1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tình hình tài chính của công ty than hòn gai

100 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng đó, để đạt được mục tiêu kinh doanh có lãi và hạn chế rủi ro trong kinh doanh đòi hỏi các đơn vị kinh tế phải thường xuyên tiến hành phân tích tài chính, đồ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Mỗi doanh nghiệp đều giữ một vị trí hết sức quan trọng ở mỗi nền kinh tế khác nhau Trong thị trường kinh tế hiện nay, hướng phát triển doanh nghiệp lâu dài và kinh doanh có lợi nhuận là mục tiêu thiết thực của bất kì tổ chức, doanh nghiệp và đơn vị kinh tế nào Nhận thức được tầm quan trọng đó, để đạt được mục tiêu kinh doanh có lãi và hạn chế rủi ro trong kinh doanh đòi hỏi các đơn vị kinh tế phải thường xuyên tiến hành phân tích tài chính, đồng thời định hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai để đưa ra những chiến lược và quyết định tài chính phù hợp Việc phân tích tình hình tài chính thường xuyên giúp cho doanh nghiệp đánh giá được thực trạng hoạt động tài chính sau khi kinh doanh, xác định được các nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quá trình phát triển của doanh nghiệp,

từ đó dễ dàng đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn nhằm ổn định và phát triển tình hình tài chính

Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập, phân tích tài chính là công việc cần thiết và thường xuyên của mỗi doanh nghiệp Nhận ra tầm quan

trọng của vấn đề này, em quyết định chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp “Phân

tích tình hình tài chính của Công ty Than Hòn Gai” nhằm tìm hiểu và đưa

ra các giải pháp hợp lý đồng thời rút ra các hạn chế trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp để định hướng cho hiện tại và tương lai

2 Mục tiêu nghiên cứu của khoá luận:

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hoá các vấn đề chung trong lý thuyết và phân tích tài chính

Qua việc phân tích tình hình tài chính của Công ty Than Hòn Gai giai đoạn 2017-2019, em có cơ hội được vận dụng những kiến thức được học vào thực

Trang 2

tiễn để phân tích các số liệu sau đó đưa ra nhận xét và đề xuất giải pháp nhằm đóng góp cho sự phát triển tài chính của doanh nghiệp

3 Đối tượng nghiên cứu khoá luận:

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là tình hình tài chính của của Công ty Than Hòn Gai giai đoạn 2017-2019 cùng với các chỉ tiêu, số liệu từ bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

4 Phạm vi nghiên cứu khoá luận:

- Không gian nghiên cứu: Công ty Than Hòn Gai

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2017 đến năm 2019

5 Phương pháp nghiên cứu khoá luận:

Đề tài “Phân tích tình hình tài chính của Công ty Than Hòn Gai” sử dụng các phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và tổng hợp thu nhập Cụ thể là:

- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu từ các bảng báo cáo và

tài liệu thu nhập được từ Công ty

- Phương pháp và xử lý số liệu: đề tài sử dụng lý luận cơ bản là chủ yếu

sau đó phân tích các số liệu thực tế thông qua bảng báo cáo và tài liệu

của doanh nghiệp

- Phương pháp phân tích: Sử dụng các phương pháp so sánh và phương

pháp Dupont để phân tích số liệu, so sánh sự thay đổi tài chính qua các năm của doanh nghiệp

6 Kết cấu khoá luận:

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục bảng biểu, tài liệu tham

Trang 3

- Chương I: Cơ sở lý luận chung về phân tích tài chính của doanh

nghiệp

- Chương II: Phân tích tình hình tài chính của Công ty Than Hòn Gai

giai đoạn 2017 đến năm 2019

- Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính cho Công ty Than

Hòn Gai

Trang 4

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA

DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về phân tích tài chính của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh

tế, là một phạm trù khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ

Để thực hiện một hoạt động kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định Quá trình thực hiện kinh doanh của doanh nghiệp chính là quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tài chính của doanh nghiệp đó Trong quá trình hoạt động kinh doanh, phát sinh các luồng tiền tệ đi cùng với sự đầu tư vào các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm luồng tiền tệ đi vào và luồng tiền tệ đi ra đã tạo nên sự vận động của các luồng tài chính trong doanh nghiệp

Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp:

- Các hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn đi đôi với với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó

- Mỗi doanh nghiệp đều sở hữu một lượng vốn nhất định và tính chất sở hữu vốn của mỗi doanh nghiệp chi phối các hoạt động tài chính của doanh nghiệp đó

- Lợi nhuận cũng là một mục tiêu chi phối hoạt động của tài chính doanh nghiệp

Trong nền kinh tế biến động kiên tục, doanh nghiệp muốn đứng vững cần phải có những mối quan hệ kinh tế và tài chính vững chắc giữa các doanh

Trang 5

các tổ chức xã hội nhà nước Trong các doanh nghiệp, những mối quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm:

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với tổ chức nhà nước: Đây là mối quan hệ thể hiện qua sự cấp vốn của Nhà nước cho các hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải thể hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước đó

là nộp các khoản thuế và lệ phí vào ngân sách Nhà nước

- Quan hệ giữa doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác: Đây là mối quan hệ thể hiện qua hoạt động thanh toán trong việc cho vay và đầu tư vốn, mua bán tài sản, hàng hoá và dịch vụ khác

- Quan hệ giữa doanh nghiệp và nội bộ doanh nghiệp: Đây là mối quan

hệ thể hiện qua việc doanh nghiệp thực hiện thanh toán đầy đủ các khoản tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho công nhân viên của doanh nghiệp và quan hệ thanh toán đối với các bộ phận trong doanh nghiệp

1.1.2 Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế nói chung và mỗi cá nhân doanh nghiệp nói riêng Tài chính doanh nghiệp có những vai trò chính như sau:

a Huy động và đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp luôn phát sinh vấn đề về nhu cầu vốn ngắn hạn và nhu cầu vốn dài hạn cho các hoạt động kinh doanh Vai trò chính của tài chính doanh nghiệp đó là đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó Nhiệm vụ trước tiên của tài chính doanh nghiệp thể hiện ở việc xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động kinh doanh qua từng giai đoạn, sau đó là lựa chọn các phương pháp thích hợp để huy động vốn từ cả bên trong và bên ngoài, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của doanh nghiệp

b Sử dụng nguồn vốn tiết kiệm và hiệu quả:

Trang 6

Tổ chức sử dụng vốn là yếu tố chủ yếu chi phối hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vai trò của tài chính doanh nghiệp thể hiện qua việc đánh giá và lựa chọn các dự án trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức

độ rủi ro của dự án đó Nhận biết và sử dụng hợp lý nguồn vốn sẽ giúp doanh nghiệp tránh được các thiệt hại, đặc biệt là giảm nhu cầu vốn vay và lãi suất Bên cạnh đó cũng giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh

c Kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua tình hình thu chi hàng ngày và nắm bắt được các chỉ tiêu tài chính, doanh nghiệp có thể kiểm soát được tình hình sản xuất kinh doanh, phát hiện kịp thời những tồn đọng từ đó đưa ra những quyết định tài chính phù hợp

1.1.3 Khái niệm phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp

“Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh

giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có những quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ.”

(Nguồn: Trang 5, Giáo trình Phân tích Tài chính doanh nghiệp - GS.TS Ngô

Thế Chi, PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ – NXB Tài Chính)

Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là công việc quan trọng và cần thiết của mỗi doanh nghiệp Thông qua phân tích tình hình tài chính, doanh nghiệp có khả năng xác định lợi nhuận giá trị kinh tế, tìm ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan, điểm mạnh và khả năng lợi nhuận cũng như rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp Bên cạnh đó, phân tích tình hình

Trang 7

khắc phục điểm thiếu sót nhằm nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp cũng là quá trình kiểm tra, đối chiếu và

so sánh số liệu về tài chính của doanh nghiệp hiện tại với quá khứ để định hướng đúng đắn cho tương lai Từ đó có thể đánh giá đầy đủ mọi mặt trong công tác quản lý doanh nghiệp và đưa ra các quyết định tài chính hợp lý cho các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đó

1.1.4 Ý nghĩa và mục tiêu phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp

a Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp:

Hoạt động tài chính có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng không chỉ với chủ doanh nghiệp mà còn với các đối tượng liên quan đến tài chính của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có rất nhiều đối tượng quan tâm đến đến tình hình tài chính với nhiều mục đích khác nhau:

- Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Các nhà quản trị doanh nghiệp

quan tâm đến các mục tiêu bao gồm yếu tố người lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá dịch vụ và khả năng cắt giảm chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh Qua việc phân tích tài chính, họ sẽ biết được khả năng sinh lời, khả năng thanh toán , rủi ro tài chính và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp để đưa ra quyết định đầu tư

- Đối với các nhà đầu tư: Mối quan tâm của các nhà đầu tư đó là khả

năng hoàn vốn, lợi tức nhận được hàng năm và giá trị thị trường của cổ phiếu Thông qua phân tích tài chính doanh nghiệp, họ biết được tình hình hoạt động và điều kiện tài chính cũng như kết quả kinh doanh và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp

- Đối với các tổ chức tín dụng: Các tổ chức tín dụng đặc biệt quan tâm

đến khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp Dựa vào phân tích tình hình tài chính, họ sẽ đưa ra quyết định cho vay và tài trợ vốn một cách phù hợp

Trang 8

- Đối với cơ quan Nhà nước: Phân tích tài chính doanh nghiệp giúp Nhà

nước nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá năng lực lãnh đạo của ban Giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định về vấn đề tiếp tục đầu , đưa ra chính sách vĩ mô đúng đắn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Đối với các Công ty kiểm toán: Mục tiêu của các Công ty kiểm toán đó

là sự trung thực của các số liệu trong báo cáo tài chính Phân tích tài chính giúp các Công ty kiểm toán phát hiện được sai sót và gian lận của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh

b Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp:

Mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều có mối liên quan với nhau Chính vì vậy, phân tích báo cáo tài chính giúp đánh giá đầy đủ và kỹ lưỡng mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong trạng thái thực của chúng Phân tích tài chính doanh nghiệp phải đạt được những mục tiêu bao gồm:

- Đánh giá và dự đoán các trường hợp rủi ro cũng như tiềm năng, khả năng sinh lời trong tương lai của doanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết định tài chính hợp lý

- Cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính và đối tượng liên quan khác để họ có thể đưa ra những quyết định đầu tư và tín dụng phù hợp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Cung cấp những thông tin quan trọng bao gồm: Nguồn lực tài chính, các khoản nợ vay, vốn chủ sở hữu và các tác động kinh tế của thị trường để chủ doanh nghiệp dự đoán và đưa ra các bước đi đúng đắn cho các hoạt động kinh doanh tương lai

- Cung cấp thông tin về kết quả các quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, các tình huống tác động trực tiếp đến các nguồn vốn và khoản

Trang 9

- Trở thành một công cụ quan trọng góp phần kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở xem xét, đánh giá, phân tích các chỉ tiêu hoạt động để đưa ra các biện pháp đúng đắn nhằm duy trì hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

Tóm lại, có hai mục tiêu quan trọng nhất của phân tích tài chính doanh nghiệp đó là hiểu biết, nắm bắt được các con số từ bảng báo cáo tài chính và đưa ra được các quyết định hợp lý cho dự đoán tương lai Sử dụng các dữ liệu phân tích tài chính làm phương tiện hỗ trợ để nắm rõ được các con số kinh tế nhằm đưa ra các ước tính tốt nhất về khả năng kinh tế của doanh nghiệp trong tương lai

Trang 10

1.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp:

Để tiến hành phân tích hoạt động tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích thường sử dụng một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm nghiên cứu các chỉ tiêu tài chính, sự biến đổi tài chính , các mối quan hệ giữa môi trường trong và ngoài nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Có rất nhiều phương pháp khác nhau và được sử dụng trong từng nội dung phân tích khác nhau Những phương pháp được sử dụng thường xuyên nhất bao gồm: phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số và phương pháp Dupont Cụ thể:

- Tiêu chuẩn so sánh:

Gốc so sánh là chỉ tiêu của một kỳ Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hoặc thời gian, phụ thuộc vào mục đích so sánh của các nhà phân tích Về không gian có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác hoặc khu vực này với khu vực khác Về thời gian

có thể so sánh các kỳ trước với kỳ hiện tại, các thời điểm năm trước với thời điểm hiện tại của doanh nghiệp

- Điều kiện so sánh:

Trang 11

Về không gian: so sánh các chỉ tiêu và số liệu trong ngành, các chỉ

tiêu so sánh cần được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện tương tự nhau

Về thời gian: các chỉ tiêu so sánh cần đáp ứng sự thống nhất về nội

dung thời gian và đơn vị đo lường

- Các dạng so sánh:

So sánh tuyệt đối: So sánh tuyệt đối là kết quả của phép trừ giữa trị

số của chu kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, phản ánh quy mô hoặc khối lượng của đối tượng nghiên cứu

So sánh tương đối: So sánh tương đối là kết quả của phép chia giữa

trị số của chu kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, các nhà quản lý sẽ nắm được các mối quan hệ, tốc độ phát triển và xu

hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế

So sánh bình quân: So sánh bình quân thể hiện sự nổi bật về mặt số

lượng, phản ánh tình hình về một tổng thể có cùng tính chất, qua đó các nhà quản lý sẽ đánh giá được tình hình biến động chung về mặt

số lượng và chất lượng nhằm đưa ra phương hướng phát triển cho doanh nghiệp trong tương lai

b Phương pháp tỷ số:

Phương pháp tỷ số cũng là một trong những phương pháp phổ biến, được

áp dụng rộng rãi trong phân tích báo cáo tài chính Phương pháp này giúp cho việc sử dụng số liệu được hiệu quả hơn thông qua việc phân tích có hệ thống các tỷ lệ theo chuỗi thời gian

Về nguyên tắc, phương pháp tỷ số này phải đáp ứng điều kiện xác định được các ngưỡng và các định mức nhằm đưa ra các nhận xét và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua việc so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu

Trang 12

Phương pháp tỷ số là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện

áp dụng ngày càng được hoàn thiện hơn bởi vì các nguồn thông tin về kinh tế

và tài chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủ, chính xác hơn, là cơ sở hình thành những tham chiếu đáng tin cậy để đánh giá tỷ lệ của doanh nghiệp Bên cạnh đó, việc áp dụng tin học vào phân tích báo cáo tình hình tài chính cho phép việc lưu trữ các số liệu và đẩy nhanh quá trình tính toán các tỷ lệ của các doanh nghiệp

c Phương pháp Dupont:

Mô hình Dupont là phương pháp được sử dụng nhằm phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý truyền thống nhưng vô cùng hiệu quả, cho phép các nhà phân tích nhìn thấy khái quát được toàn bộ các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn Trong phân tích tài chính, người ta thường sử dụng phương pháp Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính

Khi sử dụng phương pháp Dupont, các nhà phân tích nên tiến hành so sánh các chỉ tiêu chính của doanh nghiệp bao gồm ROA, ROE, ROS qua từng năm Sau đó xem xét và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng hay sụt giảm thất thường của các chỉ số này, rồi đưa ra nhận xét và các dự đoán xu hướng của các tỷ số quan trọng trong những năm tiếp theo

- Các bước thực hiện phương pháp Dupont:

 Thu thập số liệu từ các bảng báo cáo tài chính của doanh nghiệp

 Sử dụng công thức và bảng tính để tính toán kết quả

 Tìm ra nguyên nhân sự thay đổi của các chỉ số ROA, ROE, ROS

Mô hình Dupont là phương pháp tính đơn giản nhưng hiệu quả Phân tích tình hình tài chính dựa vào phương pháp Dupont có ý nghĩa lớn đối với doanh nghiệp, phương pháp giúp đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện

Trang 13

1.3 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp:

1.3.1 Thông tin sử dụng phân tích tài chính doanh nghiệp:

Hệ thống thông tin sử dụng phân tích tài chính doanh nghiệp là một yếu tố

vô cùng quan trọng, không thể thiếu giữa doanh nghiệp và môi trường xã hội

Nó giúp các doanh nghiệp phát triển và giữ được vị thế cạnh tranh trên thị trường kinh doanh Hệ thống thông tin bao gồm hệ thống thông tin ngoài và

hệ thống thông tin trong doanh nghiệp

a Hệ thống thông tin ngoài doanh nghiệp:

- Vai trò: Hệ thống thông tin ngoài doanh nghiệp đảm nhận hai nhiệm vụ

chính đó là thu thập các dữ liệu từ môi trường ngoài và đưa thông tin từ trong doanh nghiệp ra ngoài bao gồm thông tin về giá cả, sức lao động, lạm phát, nhu cầu của người tiêu dùng, khảo sát thị trường và tình hình kinh tế chính trị

- Mục đích: Hệ thống thông tin ngoài doanh nghiệp được sử dụng để

phân tích các nguyên nhân và các yếu tố trực tiếp, gián tiếp tác động đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, góp phần giúp doanh nghiệp đưa ra những quyết định tài chính phù hợp, hiệu quả

b Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp:

Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp hay hệ thống thông tin nội bộ đóng vai trò như một mối liên hệ giữa các bộ phận và khu vực trong doanh nghiệp với nhau Hệ thống thông tin nội bộ lưu trữ và cung cấp thông tin cho các bộ phận cần thiết để thực hiện các mục đích khác nhau trong doanh nghiệp bao gồm chi tiết doanh thu, tình hình hoạt động sản xuất, các chính sách chính phủ… Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp các thông tin tài chính cho các nhà phân tích và các đối tác của doanh nghiệp Các thông tin tài chính được phản ánh rõ ràng và đầy đủ trong bảng báo cáo tài chính Phân tích tài chính doanh nghiệp dựa trên số liệu của các bảng báo cáo tài chính

Trang 14

quan trọng đó là bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả kinh doanh và bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ Trong đó:

- Bảng cân đối kế toán là bảng báo cáo tài chính tổng hợp, các số liệu trong bảng phản ánh toàn bộ giá trị và nguồn gốc tài sản của doanh nghiệp trong một đơn vị thời gian nhất định Bảng cân đối kế toán bao gồm hai phần chính: tài sản và nguồn vốn

Tài sản (Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn): Số liệu của phần tài

sản thể hiện quỹ tài sản của doanh nghiệp hiện có tại thời điểm lập báo cáo của doanh nghiệp Trong bảng này, các chỉ tiêu tài sản có tính thanh khoản cao được xếp trên các tài sản có tính thanh khoản thấp Thông qua bảng cân đối kế toán phần tài sản, có thể đánh giá được nguồn vốn và mức độ phân bổ sử dụng vốn của doanh nghiệp

Nguồn vốn (Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu): Các dữ liệu phần

nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản hiện có của đối tượng nghiên cứu trong thời điểm lập báo cáo Trong bảng này, các chỉ tiêu nguồn vốn được sắp xếp theo thứ tự: các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ trung và nợ dài hạn Dựa vào số liệu của nguồn vốn, các nhà phân tích thấy được quy mô của nguồn vốn dùng để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó đưa ra được các đánh giá về mức độ tự chủ tài chính và các dự đoán

về khả năng rủi ro của doanh nghiệp đó trong tương lai

- Bảng báo cáo kết quả kinh doanh là bảng báo cáo tài chính tổng hợp, các dữ liệu trong bảng phản ánh về thực trạng và kết quả kinh doanh trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp sử dụng bảng báo cáo kết quả kinh doanh để nắm bắt tình hình doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một kỳ hoạt động Thông qua các số liệu thể hiện ở bảng báo cáo kết quả kinh

Trang 15

số liệu của các doanh nghiệp cùng ngành, từ đó đánh giá về xu hướng hoạt động của doanh nghiệp nhằm đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý

- Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay báo cáo ngân lưu là bảng báo cáo tài chính tổng hợp quan trọng và cần thiết đối với các nhà phân tích, nhà quản trị và các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp bao gồm lưu lượng tiền ra và lưu lượng tiền vào

Báo cáo ngân lưu được tổng hợp từ ba hoạt động chính của doanh nghiệp: hoạt động tài chính, hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh Bao cáo lưu chuyển tiền tệ chỉ ra các lĩnh vực tạo ra nguồn tiền, các lĩnh vực sử dụng tiền, thu nhập, chi phí phát sinh và khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong một kỳ

1.3.2 Các bước phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

Mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp đó là giúp các nhà phân tích và các đối tượng quan tâm nắm được thông tin kinh tế đầy đủ và chính xác Chính vì vậy, quy trình phân tích tình hình tài chính phải hoàn thiện với nguồn thông tin trung thực và nội dung phân tích thấu đáo, khoa học Các bước phân tích tình hình tài chính bao gồm: Thu thập thông tin, xử lý thông tin và đưa ra dự đoán

a Thu thập thông tin:

Phân tích tài chính sử dụng nhiều nguồn thông tin có khả năng giải thích

và thuyết minh thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhằm dự đoán tài chính và đưa ra quyết định đầu tư bao gồm thông tin nội bộ, thông tin bên ngoài, thông tin tài chính và quản lý doanh nghiệp Trong đó các thông tin tài chính kế toán là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp

b Xử lý thông tin:

Trang 16

Xử lý thông tin đã thu thập được là bước quan trọng nhất trong phân tích tài chính doanh nghiệp Đây là quá trình sắp xếp các thông tin theo những tiêu chí nhất định nhằm so sánh, giải thích, đánh giá và xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được trong báo cáo tài chính Trong giai đoạn này, các đối tượng nghiên cứu khác nhau sử dụng thông tin tài chính để phục vụ cho các mục đích khác nhau

c Dự đoán:

Thu thập và xử lý thông tin nhằm để đưa ra các quyết định đầu tư cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đối với chủ doanh nghiệp, mục đích của phân tích hoạt động tài chính đó là đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp bao gồm tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận và doanh thu Đối với người cho vay và các nhà đầu tư mục đích là phân tích tình hình tài chính và đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư Đối với cấp trên của doanh nghiệp thì mục đích phân tích tài chính đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp

1.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là công việc cần thiết và có yếu tố quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có những đánh giá khách quan về sức mạnh tài chính của doanh nghiệp đó, giúp họ lựa chọn và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý nhất Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp bao gồm những nội dung chính: Phân tích bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, phân tích bảng cân đối kế toán, phân tích các chỉ tiêu tài chính và phân tích tình hình sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp

1.4.1 Phân tích bảng cân đối kế toán:

Bảng cân đối kế toán là bảng báo cáo tài chính tổng hợp, các số liệu trong

Trang 17

đối kế toán cho thấy quy mô tài sản và mức độ sử dụng vốn của một doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính cần phân tích và đánh giá các vấn đề chính bao gồm: phần tài sản và phần nguồn vốn

a Phần tài sản:

Phần tài sản trong bảng cân đối kế toán thể hiện toàn bộ giá trị tài sản của

doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo và hình thức tồn tại của tài sản trong quá

trình sản xuất kinh doanh thông qua hai loại hình tài sản chính: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Từ đó, các nhà phân tích có thể đưa ra đánh giá về

nguyên nhân các yếu tố tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương

tiền và các khoản tài sản ngắn hạn khác có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt hoặc có thể sử dụng trong trong một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó:

Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền mặt là yếu tố phản ánh

toàn bộ giá trị của doanh nghiệp trong thời điểm báo cáo Các khoản tương đương tiền thể hiện qua các khoản đầu tư ngắn hạn

có thời hạn thu hồi không quá 3 tháng, có khả năng dễ dàng biến đổi thành một khoản tiền xác định và không có rủi ro tại thời điểm báo cáo Tỷ trọng của tiền và khoản tương đương tiền tăng lên cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh toán đúng hạn các khoản nợ Đồng thời điều đó cho thấy doanh nghiệp chủ động và đáp ứng đầy đủ nhu cầu tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh

Các tài sản ngắn hạn khác: Tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh

tổng giá trị các tài sản ngắn hạn có khả năng thu hồi hoặc sử dụng không quá thời hạn 1 năm bao gồm số tiền tạm ứng cho nhân viên trong doanh nghiệp, các khoản phí phát sinh trong quá trình kí kết, các tài sản còn thiếu chờ xử lý…

Trang 18

- Tài sản dài hạn: Chỉ tiêu tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu

dài hạn, tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác Đối với các doanh nghiệp thương mại, tài sản cố định thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản Ngược lại, đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tài sản cố định thường chiếm tỷ lệ lớn vì

đây là yếu tố chính tạo ra doanh thu nhất định Trong đó:

Các khoản thu dài hạn: Tương đương như các khoản thu ngắn

hạn tuy nhiên đây là các khoản có thời hạn thu hồi và thời gian

sử dụng vượt quá thời hạn 1 năm tại thời điểm báo cáo bao gồm: Khoản phải thu của khách hàng, khoản phải thu trong nội bộ,

khoản thu cho vay và các khoản thu khác

Tài sản cố định: Là yếu tố phản ánh toàn bộ tài sản có giá trị lớn

của doanh nghiệp, có thời gian thu hồi và sử dụng trên 1 năm hoặc trên 1 kỳ sản xuất kinh doanh thông thường bao gồm: tài sản cố định vô hình, tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định

thuê tài chính

Đối với nguồn hình thành tài sản, việc xem xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn và xu hướng biến động của chúng rất cần thiết Nếu chỉ tiêu nguồn vốn chủ sở hữu có tỷ cao, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ và tự đảm bảo về mặt tài chính Ngược lại, nếu tỷ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn cao, khả năng đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp thấp

b Phần nguồn vốn:

Phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh

nghiệp trong thời điểm báo cáo bao gồm 2 phần chính: Nguồn vốn chủ sở hữu

và nợ phải trả Trong đó:

- Nguồn vốn chủ sở hữu: Đây là nguồn vốn cơ bản của doanh nghiệp,

chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn của doanh nghiệp đó Nguồn

Trang 19

hợp nguồn vốn chủ sở hữu tăng, chứng tỏ doanh nghiệp đó có khả năng đảm bảo về mặt tài chính đồng thời phản ánh mức độ độc lập của doanh nghiệp đó với các khoản nợ và ngược lại

- Nợ phải trả: Chỉ tiêu nợ phải trả phản ánh toàn bộ số nợ phải trả của

doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Trường hợp xu hướng nợ phải trả giảm được coi là tốt do nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trong trường hợp này tăng cao Tuy nhiên, nếu nợ phải trả giảm do quy mô sản xuất thu hẹp, trường hợp này là không tốt đối với mỗi doanh nghiệp

1.4.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:

Phân tích báo cáo kết quả hoạt đọng kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp và chi tiết tình hình kinh doanh chính trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp đó Đặc biệt, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được dùng để xem xét sự thay đổi giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong từng kỳ kế toán Từ đó đưa ra những đánh giá về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời tìm ra phương pháp nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp đó

a Tình hình doanh thu:

Doanh thu là chỉ tiêu thu nhập mà doanh nghiệp nhận được thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm doanh thu thuần và doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ Trong đó, chỉ tiêu doanh thu thuần thể hiện phần doanh thu còn lại sau khi đã bỏ các khoản giảm trừ doanh thu Chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phản ánh tổng doanh thu của doanh nghiệp dựa vào việc mua bán hàng hoá, thành phẩm, bất động sản đầu tư cùng với cung cấp dịch vụ trong kỳ hoạt động của doanh nghiệp Doanh thu bán hàng

và cung cấp dịch vụ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu Nó phản ánh toàn bộ quá trình sản xuất và tổ chức chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 20

Hoạt động phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thường xuyên giúp doanh nghiệp có khả năng tăng doanh thu Nó giúp nhà quản trị và các đối tượng quan tâm tài chính doanh nghiệp thấy được xu hướng tăng giảm của doanh thu, các yếu tốc tác động, ưu điểm và nhược điểm trong quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó, hạn chế được các nhược điểm, phát huy điểm mạnh nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp

b Tình hình chi phí:

Các khoản chi phí của doanh nghiệp đều là dòng tiền ra bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí lãi vay, chi phái bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí thuế và các khoản chi phí khác Trong đó, giá vốn hàng bán thường là khoản chiếm tỉ trọng lớn nhất đối với mỗi doanh nghiệp Giá vốn hàng bán chính là giá trị vốn của mặt hàng đã được tiêu thụ Khi xác định trị giá vốn bán hàng bao gồm các yếu tố trị giá về vốn của: hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ và các khoản chi phí có liên quan Giá vốn hàng bán là chỉ tiêu

có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tìm được nguồn cung cấp tốt đó là khi doanh nghiệp thương lượng được mức giá tốt và bán hàng hoá ra thị trường với mức giá cạnh tranh và thu được lợi nhuận Điều này giúp hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng Ngược lại, trong trường hợp doanh nghiệp phải chấp nhận sự chênh lệch giá cả, chi phí phải bỏ ra lớn, lợi nhuận thấp, chứng tỏ hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp vẫn còn thấp

Trang 21

định đến khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp, là căn cứ đánh giá năng lực tài chính và khả năng quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở phát triển cho doanh nghiệp trong tương lai đồng thời góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động

1.4.3 Phân tích các chỉ tiêu tài chính:

1.4.3.1 Chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp:

Đối với mỗi doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất là lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ánh hiệu quả trong quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời được các nhà quản trị đặc biệt quan tâm vì chúng

là cơ sở đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh đồng thời là tiền đề để các nhà đầu tư đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai

a Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA):

ROA =

Lợi nhuận trên tổng tài sản hay Return On Asset (ROA) là chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp Chỉ số này cho biết doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế từ một đồng tài sản, thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản chung của doanh nghiệp Tỷ số ROA lớn và có xu hướng tăng chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động tốt Thông thường, khi đánh giá tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, các chỉ số này được so sánh với các chỉ số của năm trước đó hoặc với các doanh nghiệp có cùng quy mô trên thị trường

b Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):

ROE =

Trang 22

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay Return On Equity (ROE) là chỉ số

đo lường mức độ hiệu quả việc sử dụng vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ

số này phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, càng cao thì khả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp càng tốt Để đánh giá chính xác chỉ tiêu này, cần

so sánh lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp với tỷ số bình quân của toàn ngành hoặc với tỷ số của doanh nghiệp tương đương cùng ngành

c Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS):

ROS =

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu hay Return On Sales (ROS) là chỉ số đánh giá sức mạnh tài chính hay đo lường lợi nhuận của doanh nghiệp Tỷ số này cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận được sinh ra từ một đồng doanh thu Chỉ số này thường được so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành hoặc so sánh hiệu quả của công ty qua thời gian Từ đó, các nhà quản trị đánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ROS tăng cho thấy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là tốt Ngược lại, khi ROS giảm, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có xu hướng phát triển không tốt

d Mô hình Dupont:

Mô hình Dupont là phương pháp được sử dụng để phân tích khả năng sinh

lời của doanh nghiệp thông qua việc phân tích chỉ số ROA dựa trên ROE và ROS Việc sử dụng mô hình Dupont không chỉ giúp doanh nghiệp định hình được tình hình tài chính mà còn giúp các nhà quản trị phân tích được các nhân

tố ảnh hưởng đến sự biến động của doanh nghiệp

- Mô hình Dupont – Phân tích ROA dựa trên chỉ số ROS:

= x

Trang 23

- Mô hình Dupont – Phân tích ROA dựa trên chỉ số ROE:

ROA =

= x

= ROE x Hệ số tự chủ tài chính Dựa trên mô hình Dupont phân tích ROA thông qua chỉ số ROE, doanh nghiệp có thể áp dụng các biện pháp làm tăng chỉ số ROE sau:

 Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dựa vào việc điều chỉnh hợp

lý tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động của doanh nghiệp Tăng mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay vay vốn đầu tư là biện pháp phổ biến của các doanh nghiệp Nếu mức lợi nhuận trên tổng tài sản của doanh nghiệp cao hơn lãi suất cho vay chứng tỏ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp là hiệu quả

 Tăng hiệu suất sử dụng đồng thời tạo nguồn doanh thu từ những tài sản sẵn có nhằm nâng cao số vòng quay của tài sản của doanh nghiệp Một vài giải pháp của doanh nghiệp bao gồm gia tăng số lượng đơn hàng, chấp nhận mức giá hàng hoá thấp và ưu tiên các đơn hàng có số lượng lớn

 Cắt giảm chi phí, nâng cao doanh thu và chất lượng của hàng hoá, gia tăng khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành, từ đó góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

1.4.3.2 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp:

Năng lực thanh toán là khả năng thanh toán được khoản nợ đáo hạn các loại tiền nợ của doanh nghiệp Chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng phản ánh tình hình tài chính, năng lực thanh toán và khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Dựa vào việc phân tích và xem xét các chỉ số về khả năng thanh toán, các nhà quả trị có thể

Trang 24

thấy rõ những rủi ro tài chính của doanh nghiệp đó Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp bao gồm:

a Khả năng thanh toán tổng quát:

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =

Tỷ số khả năng thanh toán tổng quát thể hiện mối quan hệ giữa tài sản hiện

có của doanh nghiệp và tổng nợ phải trả Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng

nợ phải trả có bao nhiêu đồng tài sản đảm bảo Nếu hệ số thanh toán của doanh nghiệp lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1 phản ánh tổng tài sản của doanh nghiệp hiện có không đủ để trả nợ

b Khả năng thanh toán tức thời:

Hệ số khả năng thanh toán tức thời =

Hệ số khả năng thanh toán tức thời là chỉ số đo lường khả năng bù đắp

nợ ngắn hạn bằng số tiền và các khoản tương đương tiền hiện có của một doanh nghiệp hay với tổng tài sản hiện có, doanh nghiệp có đảm bảo thanh toán các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp hay không Chỉ tiêu này thể hiện việc chấp hành kỉ luật của doanh nghiệp trong việc thanh toán với chủ nợ Hệ

số này càng lớn chứng tỏ rằng khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao và ngược lại

c Khả năng thanh toán nhanh:

Hệ số khả năng thanh toán nhanh =

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là chỉ số cho biết khả năng thanh toán

tức thời, đo lường tổng số tài sản lưu động hay vốn bằng tiền mặt và các

Trang 25

có tính thanh khoản cao như tiền mặt hoặc các khoản tiền có khả năng huy động trong thời gian ngắn Trên thực tế nếu hệ số này nhỏ hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ ngắn hạn, đồng thời cũng phản ánh sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào hàng tồn kho

d Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ số phản ánh mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn Tỷ số này cho biết mức độ đảm bảo của tài sản lưu động đối với các khoản nợ ngắn hạn Nó cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn được bù đắp bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp, nếu hệ số thanh toán nợ ngắn hạn càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Ngược lại chỉ số càng cao, rủi ro phá sản của doanh nghiệp đó càng lớn

1.4.3.3 Chỉ số cơ cấu tài sản của doanh nghiệp

a Tỷ số nợ:

Hệ số nợ =

Hệ số nợ phản ánh tất cả các khoản nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn và

nợ dài hạn, là chỉ số đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp Tỷ số này thường phụ thuộc vào loại hình hoạt động, lĩnh vực hoạt động và quy mô hoạt động của doanh nghiệp

Hệ số nợ càng thấp chứng tỏ các khoản nợ được đảm bảo thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp phá sản và ngược lại Thực tế, hệ số nợ ở mức 60% trên tổng số tài sản của doanh nghiệp là chấp nhận được

Trang 26

Nếu hệ số nợ dài hạn nhỏ hơn 50% trên tổng tài sản của doanh nghiệp, chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu, ít phụ thuộc vào nợ vay, ít gặp rủi ro tài chính hơn và ngược lại

Nếu chỉ số này lớn hơn 1 chứng tỏ các khoản nợ là nguồn tài trợ chính cho doanh nghiệp và ngược lại, nhỏ hơn 1 có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu Trên thực tế, hệ số này càng nhỏ, các khoản nợ phải trả nhỏ, doanh nghiệp ít gặp khó khăn trong tài chính

d Khả năng thanh toán lãi vay:

Khả năng thanh toán lãi vay =

Trang 27

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết lợi nhuận của doanh nghiệp có đảm bảo khả năng trả nợ lãi hay không Hệ số khả năng thanh toán lãi vay càng cao, khả năng thanh toán lãi của doanh nghiệp cho các chủ nợ càng lớn

Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy doanh nghiệp đang ở tình trạng nguy hiểm, khả năng thanh toán các khoản nợ thấp và rủi ro vỡ nợ cao

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp không gặp khó khăn trong hoạt động trả lãi vay Ngược lại, nếu nhỏ hơn 1, điều này phản ánh tình trạng vay quá mức của công ty hoặc phản ánh tình hình kinh doanh không có lãi của doanh nghiệp

1.4.3.4 Chỉ số hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Các hệ số hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính của doanh nghiệp đó Các tỷ số này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp thông qua việc so sánh tổng doanh thu với tổng số vốn kinh doanh dưới dạng các loại tài sản khác nhau Đồng thời, cho thấy tình hình luân chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp đó

a Vòng quay khoản phải thu:

Vòng quay khoản phải thu =

Vòng quay khoản phải thu là chỉ số đo lường tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp hay khả năng bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp bởi nhà cung cấp Nói cách khác, vòng quay khoản phải thu chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chính sách bán chịu của doanh nghiệp

Vòng quay khoản phải thu lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, các chính sách quản lý thanh toán của công ty chặt chẽ và đảm bảo thanh khoản Ngược lại, chỉ số vòng quay các khoản phải thu quá thấp cho thấy, vốn của doanh nghiệp đang bị chiếm dụng, lượng tiền mặt giảm dẫn đến các rủi ro

về khả năng thanh khoản của doanh nghiệp

Trang 28

b Kỳ thu tiền bình quân:

Kỳ thu tiền bình quân =

Kỳ thu tiền bình quân là một trong những chỉ số đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp Chúng là những chỉ số phản ánh thời gian trung bình để một doanh nghiệp có thể thu hồi các khoản nợ Qua phân tích chỉ số kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp, các nhà quản trị đánh giá được hiệu quả của các hoạt động quản lý khoản phải thu

Ngược với chỉ số vòng quay khoản phải thu, tỷ số kì thu tiền bình quân thấp là dấu hiệu tốt cho doanh nghiệp hơn kì thu tiền bình quân cao Kì thu tiền bình quân thấp cho thấy công ty thu hồi tiền thanh toán nhanh hơn, tuy nhiên nếu chỉ số này quá thấp là do chính sách tín dụng quá chặt chẽ, cần nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng nhằm giúp doanh nghiệp hoạt động tốt nhất

Tỷ lệ vòng quay tổng tài sản càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp tạo được càng nhiều doanh thu trên mỗi đơn vị giá trị tài sản, doanh nghiệp hoạt động

có hiệu quả và ngược lại

d Vòng quay hàng tồn kho:

Vòng quay hàng tồn kho =

Trang 29

Vòng quay hàng tồn kho là số lần hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ, là chỉ số đo lường năng lực quản trị hàng tồn kho của một doanh nghiệp Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua từng năm để đánh giá được năng lực quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp đó

Tỷ số vòng quay hàng tồn kho càng cao chứng tỏ doanh nghiệp lưu thông hàng hoá tốt và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều Ngược lại nếu hệ số giảm qua các năm, cho thấy doanh nghiệp đang gặp rủi ro với khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính Tuy nhiên nếu chỉ số này quá cao cũng không tốt vì như vậy có nghĩa là hàng dự trữ trong kho không nhiều Vòng quay hàng tồn kho nên ở mức đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất cho doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Tỷ số này cao chứng tỏ doanh nghiệp đã tạo ra lượng doanh thu thuần nhiều hơn số tài sản cố định, tình hình hoạt động của công ty tốt và hoạt động đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp là hợp lý Nếu hệ số vòng quay tổng tài sản không cao cho thấy năng lực kinh doanh của công ty không mạnh, hiệu suất sử dụng tài sản cố định thấp

e Vòng quay tài sản lưu động:

Vòng quay tài sản lưu động =

Trang 30

Hệ số vòng quay tài sản lưu động là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp thông qua mối quan hệ giữa doanh thu thuần

và số tài snar lưu động bình quân bỏ ra trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết với một đồng tài sản lưu động bình quân trong năm sẽ tạo ra bao nhiêu đồng đồng doanh thu Số vòng quay tài sản lưu động trong kỳ càng cao, doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả

1.4.4 Tình hình sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp:

Trong doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính là một chỉ tiêu quan trọng trong quá trình kinh doanh và sản xuất Nói cách khác, đòn bẩy tài chính là hình thức vay mượn tài sản của cá nhân hoặc tổ chức nhằm đem lại lợi nhuận cho

cá nhân hoặc tổ chức đi vay mượn Trong trường hợp tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng vốn chủ sở hữu, đòn bẩy tài chính cao Ngược lại, nếu tỷ trọng

nợ phải trả thấp hơn tỷ trọng vốn chủ sở hữu thì đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp Ngoài ra, những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính bằng không hoặc không có đòn bẩy tài chính, chứng tỏ doanh nghiệp đó không mắc

nợ Các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính khi vốn chủ sở hữu không đủ

để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, tuy nhiên doanh nghiệp nên cân nhắc kĩ rằng khi sử dụng đòn bẩy tài chính, lợi nhuận phải cao hơn lãi suất vay nợ

Trong quá trình phát triển, nếu đòn bẩy tài chính được sử dụng hiệu quả và đúng cách sẽ mang lại lợi thế lớn cho doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình sinh , mang lại hiệu quả đáng kể Tuy nhiên, nếu lạm dụng đòn bẩy tài chính quá mức, doanh nghiệp có nguy cơ phải đối mặt với tình trạng vỡ nợ, lợi nhuận thu về không đủ để trả các khoản nợ vay dẫn đến phá sản

- Công thức đo lường mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính:

Hệ số nợ =

Trang 31

Doanh nghiệp có hệ số nợ cao chứng tỏ doanh nghiệp đó có đòn bẩy tài chính ở mức độ cao và ngược lại

- Mức độ tác động của đòn bẩy tài chính:

DFL =

Trong đó: Độ lớn của đòn bẩy tài chính là DFL Lợi nhuận trước thuế và lãi vay là EBIT Lãi vay phải trả là I

- Công thức đo lường sự tác động của đòn bẩy tài chính đến sự thay đổi

tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp:

Tỷ lệ thay đổi của tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

=

Công thức trên cho thấy đòn bẩy tài chính thể hiện cách thức sử dụng

nguồn vốn của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình phân tích tài chính của doanh

và xử lý thông tin phù hợp và chính xác phụ thuộc rất nhiều vào trình

độ của cán bộ thực hiện phân tích Từ các số liệu của bảng báo cáo tài chính, các nhà phân tích phải thực hiện tính toán các chỉ tiêu, thiết lập bảng biểu, tạo lập mối quan hệ giữa các chỉ tiêu, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Hơn thế nữa, nhiệm vụ của các nhà phân tích

là xác định điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp

Trang 32

 Đội ngũ cán bộ:

Các cán bộ làm việc trong doanh nghiệp yêu cầu có khả năng chuyên môn hoá cao, năng động, biết tiếp thu học hỏi kiến thức mới, năng động và biết tận dụng các cơ hội kinh doanh Đội ngũ cán bộ phải đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, hoàn thành tốt công việc được giao và trung thành hướng đến sự phát triển của doanh nghiệp

- Cơ sở vật chất của doanh nghiệp:

Để đem lại hiệu quả chính xác và tiết kiệm thời gian, doanh nghiệp cần ứng dụng tốt kỹ thuật, công nghệ và quá trình phân tích tài chính Cơ

sở vật chất của doanh nghiệp thể hiện nguồn tài sản cố định mà doanh nghiệp đã huy động vào quá trình kinh doanh Bên cạnh đó, cơ sở vật chất của doanh nghiệp thể hiện thế mạnh và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp đó

Kiểm toán và thống kê cũng là yếu tổ ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp, mang lại số liệu chính xác và thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình phân tích tài chính, đảm báo tính trung thực

và khách quan cho các số liệu trong công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp

1.5.2 Nhân tố khách quan:

Trang 33

Đối thủ cạnh tranh là yếu tố ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ khó phát triển toàn diện nếu không xác định được đối thủ cạnh tranh mạnh hơn Đối thủ cạnh tranh bao gồm các nhà sản xuất, kinh doanh cùng sản phẩm của doanh nghiệp hoặc sản phẩm có khả năng thay thế Cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp có thể nâng cao chất lượng hoạt động của mình, đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn, doanh nghiệp có cạnh tranh mới có khả năng hoàn thiện mình và tồn tại được trên thị trường kinh đoanh

- Nguồn cung ứng của doanh nghiệp:

Nguồn cung ứng có ảnh hưởng tới doanh nghiệp khá lớn Nguồn cung ứng của mỗi công ty từ các doanh nghiệp sản xuất trong, ngoài nước và thực hiện cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp đó Điều đó được thể hiện trong các hợp đồng cung ứng, độ tin tưởng về chất lượng hàng hoá, giá cả sản phẩm, thời gian và địa điểm

- Các chính sách và yêu cầu của Nhà nước:

Trong nền kinh tế hiện nay, bất kỳ một ngành nghề nào cũng phải tuân thủ theo các chính sách của Nhà nước Các chính sách của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của doanh nghiệp Các nhà phân tích tài chính sử dụng các chính sách của Nhà nước để thực hiện phân tích tài chính, nhằm đảm bảo sự phù hợp và sát thực tế cho các kết quả phân tích Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước còn định hướng phát triển cho công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp trong tương lai

- Yếu tố khách hàng:

Khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định vị trí của doanh nghiệp trên nền kinh tế thị trường Khách hàng là những đối tượng có nhu cầu phong phú tuỳ theo mức thu nhập, độ tuổi và các yếu

tố khác nhau, có khả năng thanh toán và chi trả cho mặt hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Mỗi đối tượng khách hàng có

Trang 34

một đặc trưng riêng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính sách rõ ràng đáp ứng nhu cầu của từng nhóm cho phù hợp

Trang 35

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THAN HÒN

GAI GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2017 ĐẾN NĂM 2019

2.1 Tổng quan về Công ty Than Hòn Gai:

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:

Công ty Than Hòn Gai – TKV, tiền thân quản lý toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty Pháp Mỏ than Bắc Kỳ (SFCT), Công ty ra đời vào tháng 8 năm 1888, quản lý và khai thác toàn bộ vùng Hòn Gai, Cẩm Phả

Sau khi Pháp rút khỏi vùng mỏ, ngày 15/5/1955, Xí nghiệp Quốc doanh than Hòn Gai (nay là Công ty Than Hòn Gai) được thành lập và tiếp quản toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ do Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ (SFCT) để lại

Năm 1986 Công ty Than Hòn Gai đã đứng vững và vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt của cơ chế thị trường, bắt đầu công cuộc đổi mới theo nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Cũng năm này Liên hiệp than Hòn Gai tách ra thành 3 công ty đó là: Công ty than Hòn Gai, Công ty than Cẩm Phả và Công ty Cơ khí mỏ

Tháng 10/1994 có 15 đơn vị tách khỏi Công ty trực thuộc Tổng Công ty than Việt Nam Công ty than Hòn Gai chỉ còn lại 8 đơn vị nhỏ: mỏ Tân Lập,

mỏ Cao Thắng, mỏ Hà Trung, mỏ Hà Khánh, mỏ Cao Xanh, mỏ Cái Đá, Xí nghiệp than 917 và Xí vận tải than Hòn Gai Thời điểm này Công ty than Hòn Gai bị co hẹp diện khai thác, sản lượng chủ yếu là khai thác nhỏ

Năm 2013: theo quyết định 314/QĐ -TTg ngày 07/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tái cơ cấu ngành than, Hội đồng thành viên Tập đoàn TKV đã

ra các Quyết định bao gồm: Số 2363/QĐ -Vinacomin ngày 17/12/2013 giải thể Công ty TNHH1TV than Hòn Gai -Vinacomin; Số 2362/QĐ -Vinacomin ngày 17/12/2013 thành lập Tập đoàn Công nghiệp than - Khoáng sản Việt

Trang 36

Nam - Công ty than Hòn Gai - TKV; Chính thức vào ngày 01/12/2013 chuyển đổi từ Công ty 2 cấp thành Công ty 1 cấp Và từ ngày 01/01/2014 Công ty trở thành Chi nhánh Tập đoàn TKV

Quyết định số: 2364/QĐ -Vinacomin ngày 17/12/2013 phê duyệt Điều lệ

tổ chức và hoạt động của Công ty Với thông tin giao dịch đầy đủ về Công ty như sau:

- Tên doanh nghiệp: Chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - Công ty than Hòn Gai – TKV

- Tên rút gọn: Công ty than Hòn Gai-TKV

- Tên giao dịch: Vinacomin - Hongai Coal Company

- Tài khoản ngân hàng số: 102010000222062 Ngân Hàng Công

Thương Quảng Ninh

- Mã số thuế: 5700100506

2.1.2 Các ngành nghề kinh doanh

Theo điều lệ và giấy phép đăng ký kinh doanh, cơ bản Công ty Than Hòn Gai gồm các ngành nghề như sau:

- Khai thác, chế biến kinh doanh than và các loại khoáng sản khác

- Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng khác

- Vận tải hàng hóa đường bộ, đường sắt, đường thuỷ

- Vận tải hành khách đường bộ nội và ngoại thành

- Bốc xếp hàng hóa và hoạt động dịch vụ vận tải thủy

Trang 37

- Lắp đặt hệ thống điện, máy móc thiết bị, sản phẩm cơ khí, thiết bị mỏ

và các thiết bị công nghiệp khác

- Hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật liên quan xây dựng mỏ

- Sửa chữa thiết bị, máy móc, xe vận tải

- Sản xuất vật liệu xây dựng, bê tông, sản phẩm phi kim

- Gia công cơ khí, xử lý, sửa chữa và tráng phủ kim loại

- Sản xuất nước uống không cồn, nước tinh khiết, nước khoáng vệ sinh nhà cửa, cảnh quan

- Nhà hàng, dịch vụ nhà hàng, dịch vụ ăn uống, lữ hành nội địa và quốc

tế

- Sản xuất hàng bảo hộ lao động

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty

Kể từ ngày 01/01/2014, theo chủ trương của Tập đoàn, Công ty TNHH 1

TV than Hòn Gai - Vinacomin thực hiện tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tổ chức từ công ty 2 cấp thành công ty một cấp và là đơn vị hạch toán phụ thuộc của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam với tên gọi mới là Chi nhánh tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - Công ty than Hòn Gai (Viết tắt là Công ty than Hòn Gai - TKV) Hiện tại Công ty có 32 đầu mối hoạt động Trong đó bao gồm 10 phòng ban và 22 đơn vị sản xuất trực thuộc Công

ty

Hình 1.1.3 Tổ chức của Công ty Than Hòn Gai hiện nay

(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính Công ty Than Hòn Gai)

Trang 38

Phó GĐ Sản xuất

Phó GĐ Đời sống

Phó GĐ Dự án

Phó GĐ CD -VT

Phó GĐ Tổ chức lao động

Phân xưởng Sàng tuyển chế biến

Phân xưởng số 1 Thành Công Phân xưởng số 3 Thành Công

Phân xưởng số 3 Thành Công

Phân xưởng số 5 Thành Công Phân xưởng số 6 Thành Công

Phân xưởng

CĐ-VT TC

Phân xưởng Bắc Bàng Danh

Phân xưởng Khai thác Cao Thắng

Phân xưởng Vận Tải số 2

Phân xưởng Vận Tải số 1

Phân xưởng KT

Lộ Thiên

Phân xưởng Thông Gió

2 Giáp Khẩu

Trang 39

Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận

Giám đốc Công ty: Giám đốc là người đứng đầu, người điều hành hoạt

động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Giám đốc công ty có quyền

và nghĩa vụ quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của Công ty, tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động kinh doanh, kiến nghị các phương án, bổ nhiệm các chức danh trong Công ty đồng thời quyết định lương và phụ cấp cho nhân viên

Phó giám đốc sản xuất: Là người hỗ trợ Giám đốc điều hành sản xuất, lập

kế hoạch tổ chức hoạt động sản xuất , quản lý máy móc trang thiết bị của Công ty, điều hành lệnh sản xuất và quản lý chất lượng của sản phẩm

Phó giám đốc kỹ thuật: Là người hỗ trợ cho Giám đốc trong công việc

điều hành sản xuất, định hướng phát triển kỹ thuật, đưa ra các giải pháp kỹ thuật giúp cải thiện sản lượng và chất lượng sản phẩm đầu ra ở các xưởng Phân công, giám sát, điều hành quy trình sản xuất trong Công ty

Phòng kỹ thuật: Là phòng ban trực thuộc giám đốc có nhiệm vụ tham

mưu cho Giám đốc trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, môi trường, nghiên cứu kiểm tra chất lượng sản phẩm, nguyên vật liệu đầu vào, đưa ra các định mức sản phẩm

Phòng kế hoạch: Là phòng ban trực thuộc giám đốc có chức năng tham

mưu trong lĩnh vực xây dựng kế hoạch điều hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, cung ứng đầu vào, quản lý nguyên vật liệu và nghiên cứu thị trường chọn lựa mục tiêu và tìm đối tác kinh doanh cho Công ty

Phòng vật tư: Chức năng của phòng vật tư là tham mưu cho Giám đốc

Công ty về công tác quản lý, mua sắm bảo quản và cung cấp các vật tư, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Đồng thời theo dõi và quản lý thiết bị, tổ chức sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị định kì, kiểm tra và xử lý các thiết bị hư hỏng hoặc không còn khả năng sử dụng

Trang 40

2.1.4 Phân tích mô hình SWOT của Công ty Than Hòn Gai:

Hình 1.1.4 Hình ảnh phân xưởng chế biến, Công ty Than Hòn Gai

(Nguồn: Báo Quảng Ninh)

a Điểm mạnh

- Công ty Than Hòn Gai - TKV là một trong số những đoàn công tác trong Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam thường xuyên đến tham quan, học tập đồng thời trao đổi kinh nghiệm với các doanh nghiệp cùng ngành

- Doanh nghiệp đầu tư tích cực cho công tác kỹ thuật, công nghệ mỏ, công tác quy hoạch và chuẩn bị đủ điều kiện cho khai thác than, đảm bảo tài nguyên cho quá trình sản xuất

- Bên cạnh đó Công ty Than Hòn Gai còn thực hiện tốt các biện pháp truyền thông, đặc biệt chăm lo chu đáo, thiết thực đến đời sống cán bộ, công nhân viên về cả vật chất lẫn tinh thần, đảm bảo đủ việc làm cho người lao động

- Xí nghiệp phát triển kinh doanh dựa trên tầm nhìn, sứ mệnh và năng lực

Ngày đăng: 30/08/2021, 07:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w