Mục đích: Nghiên cứu chủ đề này giúp các đồng chí nhận thức được sự ra đời và phát triển của trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh. Đồng thời nắm vững những tư tưởng kinh tế cơ bản của trường phái này. Từ đó làm cơ sở cho các đồng chí nhận thức về tính khoa học, cách mạng của kinh tế chính trị MácLênin. Yêu cầu: Nắm chắc nội dung, đặc biệt là các hạt nhân lý luận hợp lý, khoa học của trường phái này, từ đó so sánh, liên hệ vận dụng vào thực tiễn để làm cơ sở nghiên cứu, học tập KTCT Mác – Lênin và các môn học khác.
Trang 1SỰ PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
CHÍNH TRỊ HỌC TƯ SẢN CỔ ĐIỂN ANH
1 Mục đích - yêu cầu:
- Mục đích:
Nghiên cứu chủ đề này giúp các đồng chí nhận thức được sự ra đời vàphát triển của trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh Đồngthời nắm vững những tư tưởng kinh tế cơ bản của trường phái này Từ đólàm cơ sở cho các đồng chí nhận thức về tính khoa học, cách mạng của kinh
tế chính trị Mác-Lênin
- Yêu cầu:
Nắm chắc nội dung, đặc biệt là các hạt nhân lý luận hợp lý, khoa họccủa trường phái này, từ đó so sánh, liên hệ vận dụng vào thực tiễn để làm cơ
sở nghiên cứu, học tập KTCT Mác – Lênin và các môn học khác
2 Kết cấu bài giảng:
Bài giảng được chia làm 2 phần lớn:
I Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh.
II Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh.
3 Thời gian lên lớp: 3 tiết
4 Phương pháp giảng: Kết hợp phương pháp giới thiệu cơ bản hệ
thống với phương pháp khêu gợi hướng dẫn nghiên cứu
5 Tài liệu nghiên cứu:
- Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb Đại học kinh tế quốcdân, H.2008
- Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb - QĐND, H 2008
- Phương cách làm bài lịch sử các học thuyết kinh tế (Lý thuyết - Bàitập tự luận - Bài tập trắc nghiệm), Nxb - Đại học kinh tế quốc dân, H 2007
- Lịch sử các học thuyết kinh tế (Hướng dẫn nghiên cứu và ôn tập),Nxb Thống kê, H.1999
Trang 2I Hoàn cảnh lịch sử ra đời, đặc điểm phương pháp luận của kinh
tế chính trị học tư sản cổ điển Anh
1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời
* Sự ra đời của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh:
Trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh gọi tắt là (trườngphái cổ điển) ra đời vào cuối thế kỷ XVII, khi mà quá trình tích lũy nguyên
thủy TBCN đã kết thúc và thời kỳ phát triển của CNTB đã bắt đầu Trong
bối cảnh đó xuất hiện những điều kiện chín muồi cho sự ra đời của kinh tếchính trị học tư sản cổ điển
- Về kinh tế: Sự phát triển của công trường thủ công, đặc biệt là
ngành dệt, sau đó là ngành công nghiệp khai thác, trọng tâm của kinh tế lúcnày đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất trực tiếp Tính chất phiến diện của họcthuyết trọng thương đã trở nên quá rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận mới đápứng với sự vận động và phát triển của SX TBCN Trên cơ sở đó kinh tếchính trị học tư sản cổ điển Anh ra đời Giai đoạn này, GCTS đã nhận thức
được rằng, muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những người giàu.
(chú ý: trước cách mạng công nghiệp Anh thì nhân loại đang trong
tình trạng cát cứ và SX nhỏ là chủ yếu Các yếu tố như CTTC, công xưởngchưa hình thành mà chỉ có các công xã, điền trang… đến CM CN Anh thìCTTC phát triển mạnh, các công xưởng ra đời đòi hỏi phải lý giải đượccác vấn đề kinh tế xã hội lúc đó như: CTTC là gì? Bản chất của nó? Tính ưuviệt và xu hướng vận động A.Smith và D.Ricardo đã có tư tưởng giảiquyết các vấn đề đó)
- Về xã hội: Cách mạng tư sản Anh thành công (1640), tạo ra tình
hình kinh tế chính trị mới, cần phải luận giải cơ sở tồn tại và phát triển củaphong trào sản xuất mới này kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra đời
Trang 3- Về tư tưởng: Những thành tựu khoa học tiến bộ như: triết học duy
vật, toán học, vật lý học đã có tác dụng đấu tranh phá bỏ chế độ phongkiến, mở đường cho phong trào sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, tạo điềukiện cho tư tưởng kinh tế mới của giai cấp tư sản phát triển, trong đó cótrường phái tư sản cổ điển Anh là tiêu biểu
Tóm lại: Những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng ở cuối
thế kỷ XVII đã chứng tỏ thời kỳ tích lũy nguyên thủy của CNTB đã kết thúc,thời kỳ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu Tính chất phiến diện, lỗi thờicủa học thuyết trọng thương đã trở nên quá rõ ràng đòi hỏi phải có một thứ
lý luận mới đáp ứng với sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản chủnghĩa Trên cơ sở đó kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh ra đời
* Các đại biểu cơ bản của trường phái cổ điển:
+ Đại biểu của giai đoạn tiến bộ, phát triển:
William Petty (1623 - 1687)
Adam Smith (1723 - 1790)
David Ricardo (1772 - 1823)
+ Đại biểu của giai đoạn đi xuống suy đồi là:
Thomas Robert Malthus (1766 – 1834)
Jean Baptiste Say (1766 - 1832)
Henry Charles Carey (1793- 1879)
(Bài này chỉ tập trung vào các đại biểu tiến bộ, vì nó có ảnh hưởng rấtlớn tới sự ra đời KTCT học mácxít sau này)
Khi đánh giá sự tiến bộ C.Mác chỉ thừa nhận kinh tế chính trị học
tư sản cổ điển Anh được bắt đầu từ W.Petty và kết thúc ở David Ricardo.
2 Đặc điểm thế giới quan và phương pháp luận
* Đặc điểm về thế giới quan: Đặc điểm thế giới quan của trường phái
cổ điển là duy vật nhưng còn mang tích chất tự phát và máy móc
Trang 4Thể hiện: chuyển đối tượng nghiên cứu từ lưu thông sang sản xuất.
William Petty: Coi kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức
Adam Smith: Tiến xa hơn những người đi trước, đã bước đầu tìm hiểucác quy luật kinh tế
David Ricardo: Đã đứng trên lập trường duy vật để xem xét các quyluật kinh tế
* Đặc điểm về phương pháp luận: Phương pháp luận của trường phái
cổ điển thể hiện tính chất hai mặt vừa khoa học vừa tầm thường
- Một mặt, sử dụng phương pháp trừu tượng hóa để nghiên cứu tìm ra
bản chất bên trong của các hiện tượng và quá trình kinh tế
- Mặt khác, mô tả hời hợt các hiện tượng kinh tế, quá trình kinh tế
Trang 5ngoài đời sống kinh tế Hai mặt đó không những chung sống yên ổn bênnhau mà còn xoắn xuýt lấy nhau và thường xuyên mâu thuẫn với nhau.
Tóm lại: Từ đặc điểm TGQ và PPL của trường phái cổ điển đã chi
phối đến toàn bộ hệ thống lý luận kinh tế của các nhà kinh tế học sau nàytrong đó có cả C.Mác Học thuyết kinh tế của trường phái cổ điển vừa mangyếu tố khoa học vừa mang yếu tố tầm thường
II Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh
1 William Petty (1623 – 1687)
a Tiểu sử, tác phẩm và phương pháp luận.
- Tiểu sử:
+ W.Petty (1623 – 1687) trong một gia đình làm nghề thủ công nhỏ,
có nhiều tài năng, học rộng, biết nhiều lĩnh vực
Năm 1647 phát minh ra máy chữ
Năm 1649 nhận học vị tiến sĩ vật lý
Năm 1657 là giáo sư giải phẫu và âm nhạc
Năm 1658 là bác sĩ trong quân đội
+ W.Petty là nhà tư tưởng, nhà thực tiễn lớn, là nhà nghiên cứu kinh
tế thiên tài của giai cấp tư sản Anh, là cha đẻ của kinh tế chính trị cổ điển vàkhoa thống kê dân số (C.Mác nhận xét)
- Các tác phẩm của ông:
Năm 1662 bàn về thuế khóa và lệ phí
Năm 1664 lời nói với những kẻ khôn
Năm 1672 giải phẫu học chính trị ở Ireland
Năm 1676 số học chính trị (tác phẩm lớn nhất)
Năm 1682 bàn về tiền tệ
Trang 6 Tư tưởng chính trong các tác phẩm: Cơ bản các tác phẩm là mang
nặng dấu ấn của CNTT (tìm kiếm của cải, sự giàu có qua con đường thươngmại), về cuối đời trong những tác phẩm sau thì không còn dấu vết của CNTT
- Phương pháp luận:
+ Ông là người mang tư tưởng của CNTT, nhưng thế giới quan lại củatrường phái tư sản cổ điển, nên có cách nhìn mới tiến bộ hơn CNTT Ôngkhông mô tả bề ngoài như CNTT, mà đã tiếp cận với các qui luật khách quan
+ Phương pháp trình bày của ông đi từ các hiện tượng cụ thể, phức tạpđến hiện tượng trừu tượng (Đây là phương pháp đặc trưng của TK-XVII).Điều này ngược với C.Mác sau này là đi từ trừu tượng đến cụ thể, để tìm rabản chất bên trong các sự vật hiện tượng
Hạn chế: Còn đồng nhất qui luật tự nhiên và xã hội là một và cho
rằng nó tồn tại vĩnh viễn Ông là người theo chủ nghĩa duy vật tự phát, coikinh nghiệm là cơ sở của nhận thức
b Một số nội dung lý luận cơ bản của W.Petty
- Lý luận về giá trị - lao động:
+ W.Petty là người đầu tiên đưa ra nguyên lý về giá trị lao động (ôngđưa ra nguyên lý về giá trị lao động thông qua các luận điểm của ông về giá
cả, trong tác phẩm “Bàn về thuế khoá và lệ phí” – 1662 W.Petty nghiên cứu
về giá cả) (Lưu ý: tư tưởng về giá trị lao động đã có manh nha từ thời
Arixtôt (384 - 322 TCN, Hy Lạp cổ đại), ông thấy được sự ngang bằng trong trao đổi hàng hóa Nhưng do hạn chế về mặt lịch sử, giai cấp Arixtôt không thể tiến xa hơn được, ông không thể nghĩ được rằng cái chung trong hàng hóa chính là lao động).
+ Nghiên cứu về giá cả ông chia giá cả thành hai loại là giá cả chínhtrị và giá cả tự nhiên
Trang 7Giá cả chính trị (theo C.Mác thực chất là giá cả thị trường) do nhiều
yếu tố ngẫu nhiên chi phối nên khó xác định một cách chính xác (yếu tố nàothì ông chưa chỉ rõ)
Giá cả tự nhiên (tức giá trị hàng hoá) là do thời gian lao động hao phí
quyết định và năng suất lao động có ảnh hưởng đến hao phí đó
Như vây, ông là người đầu tiên tìm thấy cơ sở của giá cả tự nhiên (giá
trị) là do lao động đây là công lao lớn của ông ông xứng đáng là ngườiđặt nền móng cho kinh tế tư sản cổ điển
+ W.Petty phân tích sự phụ thuộc của giá trị hàng hóa với năng xuất laođộng, đồng thời định giải quyết mối quan hệ giữa lao động giản đơn với laođộng phức tạp trong nghiên cứu giá trị hàng hóa nhưng không thành công
Ông kết luận rằng: Số lượng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là
cơ sở để so sánh giá trị của hàng hoá Giá cả tự nhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác vàng, bạc
Mặt hạn chế về lý luận giá trị - lao động:
+ W.Petty chưa phân biệt được lao động cụ thể với lao động trừu
tượng, đồng nhất lao động cụ thể và lao động trừu tượng Bởi vậy, ông đã đo giá trị bằng hai đơn vị lao động và đất đai Do vậy, ông mới nói câu nói nổi tiếng: “Lao động là cha, còn đất đai là mẹ của của cải”.
Nếu xét về phương diện của cải thì luận điểm trên là đúng, nhưngxét về nguồn gốc tạo ra giá trị là sai, bởi vì:
Nếu xét theo phương diện của cải thì đây là quan điểm đúng bởi vì: của cải là những sản phẩm vật chất, là những giá trị sử dụng Bởi vì, quá trình sản xuất ra của cải vật chất là quá trình kết hợp giữa tự nhiên với lao động, là sự tác động của con người vào tự nhiên, cải biến tự nhiên thành của
cải phục vụ con người Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì không có sảnxuất ra của cải vật chất
Trang 8Nhưng xét về nguồn gốc tạo ra giá trị thì đây lại là quan điểm sai vì:
đất đai không phải là ngồn gốc tạo ra giá trị mà chỉ có lao động mới tạo ragiá trị Đất đai hay tự nhiên chỉ là điều kiện, phương tiện để cho con ngườitiến hành quá trình lao động, để sức lao động của con người kết tinh vào đó.Bản thân đất đai hay tự nhiên không thể tạo ra giá trị Cho rằng đất đai tạo ra
giá trị lại mâu thuẫn với chính quan điểm của ông “Giá trị là do lao động
hao phí tạo ra”.
+ Ông chỉ thấy được lao động tạo ra giá trị trong ngành khai thác
vàng, bạc (ảnh hưởng tư tưởng của CNTT) và chưa thấy được vai trò của lao động trong các lĩnh vực khác (lao động khác chỉ tạo nên của cải ở mức độ
so sánh với lao động tạo ra tiền).
Theo ông: giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá trị tiền tệ giống
như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời Quanniệm này bị ảnh hưởng của CNTT rất nặng nề
Tóm lại: lý luận giá trị lao động của W.Petty còn có những biểu hiện
tầm thường hóa nhưng dù sao luận điểm chủ yếu của ông vẫn coi lao động là
cơ sở của giá trị
- Lý luận về tiền tệ:
+ Quan điểm của W.Petty về tiền tệ đã chuyển dần từ trường pháitrọng thương sang quan điểm của trường phái cổ điển (chống lại sự sùng bái
đồng tiền của CNTT) Trong tác phẩm “Bàn về tiền tệ” W.Petty cho rằng:
“Tiền tệ không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có Vì thế đánh giá tiền tệ quá cao là một sai lầm”.
+ W.Petty thấy được hai thứ kim loại giữ vai trò tiền tệ đó là vàng và
bạc ông cho rằng, giá trị của chúng là do số lượng lao động hao phí để sản
xuất ra vàng và bạc quyết định.
Trang 9+ W.Petty là người đầu tiên (trong kinh tế chính trị học) đưa ra quy
luật lưu thông tiền tệ Nghĩa là, ông đề cập đến số lượng tiền tệ cần thiết cho
lưu thông, số lượng này được xác định trên cơ sở số lượng hàng hóa và tốc
độ chu chuyển của tiền tệ
Ví dụ: Ông đã xác định (tính toán tùy tiện): Số lượng tiền tệ cần thiết
cho lưu thông của hàng hoá nước Anh như sau: theo ông chỉ cần 1/10 số tiềnchi phí trong một năm là hoàn toàn đủ cho nước Anh
Trong cuốn “Bàn về tiền tệ” ông cho rằng nước Anh cần một số
lượng tiền đủ để trả 1/2 địa tô hàng năm, 1/4 tiền thuê nhà, toàn bộ số chitiêu hàng tuần của dân số và khoảng 25% giá trị xuất khẩu
+ Ngoài ra, ông còn nghiên cứu sự ảnh hưởng của thời hạn thanh toán
đối với lưu thông tiền tệ: thời hạn thanh toán càng dài thì số lượng tiền tệ
cần thiết cho lưu thông càng nhiều (phê phán CNTT trong việc tích trữ tiền
tệ vô hạn độ, dùng tiền tệ để thao túng nền kinh tế)
Hạn chế: Ông chưa giải thích được sự ra đời của tiền tệ và bản chất
của nó (hàng hóa đặc biệt) Chưa hiểu hết chức năng của tiền tệ mà chỉ biết
chức năng lưu thông của tiền tệ
- Lý luận về tiền lương, lợi nhuận, địa tô và lợi tức (thu nhập): + Về tiền lương:
Lý luận tiền lương của ông được xây dựng trên cơ sở lý luận giá trịlao động
W.Petty không định nghĩa, khái niệm tiền lương mà chỉ nêu lên quan
điểm về mức lương Theo ông, tiền lương không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu Nếu tiền lương nhiều thì công nhân không muốn làm việc, họ thích uống rượu say Nói cách khác, muốn cho công
nhân làm việc thì biện pháp là hạ thấp tiền lương xuống mức tối thiểu
ông kịch liệt phản đối những trường hợp tăng tiền lương quá cao (sở dĩ vậy,
Trang 10thời đó tư bản chưa có thể bắt công nhân lệ thuộc hoàn toàn vào nó, tư bảnphải dựa vào sự ủng hộ của nhà nước, đề ra những đạo luật cấm tăng lương).
Quan điểm của W.Petty về tiền lương được xem xét trong mối quan
hệ với lợi nhuận, giá cả các TLSH, C-C về lao động Theo ông: tiền lương
cao thì lợi nhuận giảm và ngược lại; giá cả lúa mì tăng lên thì bần cùng củacông nhân lao động cũng tăng lên (tiền lương tỷ lệ nghịch với giá cả lúa mì
TLSH); số cung sức lao động tăng lên tiền lương giảm trái với kết
luận của C.Mác tiền lương tỷ lệ thuận với giá trị sức lao động.
Như vây, mặc dù có sai lầm, song W.Petty đã nêu được cơ sở khoa học của tiền lương là giá trị của các tư liệu sinh hoạt.
+ Về lợi nhuận:
Ông không trực tiếp đề cập tới lợi nhuận mà dùng lý luận địa tô đểgiải thích mập mờ vấn đề lợi nhuận và cũng không trực tiếp đề cập đến vấn
đề bóc lột Nhưng theo logic phân tích của ông thì chúng ta có thể rút ra kết
luận rằng: Công nhân chỉ nhận được tiền lương tối thiểu số còn lại là lợi
nhuận của địa chủ Do đó có thể hiểu logic bên trong của quan niệm đó là sự
thừa nhận có sự bóc lột
C.Mác nhận xét: W.Petty là người nêu ra mầm mống của lý luận về chế độ bóc lột, dự đoán đúng đắn bản chất của giá trị thặng dư.
+ Về địa tô:
W.Petty đã tìm thấy nguồn gốc của địa tô ở trong lĩnh vực sản xuất
(CNTT đã bỏ qua vấn đề này) Theo ông: địa tô là số chênh lệch giữa giá trị của
sản phẩm và chi phí sản xuất (bao gồm chi phí tiền lương, chi phí giống má)
Một mặt ông đồng nhất R với P, R với m
Mặt khác chúng ta rút ra kết luận logic số chênh lệch giữa giá trị củasản phẩm với chi phí sản xuất là giá trị thặng dư
+ Về lợi tức:
Trang 11Ông coi lợi tức là địa tô của tiền và mức lợi tức phụ thuộc vào mức
địa tô (trên đất mà người ta có thể dùng tiền vay để mua) Ông coi lợi tức là
số tiền thưởng trả cho sự nhịn ăn tiêu, coi lợi tức giống như tiền thuê ruộng
+ Về giá cả ruộng đất:
Theo ông: giá cả ruộng đất phải được quy định một cách đặc biệt Vìngười ta không sản xuất ra được đất đai
Ông gắn giá cả ruộng đất với mức sinh lời của ruộng đất và ông lập
luận giá cả ruộng đất là ngang với lượng địa tô hàng năm nhất định (ông chỉ
đề cập đến giá cả ruộng đất do địa tô quy định không tính đến ảnh hưởng của lợi tức) Ông cho rằng: nông nghiệp là cơ sở của thu nhập tiền tệ, mua
đất đai là khả năng sử dụng tiền tốt nhất
Tóm lại: Về lý luận kinh tế W.Petty đã tiến được một bước dài so với
các học giả trước đó và cùng thời Ông đã đóng góp lớn vào phát triển lýluận kinh tế chính trị, là người đặt nền móng cho lý luận kinh tế chính trị tư
sản cổ điển Ăngghen đã đánh giá khái quát về W.Petty như sau: “Bóng của
W.Petty đã trùm lên khoa kinh tế chính trị trong suốt hơn nửa thế kỷ, từ
1691 đến 1752, tất cả mọi nhà kinh tế chính trị học dù tán thành hay phản đối ông, đều lấy ông làm điểm xuất phát ”.
2 Adam Smith (1723 – 1790)
a Tiểu sử, tác phẩm và phương pháp luận
- Tiểu sử:
Ông là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh và trên thế giới,
là con một gia đình viên chức thuế quan ở Kiêccandi, một thành phố nhỏ ở
xứ Scotland Ông học đại học ở trường Glasgow và Oxford Sau đó dạy ởtrường Edinburgh và Glasgow Ông giảng về thần học, luân lý học, luật học,lôgic và văn học…
- Tác phẩm:
Trang 121759 ông viết và xuất bản cuốn: “Lý luận về những tình cảm đạo
đức”, ông trở thành nổi tiếng; 1776 ông xuất bản cuốn: “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc của của cải các nước”.
- Phương pháp luận:
C.Mác coi ông là “nhà kinh tế tổng hợp của công trường thủ công”,
thế giới quan của ông cơ bản là duy vật, nhưng còn siêu hình và máy móc.Phương pháp luận của ông còn có tính hai mặt, vừa tầm thường vừa khoahọc, luôn mâu thuẫn với nhau
b Một số nội dung lý luận cơ bản của A.Smith
- Tư tưởng tự do kinh tế (đọc giáo trình):
Tư tưởng cơ bản “tự do kinh tế” của ông là đề cao vai trò các quy luật
kinh tế khách quan (tự do kinh tế, tự do cạnh tranh, tự do sản xuất, tự dokinh doanh, tự do mậu dịch ) và coi nhẹ vai trò can thiệp của nhà nước vàokinh tế (Ông cho rằng: Nhà nước có chức năng bảo vệ quyền sở hữu của cácnhà tư bản, đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài và trừng phạt những kẻphạm pháp Vai trò của nhà nước trong kinh tế chỉ được thể hiện khi có cácviệc vượt quá sức của các doanh nghiệp như: Đắp đê, đào sông, làmđường…) điểm xuất phát trong nghiên cứu lý luận kinh tế của ông là
nhân tố “con người kinh tế” Do vậy, ông lý giải tư tưởng tự do kinh tế cũng
thông qua nhân tố “con người kinh tế” Ông cho rằng, thiên hướng trao đổi
là đặc tính vốn có của con người, là phổ biến, tất yếu và tồn tại vĩnh viễntrong xã hội loài người Khi tiến hành trao đổi sản phẩm lao động của nhau,thì người ta bị chi phối bởi lợi ích cá nhân Lợi ích cá nhân là động lực trựctiếp chi phối người ta hoạt động trao đổi Nhưng khi chạy theo ích lợi cá
nhân thì con người bị chi phối bởi “bàn tay vô hình” là sự hoạt động của
các quy luật kinh tế khách quan
- Lý luận giá trị - lao động:
Trang 13+ Ông là người có công lớn phát hiện và phân biệt giá trị sử dụng và
giá trị trao đổi (ông là một trong những người tiền bối lớn nhất của C.Mác).
Ông khẳng định: giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi và bác bỏ
lý luận về sự ích lợi, sự ích lợi không có quan hệ gì đến giá trị trao đổi
Ví dụ: “Không có gì hữu ích bằng nước, nhưng với nó thì không thể
mua được gì”.
+ Ông nêu ra hai định nghĩa về giá trị hàng hóa:
Định nghĩa 1: Giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị là
do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa quyết định (định nghĩa đúng
đắn về giá trị)
Định nghĩa 2: Giá trị một hàng hóa bằng số lượng lao động mà
người ta có thể mua được nhờ hàng hóa đó (bộc lộ sự lẫn lộn không phân
biệt đâu là lao động sống và đâu là lao động quá khứ)
+ Ông nêu cơ cấu giá trị của hàng hoá gồm có 3 bộ phận: tiền lương,lợi nhuận và địa tô
+ Ông đã chú ý đến việc xác định lượng giá trị của hàng hóa, theo ônglao động là tiêu chuẩn đo lường giá trị (thời gian lao động mới chính xác)
+ Đề cập đến lao động giản đơn và lao động phức tạp
+ Ông phân biệt được giá cả tự nhiên và giá cả thị trường (giá cả tựnhiên là giá ngang với mức cần thiết để trả tiền V, P, R Giá cả thị trường làgiá bán thực tế của hàng hóa, giá cả này nhất trí với giá cả tự nhiên khi hàng
hóa được đưa ra thị trường với số lượng đủ “thỏa mãn nhu cầu thực tế” và
chịu ảnh hưởng của C- C giá cả TN và giá cả TT có sự chênh lệch nhau theo ông giá cả tự nhiên là khách quan, trung tâm giá cả thị trường hướng
về giá cả tự nhiên)
Hạn chế: Mặc dù có nhiều đóng góp về lý luận giá trị, song lý luận
của ông vẫn còn hạn chế, cụ thể: