung giai đoạn một đã giảm tác động tiêu cực đến thương mại và GDP toàn cầu Cụ thể, thương mại quốc tế giảm 1% mỗi năm trong giai đoạn 2020 - 2021 sau khi Mỹ - Trung ký kết thỏa thuận thương mại thay vì 1,4% theo

dự đoán nếu không có thỏa thuận thương mại giai đoạn một GDP của Trung Quốc cũng được dự báo giảm khoảng 1% nếu không thỏa thuận Các chỉ tiêu GDP của Mỹ và GDP của toàn cầu cũng được dự báo giảm dưới 1%

Theo nghiên cứu của Đinh Văn Sơn (2019), số lượng các vụ điều tra và các vụ tranh chấp về phòng vệ thương mại được thống kê bởi WTO cho thấy luôn ở mức cao, thậm chí tỷ lệ các vụ tranh chấp liên quan chống bán phá giá và chống trợ cấp ở mức cao nhất trong số các vụ tranh chấp được đưa ra cơ quan giải quyết tranh chấp bởi WTO Trong đó, chống bán phá giá là biện pháp được sử dụng phổ biến hơn cả Hàng xuất khẩu của các nước luôn có nguy cơ bị kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp ở thị trường nước ngoài Bên cạnh đó, những năm gần đây, các nước còn thực hiện đánh thuế chống bán phá giá nhằm đảm bảo thương mại công bằng, tránh trường hợp nước bị áp thuế chống bán phá giá đưa hàng hóa qua một nước khác để xuất khẩu nhằm tránh thuế chống bán phá giá đang còn hiệu lực Vì vậy, trong những năm tới, việc sử dụng các biện pháp chống bán phá giá, thậm chí kết hợp các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, và biện pháp chống bán phá giá tránh lẩn thuế vẫn tiếp tục được các quốc gia coi trọng và sử dụng nhằm đảm bảo thương mại công bằng và phát triển bền vững

Như vậy, mặc dù các quốc gia ủng hộ các biện pháp bảo hộ thương mại đưa ra các nguyên nhân cho việc áp dụng các biện pháp này là do an ninh quốc gia, giải quyết việc

Trang 9

làm, bảo vệ nền công nghiệp non trẻ, nhưng các các phân tích cho thấy, nó lại có tác

động tiêu cực đến thương mại các quốc gia và thương mại toàn cầu

4 Ứng phó của Việt Nam trước xu thế bảo hộ thương mại trên thế giới

4.1 Thực trạng về các ứng phó của Việt Nam trước xu thế bảo hộ thương mại trên thế giới

Trong điều kiện hiện nay, khi chủ nghĩa bảo hộ thương mại của một số nước đang

có xu hướng gia tăng thì Việt Nam đang tích cực thúc đẩy các hoạt động mở rộng nền kinh

tế với sự tham gia các hiệp định song phương và đa phương Theo Văn kiện đại hội Đảng lần thứ 12, Việt Nam “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”

Việt Nam được đánh dấu mốc quan trọng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế chính là việc trở thành thành viên của ASEAN (1995) Hội nhập sâu và rộng vượt qua giới hạn khu vực khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO vào năm 2007 Ngoài ra, Việt Nam đã tham gia vào các Hiệp định thương mại

tự do FTA song phương và đa phương với nhiều quốc gia trên thế giới Việc tham gia vào các FTA đã mang lại rất nhiều cơ hội và tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là tác động đến cải thiện NSLĐ

Hiện nay, Việt Nam đã ký kết và đang thực thi 11 FTA khu vực và song phương, bao gồm: FTA trong khối ASEAN (AFTA); 5 FTA giữa ASEAN với các đối tác (với 06 đối tác là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Ốt-xtrây-lia và Niu Di-lân); 4 FTA song phương (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Nhật Bản; FTA Việt Nam - Chi Lê, FTA Việt Nam - Hàn Quốc và FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu); Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Thỏa thuận FTA ASEAN - Hồng Kông; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) Theo AFTA, đến năm 2018, các nước ASEAN đã xóa bỏ từ 96,3%-100% dòng thuế cho Việt Nam (thuế suất nhập khẩu MFN đối với các mặt hàng của Sing-ga-po, Ma-lai-xia, In-đô-nê-xia, và Phi-líp-pin đều bằng 0% nên 50% kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN không sử dụng C/O mẫu D) Đối với 05 FTA giữa 10 nước ASEAN với 6 nước đối tác, thời gian để hoàn thành việc cắt giảm thuế của các nước ASEAN cũng đã gần hoàn thành Đối với EVFTA, hiệp định này sẽ giúp Việt Nam mở rộng đáng kể những cơ hội đầu tư và thương mại, vượt ra ngoài khuôn khổ khu vực châu Á - Thái Bình Dương EVFTA được kỳ vọng

sẽ giúp Việt Nam tiếp cận tốt hơn 27 thị trường của Liên minh châu Âu (EU), vốn là những thị trường lớn nhất của các sản phẩm điện tử của Việt Nam Ngoài ra, EVFTA cũng

sẽ giúp Việt Nam thu hút nhiều hơn dòng đầu tư chất lượng cao hơn từ EU Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang

EU Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với

Trang 10

khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%

Bảng 1 Số lượng các hiệp định FTA song phương và đa phương của Việt Nam

FTAs đã có hiệu lực

5 VJEPA Có hiệu lực từ 2009 Việt Nam, Nhật Bản

7 AANZFTA Có hiệu lực từ 2010 ASEAN, Úc, New Zealand

8 VCFTA Có hiệu lực từ 2014 Việt Nam, Chi Lê

9 VKFTA Có hiệu lực từ 2015 Việt Nam, Hàn Quốc

10 VN - EAEU

FTA

Có hiệu lực từ 2016 Việt Nam, Nga, Belarus,

Amenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan

11 CPTPP

(Tiền thân là

TPP)

Có hiệu lực từ 30/12/2018,

có hiệu lực tại Việt Nam từ 14/1/2019

Việt Nam, Canada, Mexico, Peru, Chi Lê, New Zealand, Úc, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia

12 AHKFTA Có hiệu lực tại Hồng Kông

(Trung Quốc), Lào, Myanmar, Thái Lan, Singapore và Việt Nam từ 11/6/2019

ASEAN, Hồng Kông (Trung Quốc)

FTA đã ký nhưng chưa có hiệu lực

13 EVFTA Ngày 12/2/2020, Nghị viện

châu Âu (EP) đã chính thức

bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo

hộ đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu

Việt Nam, EU (27 thành viên)

FTA đang đàm phán

14 RCEP Khởi động đàm phán tháng

3/2013, hoàn tất đàm phán văn kiện

ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, New Zealand

Ngày đăng: 30/08/2021, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abboushi, S. (2010). Trade protectionism: Reasons and outcomes. Competitiveness Review: An International Business Journal, 20(5), 384-394. doi:10.1108/10595421011080760 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competitiveness Review: An International Business Journal, 20
Tác giả: Abboushi, S
Năm: 2010
2. Amadeo, K. (2017). Trade protectionism: 4 methods with examples, pros and cons. 5, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5
Tác giả: Amadeo, K
Năm: 2017
3. Bộ Công Thương. (2019). Báo cáo xuất nhập khẩu việt nam năm 2018. Retrieved from Nhà xuất bản Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo xuất nhập khẩu việt nam năm 2018
Tác giả: Bộ Công Thương
Nhà XB: Nhà xuất bản Công Thương
Năm: 2019
4. Cục phòng vệ thương mại. (2019). Báo cáo phòng vệ thương mại 2018. Retrieved from Bộ Công Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phòng vệ thương mại 2018
Tác giả: Cục phòng vệ thương mại
Năm: 2019
5. Demir, M. A., & Sepli, A. (2017). The effects of protectionist policies on international trade. 3(2), 136-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 3
Tác giả: Demir, M. A., & Sepli, A
Năm: 2017
10. WB. (2020). Global economic prospects slow growth, policy challenges: World Bank Publications Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global economic prospects slow growth, policy challenges
Tác giả: WB
Năm: 2020
7. Nguyễn Mại. (2018). Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch - vấn đề của việt nam. Retrieved from http://vietnamfinance.vn/chu-nghia-bao-ho-mau-dich-van-de-cua-viet-nam-20180504224208703.htm Link
9. Tổng cục Hải quan. (2020). Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của việt nam tháng 12 và năm 2019. Retrieved from https://www.customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1734&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20k%E1%BB%B3&Group=Gi%E1%BB%9Bi%20thi%E1%BB%87u Link
11. WTO. (2019). Report shows trade restrictions by wto members at historically high levels. Retrieved from https://www.wto.org/english/news_e/news19_e/dgra_12dec19_e.htm Link
6. Đinh Văn Sơn. (2019). Báo cáo thường niên kinh tế và thương mại việt nam 2018 - 2019: Bảo hộ thương mại và tác động đến xuất khẩu hàng hóa việt nam Khác
8. OECD. (2020). Oecd economic outlook, interim report march 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w