Tuy đạt được không ít thành tựu, song thị trường tài chính Việt Nam vẫn được xem là cụm kém phát triển.Chính sách tài chính quốc gia luôn là nhu cầu để nhằm tăng tiềm lực tài chính cho đ
Trang 1
Tiểu luận
Tài chính tiền tệ
Trang 2Mục Lục
A- MỞ ĐẦU 3
B- NỘI DUNG 4
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH QUỐC GIA 4
I KHÁI NIỆM 4
II NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN 4
III NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH QUỐC GIA 5
1.Chính sách về vốn: 5
2 Chính sách đối với tài chính doanh nghiệp 7 3 Chính sách đối với ngân sách nhà nước 10
4 Chính sách tài chính đối ngoại của nhà nước 16
5 Chính sách tiền tệ và tín dụng 19
* 2010 - ban hành chính sách tín dụng hỗ trợ “Tam nông” 29
C- KẾT LUẬN 30
Trang 3A- MỞ ĐẦU
Hiện nay vấn đề phát triển kinh tế là một vấn đề rất cần thiết, tất yếu đối với mọi quốc gia Nhưng ở mỗi nước khác nhau thì đi bằng các con đường khác nhau do dựa vào các tiềm lực của chính mình
Thị trường tài chính là một sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường-hay nóichính xác hơn,là nền kinh tế tiền tệ, ở đó,bên cạnh các thị trường khác,thị trường tài chính hoạt động như là một sự kết nối giữa người cho vay đầu tiên và người sử dụng cuối cùng, tạo ra vô số các giao dịch, và ở mỗi giao dịch, dù động cơ nào ,cũng tạo ra các dòng chảy về vốn trong một nền kinh tế - như là sự lưu thông máu trong một cơ thể
- một nền kinh tế hoạt động lành mạnh và có hiệu quả chỉ khi nào thị trường này cũng hoạt động có hiệu quả như thế, và ngược lại
Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu
Thị trường tài chính là chiếc cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế, tạođiều kiện thuận lợi chuyển nguồn vốn nhàn rỗi sang nơi thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế Thông qua thị trường tài chính hình thành giá mua giá bán các loại cổphiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, giấy nợ ngắn hạn, dài hạn…hình thành nên tỷ lệ lãi suất đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn, trung hạn và dài hạn
Ở Việt Nam ,kể từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường,đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới,gia nhập WTO, lĩnh vực tài chính là lĩnh vực mang tính nhạy cảm luôn đòi hỏi sự đổi mới cả về mặt nhận thức
Thứ hai, trong hơn 5 năm lại đây, hệ thống ngân hàng đă được cơ cấu lại nhằm giảm thiểu những yếu kém của hệ thống và những sai lệch trong chính sách tín dụng Chương tŕnh cơ cấu lại tập trung vào việc lành mạnh hoá và tăng cường năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước Hoạt động tín dụng đă được đổi mới theo hướng các tổ chức tín dụng có quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quyết định cho vay, lựa chọn khách hàng và biện phápđảm bảo tiền vay trên nguyên tắc thương mại, đảm bảo an toàn và hiệu quả
Thứ ba, các nguyên tắc quản lư tài chính tiên tiến và chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán, giám sát đă và đang từng bước được thể chế hoá và ứng dụng rộng răi hơn trong thực tế Các thể chế về quản trị doanh nghiệp (kể cả ngân hàng) cũng được hoàn thiện một bước, nhất là đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Cuối cùng, song không kém phần quan trọng, khung pháp luật của TTTC đang ngày càng phù hợp hơn với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế Chính sách tín dụng ngày càng đối xử bình đẳng hơn đối với các doanh nghiệp tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài Các định chế tài chính nước ngoài ngày càng được phép mở rộng phạm vi, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của mình
Trang 4Tuy đạt được không ít thành tựu, song thị trường tài chính Việt Nam vẫn được xem là cụm kém phát triển.
Chính sách tài chính quốc gia luôn là nhu cầu để nhằm tăng tiềm lực tài chính cho đất nước, kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc làm, tạo khả năng và tiềm lực tài chính quốc gia trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong nước và ngoài nước, tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong nền kinh tế, ổn định và lành mạnh hóa môi trường kinh tế vĩ mô (ổn định tiền tệ: tỷ giá linh hoạt; về tài chính: giảm bội chi, bảo đảm dự trữ tài chính - Nâng cao vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô thông qua các chính sách, luật pháp, công cụ)
Mục tiêu:
Xây dựng chính sách tài chính quốc gia nhằm tăng cường tiềm lực tài chính đất nước ( tài chính nhà nước và tài chính doanh nghiệp) để giải quyết vấn đề vốn cho nền kinh tế
Nâng cao hiệu quả cho công việc sử dụng vốn
Kiểm soát lạm phát bằng các chính sách thuế và cơ cấu thu chi ngân sách
Tạo công ăn việc làm cho người dân, mở rộng các ngành nghề, giải quyết thất nghiệp
* Dẫn chứng:
• Tạo khả năng và tiềm lực tài chính quốc gia trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong nước và ngoài nước
• Tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong nền kinh tế
• Ổn định và lành mạnh hóa môi trường kinh tế vĩ mô (ổn định tiền tệ: tỷ giá linh hoạt; về tài chính: giảm bội chi, bảo đảm dự trữ tài chính - Nâng cao vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô thông qua các chính sách, luật pháp, công cụ
• Hoạch định và thực thi chính sách tài chính quốc gia là đề ra các chủ trương, chính sách, đường lối và biện pháp về tài chính trong 1 thời kì tương đối lâu dài
• Phạm vi của chính sách tài chính quốc gia ở nước ra hiện nay gồm các lĩnh vực:tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính dân cư
II NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN
Chuyển hướng cơ chế quản lí chính sách tài chính - tiền tệ kiểu “động viên tập trung” sang chính sách tài chính phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm để có hiệu quả cao hơn trong sử dụng nguồn lực
Phân biệt rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của tài chính nhà nước và tài chính doanh nghiệp
Trang 5 Phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của tài chính nhà nước và ngân hàng.
Thực hiện cơ chế tài chính mở lành mạnh
Chính sách tài chính phải giải phóng triệt để mọi nguồn vốn trong nước
Chú trọng nghiên cứu, khảo sát, đúc kết kinh nghiệm, tổ chức đào tạo, thử nghiệm các phương thức phù hợp
Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp qui về tài chính,khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư, phát triển, tăng cường kiểm soát, thanh tra về tài chính
III NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH QUỐC GIA 1.Chính sách về vốn:
1.1 Khái quát về vốn:
Thực chất, vốn chính là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà DN đang nắm giữ.Trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và trong các quá trình sản xuất tiếp theo của DN
Vốn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất, đồng thơi là cơ sở để phân phối lợi nhuận, đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh tế; gồm những nguồn vật tư, tài sản trong các doanh nghiệp, nguồn tiền mặt hoặc các tài sản khác dự trữ trong dân
1.2 Đặc trưng của vốn:
Vốn có 5 đặc trưng:
- Đại diện cho một lượng tài sản nhất định, được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và vô hình của DN
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của DN
- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, có như vậy mới phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định
- Vốn được quan niệm như một hàng hóa đặc biệt, có thế mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường
Trang 6Vốn có vai trò hết sức quan trọng trong mỗi DN Nó là cơ sở, là tiền đề cho một DN bắt đầu khởi sự kinh doanh Muốn đăng ký kinh doanh, theo quy định của nhà nước, bất cứ DN nào cũng phải có đủ số vốn pháp định theo từng ngành nghề kinh doanh của mình (vốn ở đây không chỉ gồm tiền mặt, tiền gửi Ngân hàng, mà nó còn là tài sản thuộc sở hữu của các chủ DN) Rồi để tiến hành sản xuất kinh doanh, DN phải thuê nhàxưởng, mua máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, thuê lao động, thì đều cần
có vốn
Không chỉ có vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN, vốn là điều kiện để
DN mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao động, cũng như tổ chức bộ máyquản lý đầy đủ các chức năng Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, dù bất kỳ quy mô nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định, nó là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của DN
1.5 Giải pháp:
+ Khắc phục tình trạng cấp vốn tràn lan, buộc doanh nghiệp tự tạo sức mạnh tài chính,
tư chịu trách nhiệm theo pháp luật với chủ nguồn vốn Cần xác định chủ sở hữu đích thực đối với những tài sản thuộc DNNN, để sử dụng chúng có hiệu quả và tránh lãng phí Cần tiếp tục đẩy nhanh việc chuyển đổi một số DNNN không thiết yếu sang hình thức đa sở hữu hoặc sang các hình thức kinh tế khác như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, Nhà nước cần tạo môi trường pháp luật và thể chế thuận lợi cho cổ phần hóa DNNN và coi đây là một trong những giải pháp cơ bản để tạo vốn trong DN.+ Thực hiện liên doanh liên kết giữa DNNN với các thành phần kinh tế khác Nhờ đó
có thể thu hút nguồn vốn, trình độ quản trị, công nghệ của những đối tác này
+ Phát triển kinh tế nhiều thành phấn nhất quán và được thể chế hóa
+ Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
+ Phát triển kinh tế thị trường tài chính
+ Có chiến lược kinh tế đối ngoại đúng đắn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài
+ Chuyển vốn xây dựng cơ bản của nhà nước sang dạng tín dụng ngân hàng dài hạn.+ Xác định trọng điểm của đầu tư nhà nước
+ Hình thành các công ty cổ phần công tư hợp doanh
*Ví dụ :
* Thu hút vốn đầu tư ở tỉnh Hà Nam
Cơ chế, chính sách ưu đãi và khuyến khích đầu tư tại Hà Nam Ngay từ tháng
12 năm 2001 UBND Hà Nam đã ban hành Quy định “Về cơ chế và chính sách khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà Nam” nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế trong cả nước và nước ngoài đầu tư vào tỉnh, trong đó có các khu công nghiệp
Theo Quy định này, tất cả các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh,người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam khi đầu tư vào Hà Nam đều được áp dụng đầy đủ các ưu đãi chung theo quy định của Nhà nước Việt Nam về thuế, đất đai, lao động với những ưu đãi tối đa, thời gian ưu đãi dài nhất Ngoài ra, nhà đầu tư tại Hà Nam còn được hưởng các ưu đãi đầu tư cụ thể khác theo chính sách khuyến khích trên địa bàn tỉnh
Trong số các hoạt động được hưởng khuyến khích đầu tư có:
Trang 7+ Đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình phúc lợi công cộng, công trình nhà ở tập trung đô thị, công trình văn hóa, khách sạn du lịch;
+ Đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sở hiện có; + Đầu tư di chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi khu vực đô thị theo yêu cầu bảo vệ môi trường và quy hoạch đô thị;
+ Đầu tư bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái;
+ Đầu tư phát triển các dịch vụ nghiên cứu, cơ sở thí nghiệm phục vụ nghiên cứu khoa học;
+ Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật để cho thuê trong phạm vi các khu
2 Chính sách đối với tài chính doanh nghiệp
a Các khái niệm
* Doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế vị lợi, là nơi kết hợp các yếu tố sản xuất kinh doanh để sinh lợi …
* Tài chính doanh nghệp:
+ Tài chính của các đơn vị, các tổ chức hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch
vụ thuộc mọi thành phần kinh tế Tài chính doanh nghiệp là cơ sở để tích tụ - tập trungcác nguồn lực tài chính nên nó gắn liền với quá tŕnh sản xuất và cung ứng dịch vụ cho xă hội
+ Tài chính doanh nghiệp là cơ sở để h́nh thành tài chính tập trung thông qua thuế phí, lệ phí Ngược lại tài chính doanh nghiệp được h́nh thành từ các khâu tài chính khác như ngân sách Nhà nước, các khâu tài chính trung gian thông qua việc cấp phát vốn, phát hành cổ phiếu, trái phiếu
b Vai trò tài chính doanh nghệp
Là tổ chức huy động và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính có hệu quả vốn là một yếu tố rát quan trọng đối với sự tồn tài và phát triển của doanh nghiệp vì
vậy doanh nghiêp phải tổ chức huy động và phân phối nguồn vốn đó một cách có hiệu quả nhất
+ Tạo đòn bẩy để kích thích tài chính điều tiết các hoạt đọng kinh tế trong xã
+Kiểm tra đánh giá các hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp: Tài chính
doanh nghiệp thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành thường xuyên, liên tục từ phát hiện kịp thời sai sót để khắc phục Sau đó đó giá hiệu qủa của hoạt động kinh doanh đê có phương hướng cho nhưng hoạch định trong tương lai
c Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp
Quan hệ tài chính vận hành theo cơ chế thị trường
Mục tiêu là lợi nhuận
Theo HERMANN J ABS DEUTSCHE BANK AG:
“ Lợi nhuận là một tiền đề sống còn của mỗi nhà kinh doanh và nó cần thiết như
là không khí đối với con người Giống như con người sống không phải chỉ để thở, nhà kinh doanh thúc đẩy hoạt động kinh tế cũng không phải chỉ để kiếm lời.”
Trang 8* Chính sách tài chính đối với doanh nghiệp thực hiện chính sách tài chính vớinhăm mục đích tạo môi trường kinh doanh tốt, trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh và cùng nhau phát triển từ đó phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhà nước đa đua ra các chính sach về:
Đầu tư: nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Pháp lụât: doanh nghiệp bình dẳng trước pháp luật về tài chính
Công cụ: thuế-phí thích hợp với cạnh tranh và hội nhập, khuyến khich đâu tư.Mục tiêu: khuyến khích tự do cạnh trạnh, hướng dẫn lưa chọn công nghệ, sử dụng lao đông phù hợp…
*Chính sách về đầu tư
Nhà nước khuyến khích đàu tư phát triển cơ sở hạ tầng vì nó là nền tảng kinh tế
xã hội phát triền nhà nước dã có nhiều chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp khuyến khích sản xuất và điều tiết thị trường
*Ví dụ:
Tại điểm 1 mục II phần B Thông tư số 98/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của
Bộ Tài chính hướng dẫn:
- Ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án đầu tư
mở rộng quy mô, đầu tư chiều sâu theo quy định tại Điều 23 Nghị định số
51/1999/NĐ-CP được thực hiện như sau:
- Đối tượng áp dụng là: cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện dự án đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc ngành, nghề quy định tại Danh mục A Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 35/2002/NĐ-CP; cơ sở sản xuất thực hiện dự án đầu tư di chuyển ra khỏi nội thành, nội thị hoặc vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp
- Thời gian và mức ưu đãi miễn thuế, giảm thuế đối với phần thu nhập tăng thêm do dự án đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu mang lại như sau:
- Được miễn một năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong bốn năm tiếp theo”.Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên thì Công ty TNHH Chế tạo máy Dược phẩm Tiến Tuấn vừa đầu tư di chuyển cơ sở sản xuất vào khu công nghiệp, vừa đầu tư mở rộng dự án thì Công ty được miễn một năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong bốn năm tiếp theo đối với toàn bộ thu nhập phát sinh từ dự án đầu tư thực hiện tại khu công nghiệp (gồm phần di chuyển và phần đầu tư mở rộng)
Tại điểm 2 mục III phần C Thông tư số 98/2002/TT-BTC hướng dẫn: “Đối với các dự án đầu tư đã được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, nếu đáp ứng thêm điều kiện theo quy định tại Nghị định số 35/2002/NĐ-CP và đã được cơ quan có thẩm quyềncấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư điều chỉnh, bổ sung Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư thì chỉ được hưởng ưu đãi về thuế cho thời gian ưu đãi còn lại (nếu còn), kể từ ngày Nghị định số 35/2002/NĐ-CP có hiệu lực thi hành”
Căn cứ hướng dẫn nêu trên thì để được hưởng ưu đãi theo hướng dẫn tại Thông
tư số 98/2002/TT-BTC, Công ty phải được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư điều chỉnh Trường hợp Công ty không có Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư điều chỉnh thì chỉ được hưỏng ưu đãi miễn giảm thuế theo Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đã được cấp trước đây
Tại điểm 1.1 mục III phần E Thông tư số 128/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn ưu đãi miễn, giảm thuế đối với cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm ra khỏi
đô thị theo quy hoạch như sau: “Được miễn thuế 02 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 2 năm tiếp theo” Từ năm 2004 Công ty được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn nêu trên cho khoảng thời
Trang 9gian ưu đãi còn lại đối với toàn bộ thu nhập phát sinh từ dự án đầu tư thực hiện tại khu công nghiệp (gồm phần di chuyển và phần đầu tư tăng thêm)
* Về pháp luật
- Nhà nước ban hành rất nhiều chính sách về luật doanh nghiệp như:
• Luật tổ chức doanh nghiệp
• Luật tổ chức lại doanh nghiệp
• Luật về cạnh tranh
- Pháp luật nhà nước Việt Nam quy định các doanh nghiệp bình đẳng với nhau trước pháp luật về tài chính Các doanh nghiệp tự do kinh doanh các lĩnh vực mà nhà nước không cấm
Để đảm bảo quyền cành trnh của doanh nghiệp, luật cạnh tranh còn quy định các cơ quan nhà nước không được thực hiện các hành ví sau để cản trở cạnh tranh trên thị trường:
• Buộc doanh nghiệp , tổ chức mua hàng hoá dịch vụ thuộc lĩnh vực lĩnh vực độc quyền nhà nước
• Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp
• Ép buộc các doanh nghiệp liên kết với nhau
mà là được đóng thuế chậm (giãn thuế)
Cụ thể các doanh nghiệp nhỏ và vừa được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của quí 4 năm nay và cả năm 2009 Sau đó 70% số thuế còn lại (sau khi đã giảm 30%) được giãn nộp trong thời gian chín tháng Nếu tính theo thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của năm 2009 là 25%, thì 25% lợi nhuận của doanh nghiệp
sẽ được Nhà nước cho “mượn” với lãi suất 0% trong thời hạn 12 tháng để kinh doanh
Ngoài thuế thu nhập doanh nghiệp, Chính phủ cho phép tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoàn tiếp 10% còn lại khi có chứng từ
Dưới góc độ tài chính, tác động sâu xa của đợt miễn giảm thuế lần này không chỉ là tạo sức bật kinh doanh trên bề mặt, mà nó tạo lực đẩy nhanh hơn vòng quay vốn của xã hội Tiền từ tay Nhà nước (thu thuế tức là nộp vào ngân sách nhà nước) qua cơ
Trang 10chế thuế đã nằm trong tay doanh nghiệp và trở thành những đồng vốn đi liền khúc ruột của doanh nghiệp.
*
Về mục tiêu chính sách
Chính sách tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp nhằm mục đích
khuyến khích tự do cạnh tranh, hướng dẫn lựa chọn công nghệ tăng năng suất lao động,tạo công ăn việc làm cho người lao động để giảm bớt thất nghiệp, định hướng bảo hộ cho doanh nghiệp và người lao động
Trên thị trường kinh doanh luôn xuát hiện cạnh tranh giũa các doanh nghiệp, điều đó vừa có tác động tích cực khi để các doanh nghiệp năng cao năng suất lao động hiệu quả
kinh doanh đó cũng là động lực để phát triển kinh tê mỗi nước nhanh và ổn định bên cạnh đó cũng có những mặt tiêu cực vì vậy nhà nước khuyến khích tự do cạnhtranh
Chính sách cạnh tranh
Công cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam bắt đầu bằng những chính sách mở rộngquyền sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (bao gồm cả sản xuất, lưu thông và giá cả) và tiếp đến là những biện pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu của nền kinh tế Thông qua việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp
tư nhân (1990) và nay được thay bởi Luật doanh nghiệp (12/6/1999), nền kinh tế nhiều thành phần chính thức được thừa nhận và bảo hộ Việtt Nam Đặc biệt quan trọng, việc bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và tiêu dùng đã được Hiến pháp 1992 (điều 28) khẳng định
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đưa ra nhiệm vụ: “Tạo môi trường hợp tác và
cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh Thực hiện độc quyền nhà nước trong một số ngành, một số lĩnh vực nhất định vì lợi ích của đất nước; hạn chế độc quyền kinh doanh, không để lợi dụng địa vị độc quyền để duy trì đặc quyền, đặc lợi, lũng đoạn thị trường.”[3] Tiếp theo đó, vấn đề khuyến khích cạnh tranh và kiểm soát độc quyền đã được tiếp tục nhấn mạnh trong các văn kiện Đại hội IX của Đảng: “Nhà nướctạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển…[4]”, “Hình thành đồng bộ các loại thị trường đi đôi với việc xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế cần thiết để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, hạn chế và kiểm soat độc quyền trong kinh doanh Có giải pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại.”[5] Cụ thể hơn, phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm đã đề ra nhiệm vụ “… chống đặc quyền và lũng đoạn thị trường ban hành Luật Cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh phù hợp với những điều kiệnthực tế của Việt nam.”[6]
Các doanh nghiệp phải nắm bát được những thuận lợi cũnư khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải từ đó có những chính sách phù hợp lựa chọn cong nghệ, sử dụng lao động hợp lý để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh góp phần vào sự phát triển của xã hội
3 Chính sách đối với ngân sách nhà nước
3.1- Định nghĩa ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước hay ngân sách chính phủ, là một thành phần trong hệ thốngtài chính Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh
tế, xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất,
Trang 11người ta đã dưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu.
Theo Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
3.2- Các chính sách tài chính quốc gia đối với ngân sách nhà nước:
Chính sách động viên nguồn thu ngân sách
Chính sách phân phối sử dụng Ngân sách nhà nước
Chính sách cân đối sử lí bội chi Ngân sách nhà nước
Chính sách phân cấp Ngân sách nhà nước
3.2.1- Chính sách động viên nguồn thu ngân sách:
Chính phủ dùng quyền lực của mình để tập trung một bộ phận của tổng sản phẩm quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ tập trung của quốc gia làm nguồn để thực hiệnnhiệm vụ của mình Các nguồn thu chính:
+ Thu từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước: Thu từ sản xuất, thu từlưu thông - phân phối hàng hóa, thu từ hoạt động dịch vụ
+ Thu từ nguồn thu ngoài nước: thu từ vay nợ và viện trợ ngoại quốc
Thu ngân sách nhà nước là quyền lực của nhà nước để tập trung 1 phần thu nhập kinh tế vào tay nhà nước dể hình thành nên quỹ tiền tệ Có nhiều khoản thu: các hoạt động kinh tế của nhà nước (hoạt động góp vốn của nhà nước; thu hồi tiền vay của nhà nước); thu từ các hoạt động vay nợ; các hoạt động bán và cho thuê TNTN và các tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước và các khoản thu khác
Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2010 là 461.500 tỷ đồngBộ Tài
Chính đã ban hành Quyết định số 3234/QĐ-BTC công bố công khai số liệu dự toán ngân sách nhà nước năm 2010
Theo thông tin từ website Thành phố Hồ Chí Minh, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2010 là 461.500 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 294.700 tỷ đồng, thu từ dầu thô 66.300 tỷ đồng, thu từ xuất nhập khẩu 95.500 tỷ đồng, thu từ viện trợ không hoàn lại 5.000 tỷ đồng Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng công bố công khai về cân đối nguồn thu, chi, dự toán ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương năm 2010 Nguồn thu ngân sách Trung ương là 303.472 tỷ đồng, chi là 423.172 tỷ đồng Nguồn thu ngân sách địa phương là 265.219 tỷ đồng, chi 265.219 đồng Được biết, theo Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt xấp xỉ
dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu từ dầu thô bằng 86,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6% Nếu tính đến ngày 31-12-2009, thu ngân sách Nhà nước sẽ vượt dự toán cả năm Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15-12-2009 ước tính bằng 96,2% dự toán năm Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2009 bằng 7% GDP, thực hiện được mức Quốc hội đề ra
3.2.2- Chính sách phân phối sử dụng Ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ Thực chất của nó là việc cung cấpcác phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của chính phủ Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm:
Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng
cơ bản, khấu hao tài sản xã hội
Trang 12Chi bảo đảm xã hội, bao gồm:giáo dục, y tế, công tác dân số, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin đại chúng, thể thao, lương hưu và trợ cấp xã hội, các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế, quản lý hành chính, anninh, quốc phòng, các khoản chi khác, dự trữ tài chính, trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài.
Theo báo cáo của chính phủ về đánh giá tình hình thực hiện Ngân sách nhà nước năm 2009,trong số khoản chi vượt dự toán theo báo cáo của Chính phủ có 4 khoản vượt lớn:
Thứ nhất: chi đầu tư phát triển vượt 20,1% (tăng 22.700 tỷ đồng), tuy nhiên,
tốc độ và kết quả giải ngân còn nhiều hạn chế Tỷ lệ giải ngân vốn XDCB tập trung 9 tháng đạt trên 60% dự toán; giải ngân vốn TPCP, bằng 52% kế hoạch đầu năm (36.000
tỷ đồng), nếu tính cả kế hoạch bổ sung 20.000 tỷ đồng thì tỷ lệ giải ngân còn thấp hơn nhiều
Thứ 2: chi khác ngân sách vượt kế hoạch 1.660%, trong báo cáo thẩm tra của
Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội cũng đề nghị Chính phủ báo cáo rõ và giảitrình về khoản chi này với Quốc hội
Thứ 3: là về chi trả nợ, nhiều ý kiến đề nghị xem xét việc bố trí tăng chi trả nợ
khoảng 6.000 tỷ đồng và sử dụng khoảng 11.000 tỷ đồng để thực hiện chính sách an sinh xã hội như làm nhà ở cho người nghèo, hỗ trợ phát triển KT-XH các huyện
nghèo , đây là các khoản chi không có trong dự toán được Quốc hội quyết định, làm thay đổi dự toán chi; do vậy, đề nghị Chính phủ cần báo cáo cụ thể, chi tiết khoản chi này để Quốc hội xem xét, quyết định
Thứ 4: là về xử lý, thu hồi số vốn ứng trước dự toán: hiện nay, số vốn ứng
trước dự toán là rất lớn và khả năng thu hồi rất khó khăn Theo Uỷ ban Tài chính – Ngân sách, qua giám sát cho thấy, số vốn đã ứng lũy kế đến hết năm 2009 chưa có nguồn thu hồi khoảng trên 50.000 tỷ đồng; số vốn đến hạn năm 2010 khoảng 30.600 tỷ đồng Trong số này, một số Bộ, ngành, địa phương không có khả năng hoàn ứng kéo dài nhiều năm, tạo nên bức tranh thiếu lành mạnh trong cân đối ngân sách Nhà nước
Để đạt được mục tiêu về thu chi ngân sách năm 2010, Chính phủ cần siết chặt hơn nữa
kỷ luật tài chính,Thủ tướng Chính phủ cần có Chỉ thị về tăng cường hơn nữa kỷ luật tàichính trong tình hình mới để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cấp, các ngành; quyđịnh cụ thể hơn về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; chỉ đạo thực hiện nghiêm túc hơn nữa các quyết định của kiểm toán Đồng thời phân phối hợp lí nguồn ngân sách giữa các ngành tránh tình trạng lãng phí
3.2.3- Chính sách cân đối sử lí bội chi Ngân sách nhà nước
Xử lý bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bềnvững của mỗi quốc gia
+ Bội chi NSNN và các giải pháp xử lý
+ Bội chi NSNN trong một thời kỳ (1 năm, 1 chu kỳ kinh tế) là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu của thời kỳ đó Nhưng thu gồm những khoản nào, chi gồm những khoản gì? Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:
Bảng : Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
D Chi thường xuyên
E Chi đầu tư
F Cho vay thuần (= cho vay mới - thu nợ gốc)
Trang 13Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau:
Bội chi NSNN = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C
* Nguyên nhân bội chi NSNN:
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN:
- Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN.Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng
sẽ làm tăng mức bội chi NSNN Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư vàtiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn, ), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN
* Các giải pháp xử lý bội chi NSNN:
Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm đau đầu các chính trị gia giữa một bên
là phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực
có hạn Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế
và sự phát triển trong tương lai Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội chi "hợp lý", bảo đảm nhu cầu tài trợ cho chi tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý Bội chi NSNN được hiểu một cách chung nhất là sự vượt trội về chi tiêu so với tiền thu được trong năm tài khóa hoặc thâm hụt NSNN do
sự cố ý của chính phủ tạo ra nhằm thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô Có nhiều cách đểchính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài; phát hành tiền để bù đắp chi tiêu; Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tếtài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia
Bội chi NSNN tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm bù đắp bội chi Ngân sách nhà nước Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm xử lý bội chi NSNN như sau:
Thứ nhất: Nhà nước phát hành thêm tiền Việc xử lý bội chi Ngân sách nhà
nước có thể thông qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông Tuy nhiên, giải pháp này sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để
bù đắp bội chi Ngân sách nhà nước Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi Ngân sách nhà nước là do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia
Thứ hai: Vay nợ cả trong và ngoài nước Để bù đắp thâm hụt Ngân sách nhà
nước, nhà nước có thể vay nợ nước ngoài và trong nước Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm
Trang 14dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng
tỷ giá Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của Ngân sách nhà nước cho các thời kỳ sau
Thứ ba: Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế Việc tăng các khoản thu, đặc biệt
là thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt Ngân sách nhà nước và giảm bội chi Ngân sách nhà nước Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi Ngân sách nhà nước, bởi vì nếu tăng thuế không hợp lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, nghiêm trọng hơn sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới
Thứ tư: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ Ngân
sách nhà nước Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi Ngân sách nhà nước và xuất hiện lạm phát Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết
Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định
chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản
lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế - xã hội, nhằm giải quyết các mốiquan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường v.v Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với quản lý NSNN nói chung
và xử lý bội chi NSNN nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết
3.2.4- Chính sách phân cấp Ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lí Ngân sách là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của Chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lí Ngân sách, nhằm tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách các nguồn thu của nhà nước và phân phối sử dụng công bằng,hợp lí, tiết kiệm, hiệu quả cao, phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinhtế- xã hội của đất nước
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã chỉ rõ: “ Nhà nước Trung ương định lại chế độ phân cấp quản lí thu, chi ngân sách cho hợp lí trên cơ sở khuyến khích đúng mức để tăng nhanh nguồn từ nội bộ nền kinh tế, chống thất thu Mặt khác, phải căn cứ vào nguồn thu mà bố trí chi, không chi vượt quá khả năng thu của ngân sách, triệt để tiết kiệm chi tiêu về mọi mặt”
3.3- Nhiệm vụ:
* Bảm đảm nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước:
- Cân đối ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong các nội dung cơ bản nhất của nền tài chính quốc gia và là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự ổn định lành mạnh cho nền tài chính quốc gia”
- Khi cân đối NSNN quán triệt nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên; nếu bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển.Số thu
Trang 15về phí, lệ phí hiện nay chưa được quy định rõ ràng, khoản nào trong cân đối, khoản nàongoài cân đối NSNN, khoản nào hạch toán trong NSNN
- Xây dựng quan hệ giữa ngân hàng trung ương và ngân sách nhà nước:
+ Ngân hàng trung ương là ngân hàng độc quyền phát hành tiền Hàng quý, hàng năm, tiền thuế thu được và những khoản thu khác của ngân sách được gửi vào ngân hàng trung ương để ngân hàng trung ương sử dụng và trả lãi Khi chính phủ cần,
bộ tài chính hay kho bạc cũng phải làm thủ tục để rút tiền gửi từ ngân hàng trung ương như một khách hàng bình thường
+Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động của ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả của chínhsách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô Với lý do trên ngân hàng trung ương phải tham gia cốvấn cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế Với vai trò này ngân hàng trung ương gián tiếp ảnh hưởng đến việc cung ứng trái phiếu của chính phủ và các hoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với ngân sách Đây là một cách để điều tiết kinh tế vĩ mô
* Cải tiến hệ thống thuế:
- Hệ thống thuế Việt Nam có một số đặc điểm sau:
Thuế nhập khẩu đóng góp tới 1/3 tổng thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, khoản thu này đang giảm đi do các hiệp định tự do hóa thương mại mà Việt Nam đang tham gia.Thu từ thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong đóng góp ngân sách nhà nước, 46% tronggiai đoạn 2001-2005 Các loại thuế gián thu ở Việt Nam bao gồm thuế xuất khẩu-nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí xăng, dầu
- Một số nhược điểm của hệ thống thuế hiện nay là:
+ Chính sách thuế được cải cách và đổi mới trong khi các cơ chế kinh tế khác chậm đổi mới, chưa thích ứng kịp thời làm giảm hiệu quả của chính sách mới ban hành
+Việc hướng dẫn luật thuế do máy móc, thiếu thực tế nên có trường hợp chồng chéo,không rõ ràng làm cho người chấp hành gặp khó khăn, hoặc làm cho thuế
có các tác động trái ngược nhau đến hoạt động kinh tế
+ Nhiều khi công cụ thuế sử dụng được một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc kết hợp với các chính sách đầu tư, thương mại… không đúng đắn đã làm cho môi trường kinh Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làmmất tính trung lập của thuế
+ Tính khả thi, tính hợp lý của một luật thuế còn hạn chế nên xét trên giác độ từng sắc thuế thì dẫn đến sau thời gian thực hiện phải sửa đổi, bổ sung
+ Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa đảmbảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực.+ Trong thời gian qua các sắc thuế vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản, rõ rang
- Về cải cách hệ thống chính sách thuế và hải quan, triển khai có hiệu quả chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 với mục tiêu xây dựng một hệ thốngchính sách thuế đồng bộ, công bằng, hiệu quả, minh bạch và công khai nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, bảo đảm nguồn lực tài chính lâu dài và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế Cụ thể, ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân; sửa đổi Luật thuế giá trị gia tăng nhằm bảo đảm công bằng và đơn giản, hoàn thiện phương pháp tính thuế, khấu trừ phù hợp với thông
lệ quốc tế; sửa đổi Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế
và không phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước, hàng nhập khẩu; Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm giảm mức thuế suất, diện miễn giảm và hướng tới thống nhất mức ưu đãi giữa các thành phần kinh tế; hoàn thiện chính sách thuế về sử dụng đất, thuế tài nguyên như ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường, Luật Thuế tài sản Xây dựng và triển khai Luật Quản lý thuế; áp dụng rộng rãi cơ chế tự khai, tự nộp thuế