Tuy nhiên, hiệp định về việc áp dụng các Biện pháp về An toàn Vệ sinh thực phẩm và Kiểm dịch động thực vật SPS cùng với hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại TBT là một tron
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng hội nhập, toàn cầu hoátđang diễn ra vô cùng mạnh mẽ và trở thành một xu thế tất yếu khách quan trên thế giới, biểu hiện là sự xuất hiện của các tổ chức quốc tế, cáctliên kết khu vực và liên minh kinh tế, Hoà mình trong xu thếtchung đó, chúng ta cũng tham gia rất nhiều tổ chức trong đó phải
kể đến Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO từ ngày 11/1/2007, sau hơn 10 năm tham gia tổ chứctnày chúng ta đã nhận được nhiều cơ hội lớn cũng như phảitđối mặt với vô vàn thách thức và rào cản Đặc trưng của WTO
là đảm bảotcác nước thành viên thực thi các cam kết đã ký trong hiệp định Một trong nhữngthiệp định mà chúng ta cần quan tâm đặc biệt đó là Nhóm hiệp định hàng rào kỹ thuật Mặc dù nhóm hiệp định này nhằm đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng hàng hoá xuất khẩu, bảo đảmtsức khoẻ con người
và kiểm dịch động thực vật nhưng các quốc gia nhập khẩu có thể dùng nhóm hiệp định nàytnhư một rào cản thương mại trá hình WTO đã yêu cầu các nước thành viên, thông qua nhómthiệp định, phải áp dụng các biện pháp sao cho không cản trở đến mục tiêu tự do hoátthương mại mà WTO đã đề ra Tuy
nhiên, hiệp định về việc áp dụng các Biện pháp về An toàn Vệ sinh thực phẩm
và Kiểm dịch động thực vật (SPS) cùng với hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) là một trong các hiệp định có tính phức tạp nhất,
xét cả về mặt kỹ thuật lẫn pháp lý, đặc biệt là đối với các quốc gia thuộc nhómtnước đang phát triển như Việt Nam Chúng ta gặp khó khăn do thiếu vốn, nguồn nhân lực, trình độ khoa học - kỹ thuật hạn chế nên không thể đáp ứng đầy đủ những yêu cầu mà quốc gia nhập khẩu đề ra Mặc dù, hiệp định SPS và hiệp định TBT được tồn tại độc lập và riêng rẽ nhưng cả hai hiệp định đều liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, nằm trong các biện pháp phi thuế quan Mục đích của hai hiệp định này đều là ngăn chặn các rào cản thương mại
Trang 22
không công bằng Hơn nữa, WTO còn đưa ra những quy định đối xử đặc biệt
và khác biệt dành riêng cho nhóm nước đang phát triển (S&D) trong lĩnh vực này Cả hiệp định SPS và hiệp định TBT đều có những đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển và kém phát triển Trường hợp cụ thể là bao gồm khung thời gian áp dụng dài hơn cho một số nghĩa vụ trong nhóm hiệp định, các nước đang phát triển sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế thích hợp Cùng với đó, nhằm nâng cao năng lực của các nước đang phát triển trong quá trình thực thi hiệp định thì nhóm hiệp định cũng yêu cầu các nước phát triển phải có trợ giúp kỹ thuậttđối với các nước này
Trên cơ sở đó, em quyết định lựa chọn đề tài: “Tác động của nhóm Hiệp định Hàng rào Kỹ thuật WTO đối với hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam Bài học kinh nghiệm từ các nước Đông Nam Á và khả năng áp dụng cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của
mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu nội dung cơ bản của Nhóm hiệp định Hàng rào kỹ thuật WTO vàtyêu cầu của hiệp định đối với các nước thành viên, đề tài nhằm mục tiêu phân tích quy định vềtnhững đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển, học hỏi kinh nghiệm trong việc nỗ lực tuân thủ các hiệp định TBT/SPS từ một sốtnước bạn ở Đông Nam Á Từ đó đề xuất một số giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt cam kết của mình trong nhóm hiệp định hàng rào kỹ thuật và sử dụngttối ưu những quy định trong S&D để đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu, phát triển kinh tế
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến nhóm hiệp định hàng rào kỹ thuật và các quy định về những đối xử đặc biệt và khác biệt của nhóm hiệp định dành cho nhóm nước đang phát triển Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu còn là thực trạng thực thi nhóm hiệp định và các quy định về S&D
Trang 33
của một sốtnước đang phát triển ở Đông Nam Á Bên cạnh đó, thực tiễn thực thi nhóm hiệp định hàng rào kỹ thuật và khả năngtáp dụng những quy định về
S&D ở Việt Nam cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:
(i) Hệ thống hoá và phân tích những nội dung cơ bản của nhóm hiệp định hàng rào kỹ thuật, những quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển
(ii) Tìm hiểu kinh nghiệm trong việc thực thi nhóm hiệp định hàng rào
kỹ thuật của một số nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam Á và thực
tế áp dụng quy định về S&D của họ
(iii) Sau khi đánh giá tình hình thực thi nhóm hiệp định hàng rào kỹ thuật
ở Việt Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết của mình trong nhóm hiệp định cũng như vận dụng tối đa những ưu tiên của quy định về S&D
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở lĩnh vực thương mại và chính sách
pháp lý của nhóm hiệp định hàng rào kỹ thuật
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài luận văn này, em sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê,
mô tả dựa trên các nguồn thông tin, dữ liệu thứ cấp Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, đối chiếu các nguồn dữ liệu có được để có thể đi đến kết luận, đưa ra đánh giá xác đáng, có giá trị khoa học,
đồng thời đảm bảo tính cấp thiết, toàn diện về đối tượng nghiên cứu
7 Cấu trúc khóa luận
Nội dung của luận văn gồm 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về nhóm Hiệp định Hàng rào kỹ thuật WTO
Trang 44
Chương 2: Thực tiễn triển khai nhóm Hiệp định Hàng rào kỹ thuật tại Việt Nam và bài học kinh nghiệm của một số nước đang phát triển ở Đông Nam Á
Chương 3: Một số đề xuất giải pháp giúp Việt Nam thực hiện tốt các cam kết trong nhóm Hiệp định Hàng rào kỹ thuật WTO
Trang 55
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHÓM HIỆP ĐỊNH HÀNG
RÀO KỸ THUẬT WTO 1.1 Tổng quan về nhóm Hiệp định Hàng rào kỹ thuật WTO
1.1.1 Định nghĩa về Hiệp định trong WTO
1.1.1.1 Giới thiệu về WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hoạt động từ ngày 01/01/1995 với mụcttiêu thiết lập và duy trì một nềntthương mại toàn cầu tự do, thuận lợi và minh bạch Tổ chức kếtthừa và phát huy các quy định, thựcttiễn thực thi Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan – GATT 1947 (ở thươngtmại hàng hoá) WTO là tổ chức đặc trưng bởi hệtthống các Hiệp định Hầu hết các Hiệp định trongtkhuôn khổ WTO là kết quả của Vòngtđàm phán Uruguay (1986 – 1994), ký kết tại Hội nghị Bộttrưởng Marrakesh tháng 4 năm 1994 Văn kiện cuối cùng là kết quả bao trùm về Thương mại đa biên Đầu tiên phải kể đến Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mai Thế giới, hiệp định khái quát này bao gồm rất nhiều quy định được sắp xếp theo hệtthống nhất định Các vấn đề
cụ thể được nêu tại các phụtlục về hàng hóa, dịch vụ, và sởthữu trí tuệ; phụ lục về giải quyếtttranh chấp, cơ cơ chế rà soát chínhtsách thương mại và phụ lục về các hiệp định nhiều bên
Tính đến ngày 29/07/2016, tổ chức WTO có 164 thành viên Thành viên của WTO là các quốc gia như Việt Nam hoặc các vùng lãnh thổ tự trị về quan
hệ ngoại thương (EU, Đài Loan, ) Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 07/11/2006 và ngày 11/01/2007 tại Geneva, Việt Nam được công nhận là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO Việc gia nhập WTO được coi làtmột bước ngoặt trọng đại, mở ra cơ hội lớn cho hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam vươn
ra tầm cỡ quốc tế
Trang 66
1.1.1.2 Các hiệp định cơ bản của WTO
Định nghĩa về Hiệp định
Theo các định nghĩa cơ bản Hiệp định được hiểu là bản giao ước do hai
hay nhiều nước ký kếttnhằm thoả thuận hoặc giải quyết vấn đề quan trọng như chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá,
Ví dụ: Hiệp định Genève 1954, Hiệp định Paris 1973, Hiệp định chung
về Thương Mại và Thuế quan (GATT) 1947
Định nghĩa về Hiệp định thương mại đa phương
Trong WTO, thuật ngữ về “hiệp định” dẫn chiếu tới các hiệp định và các văn kiện pháp lý đi kèm của Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại thế giới
Các hiệp định thương mại đatphương được ví là trái tim của hệ thống thương mại đa phương Các hiệp định này được các quốc gia thành viên đưa
ra đàm phán, ký kết và thông qua; tạo nềnttảng pháp lý cho hoạt động thương mại quốc tế, đảm bảo các quyền quan trọng liên quan đến thươngtmại của các thành viên; đồng thời cũng là những cam kết ràngtbuộc chính phủ các nước thành viên áptdụng các chính sách thương mại trong phạmtvi đã thống nhất Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) được ký kết vào
năm 1947 có thể coi là hiệp định Thương mại đa phương đầu tiên
Dưới đây là bảng các hiệp định của WTO:
Trang 77
Bảng 1.1 Tổng quan về các nhóm Hiệp định chính trong WTO
Hàng hoá (Goods)
Dịch vụ (Services)
Sở hữu trí tuệ (Intellectual property)
Phụ lục 4
Nhóm hiệp định nhiều bên
Phụ lục 1B
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
Phụ lục 1C
Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu trí tuệ
Cam kết
thị trường
Biểu cam kết của các nước
Biểu cam kết riêng của các nước (và miễn trừ MFN)
Giải quyết
tranh chấp
Phụ lục 2 – Thoả thuận về các quy tắc và
thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU)
Trang 88
1.1.2 Nhóm Hiệp định Hàng rào Kỹ thuật WTO
Ở bảng 1.1, phụ lục 1A là một trong những phần quan trọng thể hiện Hệ thống các Hiệp định đatphương về Thương mại hàng hoá 13 hiệp định chính được chia vào các nhóm nhỏ như bảng 1.2
Bảng 1.2 Nhóm các Hiệp định trong phụ lục 1A về Thương mại Hàng
Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại (TBT)
Hiệp định về việc Áp dụng các Biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và Kiểm dịch động thực vật (SPS)
Nhóm Quản lý Nhập khẩu
Hiệp định về các Thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP)
Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ (ROO)
Nhóm Hải quan
Hiệp định về Giám định trước khi gửi hàng (PSI)
Hiệp định Xác định Trị giá Hải quan (ACV)
Nhóm Biện pháp
tự vệ
Hiệp định Chống bán Phá giá (ADP) Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM)
Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ (ASG)
Nhóm Chuyên ngành
Hiệp định Nông nghiệp (AOA) Hiệp định về hàng Dệt may và May mặc (ATC)
Nhóm Đầu tư Hiệp định về các Biện pháp đầu tư liên quan
đến Thương mại (TRIMS)
(Nguồn: Understanding the WTO: Agreements (Overview), wto.org)
Trang 99
Bảng 1.2 đã đề cập nhóm hiệp định Hàng rào kỹ thuật WTO bao gồm 2 hiệp định chính là Hiệptđịnh về các Hàng rào Kỹ thuật trong Thươngtmại và Hiệp định về việc Áp dụng các biện pháp Vệtsinh an toàn thực phẩm và Kiểm dịch động thực vật
1.1.2.1 Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại (TBT)
Trong tài liệu chính thức của WTO cung cấp, Hiệp định về biện pháp
kỹ thuật trong thương mại (tên đầy đủ theo tiếng Anh là Agreement on
Technical Barriers to Trade), được viết tắt là hiệp định TBT, đưa ra các nguyên tắc và điều kiện mà các nướctthành viên WTO phải tuân thủ khi ban hành và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá hợp chuẩn, hợp quy của hàng hoá Đó là những nội dung về quy chuẩn/ tiêu chuẩn kỹtthuật bao gồm: các đặc tính của sản phẩm (bao gồm cả đặc tính về chất lượng); các quy trình và phương pháp sản xuấttcó ảnh hưởng/ tác động đến đặc tính của sản phẩm; các thuậttngữ, ký hiệu; các yêu cầu về đóng gói, ghi nhãn mác áp dụng cho sản phẩm,
Mục tiêu của Hiệp định TBT
Mục tiêu chính của hiệp định TBT là nhằm đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật
và chất lượng đới với mặtthàng xuất khẩu, tránh những hành vi gian lận
Ủy ban TBT, bao gồm tất cả các thành viên WTO, là diễn đàn đa phương duy nhất cho việc thảotluận các tiêu chuẩn và các quy định liêntquan đến thương mại Trong vòng 20tnăm trở lại đây, nó đã phát triển theo hướng tiếp cận ba mục tiêu trọng tâm về thông báo, các mối quan ngại trong thương mại
và hợpttác thương mại giữa các nước
Việc thông qua hiệp định TBT trong khuôn khổ WTO là nhằm thừa nhận
sự cần thiết của các biệntpháp kỹ thuật đồng thời kiểm soát các biệntpháp này sao cho chúng được các nước thành viên sửtdụng đúng mục đích và không trở thành công cụ bảo hộ
Nhằm đảm bảo các yêu cầu đó khôngtgây ra những cản trở không cần thiết cho thươngtmại, hiệp định TBT quy định chúng phải được áp dụng nhằm
Trang 1010
các mục đích chính đáng Các mục tiêu cơ bản mà cáctquốc gia có thể áp dụng các quy định kỹtthuật theo hiệp định TBT bao gồm:
Đảm bảo an ninh quốc phòng
Ngăn chặn hành vi lừa đảo, gian lận Cụ thể: Hiệp định TBT tìm
cách để đảm bảo rằng các kết quả đàm phàn và tiêu chuẩn kỹ thuật, cũng như là quy trình kiểm tra và cấp giấy phép không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với thương mại, các nước thành viên khuyến khích sự phát triển của các tiêu chuẩn quốc tế và hệ thống đánh giá tính phù hợp để phòng chống và ngăn ngừa tình trạng gian lận
Tiêu chuẩn hoá chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển
Hài hoà sự khác biệt trong tiêu chuẩn khác nhau của các nước Cụ
thể: Hiệp định TBT “hài hoà hoá” bằng các nguyên tắc chung mà các nước phải tuân thủ khi thông qua và thực thi các biện pháp kỹ thuật đối với hàng hoá, khuyến khích các nước thành viên tham gia hoàn thiện hơn các tiêu chuẩn và sử dụng các tiêu chuẩn đã được chấp
thuận chung làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật nội địa của mình
Bảo vệ sức khoẻ và tính mạng con người
Bảo vệ môi trường
Và các mục tiêu khác
1.1.2.2 Hiệp định về việc Áp dụng các Biện pháp Vệ sinh an toàn thực phẩm và Kiểm dịch động thực vật (SPS)
Hiệp định về việc Áp dụng các Biện pháp Vệ sinh an toàn thực phẩm
và Kiểm dịch động thực vật (tên đầy đủ theo tiếng Anh là Agreement on
Sanitary and Phytosanitary Measures), được viết tắt là hiệp định SPS, được xây dựng nhằm tạo khung pháp lý điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật liên quan đến các mặt hàng nông sản thuộc đối tượng của thương mại giữa các nước thành viên
Trang 1111
WTO Cùng với các hiệp định đa phương khác, hiện định SPS được ban hành nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá thương mại trên cơ sở cạnh tranh công bằng và bình đẳng
Mục tiêu của Hiệp định SPS
Nhằm thi hành các biện pháp bảo vệ sức khoẻ, cuộc sống con người, động thực vật, với yêu cầu là các biệntpháp đó không được áp dụng theo cách thức có thể tạo ra sự phântbiệt đối xử giữa các thành viên có điều kiện giống nhau hoặc như một rào cản thương mại tráthình
Nhằm xây dựng các nguyên tắc, luật lệ làm chuẩn mực chung để hướng dẫn các thành viên xâytdựng, lựa chọn và áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật Hiệp định công nhận rằng các Chính phủ có quyền sửtdụng các biện pháp kiểm dịchtđộng thực vật, nhưng các biện pháp đó chỉ nên được áptdụng ở mức độ cần thiết để bảotvệ con người, vật nuôi hoặc câyttrồng hay sức khỏe và không phân biện đối xửtmột cách tùy tiện và vô căn cứ giữa các thành viên khi có các điềutkiện giống nhau hoặc tương tự Tuy nhiên, trên thực tế, trong một số trường hợp các biện pháp này đã bị lạmtdụng, gây ra cản trở bất hợp lý cho thươngtmại quốc tế (ví
dụ nước nhập khẩu đặt điềutkiện, tiêu chuẩn SPS quá cao khiến hàng hoá nước ngoài khó có thể thâmtnhập vào thị trường nội địa)
Nói chung, nhờ mức độ hàithoà hoá cao và áp dụng các tiêu chuẩn quốc
tế, thương mại giữa các nước sẽ trở nên thuậntlợi và dễ dàng hơn Vì vậy, sự
ra đời của hiệp định SPS là cần thiết và nó giúp cho thương mại tăng trưởng
mà vẫn đảm bảo an ninh sứctkhoẻ con người và động thực vật Cùng với hiệp định TBT, hiệp định SPS đã đưa ra các quyttắc có mục tiêu cơ bản là nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm, ngăn chặn các bệnhttật lây truyền qua động vật không cho nhập khẩu vào một quốc gia
1.2 Yêu cầu của nhóm Hiệp định Hàng rào kỹ thuật
Nhóm hiệp định Hàng rào kỹ thuật yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo 5 nguyên tắc chung của các hiệp định mà WTO đã đề ra, đó là:
Trang 1212
Không phân biệt đối xử: Nghĩa vụ đối xử Tối huệ quốc (MFN) và Nghĩa vụ đối xử quốc gia (NT)
Thương mại tự do hơn: dần dần, thông qua đàm phán
Tính có thể dự đoán: thông qua đàm phán, cam kết ràng buộc và minh bạch Nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định và có thể dự đoán trong hệ thống thương mại đa phương
Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, quy định về việc giải quyết tranh chấp thương mại
Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế dành cho các nước đang và kém phát triển
Bên cạnh 5 yêu cầu chung, mỗi hiệp định sẽ có yêu cầu cụ thể dành cho các nước thành viên được biểu hiện thông qua các Điều luật trong Hiệp định, tác giả xin được nêu tóm tắt một số yêu cầu cơ bản ở dưới đây
1.2.1 Yêu cầu của hiệp định TBT đối với các nước thành viên
Hiệp định TBT đưa ra các nguyên tắc và điều kiện mà các nước thành viên WTO phải tuân thủ khi ban hành và áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn
kỹ thuật hay các quy trình đánh giá hợp chuẩn, hợp quy của hàng hoá
Dựa trên những nguyên tắc chung, nguyên tắc chính của hiệp định TBT bao gồm:
Không phân biệt đối xử
Hài hoà hoá
Minh bạch
Có tính đến các tiêu chuẩn quốc tế chung
Đảm bảo nguyên tắc tương đương và công nhận lẫn nhau
Tránh tạo ra rào cản thương mại không cần thiết đối với thương mại quốc tế
Theo hiệp định TBT, đối với các quy chuẩn kỹ thuật, nếu đã có những tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế chung liên quan thì các nước thành viên
Trang 13rõ rệt đến thương mại (so với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan), nước thành viên có nghĩa vụ:
Công bố dự thảo các quy chuẩn kỹ thuật;
Tạo cơ hội để các chủ thể liên quan được bình luận về dự thảo đó;
Cân nhắc các ý kiến bình luận trong quá trình hoàn thiện và thông qua các quy chuẩn kỹ thuật chính thức
Các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế thông dụng hiện nay do các tổ chức dưới đây ban hành: Tổ chức quốc tế và tiêu chuẩn hoá (ISO); Uỷ ban Kỹ thuật Điện tử quốc tế (IEC); Liên đoàn viễn thông quốc tế (ITU); Uỷ ban dinh dưỡng (CODEX)
Không thắt chặt hoạt động thương mại ở trên mức cần thiết, để đảm bảo
thực hiện mục tiêu chính sách Một biện pháp kỹ thuật được xem là ở mức cần thiết để bảo vệ các mục tiêu chính đáng nếu không còn bất kỳ một biện
pháp nào khác cho phép đạt được mục tiêu liên quan mà lại ít cản trở thương mại hơn và không vi phạm hoặc vi phạm ít hơn các quy định của WTO
Ví dụ: Vụ Thái Lan – các Biện pháp hạn chế nhập khẩu và Thuế nội địa đối với Thuốc lá điếu
Việc xác định một biện pháp kỹ thuật có gây ra cản trở không cần thiết đến thương mại hay không là rất phức tạp và cần sự hỗ trợ của các chuyên gia Tuy nhiên, đây lại là điều có ý nghĩa quan trọng với doanh nghiệp
bởi nếu chứng minh được một yêu cầu kỹ thuật không đáp ứng được nguyên tắc này của WTO, doanh nghiệp có thể sẽ không phải tuân thủ các
Trang 1414
yêu cầu đó (quốc gia áp dụng phải loại bỏ chúng theo các quy định của
WTO)
1.2.2 Yêu cầu của Hiệp định SPS đối với các nước thành viên
Theo WTO, hiệp định SPS quy định các nước thành viên khi ban hành
và áp dụng các biện pháp này phải tuân thủ nguyên tắc chính sau:
Hài hoà hoá
cứ khoathọc đầy đủ hay các kết quả phân tích rủi ro rõ ràng để có thể tiến hành các biện pháp ngăn chặntcần thiết, bởi nếu chậm trễ có thể sẽ là quá muộn (ví dụ để ngăn chặn dịch SARS hay cúm H5N1, người ta có thể tiến
hành các biện pháp ngăn chặn tại biên giới ngay từ lúc chưa xác định được đầy đủ và chính xác các thể của các virus liên quan, cách thức lây nhiễm cũng như hệ quả trực tiếp đến sức khoẻ…) Hiệp định SPS thừa nhận các
trường hợp này và cho phép các nước thành viên được phòngttránh sớm bằng những biện pháp SPS tạm thời, không phải đáp ứng các điều kiện về căn cứ khoa học
Thúc đẩy việc hài hoà hoá các biện pháp SPS giữa các nước thành viên trên cơ sở các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị do các tổ chức quốc tế đưa ra, bao gồm: Uỷ ban Codex, IOE, các tổ chức quốc tế và khu vực hoạt động theo Hiệp ước bảo vệ thực vật quốc tế (IPPC), mà không yêu cầu các nước thành viên phải thay đổi mức độ bảo vệ thích hợp Tuy nhiên, các thành
Trang 1515
viên có thể áp dụng và duy trì các biện pháp có tiêu chuẩn cao hơn nếu có chứng minh khoa học hoặc kết luận nguy cơ dựa trên đánh giá rủi ro Các thành viên sẽ chấp nhận các biện pháp SPS tương đương của các thành viên khác nếu Thành viên xuất khẩu chứng minh cho Thành viên nhập khẩu thấy rằng các biện pháp đó tương ứng với mức độ bảo vệ sức khỏe của thành viên nhập khẩu
Để đảm bảo tính minh bạch, WTO yêu cầu mỗi nước phải thiết lập một Điểm hỏi đáp về SPS (Entry Point on SPS) theo hiệp định Tại Điểm hỏi đáp, các doanh nghiệp được cung cấp thông tin chính xác và giải đáp các câu hỏi của mình Trang web chính thức của WTO có đầy đủ danh mục địa chỉ các Điểm hỏi đáp SPS của tất cả các thành viên
1.2.3 Những đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển và áp dụng cho nhóm Hiệp định Hàng rào kỹ thuật
Mục đích của những đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển ( S&D)
Trong số 164 nước thành viên của WTO, các nước đang và chậm phát triển chiếm hơn 2/3 tính đến tháng 7/2016 theo thông tin chính thức của WTO (2016) Sự tham gia ngày càng đông của các nước đang và chậm phát triển đã làm thay đổi mục tiêu củatWTO so với GATT Đó là phải “tích cực nỗ lực để đảm bảo rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia chậm phát triển nhất, duy trì được phần trăm tăng trưởng trongtthương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của họ”, theo như lời nói đầu của Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Điều này khẳng định rằng vị trí cũng như vai trò của các nước đang và chậm phát triển ngày càng được chútý hơn khi WTO ra đời Họ ngày càng có tiếng nói mạnh hơn qua các vòng đàm phán, tham gia xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng đối với thương mại toàn cầu Và một trong những kết quả cụ thể là WTO đã phải đưa ra Các quy định về Đối xử đặc biệt và khác biệt (tên đầy đủ theo tiếng Anh là Special and Diferential Treatment),
Trang 1616
gọi tắt là S&D, dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển Những quy định về S&D này thường mang tính giảm nhẹ so với những nghĩa vụ, những cam kết chung mà WTO quy định
Quy định về Những đối xửtđặc biệt và khác biệt (S&D) được nêu rõ trong các Điều của từng hiệp định, văn bản chính thức bằng tiếng Anh của hiệp định TBT/SPS được cung cấp đầy đủ trên website của WTO, dưới đây tác giả xin được nêu tóm tắt
Những quy định về S&D trong hiệp định TBT
Được trợ giúp kỹ thuật: Các thành viên là những nước đang phát triển sẽ
nhận được sự trợ giúp kỹ thuật theo các điều kiện và điều khoản đã được các bên thoả thuận của các thành viên khác, về việc thành lập các thể chế hoặc khung pháp lý nhằm giúp các thành viên đang phát triển hoàn thành các nghĩa
vụ là thành viên hoặc nghĩa vụ khi tham gia vào các hệ thống này
Nhận được các ưu đãi đặc biệt: Các thành viên đang phát triển sẽ nhận
được một số đối xử khác biệt từ các thành viên khác hay nhu cầu đặc biệt về tài chính, thương mại và phát triển trong việc thực hiện Hiệp định TBT từ các quy định của Hiệp định liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên đó
Nhận được quyền dành cho những ngoại lệ cụ thể về thời gian (một phần hoặc toàn bộ): Các nước thành viên đang phát triển được tạm thời không phải
thực hiện nghĩa vụ của hiệp định Đặc biệt đối với các nước thành viên chậm phát triển, Uỷ ban về Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại (gọi tắt là Uỷ ban)
sẽ xem xét để đảm bảo những nước này có thể tuân thủ Hiệp định TBT
Những quy định về S&D trong Hiệp định SPS
Được trợ giúp kỹ thuật: Các nước đang phát triển nhận được sự trợ giúp
trong các lĩnh vực công nghệ xử lý, cơ sở hạ tầng, Các thành viên cũng nhất trí cung cấp trình độ kỹ thuật, đào tạo và thiết bị để cho phép các nước đó điều chỉnh và tuân theo các biện pháp vệ sinh động thực vật cần thiết để có mức bảo vệ động thực vật phù hợp tại thị trường xuất khẩu của mình
Trang 1717
Trì hoãn áp dụng: Các quốc gia kém và đang phát triển được miễn trừ
một nghĩa vụ cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định Trì hoãn áp dụng 5 năm theo Điều khoản cuối cùng (Điều 14, Hiệp định SPS)
Trợ giúp trong việc theo dõi các thông báo: Ban Thư ký sẽ lập tức sao
chuyển thông báo đó tới tất cả các thành viên và các tổ chức quốc tế có quan tâm và lưu ý các thành viên đang phát triển về bất kỳ thông báo nào liên quan
đến sản phẩm mà họ quan tâm
1.3 Khó khăn và thuận lợi trong việc áp dụng Nhóm Hiệp định Hàng rào kỹ thuật đối với hoạt động xuất nhập khẩu của các thành viên đang và chậm phát triển
Hạn chế trong thương mại quốc tế tồn tại chủ yếu dưới dạng các rào cản thuế quan và phi thuế quan và mang tính phức tạp từ những năm 80 của thế kỉ
XX Coughlin và Wood (1989); Disdler, Fekadu, Murillo và Wong (2008) đã
chỉ ra rằng những quốc gia đang và chậm phát triển thường xuyên đối mặt với
sự gia tăng các biện pháp TBT/SPS từ các quốc gia phát triển và họ coi các biện pháp đó giống như một hình thức bảo hộ trá hình Theo như nghiên cứu
của Häberli (2008), các hiệp định thương mại như hiệp định TBT và SPS đưa
ra rất nhiều khó khăn và thách thức Chúng có thể bảo vệ doang nghiệp xuất khẩu khỏi việc lạm dụng hoặc phân biệt đối xử bởi quốc gia nhập khẩu Các nhà sản xuất và chế biến cần thích nghi và nắm bắt được thông tin cần thiết để
áp dụng kịp thời cho sản phẩm của mình trước khi xuất khẩu
1.3.1 Những khó khăn đối với các nước đang phát triển trong việc tuân thủ các biện pháp TBT/SPS
Người tiêu dùng thuộc các quốc gia công nghiệp hiện đại luôn quan tâm đặc biệt về thước đo an toàn thực phẩm, họ thực sự lo sợ về các cuộc “khủng hoảng” nghiêm trọng liên quan đến thực phẩm kém chất lượng Mối lo lắng của người tiêu dùng lớn dần trong khi đó thực phẩm kém chất lượng vẫn ngày một lan rộng làm lòng tin của họ bị xói mòn, điều này dẫn đến các biện pháp SPS ngày càng trở nên khắc nghiệt
Trang 1818
Đối với Việt Nam, có nhiều nghiên cứu cho thấy các thương gia và nhà sản xuất trong nước từng trải qua nhiều khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp thương mại khi xuất khẩu, nguyên nhân phổ biến là do sự thiếu hiểu biết sâu sắc về các quy định và việc thực thi (Phạm Quang Diệu – 2009, Nguyễn
Tú Cường – 2009), vấn đề thiếu hài hoà giữa chính quyền địa phương và cơ
sở hạ tầng trong sản xuất ở Việt Nam (Gascoine và Nguyễn Tú Cường, 2009)
Nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Yến và Nguyễn Hữu Khải (2007) đều cho rằng việc thực thi các quy định liên quan đến TBT/SPS bởi các cơ quan ban ngành khác nhau là không nhất quán, điều này dẫn đến những mâu thuẫn và
xung đột vì các thủ tục hành chính rườm rà và sự thiếu hợp tác giữa các ban
ngành Theo báo cáo của MOT (2009) và Gov (2009), các doanh nghiệp sản xuất/chế biến đều cho thấy sự thiếu nhận biết hoặc phớt lờ các biện pháp TBT/SPS
Steven Jaffee và cộng sự (2005) cùng với nghiên cứu của Phạm Thị
Hồng Yến (2011) chỉ ra rằng nhóm nước đang phát triển có hạn chế lớn về nguồn tài chính, thiếu trình độ khoa học-kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao Trong khi đó các biện pháp TBT/SPS từ các quốc gia công nghiệp
phát triển luôn đòi hỏi sản phẩm xuất khẩu phải đạt các tiêu chuẩn quốc tế riêng với những quy trình kiểm tra phức tạp, nghiêm ngặt Để đáp ứng được các biện pháp này, trước tiên các quốc gia đang phát triển cần đầu tư vào máy móc, thiết bị hiện đại, cơ sở hạ tầng với một chi phí chuyển đổi vô cùng lớn
và cần đào tạo đội ngũ nhân viên có trình độ để vận hành tốt quy trình sản xuất của sản phẩm Điều này là một khó khăn vô cùng lớn và mất rất nhiều thời gian để họ theo kịp tiến độ phát triển khoa học tiên tiến trên thế giới Bên
cạnh đó là các thủ tục kiểm tra phức tạp cùng với rào cản ngôn ngữ và sự thiếu cập nhật tình hình từ WTO khiến các quốc gia đang phát triển tốn nhiều
công sức để nỗ lực tuân thủ các quy chuẩn quốc tế
Trang 19hàng hoá
An toàn vệ sinh thực phẩm và kiểm dịch động thực vật nên được coi là
nhân tố cốt lõi trong cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là
trong khung cảnh thương mại hàng hoá chất lượng cao hiện nay Việc thực hiện và duy trì hiệu quả hiệp định SPS mang một tầm quan trọng lớn trong
việc làm tăng tính cạnh tranh của các nước đang phát triển trên thị trường
xuất khẩu
Về chi phí và lợi ích từ việc tuân thủ các tiêu chuẩn rất khó để khái quát hoá theo Steven Jafffee và cộng sự (2005) Chi phí thường dễ thấy hơn lợi ích nên nhiều doanh nghiệp thường nhầm lẫn rằng tuân theo các tiêu chuẩn này chỉ gây ra tốn kém nhưng lợi ích của việc tuân thủ các tiêu chuẩn ấy là dài hạn
và vô hình, trên thực tế là nếu làm theo các tiêu chuẩn này sẽ mang lại lợi ích đáng kể Chính vì vậy, các khoản đầu tư cần thiết không được khuyến khích
và các phương pháp chủ độngtbị cản trở làm tăng khả năng xảy ra các sự việc nghiêm trọng pháttsinh từ an toàn vế sinh thực phẩm hoặc sức khoả nông nghiệp Việc tuân thủ quy định này cũng giúp các doanh nghiệp tham gia được vào sân chơi quốc tế, nâng cao chất lượng và có lợi thế hơn với vai trò là một người chơi mới
1.4 Lựa chọn chiến lƣợc và cách tiếp cận các biện pháp TBT/SPS
Các nhà nghiên cứu luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi kinh nghiệm từ việc thực thi các biện pháp TBT/SPS của các quốc gia khác
Trang 2020
Hầu hết họ nghiên cứu ở tầm vĩ mô các kinh nghiệm từ Thái Lan, Trung Quốc, EU, và Nhật Bản (Phạm Thị Hồng Yến, 2011; Đinh Văn Thanh, 2012) Theo Hồ Thuý Ngọc và cộng sự tổng hợp, có 3 phương pháp tiếp cận được Thái Lan, Nhật Bản và Trung Quốc áp dụng, đó là ban hành những chính sách
và quy định cần thiết, củng cố khả năng của bộ máy chính quyền, thực hiện những chương trình nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng
Giải pháp chiến lược có thể được xây dựng bởi khu vực tư nhân hoặc bởi khu vực công, hoặc thông qua một số sự kiện đã có tiền lệ sau khi cân nhắc chi phí và lợi ích Khi một giải pháp từng được thực thi, các quốc gia sẽ có xu hướng yêu cầu sự thay đổi/ bổ sung các quy chuẩn sao cho phù hợp hoặc chấp nhận được trong môi trường thương mại
Sau khi nghiên cứu trường hợp của 9 quốc gia có thu nhập trung bình thấp điển hình, Steven Jaffee và cộng sự (2005) đã đưa ra 3 loại giải pháp đang có đối với các nước đang phát triển khi tiếp cận với việc áp dụng các tiêu chuẩn/ quy chuẩn quốc tế về vấn đề an toàn vệ sinh và kiểm dịch động thực vật, đó là:
Rút khỏi thị trường (Exit), tức là doanh nghiệp từ bỏ thị phần của
mình cho doanh nghiệp khác - những doanh nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn và sản xuất hiệu quả hơn (việc rút khỏi ngành kinh doanh cũng được coi là một hành động “exit”)
Tiếng nói riêng/ lên tiếng (Voice), hành động này được hiểu là khi
chính phủ hoặc nhà xuất khẩu của nước đang phát triển muốn gây ảnh hưởng để thay đổi những quy chuẩn mà họ đang phải đối mặt thông qua hành động đàm phán (với đại diện kỹ thuật của các quốc gia liên quan) hoặc thông qua những đơn kiện chính thức lên
hội đồng SPS của WTO
Tuân thủ/ chấp thuận (compliance), nhờ việc tuân thủ luật pháp,
áp dụng các thủ tục hành chính, kĩ thuật và các bước tổ chức đúng
Trang 2121
quy chuẩn doanh nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn đặt ra cho sản
phẩm và quy trình sản xuất của chúng
Về lý thuyết, các quyết định về rút lui (exit), tuân thủ (compliance) và lên tiếng (voice) phải dựa trên phân tích rủi ro, bao gồm cả việc xem xét chi phí và lợi ích Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển năng lực thực hiện còn yếu kém
Bảng 1.3 dưới đây trình bày một khung khái niệm cơ bản mô tả các chiến lược phản ứng như thế nào với các tiêu chuẩn Đề án này dựa trên các khái niệm về giải pháp chiến lược được phát triển bởi Hirschman (1970)1
Việc xây dựng năng lực có thể được xem là nỗ lực tối đa hóa các lựa chọn chiến lược cho cả chính phủ và khu vực tư nhân ở các nước đang phát triển khi phải đối mặt với các tiêu chuẩn mới và đặc biệt là khả năng sử dụng các chiến lược để tạo ra lợi thế cạnh tranh
1 Khung khái niệm của Hirschman được sử dụng để kiểm tra hành vi kinh tế-chính trị Tùy thuộc vào ngữ cảnh mà giải pháp rút lui có thể liên quan đến việc rời khỏi tổ chức, di cư hoặc ngừng mua sản phẩm của công ty Giải pháp lên tiếng liên quan đến việc phản đối hoặc vận động hành lang để thay đổi các quy tắc và luật pháp được đưa ra Đối với Hirschman, lòng trung thành liên quan đến việc tăng cường sự tham gia và phù hợp với mục tiêu và quy trình của một tổ chức/ quốc gia
Trang 22Dự đoán trước các tiêu chuẩn và rút lui khỏi một số thị trường nhất định
Tuân thủ/
chấp thuận
Chờ đợi các tiêu chuẩn được ban hành và sau đó tuân thủ theo
Dự đoán trước các tiêu chuẩn và tuân thủ trước thời gian ban hành
Lên tiếng Khiếu nại khi các tiêu
chuẩn được áp dụng
Tham gia vào quá trình thiết lập các tiêu chuẩn hoặc đàm phán/ thảo luận trước khi tiêu chuẩn được áp dụng
(Nguồn: Báo cáo số 31207 2 của World Bank)
Trong nhiều cuộc đối thoại liên quan đến các tiêu chuẩn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, chiến lược đơn lẻ được lựa chọn thường là giải pháp tuân thủ Các quốc gia (hoặc, chính xác hơn, các nhà cung cấp) được kỳ vọng sẽ tuân thủ các tiêu chuẩn ở các thị trường xuất khẩu chính Tất cả đều được đối xử bình đẳng, cách tiếp cận chủ động tạo ra tiềm năng lớn hơn nhằm quản lý sự tuân thủ bằng cách mang lại lợi ích chiến lược và giảm thiểu các hiệu ứng lan toả bất lợi về kinh tế và xã hội Cách tiếp cận chủ động có khả năng được chọn lựa các công nghệ khác nhau và các phương tiện tổ chức/
hành chính để đạt được các kết quả cần thiết, ta có thể gọi đó là lợi thế người
đi đầu
2 Bài báo cáo số 31207 của World Bank có tên đầy đủ tiếng Anh là “Food Safety and
Agricultural Health Standards, Challenges and Opportunities for Developing Country
Exports”, được tổng hợp từ một chương trình nghiên cứu có thời gian thực hiện từ tháng
10 năm 2002 đến tháng 5 năm 2004 và được ban hành ngày 10/02/2005, nghiên cứu trường hợp tiêu biểu từ 9 quốc gia có thu nhập trung bình - thấp
Trang 2323
Tùy thuộc vào bối cảnh mà tiến hành các bước khác nhau để nỗ lực tuân thủ các tiêu chuẩn Như các ví dụ điển hình dưới đây:
- Thay đổi pháp lý và quy định
- Cải cách thể chế và nâng cao tính trách nhiệm
- Tái cơ cấu chuỗi cung ứng và tăng cường kiểm soát sản xuất sơ cấp
- Thay đổi/ nâng cấp công nghệ sản xuất trong việc thu hoạch, chế biến
và xử lý sản phẩm
- Thay đổi/ nâng cấp trong các hệ thống quản lý an toàn và bảo đảm chất lượng ở cấp độ trang trại và doanh nghiệp
- Tăng cường hệ thống thông tin và giám sát
- Thực hiện nghiên cứu khoa học – kỹ thuật
- Đầu tư cơ sở vật chất
- Tăng cường các hệ thống kiểm định và chứng nhận
Việc lựa chọn chiến lược dành cho các nước đang phát triển không bị giới hạn trong việc tuân thủ Các nước hoặc các nhà xuất khẩu khu vực tư
nhân có thể rút lui khỏi thị trường, lựa chọn không tuân thủ các tiêu chuẩn
được áp dụng ở một thị trườngtnhất định Điều này đồng nghĩa với việc thay đổi đối tượng khách hàng khi họ phải đối mặt với các tiêu chuẩn riêng hoặc
họ có thể chọn rút lui hoàn toàn khỏi thị trường xuất khẩu đó và tìm khách hàng mới Doanh nghiệp hoặc nông dân có thể chọntchuyển sang sản xuất các sản phẩm khác mà các biện pháp cần thiết ít tổn thất và tốn kém hơn Chiến
lược này có thể được sử dụng khi việc tuân thủ mang lại rủi ro cơ bản về tính
cạnh tranh hoặc tác động tiêu cực đến kinh tế và xã hội, hoặc khi nguồn lực được sử dụng hiệu quả, hoặc khi có thị trường thay thế mang lại lợi nhuận mà
tiêu chuẩn ít đòi hỏi hơn Giải pháp rút lui không nên bị hiểu nhầm là chiến lược của kẻ thua cuộc Thay đổi dòng sản phẩm hoặc định hướng thị trường
có thể là một chiến lược rất thận trọng để duy trì tính cạnh tranh
Chính phủ và nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển có thể áp dụng
chiến lược/ giải pháp lên tiếng nhằm thay đổi các quy tắc hiện hành hoặc đáp
Trang 2424
ứng các tiêu chuẩn mới bằng cách phản đối hoặc đàm phán Ví dụ, các thành viên WTO có thể khiếu nại thông qua một thông báo chéo trong Ủy ban SPS hoặc tham gia đàm phán song phương với các đối tác thương mại của họ về các hành động cụ thể cần thiết để đạt được sự tuân thủ Các nhà xuất khẩu cá nhân có thể đặt câu hỏi về yêu cầu của khách hàng và cố gắng thỏa hiệp bằng cách phản ánh hoàn cảnh của họ và nhu cầu của khách hàng (một ví dụ về
kinh nghiệm áp dụng giải pháp lên tiếng của Thái Lan được mô tả ở chương
2)
Ngoài cách phân loại trên, còn có cách khác để mô tả phản ứng của các nước đang phát triển theo các tiêu chuẩn mới cho các sản phẩm nông nghiệp
và thực phẩm trên thị trường quốc tế Trọng tâm là để phân biệt giữa các
phương pháp phòng thủ và tấn công Chiến lược phòng thủ là những chiến
lược nhằm duy trì hiện trạng và giảm thiểu tối đa sự thay đổi của các tác
động Phương pháp phòng thủ thường tìm cách thu hẹp lại các hoạt động
(thường là hoạt động đầu tư) cần thiết để đạt được sự tuân thủ trong điều kiện
hạn chế nguồn lực và rủi ro Chiến lược tấn công liên quan đến nỗ lực sử
dụng các tiêu chuẩn để đạt được lợi thế cạnh tranh, ngay cả khi điều này có thể yêu cầu đầu tư bổ sung vượt quá mức tối thiểu cần thiết để đạt được sự tuân thủ
Trong bối cảnh thuộc khuôn khổ này, chiến lược có tiềm năng, lạc quan
nhất là chiến lược kết hợp giải pháp lên tiếng (voice), chủ động (proactivity)
và định hướng tấn công (offensive orientation) Vấn đề xây dựng năng lực
cho các nước đang phát triển nên gắn liền với cố gắng tối đa hóa việc lựa chọn các chiến lược và đặc biệt là để tăng cường khả năng hiện thực hoá các
chiến lược mang tính tấn công, chủ động
Nhiều quốc gia (và các nhà xuất khẩu) không có lợi thế để trở thành
người đi đầu – người đưa ra các tiêu chuẩn mới và thực hiện hành động sớm
để đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua sự tuân thủ và sự khác biệt.Nhưng liệu người đi sau có nhất thiết phải bắt chước các chiến lược của những người
Trang 2525
đi đầu, hay các phản ứng khác sẽ có lợi hơn? Người đi sau chắc chắn có thể học hỏi từ những thành công và sai lầm của người đi đầu, thích ứng hoặc thay đổi hành động của họ cho phù hợp với hoàn cảnh của riêng mình và bù đắp rủi ro, chi phí phát sinh Những người đi sau cũng có thể tham gia là bên thứ
ba đóng vai trò hỗ trợ (nhưng ít tốn kém hơn) trong các khiếu nại của WTO hoặc các đối tác thương mại đặc biệt
Trang 2626
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NHÓM HIỆP ĐỊNH HÀNG RÀO KỸ THUẬT TẠI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA
MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 2.1 Thực tiễn triển khai hiệp định TBT trong một số ngành điển hình tại Việt Nam
Ngành sản xuất sản phẩm thép và vật liệu xây dựng
Các biện pháp, tiêu chuẩn kỹ thuật mà doanh nghiệp phải tuân theo
Từ các nước đang phát triển thuộc ASEAN, đặc biệt là Thái Lan,
Indonesia và Malaysia đã áp dụng một số rào cản phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩu thép Việt Nam Chính phủ các quốc gia này đã đưa ra các quy trình hạn chế nhập khẩu, theo đó họ yêu cầu sản phẩm thép phải được đăng ký và chứng nhận thông qua các thủ tục phức tạp trước khi xuất khẩu Các biện pháp này sẽ bảo vệ các nhà sản xuất nội địa của họ, đồng thời nâng cao chất
lượng thép nhập khẩu Một số ví dụ điển hình:
+ Malaysia: yêu cầu doanh nghiệp xuất trình mẫu đơn xin phê duyệt, danh sách sản phẩm, giấy chứng nhận kiểm định chất lượng với thời gian đáo hạn một năm, báo cáo kiểm tra và giấy phép sản phẩm
+ Thái Lan: yêu cầu người bán phải trình bày chi tiết quy trình sản xuất, danh mục máy móc thiết bị, quy trình kiểm soát chất lượng, báo cáo sản xuất hàng tháng và hàng năm, đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm nhập khẩu Các cơ quan của họ sẽ tiến hành kiểm tra tại chỗ các lô hàng nhập khẩu với mức phí
là 300 USD/ngày Hơn nữa, các nhà xuất khẩu sẽ phải chịu phí thử nghiệm sản phẩm bởi các cơ quan được ủy quyền thu thập mẫu và tiến hành kiểm tra Các nhà xuất khẩu thép Việt Nam đã chú ý đến việc sản xuất các loại thép đáp ứng tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS3) ngay cả khi chưa có đơn hàng đòi hỏi tiêu chuẩn này Do đó, các nhà xuất khẩu sản phẩm thép của Việt
3
JIS (Japanese Industrial Standards) – tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản, Đây là bộ các tiêu chuẩn và hướng dẫn cụ thể được sử dụng trong các hoạt động công nghiệp của Nhật Bản
Trang 2727
Nam hầu như không có trở ngại trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng của các nước ASEAN Tuy nhiên, các rào cản nêu trên đã gây ra nhiều khó khăn và thiệt hại Việc mở rộng quy trình cấp phép kéo dài khiến khách hàng chờ đợi lâu và có thể thay đổi ý định Chi phí trong thời gian dài này làm tăng giá các lô hàng, cao hơn giá đã thỏa thuận ban đầu
Đối với những trở ngại kỹ thuật ở một số loại thép đòi hỏi công nghệ cao hơn, Việt Nam thiếu năng lực và công nghệ để đáp ứng Theo Hiệp hội Thép, ước tính có khoảng 400 doanh nghiệp ngành thép (chủ yếu là các DNV&N) ở Việt Nam vào cuối năm 2013 rơi vào tình trạng trên
Từ các quốc gia phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản, tiêu chuẩn kỹ
thuật về thép nhập khẩu của họ được xây dựng từ lâu, ngày càng tiên tiến và vượt xa mức sản xuất thép của Việt Nam
Công nghệ sản xuất thép tại Việt Nam có thể được phân thành 3 nhóm như sau:
Nhóm công nghệ lạc hậu: chiếm khoảng 30% tổng số các nhà sản xuất thép Họ là những nhà máy thép quy mô nhỏ sử dụng thiết bị sản xuất trong nước Sản phẩm chất lượng thấp mà tiêu thụ nhiều năng lượng trong qua trình sản xuất, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường trong khi giá cả không cạnh tranh
Nhóm công nghệ trung bình: nhóm này chiếm khoảng 40%, bao gồm
cả các nhà máy cũ
Nhóm công nghệ hiện đại: nhóm này chiếm 30%, bao gồm các doanh nghiệp như Posco, Vinakyoei, Thép Việt Nam - Hàn Quốc, VSP và các nhà máy mới xây dựng như Hòa Phát, Việt Ý, Pomina, Thép Phú
Mỹ, Thép Phú Mỹ,
Các sản phẩm thép của Việt Nam không đa dạng và vẫn phải nhập khẩu các loại thép khác như thép cuộn nóng, thép hợp kim, thép hợp kim cán nóng cho ứng dụng cơ khí, thép dẹt,
Trang 2828
Nhìn chung, do hạn chế về công nghệ nên hiện nay ngành sản xuất sản phẩm thép và vật liệu xây dựng của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn cao từ các quốc gia phát triển, điều này gây ra ảnh hưởng tiêu cực và hạn chế đến việc xuất khẩu thép tại Việt Nam
Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thép để tăng tính cạnh tranh cho thép trên thị trường quốcttế thì nên chú trọng đầu tư dây truyền công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tìm hiểu kỹ các luật lệ quốc tế để có những biện pháptxử lý phù hợp nhất Một trường hợp cụ thể: Lượng thép được sản xuất tại Trung Quốc dư thừa cao so vớitnhu cầu của họ,
vì thế, Trung Quốc đã và đang trở thành đối thủ cạnh tranh của nhiều quốc gia Việt Nam cũng sẽ phải nhận nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ sự việc này do lượng thép dư thừa của Trung Quốc có khả năng cao được tuồn vào nước ta gây ra sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước hay thị trường nhập khẩu thép bị thu hẹp lại Vì vậy, Việt Nam không nên đầu tư nhiều vào sản xuất và xuất khẩu các loại thép giá rẻ mà nên chú trọng đầu tư vào các loại thép cao cấp hơn nhưtthép cơ khí chế tạo, thép hợp kim, Đồng thời, nhà nước Việt Nam và các doanh nghiệp nên chú ý chặttchẽ đến quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm tuân theo tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, xác định
rõ ràng nguồn gốc sản phẩm sẽ thuận lợi hơn trong việc xuất khẩu sang thị trường khác Cáctdoanh nghiệp cũng cần chú ý đến vấn đề cung – cầu trên thị trường, sản xuất vừa đủ và chú trọng đến chấttlượng sản phẩm hơn là sản xuất quá nhiều gây rattình trạng tồn kho Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất thép nên đẩy mạnhttái cơ cấu, nâng cao năng suất lao động và đổi mớitđầu tư, đổi mới các loại sản phẩm thép
Trang 29(Nguồn: Tổng Cục Hải quan Việt Nam)
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan (Hình 2.1), có 10tnhóm hàng chính đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD trong 3 tháng đầu năm 2019 Trong
đó, cáctnhóm hàngtcó nhiều khả năng chịu ảnh hưởng của quy định SPS là sản phẩm nông nghiệp Sản phẩm nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam Trong nhóm này, năm 2019 thủy sản được xuất khẩu nhiều nhất với trị giá 1,77 tỷ USD, bằng 4,4% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 17,6% so cùng kỳ năm 2018 Kim ngạch xuất khẩutđiện thoại linh kiện tăng trưởng trên 20% và nhìn chung, xuất khẩu mặt hàng này vẫn có đà tăng trưởng khảtquan nhưng tăng trưởng của nhóm hàng này chủ yếu đến từ các doanh nghiệp FDI, chưa có sự tham gia của nhiều doanh
nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu
Máy móc, thiết bị, phụ tùng
Trang 3030
Các đối tác thương mại chính của Việt Nam trong ngành thủy sản bao gồm 28 nước thuộc EU (đạt trị giá 312 triệu USD, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước), Hoa Kỳ (đạt 271 triệu USD, tăng 9%), Nhật Bản (đạt 264 triệu USD, tăng 44,6%), đây cũng chính là 3 thị trường áp dụng các biện pháp SPS nghiêm ngặt nhất
Phân tích dưới đây sẽ tập trung chỉ ra thực trạng sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam bị từ chối theo biện pháp SPS mà các nước nhập khẩu áp dụng
Bảng 2.1 Số lượng lô hàng nông sản bị từ chối tại các thị trường chính
của Việt Nam 2002-2010
2010
Xếp hạn
g
Mỹ 428 333 478 350 315 379 464 358 338 3443 6
EU 67 35 55 124 68 44 54 96 70 613 9 Nhật
Trang 31EU (2002-2010)
Nhật Bản (2006-2010) Độc tố Mycotoxins4
Trang 3232
Bảng 2.2 trên đây cho thấy lý do từ chối nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam trên ba thị trường chính (Mỹ, EU, Nhật Bản) Đối với Hoa Kỳ, việc dán nhãn và thiếu dữ liệu là hai trong số những vấn đề lớn Việt Nam bị từ chối nhiều nhất (tương ứng là 21,6% và 10,6%); trong khi ở thị trường Nhật Bản không có ghi nhận nào về 2 lý do bị từ chối này và chỉ có một phần nhỏ các từ chối liên quan ở EU (lần lượt là 0,3% và 2,5%) Vấn đề không tuân thủ điều kiện/kiểm soát vệ sinh cũng là nguyên nhân khiến cho sản phẩm Việt Nam bị từ chối đáng kể ở Mỹ (25,4%) ngược lại, nó chỉ chiếm khoảng 4% ở hai thị trường còn lại Dư lượng thuốc thú y là lý do từ chối chiếm tỷ lệ cao nhất ở Nhật Bản và EU (lần lượt chiếm 52,8% và 27,3%) Vấn đề không tuân thủ các yêu cầu kim loại nặng chiếm gần 10% các trường hợp bị từ chối ở EU trong khi không có trường hợp nào bị từ chối tại Nhật Bản và Mỹ Nhiễm khuẩn là lý do phổ biến chung mà cả ba thị trường đều từ chối với tỷ lệ trên 20%
Theo Tổng cục thuỷ sản (2010), trong cả ba thị trường chính, sản phẩm thủy sản là đối tượng bị từ chối thường xuyên nhất Tại EU và Mỹ trong giai đoạn 2002-2010, các sản phẩm thủy sản chiếm khoảng 70% tổng số bị từ chối Trong khi đó, ở Nhật Bản, tỷ lệ từ chối mặt hàng thuỷ sản thậm chí còn cao hơn, khoảng 82% trong giai đoạn 2006-2010 Trái cây và rau quả đứng thứ hai với tỷ lệ chỉ 6% tổng số từ chối
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam bị từ chối vì nhiều lý do khác nhau Tại Hoa Kỳ, lý do nhiễm khuẩn, điều kiện vệ sinh và dán nhãn được coi là vấn đề trọng tâm nhất Còn ở EU, dư lượng thuốc thú y, nhiễm khuẩn và kim loại nặng là lý do chính gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu Việt Nam Cuối cùng là thị trường Nhật Bản, dư lượng thuốc thú y và nhiễm khuẩn cũng là những thách thức lớn đối với hàng nhập khẩu Việt Nam
Rõ ràng là các nhà xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt với nhiều biện pháp SPS hơn và những biện pháp này có xu hướng nghiêm ngặt hơn với nhiều loại thuốc kháng sinh và hóa chất bị cấm hoặc hạn chế hơn Tuy nhiên, bên cạnh
Trang 3333
các lý do trên, quản lý SPS yếu kém là một trong những lý do trực tiếp dẫn đến tỷ lệ từ chối nhập khẩu cao Kiểm soát kém ở giai đoạn canh tác gây ra các vấn đề về dư lượng thuốc thú y, thuốc trừ sâu, nhiễm khuẩn và các ô nhiễm khác Quản lý không đủ tiêu chuẩn trong quy trình sản xuất là nguyên nhân phát hiện kim loại nặng Các vấn đề về dán nhãn thường xảy ra ở bước cuối cùng Trong khi đó, vấn đề liên quan đến điều kiện vệ sinh có thể xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào của chuỗi cung ứng Để giảm sự từ chối nhập khẩu, các giải pháp tích hợp nên được xây dựng để đảm bảo kiểm soát và quản lý tốt trong tất cả các giai đoạn của chuỗi
Xét một vài trường hợp cụ thể từ chối liên quan đến SPS từ các đối tác thương mại:
Nhật Bản
Trong năm 2012, Việt Nam có bốn mặt hàng chịu sự kiểm tra giám sát nâng cao của Nhật Bản, bao gồm tôm nuôi, đậu non, cá rô phi, rau bina với các chất được kiểm tra là ethoxyquin, acephate, enrofloxacin và indoxacarb5
Báo cáo vi phạm năm 2012 của Nhật Bản đã liệt kê 99 trường hợp vi phạm từ xuất khẩu của Việt Nam Một số sản phẩm nông nghiệp như chè, gạo, hạt điều không đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm theo Luật an toàn thực phẩm của Nhật Đối với ngành chè, dựa trên sự tham vấn với đại diện của Hiệp hội Chè Việt Nam, có thể thấy rằng đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm là rào cản lớn nhất, đặc biệt là vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật Mặc dù Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã giới thiệu Danh mục thuốc trừ sâu hợp pháp được sử dụng trong trồng chè nhưng chưa được áp dụng thành công ở địa phương Các loại thuốc trừ sâu hiện đang được sử dụng chủ yếu là của Trung Quốc và không có xuất xứ rõ ràng Mặt khác, từ khi thị trường Trung Quốc sẵn sàng nhập khẩu một lượng lớn các sản phẩm chất lượng thấp, nông dân đã không quan tâm nhiều đến an toàn thực phẩm chất lượng cao
5 Các chất thuộc nhóm chất bảo quản và kháng sinh trong chăn nuôi
Trang 3434
Nhật Bản là nước nhập khẩu chè lớn nhất Việt Nam Tuy nhiên, đây là thị trường có yêu cầu khắt khe nhất, thậm chí còn cao hơn so với EU Ví dụ, lượng pepronin giới hạn trong chè theo tiêu chuẩn EU là 0,005 mg/kg, trong khi của Nhật Bản là 0,002 mg/kg
Nhật Bản cũng là nước nhập khẩu gạo lớn trong khu vực; tuy nhiên, hầu hết gạo của Việt Nam không thể đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thị trường này Nhật Bản đã ngừng nhập khẩu gạo Việt Nam kể từ năm 2008 sau khi phát hiện dư lượng thuốc trừ sâu
Theo ông Trần Thanh Nam, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Nhật Bản là một thị trường xuất khẩu tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng gần đây, Nhật Bản đang gia tăng danh sách các sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu bị cấm Ngược lại, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam dựa trên các tiêu chuẩn của Nhật Bản để lựa chọn sản phẩm xuất khẩu vào năm 2013 Tuy nhiên, trong năm 2014, nhiều sản phẩm nông nghiệp phải tuân theo các quy định của Nhật Bản Do đó, một số sản phẩm không được xuất khẩu
Có thể thấy xuất khẩu nông sản Việt Nam bị thiệt thòi do chưa đáp ứng tốt các quy định SPS của các đối tác Bên cạnh đó, thực trạng hàng Việt Nam
bị cấm hay trả lại vì rất nhiều nguyên nhân, các doanh nghiệp Việt Nam đã đưa ra một vài cách giải quyết như cần phải nắm rõ được luật quốc tế, chủ động tìm kiếm thị trường nhập khẩu và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật từ các nước đó vào thực tế nhằm tạo ra chất lượng hàng hoá tốt và phù hợp với các quốc gia đó Nhà nước cũng đưa ra các cảnh báo và quy định để đảm bảo lượng dư các chất cấm tối đa cho chép nhưng lại không có những hoạt động trực tiếp hướng dẫn cho người dân và không sát sao trong quá trình thực hiện của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần phải tự tìm hiểu về các tiêu chuẩn quốc tế nhưng họ lại chưa thực sự chú trọng vào việc này Hơn nữa, có một vài bộ phận doanh nghiệp chỉ chú ý đến lợi nhuận mà không thực hiện đúng nguyên tắc, mặc dù phun thuốc đúng loại và đúng liều lượng nhưng lại
Trang 3535
không đảm bảo thời gian cách ly trước khi phân phối sản phẩm ra thị trường nhập khẩu nên các chất cấm vẫn vượt ngưỡng cho phép Vì vậy, thị trường nhập khẩu sản phẩm của nước ta sẽ tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng hàng hoá, ngay khi phát hiện ra hàng hoá không đạt tiêu chuẩn họ sẽ lập tức trả hàng về, thậm chí yêu cầu tiêu huỷ hàng hoá và phạt tiền các doanh nghiệp xuất khẩu
2.3 Xu hướng vận động và thực tiễn thực thi các cam kết trong nhóm Hiệp định Hàng rào kỹ thuật
2.3.1 Xu hướng áp dụng các biện pháp các hiệp định TBT/SPS trên thế giới
2.3.1.1 Xu hướng áp dụng hiệp định TBT
Ủy ban TBT, bao gồm tất cả các thành viên WTO, là diễn đàn đa phương duy nhất cho việc thảo luận các tiêu chuẩn và các quy định liên quan đến thương mại Trong vòng 20 năm trở lại đây, nó đã phát triển theo hướng tiếp cận ba mục tiêu trọng tâm: thông báo, mối quan ngại trong thương mại và hợp tác thương mại (như đã đề cập ở chương 1, mục 1.1.2.1)
Kể từ khi Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới
có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 1995, theo thống kê chính thức của Uỷ ban TBT đến tháng 4 năm 2019 cung cấp, đã có 24.369 thông báo cùng với 6.923 chương trình bổ trợ và 554 mối quan ngại gửi về Uỷ ban TBT
Về vấn đề thông báo
Ủy ban TBT phụ thuộc vào “thông báo” từ các thành viên WTO, đó là tài liệu một trang có chứa các thông tin cần thiết về quy trình áp dụng các quy định mới Năm 1995, năm hoạt động đầu tiên của WTO, các thành viên đã thông báo gần 400 biện pháp thương mại cho Ủy ban TBT (20% là từ các quốc gia đang phát triển), trong khi năm 2018 hơn 2.500 biện pháp được thông báo (80% từ các nước đang phát triển) Hình 2.2 cho thấy sự gia tăng
của các thông báo trong vòng 20 năm qua
Trang 3737
năm 2001, các quốc gia đang phát triển luôn có số lượng thông báo thấp hơn
so với các quốc gia phát triển nhưng chỉ sau 1 năm, các thông báo từ quốc gia đang phát triển đã cao hơn so với quốc gia phát triển và ngày càng tăng cao ở những năm sau đó, thậm chí gấp 3-4 lần số lượng thông báo từ các quốc gia phát triển Điều này có thể được giải thích rằng, các quốc gia đang phát triển gia tăng áp dụng các biện pháp TBT để cạnh tranh trực tiếp với các quốc gia khác (đặc biệt là chính những quốc gia đang phát triển xuất khẩu cùng mặt hàng với họ) như một biện pháp cảnh cáo, ngược lại các quốc gia công nghiệp tiên tiến ngày nay có mục đích trọng tâm duy nhất khi áp dụng các biện pháp TBT là để đảm bảo chất lượng hàng hoá, bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm nên họ thường giữ nguyên hoặc phát triển thêm một số các biện pháp TBT vừa đủ nhưng chất lượng
Về mối quan ngại trong thương mại
Hình 2.4 dưới đây chỉ ra rằng vấn đề liên quan đến sức khoẻ con người chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thông báo (9848 thông báo), gấp hơn 3 lần so với mục tiêu có số lượng thông báo nhiều thứ hai (chống hành vi gian lận và bào vệ người tiêu dùng: 2955) Còn mục tiêu bảo vệ sức khoẻ động thực vật chỉ ở mức thấp, chiếm 446 thông báo trong Hiệp định TBT và sẽ tập trung cao
ở Hiệp định SPS Xu hướng các thông báo TBT còn tăng cao trong những năm tiếp theo và sẽ thắt chặt các mục tiêu hơn
Trang 38Vấn đề về thực hành tốt
Trong những năm gần đây, Ủy ban TBT đã tập trung vào việc xác định
“thực hành tốt”, mục tiêu là chỉ ra cách cắt giảm chi phí không cần thiết, cách đảm bảo tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, cách đưa ra các quyết định dựa trên bằng chứng và rủi ro thích hợp - từ việc chuẩn bị biện pháp cho đến việc áp dụng
Bảo vệ an toàn và sức khoẻ con người
Chống hành vi gian lận và bảo vệ nguời tiêu dùng
Yêu cầu chất lượng Bảo vệ môi trường Thông tin và dán nhãn sản phẩm
Khác Giảm thiểu các rào cản thương mại
Hài hoà hoá Bảo vệ sức khoẻ động thực vật Tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất
Không được chỉ định Bảo vệ an ninh quốc gia
1995-4/2019
Trang 3939
2.3.1.2 Xu hướng áp dụng các biện pháp SPS
Hình 2.5 Thông báo SPS qua các năm 1995 – tháng 4 năm 2019
(Nguồn: Thống kê chính thức của Uỷ ban SPS WTO)
Từ năm 1995 tính đến tháng 4 năm 2019, Uỷ ban SPS đã nhận được 15.321 thông báo thông thường, 2.065 thông báo khẩn cấp và 434 mối quan ngại cụ thể trong thương mại từ cả quốc gia phát triển cũng như đang phát triển
Các thông báo về SPS có xu hướng tăng dần từ năm 1995-2001 (Hình 2.5), sau đó tăng giảm không đều qua các năm; giống như thông báo về TBT trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 – 2009, thông báo SPS giảm nhưng sau
đó tăng vọt vào năm 2011; những năm tiếp theo, các thông báo luôn duy trì ở mức độ cao và cao nhất là năm 2016 với 1165 thông báo Riêng quý I năm
2019, thông báo SPS đã gần bằng một nửa so với số lượng năm 2018, dự báo
là xu hướng SPS những năm sau còn tăng cao
Trang 4040
Hình 2.6 Sự tham gia của các thành viên WTO 1995 – tháng 4/2019
(Nguồn: Thống kê chính thức của Uỷ ban SPS WTO)
Hình 2.6 cho ta thấy mức độ tham gia của các thành viên phát triển và đang phát triển tương đối ngang nhau Mặc dù trước kia các nước phát triển
có xu hướng áp dụng các biện pháp SPS nhiều hơn (giai đoạn 1995-2007) nhưng sau đó các quốc gian đang phát triển đã nhận thức được tầm quan trọng của các biện pháp này và tích cực tham gia hơn, biểu hiện là giai đoạn 2008-
2018, các nước đang phát triển đưa ra các vấn đề liên quan đến SPS cao hơn hẳn so với các nước phát triển, điều này còn có thể được lý giải là do các quốc gia đang phát triển gia tăng áp dụng các biện pháp SPS với chính các nước đang phát triển khác nhằm cạnh tranh trực tiếp với họ khi các quốc gia này cùng xuất khẩu chung một mặt hàng Hình 2.6 còn cho ta thấy các nước đang
và chậm phát triển khá tích cực tham gia ủng hộ, khuyến khích các nước khác với vai trò là bên thứ ba quan tâm tới các vấn đề khi có tranh chấp xảy ra và con số này cao hơn hẳn khi so sánh với các nước phát triển
Hình 2.7 dưới đây chỉ ra mối quan tâm thương mại lớn nhất về SPS là vấn đề về sức khoẻ động vật (chiếm 37%), sau đó là an toàn vệ sinh thực phẩm (32%) và sức khoẻ thực vật (24%) Các mối quan tâm thể hiện đúng tính chất của hiệp định SPS là an toàn vệ sinh thực phẩm và kiểm dịch động
Thành viên duy trì biện pháp Thành viên đưa ra các vấn đề Thành viên hỗ trợ/khuyến khích
Quốc gia phát triển quốc gia đang phát triển Quốc gia chậm phát triển