Học tĩỊ^uyết Ngũ hành ỉà trong Thái cực luận tức là loại học thuyết Ky khí làm bâầ căn vậy.* Trungi Hoa, cũng như các dân tộc xưa cho rằng vũ trụ vạn vật đêu 0 một nguyènị thể® một nguyê
Trang 3CHÂM cúuHỌC THUYẾT NGŨ
KIM VÀNG - KIM B^C
Trang 5LÊ QUÝ NGƯU — TRẰN THỊ NHƯ ĐỨC
CHÂM CỨU
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH klM VÀNG - KIM BAC
NHÀ XUẤT BẢN THƯẬN HÓA
HUỂ — 1993
Trang 7Trong Mộc nguyên có Hỏa
Vơi đi, Hòa lại đầy
Vi Mộc không sẩn Hỏa Lửa nào cháy từ cây?
Trang 9LỜI M(Ở ĐẦU
Chốm cứu là một phương pháp tffị íỉệu bốt nguồn tử thởí cổ đạí, dá cd môt lịch sử lôu đàl vô đây nd đượĩc phát trỉến mạnh mẽ, ngày càng hoàn chính hơn lẾn Các châm cứu gia khi luận bàn vê cơ sở khoa học của nó,
đá tiếp cận vốn (íè theo 2 phương hưđmg Iđn là giải thích chAm cứu theo kiểu
cổ điển và theo kiều hiện đại
Tòy theo khuynh hưđng cùa từngi trường phái:
— Trường phái hiện đại xây dựmg và phát triến châm cứu trên cơ sở thần kinh — thể dịch
— Trường phái cổ điển duy trì trruyền thống cố xưa, lấy các học thuyết Kinh lạc, Tạng tượng, Ầm dương, Ngũl hành đê làm nôn tảng và Ịuòn luôn coi cơ thê con người như một tiếu vũ trụ trong đại vũ trụ hòa đồng với giđi
tự nhiên bẽn ngoài
Tuy nhiẻn cíic kết quả nghiên cúhi thực nghiệm trong việc tìm hiểu về
cơ chê' hoạt động của trường phái hiện đại đang còn ơ giai đoạn sơ khởi vì giđi hạn về mặt kiến thức của con ngvS&í trrong các lảnh vực thần kinht sinh học, sinh lý, sinh hóa Còn các học thuyếtt cổ cúa Đông y vốn đĩ tự bản thân nó một mình đơn độc cỏ thể )ý giải cho toỉèn bộ khoa học của tnhih Trong đó học thuyết Ngũ hành là một' trong nhửng; viên gạch làm nền móng cho toàn bộ ngôi nhà đò sộ Đồng y
Trước đây, giđi trí thức phương Tây cho rằng người phương Đông chỉ biết hưởng thụ lạc thú d đởí bằng chOTĩ “N hàn” là một thứ triế t học cao nhất
về nhân sinh quan Gồm nhứng loại tìhuốc bổ tổ't như nhân sâm, tố yến, não khỉ và nhứng th ứ thuốc độc ghê gớmi, khoa học nửa vởi có tính cách huỳên hoặc, pháp thuật bùa chú Hiện nay, 8SÔ' người hoài nghi càng bớt dần, lớp trí thức Tây phương bắt đầu tỉnh ngộ và tin hẳn vào Đông phương vđi hai nhà bác học trè làm nổ hạt nguyên tử là ILý Chánh Đạo và Dương Chấn N inh là
những nhà vật ly trè ò đại học đườngg Columbia và Princeton Họ đã chứng
minh rẳng thay vì khi h ạt nguyên tử mổ thì phóng xạ bấn ra nhửng ly tử âm
và dương đi xa dều nhau, thì nay đượ<c bắn ra xa một khoảng dài theo tỉ lệ 3/2 Hay nói khác hđn, tỉa ly tư âm chn đài có hai phần, ly tử đương ba phầìi
Và khi dem một ĩiguyên từ khác chặn díâu nhiĩng tứ âm và dương nội trên thì
tử dương lóe ra ba tia nhỏ, côn tia âm chi' lóe ra có hai tia mà thôi, vẫn theo
tỉ ỉệ 3/2 Sở dĩ họ Lý và họ Dương thàm h công được ià nhờ bản kinh Dịch đã
ăn sâu và cũng là tiền đề md dầu cho siự nghiệp giải Nobel Vật lý 1957 ở đây
đưa ra là đê muốn nói nhd trong Dịch <cd sẵn định lijật cơ ngẫu hay định luật chẩn lẻ mà các nhà Nho gọi là Luật "TTam thiên lưỡng địa” (trời 3 đất 2) mà
Trang 10tạo hóa đâ dùng để hòa hợp mọi 8ự nnọi vật trong vũ trụ và trong đờỉ người
Lý và Dương chỉ đem định luật đỗ (Cố sẩn để kiểm chứng cho xác thật Họ chứng m inh bằng phương thức cùa kỉhoa học hiện đại mả không khám phá ra
điều g? mâỉ cà, tuy vậy cúng đu để làím nổi bật cho một cuộc cách mạng trong
khoa học V ệt iý cận dại này
Trong Y học cổ truyền, con số 3 dương, con số 2 âm, cúng là nhđng con số cán bản: 3 + 2 = 5 5 là Mgú hành, và 5 cũng là Thổ trung cung của Ngủ hành
Và rồi họ đưa ra kết luật rằng Ẩ châu là cội gỗ'c cùa một nguồn sinh lực
vô cùng m ãnh liột và cáia nhiều trào llưu tư tường cao Biêu, nếu không hơn thì
ít ra cũng khống thua kém gì nhứng trào lưu tư tưởng 8âu sắc nh ất cùa Tây phưang Sự học hỏi trưđc kỉa có m ột chiều, đến bây giở đã cd hai chíẽu qua lại Các nhà khảo cổ, Dịch thuật và ingay cả y học đua nhau tìm đề tài phát
minh ờ Đống phương, họ cho rằng COUÌ người ngày nạy còn dị đoan mê tín hơn
xtía ở trìn h độ thượng cổ bọ sợ p h ủ thùy, ngày nay hộ Sđ ví trùng, xưa họ tin ma quỉ, M y giờ họ tin vitamine Gặp cái gì lạ thì người ta thường ngạc
nhỉẽn quá dối mà trưđc nhứng cái x ả y ra thường ngày thì người ta chẳng ngạc
nhièn ch ú t nào
N hiĩng khám phá mđi mẻ nh ất về Vật lý, thiên vốn,,., đá làm cho các
nhà bác học phương Tôy thấy được cguan niệm gíá trị lạ lùng bí hiôm vè sự cấu tạo cửa càn khôn “Thổi cực sinỉh lưỡng nghi, Iưđng nghi sinh tứ tượng,
tứ tượng w ến hóa vồ cùng ”, số “Tam thiên lưỡng địa", nhờ triển vọng mà các nhà bác học có thể tìm thấy tronịg tUững lai Hiện nay, với thời sinh học, thời dược học, các nhà bác học cũng tnhộn tháy giá trị cũa sự 80 sánh *'Crt thể con người ỉồ một tiểu vũ trụ " v,v B ên cạnh nhứng quan níệiỉi cổ hù, thiôư khoa học, mang vẻ mơ màng của Đông phương vì nó đã có hơn 2000 nốm rồi, nhđng quan ỊÍiệm hiện đại cùa người T ây phương ỉại càng xích lại hơn và
thân m ật hơn, và cố những cái phâỉ g ộ t gù “À, ra thế, họ đá biết rồi”.
Quan niệm “Ckf thê’ con nguừi là một vũ trụ nhỏ”, người Á đông làm bất
cứ một việc văn hóa trưđc h ết ph ải quán trỉệt triết !ý Vì thế, kbững lạ
gi khỉ chứng ta thấy tấ t câ nền y họ>c Á đông được đặt trên căn bản ấy, chỉ nói rỉèng một phương pháp “chẩn m&ch” của y học cố’ truỳên cúng đỗ là một phương pháp suy tư, biện chứng the© đúng nguyên tắc của triế t học Bỏ ra ngoài 8ự ph&n biệt của tư chẩn phâi tô’ng hợp dể tìm hiểu chứng bệnh, chỉ một việc th ỉế t chẩn cũng đă đòi hỏi thầy thuốc phải chia mỗi cổ tay đã ấn định sắn là thốn, quan, xích; tnạch cố phù, trung, ti^m , có hư có thật, đã ỉà nhứng điểm cần đến 8ự phân biệt rấ t tế nhị Đó là chưa nói thèm về sự dịnh bệnh theo Ầm dương (lưỡng nghi), Âim dufũfng sinh ra Đông, Tảy, Nam, Bắc, Trung, mỗi vị trí chỉ huy một màu xaỉiih, trỉlng, đỏ, den, vàng, mỗi màu tượng
Trang 11trưng cho một mùa XuAn, H f, Thu, Đông vầ Tứ quí, và cố nhtén đỉều hành 5 khí Mộc, Hỏa, Thổ, Kỉm, Thủy mà trong đổ là Can thuộc Mộc, Tám thuộc Hồa,
Tỳ thuộc Thể v.v„.
Đống y lập luẬn rằng, đối vđi Tftm tạng, khí oửa TAm hợp V()ỉ mùft hk
Hay nổỉ khác hđn, trong nhứng tníởng ỉhựp TAm bệnh, tttừa hè ỉầ mã« nguỹ
hiểm Tày y qt4« thống k l, cững dồng ý rằng rất nhiều tal nạn v | bệnh tim thường xảy m vèữ mùa hè, cđRf như s ầ c bỉến chứng dỡ ỉin g h v y íi áp Theo
cống trìn h nghiốn cứu cửa Reỉnberg, các tacrophaiei ỉiẽn hộ đến nhứ ng tnĩdng hợp tử vong vì bệnh tim và huyết mạch (ở trong khoỉng tháng th ứ 3, 4, ậ, B
Vị mẠn vầ Thận theo Đông y th! đâ quá rô ràng bỏrỉ muối ĩà kẻ th ù nguy hiểm của cổc chứng thận 8uy, thec giẻỉ th ỉc h của Tây y Trong chu kỳ tương
quan của Ngứ hành, Thận thủy nằm giữai Phế kim (d trưđc Thộn) và Can mộc
(ở sau Thận) Vì vậy, bệnh tật ở phổi sỗ C(ổ ảnh hưởng vào thận, điều này trong
bệnh lý nội khoa trưức thởi đội trụ sinh, ;khi các chứng vỉốm phổi kéo dài theo một chu kỳ từ 7—9 ngày Cuối chu kỳ tiiến triển cùa bộnh, lúc phố'i được gỉải thoát, bệnh nhân đí tiểu ào ạt Như vẠy, tmốỉ tư»ng lỉ6n Phế kim — Thộn thùy của Đống y khổng phải v6 căn cứ vồn vân và vân vân
Gần đây, trong tạp chí “Khoa học wà đời tống” <Lỉôn Xô ca) bài “Châm cứu, 8ự kiện và giả thuyết” tháng 2-1978, Viện 8Ĩ A Gỉrraunski cho rằng gỉải thích kết quả của châm Cỉhỉ bềng ỉỷ thuiyết phàn xạ thần kỉnh chuìs được ổ n
định vì có khi khổng tìm thấy vòng cumg phản xọ, thí dụ khdng thấy vòng cung phản xạ gan và tỉm Ngựởỉ ta bỉẩt rằng c6 nhđng dỉấ'm đau ở vùng tim khổng do bệnh ờ tim gãy ra, mà dọ bệnỉh ờ tùi một, ở gan và ở bàng quang
Cổ nhiỉu cđn đau tỉm hoặc cơn huyết áp cao thường tAng v) đim , tức ĩỉi lUc
gan và tứi mật làm việc nhiều nhất, Cáo lự kiện ấy đối vđl các thầy thuốc cổ truyần ỉội khống cổ gỉ rắc rỉỉỉ lôi thối vì các Jchí quan Can, Đdm <Mộc) và Thận, Bàng quang (Thủy) c<5 quan hệ vđti Tám (Hôa) theo nhiều mối quân hệ thuộc bệnh học, sinh lý học trong Y học cổ truýền Đó là quan hệ tương ainh,
tưtmg khắc cỏa hệ Ngũ hành Quan h l tiương thông theo Ta»ỉ âm, Tam đương
v.v„ Theo “Tý ngọ lưu chií nạp tý ph áp ” th i giờ Tý (23—Ig) và giờ Sửu (1—3g), hai tạng Can và Đởm hoạt độn]g mạnh nhất Mà Tâm (Hồa) vổỉ Can
và Đởm (Mộc) có quan hệ tương sinh Mộc và Hỏa.
Chính vì thế, sau khi biết rằng khỉO tàng y học Đồng phương đã b| bụi thời gian phủ kín, các nhà y học Tây pteựơng phải lần lượt aang Thượng Hải, Hương Cảng, Đồi Loan, Bắc Kỉnh để nghiên cứu, rồi đến cấc nhà y học N hật Bản, Trung Quốc, Việt Nam sau khi đui học thành tài ờ Pháp, Đức, Mỹ.,, đá trở về học lại sách vử của tổ phụ Có đi'ều lạ lÙTig ỉà họ đâ tìm thấy được hai nền y học Đông — Tây, vđi quan niệm mguyên thùy trái hẳn nhau nỊà th ật ra chỉ đưa tới đường lối thực hành tuy trá i ngược nhau ở l>ề ngoài nhưng bên
Trang 12trong khống nhứng phù hợp nhau mà ]ại còn bổ khuyết cho nhau nứa: Khoa
vl trừ n g học mđi nhộn thấy vi trùng cò loại hỢp vđí màu đỏ, có loại kỵ màu vàng Các bác sĩ chửa bệnh lao phổi đỗ bỉết từ lâu gởi bệnh nhân đi tđi nhứng nơi khô rẩo, ấra áp (Phế thuộc kẳm, hợp vđl màu trắng và mùa thu!), một số bệnh nhân tâm thần bắt dầu được chơa tr | trong những cản phòng sơn màu sắc hỢp vđi cán bệnh (hợp vđỉ Ngú hành!) ,
Trôn nhđng thành quâ ây, vđi nhđng kinh nghiệm thu hoạch được và được thiic dẩy vđỉ tin h th ần ấy, chUng tôi biên soạn tập aách này nhàm muốn đóng góp vào việc tìm hiếu chửa trị cho bệnh nhán, hệ thống hóa những hiểu biết Ngứ hành của những người đi trưđc, khai trỉển thêm vài khía cạnh chưa được sáng tỏ trong châm cứu, cống hiến kiến thức riêng cùa mình cho quí bạn đọc
đi, đoẹn đường này còn nhĩầu chống gai cần phải được các tác giả sau hoàn tất Vì vậy, hoài bằo cuối cùng là mong mỏi đdn nhận, trong th ế hệ nốy, nhđng công trin h khảo cứu bổ tdc hay phô bình của nhctng bộc cao minh hơn, ngõ hầu hoàn thánh mỹ mán hơn trong lănh vực hào hứng này
Xỉn thầnh kỉnh khăm phục nhứng cững trình khai sáng học thuyết Ngũ hành cùa cổc tấc gỉả đi trưđc, đá đống góp cho bộ mỗn châm cứu này nhđng kỉnh nghiệm thực tỉễn vũ củng quỉ giá>
NGƯỜỈ B IỀ N SOẠN
Trang 13P h ầ n th ử n h ấ t
HỌC THUYẾT NGÚ HÀNH
TRONG CHÂM CỨU
Trang 15A- VŨ TRỤ QUAN ĐỐNG PHUCmO
VÀ HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
Là Bồn phẩm cúa vãn hda, Chỗm cứu — một ngành khoa học được thoát thai từ triết bọc Đông phương, cụ thé' ỉà tử kinh Dịch Khoa châm cứu đă mượn lỹ thuyết Âm dương Ngt3 hành củâ kiỉìh Dịch đé' làm nền tảng triể t lý cho việc chứa bệnh của mình
Mặc đừ trưđc đáyi khi nói tđi Ngũ hành, người ta ỉiên tưởng rằng thuyết này mang nhĩều sác thái dị đoan, nhưng đối vđì đời sống hàng ngày của người
T rung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản ,, và cả người Việt Nam chúng ta, từ trước đến nay, nó có một ảnh hưởng rất sâu rộng từ vũ trụ quan cho đến nhân sỉnh quan
Việc giải thích quan niệm Ngũ hành sinh khắc đá làm nền tảng cho tấ t
cả học thuật Trung Hoa, từ Thiên văn, Địa Ịý, Lịch phổị Phong thủy, Nhạc học, Tướng số, Tử vì, Võ thuật đến Kỳ môn, Trận đồ trong quân chính ^ rị học, trong các vấn đề Quan, Hôn, Tang, Tế và ngay cả trong y lý từ Dược học cho đến Châm cứu Tất cầ đêu dựa vào trên nguyên lý nền tảng Ngũ hành sinh khẩc ^ chó thfch tù trung 94)
Chảng hạn như Nhạc học có Ngù âm Mối âm cũng thuộc về một hành:
Hò, Thương (Kỉm), Xự, GIỐC (Mộc), Xáng, Vũ (Thuy), Xê, Chung (Hỏa), Cống, Cung (Thổ) Phong thủy các gò núi, các réo đất cũng chia ra Ngũ hành: tròn (Kim), dài (Mộc), ngoằn ngoèo <Thủy), nhọn (Hồa), vuống (Thổ)
Trong y lý Đông phương, Ngũ tạng của con ngưởi đâ đườc qui định theo
6 hành: Phế (Kim), Can (Mộc), Tỳ (Thổ), Tâm (Hỏa), Thận (Thủy) Tương tự, trong Dược thảo cũng thế, đó là nhứng tiền đê duyên khởi cho tập tiểu luận nói về Ngũ hành sinh khắc trong khoa Châm cứu này
Từ đó, khi một vị lương y chẩn trị cho một bệnh nhân, tìm thấy sự suy vượng của một trong 5 tạng, dựa trên nguyên lỹ sinh khắc Ngú hành mà phối chế một phương thuốc, có nghĩa là mượn dược tính, mượn huyệt châm cứu, hay nói khác hơn, mượn thể Ngũ hàiìh từ ngoại vật để' làm thăng giáng» hay )ồ bổ sung cho chỗ thiếu hoặc rợt bớt chỏ dư thừa của Ngứ tạng vốn là cái thể 5 hành cùa nội thân Điều đó bất nguồn từ quan nỉệm “Vạn vật nhâ't th ế”
và bất cứ thể nào cúng thành lập giống nhau bởi Ngũ hành
Vậy, nếu một thể chất nào của nội thân bị thiếu kém thì người ta mượn thể chất đông thể hay là tương hợp từ ngoạỉ vật, khoáng chất hay thảo mộc, động vật, huyệt đạo để đưa năng lượng cua trời đất điêu hòa vào
Trang 16NgVQ^Ôn tẩc trị liệu Đỗng y, dựa trôn Ngũ hành 8inh khắc, đá thec đúSi cál ỉuật lộ tđi thượng của trồ i đất là “Rợt chỗ dư thừa dể b ù đắf
vào chỗ thiếu h ụ t”, nôn chi cốt giữ cho Thôn và Tâm ỉuôn ìuôn ẻ mức
<fòy đù, Đạo trung hòa.
Tuy nhièn, vđl y lý cúng thế mà vđi các học thuật khác cũng thế, từ thẽ
hệ này sang th ế hệ khác, ngưdí ta đã học lấy lối 8uy luận máy móc luật sinh khắc của Ngữ hành và áp dụng vào thực tế, nhưng chưa bao giở thử lẩn thẩn đặt vấn dề: Tại sao vạn vật thành lập nên Ngũ hành? Tại sao sinh, tạ i sao khắc? Sinh như th ế nào vồ khắc n h ư th ế nào? Biết đâu giải thích những câu hòi đổ lại may mắn khám phá r a tấ t cả các nguyên lý biến dịch của vạn vẠt nói chung và khoa châm cứu nỏị rỉèng
Quan niệm Ngứ hành đẫ được các học giả Đông Tây bàn căi nhiều, nếu
ta đi vàú chi tiết «ố khổng bao giờ cùng, à đáy chỉ tháo gđ cho ra những giềng
mổt chính, ý nghĩa chính có ỉiồn h ệ tới khoa chãm cứu
Ngũ hành có quan hệ m ật thiếầ đến siêu hình.học và vũ trụ quan Trung Hoa thời cổ, có hiểu vũ trụ quan Đồỉag phtftmg mđi hiểu Ngũ hành Thành thử, muốn hỉểu tđi chỗm cứu cổ điển t ắ t phổi biết qua vầ triế t lý này Phần tham khẳo sau đây được chia ra ỉàm 3 mẹ^c:
1— Vủ trụ luận theo quan niệm Đông phương
2— Lịch sử, ngiừn I^c của họ«c thuyết Ngũ hành
3— T riết lý cản bân của học thuyết Ngứ hành trong Đông y — Chàm
cứu.
Trang 17I- vũ TRỤ UUẬN THEO QUAN NIỆM ĐÔNG PHUƯNG
S ự 0| S ậ T VŨ TRỤ LUẬN THEO QUAN ĐỂM ĐÔNG VÀ TẤY
Y học cổ truỳên quan riìêm “Con người là một tiểu thiôn địa trong vũ
rụ ”
Vậy, khi nghiên cứu về vũ trụ iuận trong triế t học Đông phương ÍĐạiJiê’u là Trung Hoa) Cũng như vũ trụ luận trong triế t học Tây phương và triếthọc Ấn Độ, vú trụ luận trong triết học Trung Hoa có những vấn dề chính sau:
1— Vũ trụ vạn vật phát sinh từ đâu?
2— Tính chất của vũ trụ vạn vật như th ế nào? Tĩnh hay động, hđu thường hay luôn luôn chuyển biến?
3— Yếu tố phổ biến của sự vật là gì? Tương quan giứa sự vật ra sao?
Vũ trụ vạn vật có khởi thủy, có chuằìg cùng không?
Ba vấn đê này làm đối tượng nghiên cứu của 3 thiên trong vũ trụ luận,theo thuật ngứ Trung triết là:
— Bản căn iuận — Đại hóa luận — và, Pháp tượng luận
Củng như Thái cực luận, Thiết Ngủ hành ỉà một trong nhăng triết thuyết xưa eủữ Trung Quốc thuộc về Bản căn luận 2
Theo các triế t gia Trung Hoa, bản căn của vũ trụ vạn vật có |nhứng đặc tính không giống vtíi ban thế của vú trụ vạh vật theo kiến giải eiia các triết gia Tây phương
Theo các triôt gia Tây phương thi bản thể của vũ trụ vạn yặt là nưức (theo Thalès); hoặc lửa (theo (Héraclite); hoặc không khí (theo Anaximene đe Milet); hoặc đất, nưđc, không khí, lửa (theo Empéđocie); hoặc nguyên tử (theo Démocrite); hoặc con số (theo pythagore); hoặc vô cùng (theo Ânaxímandre) — Hợp thê bất định và vồ hạn của 4 yếuHỏ’: nưđc, không khí, đất và lửa
Như vậy, bản thể của vũ trụ vạn vật có thế ià vô hình mà cdng có thể
ià ầUu hình,
Ấn Độ, Tây Tạng và nhiều phái huỹln học Âu châu khác chủ trương con người ià tiểu vũ trụ (tương tự như Đông phương) gốm 5 hành như đại vú trụ béiĩ ngoài Và bọ binh dung con người như hình vê bên
Các nhà vũ trụ luận Âu châu cổ đại vẫn chii trưcfng có 4 nguyên chất tạo thành vũ trụ "Thùy, Hòa, Thổ, Khí”, nhưng ngoài ra còn chủ trương có
“tb h hoa”, “tinh túy thứ 5 ”^ mà họ còn gọi là Éther, hay Matière première Ngược lạí, các triết gỉa cô cùa Trung Hoa, có khuynh hưởng cho rằng bản căn củi vũ trụ, mặc dù là hiện hứu, nhưng phải cái gì vô hình siêu hình kia Tất
Trang 18c ỉ nhđng oầl gi oổ hình tấc đếvi khồng thế ỉà nfùbn g0c tốl lơ của vú trụ vạn vật được Muốn thấy bin căn củề vtỉ trụ vạn vật, tất phải tim trong nhứng
cầl gỉ hlỷn hđu mầ ifỉ tlỉu hlnh Vệy, đđ ỉà nhứng cáỉ gì? Theo ý kiến caă
oác triết gia này thl chỉ oó thế ỉà Lỷ tắc, là Khí thí, là Tâm Do dó, mđl hình
2— Loại lếy Tâm làm bân căn, đó tức là Duy tâm luận
3— Loại lấy Khí thể ỉàm bản căn, đó tức là Thái cực ỉuận và Khí luịn, gọỉ chung Ịà Duy khí ỉuẠn Có thể nói Thối cực luận là loại học thuyết ấy Khí làm bẳ'ịi cfln
Học tĩỊ^uyết Ngũ hành ỉà trong Thái cực luận tức là loại học thuyết Ky khí làm bâầ căn vậy.*
Trungi Hoa, cũng như các dân tộc xưa cho rằng vũ trụ vạn vật đêu (0 một nguyènị thể® một nguyên dộng lực phân tán, biến hÓB ra, cho nên:
Đứng phương diện nâng lực, thì nguyên động lực từ một tâm điểu phân tán vặn chuyển ra 4 phưang theo 2 chiều Kinh (dọc) Vĩ (ngang) thàni
ra 2 cặp n ^ u lực chính.® Các động lực trong mỗi cặp ngẫu lực tưởng nhf xung khốc t^hau, nhưng thực ra vẫn tương thừa nhau đế sinh ra mọi biến hóíĐđtỉg ^ phương điện nguyên liệu, chất liệu, Ngũ hành là 5 yểu tố câi tạo vủ trụ Hành Thổ ở trung cung là càn cơ và cũng là đích cho muốn vệ (Dịch gọi “Nguyên thủy phản òbung” ỉà vậy) Quan niệm này tương tự nhi
quan niộm của các triết gia c6 Ẳu chau khi nói vũ trụ luận như vừa nẽi trôn
Đứng về phương điện không gian, thì Ngũ hàtih lại chiếm 5 vị trí chính yếu là Đông, T í^, Nam, Bắc, Trung ương
Trang 19Đứng vê phưcmg diện thời gian, th\ Nga hành chính ỉầ ỗ thời đậỉ khác nhau, 5 mùa khác nhau, 4 mùa biến thiền bén ngoài và ỉ mùa hắng cửu ở b6n trong.
Ngứ hành mà không kể irung điểm bồn trong thl còn lộỉ tư tượng bôn ngoài Cho nén Ngủ hành bao gôm tất cồ huyần cơ vầ bản thể và hiện tượng,
cả nguyôn lý hằng cửu và dịch lý biến thiên ^
Ngoài ra, Ngứ hành còn có thể hiểu là 5 yếu tô' càn thiết cho sự sồng Sáu yếu tố cần cho dân là “Thùy, Hỏa, Kim^ Mộc, Thố, Cốc"® Nưđc, lửa, kim khí, gỗ, đất, ỉúa — chúng cầr được k hai thác Nhà vua chằng nhửng phải lo giáo hóa cho dân, khuyến thiên cho dân, mà còn phải eho họ biết lợi dụng khai thác vật chất thiên nhiên, cho đờí sống họ dược dồi dào phong pho.®
Tư mọt tam đìéỉn
phợn tán thằnỉĩ
2 căp ỉtgàĩí ỉực chíoh MỌC K/M
/ Ị c THỦY
2— VÚ TRỤ LUẬN NGUYỀN THỦY và CÁC ÂM DỤỢNG GIA OÔNG PHUƠNG
Vào buổi ban sơ của thời phong kiến, trong nhđng thế kỷ đầu cùa triều Chu, ờ nhđng gia đình Cfuí tôc đêu có nhưng người cha truyền con nối giòi về
Thuật số.^® Những Thuật số gia này, ngày xưa còn có tên Jà Phương sĩ tức là
chĩ nhứng người sồng bầng nghề Thuật số Âm dương gỉa vốn gốc là nhứng nhà Thuật sô'
Khi có việc quan trọng hoặc trước lĩiột việc nan giải, thỉ người ta dến để cầu hỏi họ tìm cách đốỉi phố Vđi sự tan rả lần hồi cua chế độ phong kiến, những ngxíời chuyên nghiệp ấy đâ mất dịa vị cha truyền con nốì mà phân tổn lang thang ra kháp nơi^ rồi ở dó họ tiếp tục hành nghề cùa minh trong dân gian, các tên gọi Phươmg sĩ cung đá được bắt đầu từ đó
Thuật 3Ố hay Ma tthuật, có lé vốn gốc ở mê tín, nhưng thưồng là nguồn gốc của khoa học thởí ấy Tkuật số cũng có ước vọng như khoa học đ ể giải thích thiên nhiên một cách tích cực và muốn chính phục thiên nhiên để phụng
sự riêng cho con người
Trang 20ThuẠt số trở thậnh khoa học khỉ đặt tấ t cả flự tin tuởng vào những lực sièu nhiên và khỉ chỉ cố giồỉ thích vtỉ trụ bằng nhứng từ ngứ của nhđng lực
tự nhiên Ý niệtn về nhứng lực tự nhiên này thời ấy có thể mang vè giản dị thô lậu nhưng củng đâ tìm thấy được những bước tiến dfâu tiên của khoa học.Học thuyết Ngũ hành được suy diễn từ pháp thuật Ngữ hành của cổ nhân
nià ra Họ cho rằng: Giữa con người và các sự vật trong vũ trụ thưiỊng có những ảnh hưởng qua lại Bởi vậy, cổ nhân mđi tlm ra cóc pháp thuật gọi chung là
Thuật số, nhằm qũati sát những hiện tượng đáng chU ý phát sinh trong vũ trụ, ngõ hầu dự đoán những đíôu họa phúc sắp xảy đến với con người; Ngũ hành là một trong 6 phép Thuật số như đã nól trên
Tất cả nhứng điều trên, đèu là sự góp phần của Âm dương gia trong tư
tưởng Trung Hoa Học phái này đại bíểư cho khuynh hưđng khoa học à chố
nó cô' đưa ra cách giải thích liên quan tới các aự kiện về hiện tượng tự nhiên bằng nhứng từ ngứ chì thuộc về nhiĩng lực tự nhiên
Tại Trung Quốc thời cổ đại, có 2 luồng tư tưởng đá cố gắng giải thích ngviồn gốc và cấu tạo vạn vật, Một luồng tư tưởng dựa trên những trưđc tác của Ầm dương gia, còn luồng tư tưdng khác dựa trên vài phần trong “Dịch truyện" do các nhà nho khuyết danh đitó phụ vào bản Dịch kinh nguyên
thủy Hình nh ư 2 ỉùồng tư tưởng ấy đá tiến triển độc lập, không liên quan vâi nhau.^^
Trong thiên “Hồng phạm”' và thiên “Nguyệt lệnh” sẽ được xét tđl, Ngũ hành được đố cệp mà không thấy nói tới Âm dương, trong “Dịch truyện” thì trái lạỉ, chl thấy nói tđỉ Âm dương mà khâng nói tđi Ngũ
hành Nhtíng v'ê sau, hcú luông tư tưởng &y kết hợp làm một Sự hợp nhất ấy đá thấy vđi thời Tư Mã Đàm^^ khiến cho ông đã họp lại trongcuốn Sử ký dưđỉ tên Àm dương gia
Trang 21II- LỊCH SỬ, NGUỒN G ố c CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
Thật khó minh định một cách chính xác rằng học thuyết Ngú hành xuất biện từ lúc nào và cúng không biết chắc chắn rằng ai là tác giả của học thuyết này Chỉ được thấy Ngú hành xuất hiện trong Kỉnh Thư*'’ở thiên "Hồng phạm”, trong Lễ ký ỡ thiên “Nguyệt lệnh”, sau dược khai triển thêm trong Xuân thu phồn lộ của Đổng Trọng Thư Dưửi đây, lần iầợt tìm hiểu Ngũ hành qua tihững tác phẩm đó
NGŨ HÀNH VÀ THIẾN "HỒNG PHẠM*’
I
Danh từ Ngũ hành^®thưdng được các tác giả Tây phương dịch là 5 yếu
íố, Tuy nhiên, khồng nên xem chúng là những yếu tố tỉnh mà nên coi đó là
Chứ Ngũ hành là chđ thông dụng nhất, nhưng cúng ỉà chứ mù mò nhất, íĩiới nhìn, tưdng giản dị nhưng thcật ra cao siêu phức tạp nhất (C h ữ -íí
<ưa viết có nghĩa ỉà làm, hoạt dộmg, đỉ chuyển, đi, biến dịch, chuyến hóa cho nên chữ Ngũ hành theo nghía đen có nghĩa là 5 hoạt động hay 5 tác nhân, ngiíời ta cũng gọi là “Ngiĩ đức”, có nghĩa là 5 th ế lực),
Theo truyền thuyết, danh tử Ngpĩ hành đã xuâ't hiện trong một văn bản vào th ế kỷ XX trưđc Tây lịch^®Cũng ikhó mà chứng m inh chác chắn sự trung thực của bản văn ấy, mặc dầu có thậtt nhưng cũng khổng thể chắc rằng chứ
Ngú hành trong đó cùng nghía vđì à Itrong các vỗn bản khác mà thời đại được
định rõ hơn,
Sự dề cộp dầu tỉèn tương đối chímh xác VỆ Ngở hành được tìm thấy trong đoạn khác của Kinh Thư^^dưởi tựa dfe “Hồng phạm ’* nghĩa ỉà “khuỏn Iđn"Theo truyền thuyết, thiên “H ồng phạm ” th u ậ t lại lời của Cơ Tử cáo vđi vua Vó nhà Chu (theo truyền thuyết sống vào th ế ký XXII trước T.L) Trong bài cáo, Cơ Tử cho nhđng ý của mìnBi là của vua Võ, người sáng lập nhà Hạ
Mục đích ở đây nêu lên truyền thuyê't này để chứng minh tác giả Kinh Thư
đã mang lại tàm quan trọng cho th u y ế t Ngũ hành
Đứng về mặt khoa học hiện đại mà phân tích thì hiện nay có ý aáp đặt thời đại th ậ t của thiên “Hồng phạm ”’ vào khoâng th ế kỷ IV hay III
Trưđc hết, Hồng phạm đòi hỏi tthiên tứ phàĩ am tường vật lý, vì c<5 ìihư vậy mđỉ có thể dạy dân sử dụng chi phối biến hóa được Ngũ hành, chế ngự, khai thác dược hoàn cảnh vật chất
Trang 22Trong Chín trù (Cửu trù) của HSing phạm thi “trù" thứ nhất là Nga
hành: "Ngủ hành là; 1 - Thủy (nvtóữ), 2— Hôa (lửa), 3 - / Mộc (gỗ), 4 -
Kỉm (vàng: chỉ chung kim thuộc), 5— Thổ (đất) Nưức (tính) là ưđt chảy x\:^ng làm thành vị mặn Lứa (tỉnh) ìà nđng bốữ ỉện làm thành vị đắng
Oỗ (tỉnh) là cong, ngay làm thành vị chua Vầng (tính) là thuận theo ỷ người mà đổl thành vật dụng làm thành v{ cay Đất (tỉnh) là cấy gặt, gieo
Lý thuyết Hồng phạm cũng cho rằng toàn thể vũ trụ là một cơ giâi khi
một phần tử của cơ ^ ớ i ra khỏi trậ t tự, thì những phần khác cũng bị tốn thương Thuyết này biểu thị cho tinh thần khoa học cùa các Ảm dương gia
, r ị \ l Ẹ ĩ
' V
■á- * '' • A ỉ ■
HỔNG PHẠM c ử u TRÙ XBP THSO LẠC r m r (rríeh tratig J LCOữB _ THm SHOO KÌNO B is)
NGÚ HÀNH VÀ TH ÊN "NGUYỆT LỆNH"
Kế tiếp sau thiên “Hồng phạm ”, tài lỉệu quan trọng nhất của Âm dương gia là thiên “Nguyệt l ệ n h T h i ê n này trưđc tiên được tìm thấy trong tác phẩm
“Lã thị xuân th u ” xuất hiện vào cuối thê' kỳ thứ III trước T.L Về sau sách
ấy được đưa vào sách “Lễ ký”.^^
Trang 23Cách cấu t«0 va trụ trong thidn này đưực d iỉn ta bằng từ ngứ của Ảm
dương gla Đỉều đổng chù ỷ hđn d đây là cách cấu tạo này có tính chất vứ trụ, nghĩã là lidn quan tđl thdi gian và khống gian.
Người Trung Hoa cổ độl à về phÍ9 B ỉc bán c&u, tất phải x«m phương Nam
ỉà phường của aữc nóng và phưửng Bác lấ phương của khí lạnh Vì lỷ đo ấy,
Âm dưctng gỉa đUiK ra lự tưcmg quan gỉứa 4 mùa và 4 phương Mừa hè cổ tương
quan vđỉ phương Nam, mửa đòng cổ tương quan vđl phương Bắc, mừa xuán cổ
tưcfng quan vđi phuừng Đông (vỉ mặt trôi tnọc à phưcmg Đỏng); mùa thu c<5 tương quan vđi phuttng Tầy (vì mặt trời lặn ở phương Tầy) Phái này cdng coỉ
Bự thay đổi cua ngàỵ đêm như biểu thị 8ự thay đổi của 4 mừa trong năm, trong một tỉ ỉộ chu kỳ nhỗ hơn Cho nẽn, buổi sáng tượng trư n g cho mừa xuân, buổi trưa cho mừa hè, buổi chiều cho mùa thu và buổỉ tối cho mủa đổng
Phương Nam vâ mùa hè thì nổng vl phương Nam và mùa hè là lUc mằ hành Hòa mạnh hơn cả Phương Bắc và mùa đông thl lạnh vì phương Bắc và
mùa đông ỉà lúc hành Thủy mạnh hơn cã Củng vậy, Mộc là hành mạnh ở
phưữn£ Đdng và mùa xuán bửi vỉ mửa xuân ỉà mừa mà cây cồ bắt dầu mọc, và
vì phưcmg Đông cổ ỉiên quan tđl mùa xuân Kim !à hành mạnh ở phương Tây
và mùa thu, bdi vì kim khí đuực xem như là cứng và thố, vì mùa thu ỉà mừa giố, hết mùa của cày cô, và vì phương Tây cổ lièn quan tđi mửa thu
N hư vậy, 4 trong 5 hồnh đâ đưực cẩ t nghĩa; chĩ còn hành Thồ" là chưiBi
có vị trí và mùa Tuy nhiên, theò “Nguyệt lệnh", Thổ là hành chính cùa Ngủ
hành Vì vậy, nó được đặt ở vị trí T rung ương của 4 mùa Lúc mà Thổ mạnh
là vào một khoâng ngắn chen giữa các mùa gọi là Trưởng h ạ ^
Do lý thuyết vú trụ ếy, Âm đư<mg gỉa đá cố giải thích nhứng hiện tưựng
tự nhỉôn bằng nhứng từ ngữ vừa thời gian vừa không gian, và còn chù trương
rằng nhứng hlộn tượng ấy c6n liẽn quan tđỉ 8ự thay đổi t&m tỉnh củng như
bệnh tậ t ở nơi con người
Tất cả nhứng lý thuyết trên ỉà nhứ ng tiền đề trong sinh lý, bệnh iý,
và điều trị cùa cổ nhãn, sê được khai triển trong phần “T riết lý cdn bản cùa học thuyết Ngũ hành trong Đông y" S8U này
NGÚ HÀNH VÀ "XUÂN THU PHỒN LỘ”
Mái đến thời Hán sơ, thuyết Ngũ hành được Đổng Trọng Thư^^nhắc lại
và bàn thèm Khi nói vê Âm đưcfng, ông cho rằng:
“Khí của trdi đất, hợp thi là 1, chia ra thì là Âm và Dưcmg, tách ra làm
4 mùa, bày xếp thành Ngũ hằnh “H ành” cổ nghĩa là vận hành Vì sự vận hành (của mỗi khí) không giống nhau nên mđi gọi ‘tên bằng Ngũ hành Ngũ hành là ngũ quan Nó là “T ì” thành tương sinh, “GiáĩET thành tương thắng (khắc) vậy".^^
Trang 24Độc biệt cách xếp bày của Đổng Trọng Thư khác vđi cách bày xẾp cú trưđc đây, Ngủ hành theo thứ tự củ hhư đâ dề cộp ở Hồng phộtn trưđc đây
là: Thủy, Hôa, Mộc, Kim, Thổ
Đổng Trọng Thư khác hữn, ỉẹẬ cho rằng: “Thứ tự tự nhiẽn cùa NgO hành
là: Mộc, Hỏa, Thổ, Klm, Thủy, Mộc là hánh đầụ tiên của Ngủ hành Thủy là hành cuối của Ngú hành, Thô* là hành giứa củk NgU hành Đđ là th ứ tự tự nhiên
Theo ông thì Ngũ hành lại có tương sinh (Hành nọ sinh hành kia) và
tương thắng (Hành nọ khổc hành kia) nứa, Ngoài ra, mỗỉ hành lại cố một
phương vị nhất định, trong khững gian, thời gian, mỗi hành làm chủ cái khí của một mùa
ồ n g nóí tiếp:
“Mộc sinh ra Hỏa, Hỏa sinh ra Thổ, Thổ sinh ra Kim, Kim ainh ra Thủy,
Thủy ainh ra Mộc Mộc ở phía trái, Kim ở phía phải, Hỏa ở phía tritóc, Thủy
ở phía sau, Thổ ở chính giữa Mộc ở phương Đông mà lảm chù khí Xuân» Hỏa
d phương Nam mà làm chủ khí Hạ, Kim ở phương Tây tnà làm chủ khí Thu,
Thủy à phương BẮC mồ iàm chủ khí Đồng Cho nền Mộc chủ sinh mà Kim
chủ 0át, Hỏa chủ nứng mà Thủy chủ lạnh Thố à chính gỉứa, gọi ià Thỉẽn
nhuận Thổ là tay chản của trời, đưc của Thổ tươi tốt, khổng thể dựa vào công việc riêng cùa một mùa mồ mệnh danh cho Thổ được Cho nên, có Ngũ hành
mè lại chỉ có tứ thờJ, là vl Thổ kỉêm cậ tứ thời^®Kỉm, Mộc, Thủy, Hòa, tuy mỗi hành cổ một chức vụ nhưng không nhừ nơi Thổ thì Kim, Mộc, Thủy, Hỏa khổng dứng vứng (khổng làm xong việc) khổc nào chua, mặn, cay, dáng mà khống nhán oố Jt)éo ngọt thì khống thành vị được
Ngọt ià gốc của NgO vị, Thổ là chừ của Ngũ hành Chủ của khí Ngử hônh là khí Thổ, cOng như ngũ vỊ mà có được vị ngọt béo thì mđi thành.27Luột tương sinh tương thắng (khắc) của Ngũ hành là đứng liồn nhau thì sinh nhau, mà đứng cách nhau một bậc thì khắc nhau (tỉ tương sinh nhí gián tương thắng) Thứ tự của Ngủ hành là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim và Thủy Vậy, theo qui luẠt này thì:
Tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hồa sinh Thố, Thồ' sinh Kim, Kim sinh Thủy, ThOy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa Như đá nốỉ trỀn, nghĩa là hành thứ nhất sinh hành th ứ nbì v.v hành th ứ năm sính hành th ứ nhất
Tương tháng: Kim tháng Mộc, Thủy tháng Hỏa, Mộc thắng Thổ, Hỏa thắng Kim, Thổ tháng Thủy Nghĩa là hành thứ 4 tháng hành thứ 1 (cách hành th ứ 5), hành thứ 5 thắng hành thứ 2 (cách hành thiỉ 1), hành thứ nhất thắng hành th ứ 3 (cách hầnh th ứ 2), hành thứ 2 tháng hành thứ 4 (cách hành thứ 3>, hành thứ 4 thấng hành th ứ nhất <cóch bành thứ 5), hành tbứ
3 thắng hành th ứ 5 <cách hành thứ 4)
Trang 25Có điều''đặc bỉệt hdn, khi cắt nghía Bự quan hệ gỉđa Ẳm dương và Nga hành, ông nói:
Gặp lúc khí Dương đang thịnh mà hành Mộc, hành Hỏa lại được khí Dương ấy giđp vào thì thành mừa Xuân, mùa Họ và vạn vật sinh trưởng, ổộp
ỉúc khí Âm đang thịnh mà hành Kim, hành Thùy ìại gặp đưực khỉ Âm ấy giUp vào, thì thành mùa Thu, tnùa Đông và vạn vật thu tàng Vì 2 khí Âm dương đắp đổi thịnh suy và luôn luôn lưu chuyển, cho nên ảnh hường cùa nd đối vđi Ngú hành khõng dứt, mà bốn mùa vì thế cúng xoay vần không ngừng
Cuối cùng, đến đây có thể tạm kết luận và chu ý một điều là cổ nhân phân biệt Ngũ hành thành 2 giai đoẹn: Tiên thiên và Hậu thiên
— Tiên thiên Ngũ hành: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ (giai đoạn alnh và thành không có tương sinh, tương khắc, được thây qua thiên Hồng phạm)
— Hậu thiên Ngũ hành; Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy (giai đoạn đă có tương sinh, tương khắc, được thấy <Ịua tác phẩm Xuân thu phồn lộ)
Những luồng tư tưdng này là những đấu ấn ảnh hưởng aâu đậm nhất về sau trong tác phẩm Nạn k i n đ ư ợ c vận dụng thế' hiện khá triệt để trong các Nạn thứ 15, 18, 34, 40, 49, 50, 54, 56, 63, 64, 66, và nhất là trong Nạn 53,
75, 77, 81 và nhtỉng tác phẩm viết về “Tý ngọ ỉưu ch ú ” mà tã aâ cổ dịp khổo sát tđi sau này
Trang 26III- TRIẾT LÝ CẴN BẰN CŨA HỌC THUYỂT NGŨ HÀNH
TRONG CÒNQ Y CHÂM cúu
Mặc dừ khoa chảm cứu xuất hiện vđi công trình “Hỡàng đế Nội kinh” là tác phắm do một tố nhà y hộc thời Chỉến Quốc điỉc kết nhđng kinh nghỉộm
y học đương thdỉ và trưđc đổ viết nồni đến thời l ầ n Hán (221 trưđc T.Lr~220)
và ảau đỏ «ách được tang bố và chd thích thồm, từ đổ mđl bắt dâu hlnh thành một hộ thống ỉỷ ỉuẠn hoà» chinh cho Đdng y học Tuy nhiôn, ý nỉộm sơ khai
của triết lý khoa này cố từ tuổi đá, thời Phục Hy (theo truyền thuyết khoảng
44 th ế kỷ trưđc T.L) tức là trưđc khl hlnh thành hệ thống lý luận của môn châm cứu rế t lâu T riết Ịý này được đdi tau gọi là triết lý của Di ch Trong đó nội đung căn bản là lý thuyết Âm dượng Ngủ hành Nhứng tác giả hứu công
đả từng khai hoang triển khai ly thuyết này 8uốt hồng chục th ế kỷ trưđc Hoàng Đế kế ra cOng khá nhiều Trưđc hết phải kể đến Phục Hy, Hạ Vỗ <22
th ế kỹ trưđc T.L), Khống Tử (5 th ế kỷ trưđc T.L), Trâu Diễn (3 th ế kỷ trưđc T,L), Đổng Trọng Thư (190^—106 trước T.L) và một số tác già khác
Trưđc Trâu D iln^^lý thuyết Ngủ hảnh này còn rời rạc, bàng bạc chưa
mấy được hệ thống hóa, bị nhiều dị nghị vè nguồn gốc và tác gỉả Đến thời
Trôu Dlln, ống đâ p h át dọn cánh rừng hoang cho học phái Ằm đương gia ra đởỉ và mđi đưực Bổng ỉập hẳn hoi
Từ đó lý thuyết này đẩ được đào sâu, giỏi thích và phát triển, đặc biệt nhừ công trìn h cùa Đổng Trọng T hư đời Hốn mà ta dả có địp nói đến ờ trưđc đây
Họ Đống là ngưừỉ tiồn phong lộp ra pbóỉ tượng iố, áp dụng iý thuyết của Dịch, Âm đương, Ngứ hành vào vlộc bổí toán, Qua nhfêu thô' kỷ sau, cốc nhà
y học thờỉ Chiến Quốc và sau đổ đả tham chiếu và vận đụng tư tưởng nầy để bày nôn lý thuyết trong Đống y vè châm cứu qua những tác phẩm chính yếu
ỉà "Hoàng đế Nội kinh” và “Nạn kinh”
1— THÁI CỰC ÂM DUƠNG, TỨ TUỢNG, BÁT QUÁI, NGÚ HÀNH
Lý thuyết Âm duícíng Ngũ hành ỉà một lối giâi thích sự cấu tạo và 8ự vận chuyển cùa vú trụ Trước hết, đây ỉà một vú trụ quan cùa Trung Hoa, n ^ ia
là một quan niệm về sự hình thành và sự biến hóa cùa vạn vật trong vũ trụ, tức ỉà trong khồng gian và qua thời gian.®®
Khững dlan bao la lA vc ^ S5:ỳJ:,']P
Thòi gian vô cùng !à Trụ
Trang 27Theo Trung Hoa thời cổ’ đại, họ cho rằng lúc đầư vũ trụ chỉ là một khối hổn dộn không rõ được bản chất và dặc tính được gọi là Thái cực, trong đó
có chứa sắn 2 động thể tương phân mệnh danh là khí Âm, khí Dương Hai khí
Ẳm dương này kết hợp nhau để sinh hóa mãi mãi tạo thành 4 bộ mặt hay Tứ
tương hình dung bằng 4 ĩiiùã Xuân, Hạ, Thu, Đông, Từ đó, Tứ tượng nhờ ảnh
hưỏng không ngừng cùa Âm dương, khai sinh thêm 8 hiện tượng mđi: Kiền (chì trời), Khôn (chỉ đất), Chấn, (chỉ sấm Rét), Tốn (chi gió), Khảxn (chỉ nước),
Ly (chi lửa), Cồin (chỉ núi), Đoài (chỉ chằm, dồng cỏ, bình nguyên) Tám hiện tượng này được gọí ỉà 8 quẻ hay Bát quái Thể hiện 8 hình dạng khác nhau của bộ mặt vũ trụ Đó là nối về dạng
Còn chồ't của vũ trụ cũng được thoát sinh từ Bót quái, do Âm dương làm động lực, gồm 5 loại gọi là Ngũ hành: Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.^^Tóm lại,
cổ nhân Trung Hoa cho rằng iuật sinh hóa liên tục giứa 2 khí Ảm dương trong Thái cực phát sinh ra 4 tượng, 8 dạng và 5 châ't Hay dùng danh từ vàn hoa hơn ià Tứ tượng, Bát quái, Ngũ hành.’^^
Đến giai doạn này thì Ngũ hành tiếp theo lốn nhau theo một qui tắc cố định và một chiều (sinh) Ngược lại, 5 chất đó cũng có đối kỵ nhau gọi là kíÊm chế Ý niệm này tưcmg đối mđi vì từ Tháỉ cực tới Ngũ hành cổ nhân chỉ nói tđi sính Mái tđi Ngũ hành mđi đề cập tđi khắc Qui tắc khắc cũng cố định
và theo một chiều theo thứ tự (khắc)
Sự sinh khẩc này là định lệ chung của vạn vật trong không gian và thởígian, ià nguyên tắc căn ban của Dịch dạo (con dưởng biến hóa)
Thuyết Ngũ hành cắt nghĩa cơ cấu vũ trụ, nhưng không cẩt nghĩa nguồn gô'c vạn vật, thuyết Âm dương bổ tUc váo
Bén cạnh quan niệm Âm dương còn có tư tưỡng trọng yếu khác, trong
Dịch truyện là quan niệm về số Trong Địch truyện người ta không đề cập tới Ngũ hành, vê sau Âm dương gia cố nối lfên Ngũ hành vdi Âm dương bằng các con số, theo Dịch truyệu có xu hưđng tin tưởng rằtig bí ển trong vũ trụ có thể tìm thấy trong những con số bởi th ế theo họ số Đương bao giờ cũng lè và aỗ' Âm bao giờ cũng chăn,
Họ chủ trương rằng:
, 1 là số trời, sinh Thúy và 6 ỉà số đất bô’ túc vào,
2 là sô' đất, sinh Hỏa và 7 ỉà aố trời bỏ túc vào
3 là số trdi, sinh Mộc và 8 ỉà số đất bó túc vào
4 là aố đất, sinh Kim và 9 là sô' trời bô túc vào
5 là số trdi, sinh Thổ và 10 là sỏ' đất bổ túc vào
Vỉ vậy; 1, 2, 3, 4, 5 là số sinh ra Ngủ hành
6, 7, 8, 9, 10 là những số bô túc
Trang 28Đó ỉà ìý thuyết để gỉài thích ỉờỉ tuyén bố yừa dẳn trẽn: “Số trởí, 9Ố đất, tương đắc vè cùng hựp".®®
SỐ trôi 1 hựp cùng vđỉ «ố ổất 6 ô phưđng Bắc mà sinh Thủy
SỐ đốt 2 hợp cùng vđi số trôi 7 ở phương Nam mà sỉnh Hỏa,
SỐ trờị 3 hợp cừng vđi Bố đất ỗ ở phưđng Đông mà sinh Mộc
Số đất 4 hỢp cùng vđỉ sô' trời 9 ồ phương Tây mà sinh Kim.
SỐ trdi 5 hợp cùng vđi số đất 10 ở Trung ương mà sinh Thổ.
1 Thủy 2 Hỏa 3 Mộc 4 Kim 5 Thổ ^
Theo thứ tự của Hồng pbạm dùng không phải là ngẫu nhiỹn
Điêu này nối lền sự sinh thành một cách cụ thế của Ngú hành là đưa ra
sự biến hóa của Âin dương chần ỉẻ Tiến thêm một bưđc nữa, đế giải thích số sinh Ngũ hành của Âm đương, chỉ có đùng Hà đồ để’ thuyết minh: (Hình vẽ).Vòng tròn trắng đ trong hình là Dương 8Ố, vòng tròn đen là Ầtn số
Trong hình rỗ ràng có thể thây được rằng:
Dương số 1 và Âm số 6 (1 chẵn phối vđi 1 lẻ) cùng à về phương Bắc
Âm số 2 và Dương số 7 (1 chỗn phối vđi 1 lẽ) cùng ở vê phướng Nam.Dương số 3 và Âm Bố 8 (1 chẵn phối vđi 1 lê) cùng ở vìằ phương Đông
Âm số 4 và Dương số 9 (1 chắn phối với 1 lẻ) cùng d về phương Tây
Dương số 5 và Âm aố 10 (1 chẩn phối vđi 1 lẻ) cùng ở giữa Trung ương.
Năm hành Thủy, Hôa, Mộc, Kim, Thổ đo sô' chắn lẻ Ẳra đương như thế
mà sinh thành ở 5 phương Bắc, Nam, Đông, Tây, Trung ương.
Để giảỉ thích sự vận hành khí hóa từ vũ trụ đến con ngườỉ: Khí huyết phải tùy theo khí của tứ thời mà cùng sinh, trưdng, thu, tàng như sau:
Trang 29Đạo cửa Trời, lUc ban Bơ tỏa rộng ra à mùa Đồng Haỉ khí Ảm dương, mỗi
khỉ từ m&ỉ phương đi tđỉ rồi đỉ chuyển ra phía sau
1— Khí Âm từ phía Đông sang phía Tầy Khí Dương từ phía Tây sang phía Đông
2— Khi 2 khí này đí đến tháng thuộc gíđa mùa Đông thi cùng gặp nhau
ở phương Bắc rồi hợp iại làm một gọi ỉà £>ồng chí
Sau đó chúng từ giỗ nhau để di tiếp Âm khí đi về phía phải, Dương khí
di về phía trái Đến hết tháng Đông Âm khí và Dương khí đều quay về Nam
3— Dương khí quay về Nam xuất ra ở Dần Ầm khí quay về Nam nhập
Tiếp sau đó, Âm khí càng hao tổn và đi theo Dương Dương ngày càng
đầy mà iớn rộng ra Vì th ế mậ sinh ra khí ẩm áp cho tđl nóng nực.
Lúc ban SCT; khi đến được tháng Hạ thì 2 khí Âm và Dương hợp ỉại làm một ỉà Hạ chí.
Rồi Bau đó, chúng lại cùng nhau từ biệt để ra đi Dương khí đi về phía phải, Ầm khí đi về phía trái Đến hết mùa Hạ Âm khí và Dương khí đều
quay vè Bắc.
Dương qiiay về Bắc và nhập vào Thân, Ầm quay về Bắc và xuất ra ở Thìn
Trang 30Cho đến tháng Trung thu, lúc ấy Dương khí ờ tại chính Tây, Âm ở tại chính Đông gọi là Thu phân Thu phân có nghĩa là lúc mà Âm khí và Dương khí, mỗi khí đều cùng một nửa Nên ngày bằng đêm và nóng lạnh bằng nhau.Dương càng ngày càng hao tổn và đi theo Âm, Âm khí ngày càng đầy mà rộng lớn ra.
N hư vậy, trở lại lý thuyết của Hà dồ trưđc:
SỐ băt đầu nơi chỗ khí Ảm và Dương hợp nhau ở phương Bắc nơi nhật đạo tháng 11 ỉà ngày Đông chí Nam cực Dương tiến mà Âm vắng, ngày Đổng chí “N hất đương Bơ sinh” vì vậy mà iấy "N hất dương sin h ” làm số Thùy
T háng 5 ngày Hạ chí là nơi khí Ằm và khí Dương hợp nhau ở phương Nam Âm cực ở Bắc tiến tđi mà Dương thô'i, ngày Hạ chí “Nhất âm sin h ” nên lấy “N hất âm sin h ” làm số Hỏa Nhưng Thủy đá ainh ờ Dương th ì không cần phảỉ thuộc số iè (cơ) mà cần phải thuộc số chẩn (ngẫu) vi vậy lây “Nhị âm sin h ” tháng 6 làm Hỏa số.^®
Có 6 Âm và 6 Dương trong một nảm> ỉẵy:
Trang 31— Tháng 3 làm Ngũ đương
— Tháng 4 làm Lục dương
Vì th ế mà lấy 3 là số sinh của Mộc
Từ Hạ chí tới Đông chí, khi ấy là Âm khí tiến, th án g 8 là chính thứcthuỉộc mùa Thu, lội thỉch đáng với khí của Tứ âm Vì th ế mà ỉấy Bố B ỉn h củaKiĩm là 4
Tháng 3 là thổng quí Xuân, khí ch ín h đáng cùa Ngtã dương Tuy 4 thángquí Xuân, quí Hạ, quí Thu, quí Đ6ng dều thuộc ThỔ.^^Mà quí Xuân là thổngdầui tlén của Tứ quí, vì vộy mà lấy 5 làm số thành của Thố'
Đổ cũng là ý nghĩa cùa Thiên nhấtt sinh Thủy, Địa nhị sinh Hỏa, Thiêntaan aỉnh Mộc, Địa tứ Binb Kim, Thiên ngủ 8inh Thổ
Còn giảỉ thích số thành cùa 6, 7, s , 9, 10 là ý 4 hành Thùy, Hồa, Mộc,
Kicsỉ ỉfêu sanh ồ 5 Thổ'.
Như vậy: SỐ 1 của Thủy số đưực 5 của Thổ 8Ố thi thành 6,
Số 2 cùa Hỏa 8Ố đưực 5 của Thổ 8Ố thì thành 7.
Số 3 của Mộc số được 5 của Thổ thì thành 8
4 của Kim stf được 5 của Thổ stf là 9
Trang 322— Sự TUONG OỒNG GIỮA vũ TRỤ VÀ CON NGUỜI
Lối quan niệm về sự hình thành và sự biến hóa cùa vủ trụ này đilực cổ nhàn T rung Hoa dồng hóa cho con ngưừi N ổ i'n h ư th ế có nghĩa là cổ nhân
Trung Hoa cho rằng con người được hĩnh thành đo 8ự kết hợp của 2 khí Âm
đương và ỗ chất Ngũ hành Con người cúng biến hổa theo qui iuật sinh khắc
của những yốu tố đỗ.
T hành th ử mđi đặt ra đàn ông là Dương, đàn bà là Âm Trai hay gái, đàn
ông hay đồn bà, già hay trẻ, âm kỉnh hay dương kinh, các du huyệt ở tay đều
được 5 ch ấ t năng lực ấy kết hợp nhau theo qui ỉuệt sinh khắc đã kể trên
Vữ trụ sinh động nhờ Ầm đương, Tứ tượng, Bát quái, Ngũ hành thì con người củng biến dịch như thể Vì dbng chất và đồng biến, nên giứa vạn vệt
và con người có mối tương quan mệt thiết Đố cứng ỉồ tinh lý của thuyết
“Thiên nhân tương đứ” hay "Thiên địa vạn vật dồng nhốt thế", mà vê sau trong y học sách Nội kỉnh đă chú trọng và đề cập tới
3— S ự ÚMG DỤNG VÀO KHOA ĐÔNG Y CHÂM CCfU
Đển khi ứng dụng vào y học, người ta chỉ còn giứ lạỉ các ý niệm về qui luật sinh hổa Âm đương và Nga hành Còn Tứ tượng, Bổt q u á đ ư ợ c xem như
là thư yếu, không góp phần quyô't định trị bệnh cho con người Vì trong y học vẾn đề là diên dạt định luệt sinh hóa cũa vú trụ thành định luật sinh hóa của đờl sống bệnh tậ t nơi con người Người ta cần vận dụng nhứng học thuyết này vào vứi Tạng tượng hộc, Sinh lý học, Tâm lý học, Bệnh nguyên học, Thời sinh học, Dược lý học và cả trong châm cứu học, Kinh lạc, huyệt vị vồ cách vận dụng mà trong đó thấy man mác nơi nào cúng có 2 chứ Âm đương hoặc Ngũ hành
Như vộy, rú t ra cho ta một khái niệm rằng Đông y xây dựng trên Dịch
ìý đùng qui luệt Ảm đương tương đổi và biến hóa để tìm hiểu và giải thích nhđng hiện tượng Bỉnh lý và bệnh lý ciia cđ thể, nguyên nhán sinh ra bệnh tột cùng phương pháp chẩn đoán và trị liệu ỉọỉ lấy nguyên tắc Ngũ hành tương
alnh tương khấc để thuyết mtnh mối quan hệ gìứa các khí quan ở trong nhân
thể và tìm hiểu mối câm thông và hòa hợp gỉữa người và vũ trụ nó liên hệ con người vđi những hiện tượng của tự nhiên giới như Thiên văn, Địa lý, Khí tượng, Lịch phể để cuối cùng, kết hợp cóc quan niệm trong ngoài thống
nhất, chỉnh thể hiệp đíầu.^®
Và cũng bdỉ lẽ ấy, nên trong khi Tây y chú trọng vào những điều thực chất do m ắt thấy nhờ giải phấu và chứng minh bằng những điều đă thí nghiệmđưực, th ì Đông y trái lại, chú trọng đến 8ự th ấ t điều của khí hóa và chỉ đĩẽuhòa cái khí hóa, tức là nhứng khuyết điểm ở trẽn thực chất nó sẽ tùy đó mà khôi phục Chuyên luận về cơ năng mà ít chú trọng đến thực chất — Đó lâ
điểm đặc sắc của Đổng y.
Âm đương Ngũ hành nói chung, tức là cái qui luật phát triển và biến hóa của mọi sự vạn vật, chúng hoặc cùng nhau liên hệ, cùng nhau xúc tiến hay lả
Trang 33cùng nhau ức chế, mà eổ nhân trong khỉ quan sát nhứng hỉện tượng ở gìứa
vủ trụ đá phát minh ra được Đó cOng là một triế t học tự nhiôn phót rainh vào thuở tuổi đó của !ịch sử, thud ấy đỗ cổ vô 8Ố khoa học dùng iàm phù hiệu giản hóa để đại biểu, để suy luận và dể diến dịch
Riêng về Đông y nổ đả và vẫn là nguyên tác chủ yếu đế chỉ đạo, vừa là
cơ sờ cùa lý iuận Diễn giải được 8ự mâu thuần cùa Ẳĩti dương cùng hiện tượng của Ngũ hành sinh khắc tức đá có thế hiếu được một cách khái quát 8ự quan
hệ cùa muốn loài vạn vật khác nhau ơ giứa vũ trụ, vệt này cùng vđi vật kia nương nhau để sống, hay là cùng nhau có mối liên hệ
Dịch lý trong khl vạch Bát quái đế biểu thị cho Âm dương biến hốa, trong
đó đâ có đủ Ngũ hành, thế )à Ầm đưcmg Ngứ hành vốn chung một nhà không thể phần chìa ra được
Nội kinh ghi rằng: “Thủy hòa giỏ Ấm đương chi đạo lộ đẩ” và “Kim, Mộc giả sinh thành chi bản thế đá” Xem đổ hiếu được rằng Ngũ hành là do Ằni dương diễn hóa mà ra, không nhứng Âm dương bao quát Ngũ hồnh mà trong
NgU hành cũng có Âm dương.
Xem ở Trời có s khí là Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo.®^ Thuốc có 5 tính
là Hàn, Nhiệt, ồ n , Lương và Bình Người có 5 tạng là Tầm, Can, Tỳ, Phế, Thận Huyệt có Tình, Vinh, Du, Kinh, Hợp Nếu chỉ dùng 2 chđ Âm đương thì khồng đủ đê quy nạp, vậy phải dùng dến cả Ngủ hành
Ảm dương vốn cv3ng có tầng cấp, thừ lấy mấy chữ Hàn, Nhiệt, Ốn, Lương
và Binh mà phân phốt Òn ià bậc nlìì, trong khi Nhiệt là bậc thứ n h ấ t trong Dươtig Lương là bộc thứ nhi trong khi Hàn ỉà bậc thứ nhất của Âm, còn Binh thì lội là cáỉ phân ở gi ứa cho 8ự đíẻu hòa của ô n , Lương, Hàn, Nhiệt
ô n thuộc Mộc, Nhiệt thuộc Hõa, Lương thuộc Kim, Hàn thuộc Thủy, Bình thuộc Thổ Trong Âm kinh: Tỉnh thuộc Mộc, Vinh thuôc_Hỏa, Du thuộc Thổ, Kinh thuộc Kim, Hợp thuộc Thủy Trong Dưcfng kinh; 'Pỉnh thuộc Kim, v in h thuộc Thủy, Du thuộc Mộc, Kinh thuộc Hỏa, Hợp thuộc Thổ
Ngũ hành’ quan trọng như thế, trong Đông y nếu không vận dụng Ngũ hành thì Hàn, N hiệt, ô n , Lương, Binh hoặc Chua, Đắng, Ngọt, Cay, Mặn, hoặc Tình, Vinh, Du, Kinh, Hợp khó lảy gì làm tiêu chuẩn để trị bệnh được
Trang 34Nội kinh nhận định rằng, con người sở dĩ có Sinh, Lão, Bệnh, Tử đó ỉà
do n b đng hiận tượng nóng, lạnh, náng, mưa của 4 mùa nó chi phối Hai chđ
"Tứ thời” đo lằ nòng cốt cùa pho Nộỉ kinh
Bốn mùa có sự biến hóa cùa Phong, Hàn, Thử, Thấp rồi sau đó cổ nhân mới căn cử vào đó mà lộp ra cái thuyết “Lực khi*' đ ể qui cho trời, bốn mùa với 8ự biến hóa eảũ Sinh, Triứng, Hỏa, Thâu, Tầng, rôỉ nhăn sự này mà lập
ra thuyết "Ngũ hành” đ ể qui cko đất Câ 2 thụyết “Lục kk i'‘ yồ "Ngũ h à n h ” đêu mục đich thuyết m inh v ì sự biến kổa của Tứ ikời vậy.
ở đây xin tạm gác vấn đẽ Lục khí mà chỉ bàn tđi Ngũ hành.
Mừa xuân là thời kỳ phát triển, đó ỉà lức mà Vộn vật trỗi dộy để hưđng vtnh, Ẻlnh iý của thực vệt Idc này ià lúc tối thịnh, hởí thế, cổ nhân mđi đùng chứ Mộc để đại biểu cho mùa xuán
Mừa hè nổng nực, eức nống của cả nãm đốn đồy là cực độ, bồi th ế ndn
dùng chửa Hỏa để đại biểu cho mùa hạ.
Mừa thu cáy vàng lá rụng có cái khí tUc sát^^^chẩng khác gì quang cảnh
tàn phá aau trận chiến tranh, bởỉ thế mđi dìrng chử Kim để biểu thị cho mùa
thu
Khí của mùa đống ỉộiìh lẽo, mà nướữ cứng lạnh, mùa đông lọỉ đối lập vđi
mùa hè, th àn h dừng chđ Thủy đẽ đại biếu cho mùa Đống
Còn “H ạ chí nhất âm sinh”, dó là phần Trung ương của cả một nftm, khí
hậu lUc ấy cđ nhíồu thấp khí, bồi thế nên dùng chử Thổ để đại biểu cho mùa
N<ỉi râng Mộc 8inh Hỏa, dổ là mủa Xu&n hết thl Hạ kế tiếp Hẹ vốn flinh
từ trong mừa Xuân, Hỏa lỉn h TM, đổ là chỉ thấy tháng 3 của mùa Hạ tức là
Trưởng hạ, Trưdng họ vốn sanh ra từ trong mùa Hạ; Thổ BÌnh Klm đó là chỉ liỉc Trưdng họ hất thì mửa Thu kế tiếp Mùa Thu vốn sinh từ trong Trưdng hẹ
Kitn sỉnh Thủy, đố là lUc mừa Thu hết thì mửa Đõng k ế tỉếp ThUy
sinh Mộc, mùa Đống hết thì mùa Xuân kế tỉếp, Xuftn chủ sinh, nhưng sd
dĩ mà có được công đụng cùa “Sinh” thực ra cứng nhờ cái công bế tàng cứa mùa Đông vậy,
Hạ chủ trưởng, sd dĩ có cái công dụng của trưởng chính là nhờ cái công
ph át tĩìln của mừa Xuân
Mùa T hu chủ thâu, sd dĩ có được cáỉ công dụng thâu súc, chính là nhờ cái cống trưỗng dưỡng của mùa Hộ
Mùa Đông chỏ bế tàng, sở dĩ được cái công đụng bế tàng, chính là nhờ cáỉ công thành thục của mùa Thu, bởi th ế mứi nói là tương sinh vậy (Tất cả những điều này sẽ phu diễn thêm sau, trong phần “Âm dương Ngũ hành ainh khắc")
Trang 35Tưững sinh ở đây nói v'ê khí chứ không phải nói v'ê chất.
Nói ỳè Ngũ hành tương sinh, căn cứ vào y học Tây phương, chúng ta
thấy nhửng người bị hớt mất Tĩiột khúc ruột, một nửa dạ dày hay ỉà một quảthận, cúng như những người lao phổi bị xẻo mâ't bớt một lá phổi họ vẫn sống được, đổ phải chỗng là nfiờ các công dụng ngũ tạng tương sinh, cái này làm việc thay cho cái kia?
T hỉết tường ở trên ccí thể con người có sinh khắc chế hóa mđi thế, chứ
như bộ máy dông hồ chẳng hạn, nếu thiếu mất một bánh xe tất phải đứng chứ không vận hành được
Thời Dật N hảr/^để giái thuyết cho Ngũ hành tương sinh đã dẫn chứng như sau:
— Hòa sinh Thổ; Đại khái Thố chỉ trường vị gồm đù các chức năng tiêu hổa, hấp thu, phần phối và bài tiết Tuy vậy, cũng phải có ôn độ thích nghi mới duy trì được trạng thái bình thường Nếu thế’ ôn xuống thấp tức p h á t sinh
ra các chứng trên mửa dưởỉ ỉa, chứng quyết lãnh, sợ lạnh phàỉ nằm co rúc Phương hưđng trị phải điều chỉnh chiíc năng tiêu hóa, hưng phấn tổ chđc của trường vị, và kèm theo nhứng vị thuốc hoặc nhđng huyệt vị làm cho m ạnh tim, CỔ nhân gọi như thế là bổ hía để sinh Thổ đó vậy
Thổ sinh Kim: Đại khái chức năng tiêu hóa sinh rối loạn àn h hưồng tđl tác dụng của cơ quan hô hấp, phương hướng trị bệnh à phế lạí thường iấy sự gia tăn g dinh dưởng làm chủ yếu, kèm theo kiện vị đế phụ trợ cho tác dụng tiêu hóa, như thế tưởng củng ỉà hợp vđi cái ý Thô' sinh Kim vậy
Kim sinh Thủy: Đại khái nói Thủy tức lả công dụng của các dịch th ể nội tiế t phạm vi cửa nó rộng rãi, nhưng thuật ngứ Đống y lại dùng 2 chữ tân dịch dể khái quát Khỉ quản hô hấp mà sinh bệnh thỉ tâ n dịch đây chỉ đàm
dái Chức năng hố hấp mà khôi phục được trạng thái bình thuỡng tức là sự
bài tiế t cửa dàm dăi sẽ được tiện lợi, tân dịch cổ thê' tự khôi phục lại, như
th ế tưởng cúng vđi ý bổ Kim sinh Thủy vậy,
Thủy sinh Mộc: Đại khái lấy Thùy nhuận Mộc tức Mộc nó sẽ tự điều đạt,
đó là đề chỉ nếu tân địch sung tiỉc, tức nội nhiệt khổng thể phát sinh (thầnkinh khồng thể vì suy nhược mà có trạng thái hưng phấn), không có các chứng
hư phiền, mất ngù, mộng mị, mộng tinh, đi tinh, để mồ hôi trộm, hồi hộp xâm xoàng, đỏ mặt Đây cũng là vổi cái ý bổ Thùy để sinh Mộc vậy
Mộc sinh Hỏa: Đại khẩi hễ thần kinh được th ư sưđng thì những sự uất kết thuộc về phương đỉện tinh thần 8§ được giải trừ, công dụng của thể ồn 8ẽ dược khổi phục Đây cũng là gần vđi cái ý bổ Thổ để sinh Hỏa vậy
b) Ngũ hành tương khắc:
Nểu ngay giứa mùa Xuân mà lại có thời lệnh mùa Thu tức là cây cỏ vừa mớl nẩy mầm sẽ bị cái khí túc sát giao vào làm cho công đụng cùa mùa Xuân đành phẳi thất bại
Trang 36Mửa Hạ tnâ lại thời I$nh cửa mừa Đỏng thi cái nhiột khí đến đây đáng
ỉỗ cực thịnh lạỉ phài b{ bế tâc vào bắn trong mà khồng phổt tiất ra được, lànì
oho cống dụng tnrdng di«9ng cda mủa Hạ phải bị th ấ t bại
MCw Thu mà ođ thờỉ Ịệĩìh oủ« mừft H«t thế ỉà oAỈ o6ng dụng thu iUc đá
khống thành lại oôn b| phất tiết r t hết.
M ùt Đòng mà lại %híy khỉ uất oủ« mù« Trưdng hệ, i t lá H&n thủy khống
kết thằnh bttngi đắng ỉf thu tàng lễ trở ỉậi phắt tlất, thế ỉà 041 oống lỉim tàng
bị bỏng vậy.
Trưởng hệ tứo ỉà lUc *‘Kạ chỉ nhất ftm iinh" mà I9Ì ođ o ii thdỉ lẬnb của
mù« Xuân tứo ỈA Dưtmg khí oang thịnh mà lin h ra bất hòa vậy Bdl th ế gọỉ
ỉà khắc.
Mửa XuAn mà cổ ỉộnh cửa mùa Đỏng, tức là cál xuân khí dáng tđỉ nđ vấn
chưa tđi, mừa Xuân mà cổ thờỉ ỉệ^h củft mừa Hạ tức ìà cái hạ khí cầưa phải
ỉủc tđi nó đă yộl tđi Hạ, Thu, Đ6ng, cẳ 3 mùa ấy cdng vậy, nếu khí chưa đáng tđỉ mÀ đă vộỉ tứỉ là hđu dư, nếu tỉế t đâ tđl nhưng khí v in chưa tdỉ th ế là bất
tiỉc VÀ tu y cđng có thể làm cho ngưừỉ ta phải hệnhi song vần cồn nhẹ hđn
khắc tặc Xhầc tặc tưc như mủa Xuân mà bị phải cái bệnh của mùa Thu, đáng
•inh trưởng lậl bị tiỉc lát chằng hyn.
Thởi Dật Nhàn để gỉải thích về Nga hành tưtmg khắc trốn nhả.n thể,
ông nổi:
— Mộc khắc Thổ: Đậỉ khái lấy Mộc đại biếu cho chức nfing cùa thần kinh Thổ đặỉ bỉltt cho oơ quan tiêu bóft TỈTth thần uất kết thường ảnh hưởng tđi r(!^ loạn ti6u hổa ndn cổ mạch huyền, đố là hiộn tiA^ng thần kỉnh bị căng thằng Ọố nhấn nốỉ Huỉ^n là mẬch của Can, bdỉ thế ndn đừng m íy chữ Mộc khắc Thổ để thuyết minh trạng tháỉ ấy.
— Thủy khắc Hỏ«: Đại khểỉ ỉfy đẹi bi^u cho cổng dụng cUa thể
ô n và tAm tạng cừng lự tuần hoằn Thể ổ tt xu5ng thtfp, tỉm tú y nhứợc, tỉn h
r a t h ể đ ạ n g ĐiAtc đ ỉ n h t r ệ n h ư t r o n g t r t í ừ n g h ợ p p h ừ t ỉ m c h ầ n g h ạ n
— Hỏa khác Kỉm: Đạỉ kháỉ lấy Kim đọỉ biểu cho cống dụng của cơ quan
hồ ỉilíp Trong phẨỈ cổ phục nhiệt 8Ỉnh ra cắc chthig như ho, thổ huyết, phắt
*ốt, khát nttóc, iốm phiền v.v
— Kỉm khắc Mộc: Đọỉ khái, Kim đây ỉà chi cổng dụng của cơ quan hô hấp Mộc chi hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm vì bị bệnh mà biến động, nếu cố bệnh thường rối loộỉỉ về hô hấp, cổ Iỉhftci gọi đổ là “Mộc Hỏa hình Kim,
va phế”.
— Thổ khắc Tbửy: Đại kháỉ, Tbổ đắng ỉà chỉ công đụng của cơ quan tiêu
hóa, muốti tr ị bộnb trong ngutờỉ cổ thấp kbí ứ đọng (đình thủy) th ì trước hất
phải lo điều lý cơ quan tỉẽu hổa, cổ nhân nối đổ ià "bổ Thổ dĩ chế Thủy”.
Trang 37c) Âm dư<mg và Ngđ hành sinh khắc;
Khống cố quả đất thl khống thế cố sinh mạng, nhưng quả đất cđng cần phẳỉ cổ mặt trdỉ ehỉấu dẹỉ xuống thì 6Ỉnh mạng mđỉ cố thể lỉn h t i n và tồn ĩại, nếu khống thl chỉ 16 mội cỗỉ Am u ỈẬtih ỉỉo và đen tốỉ bỉỂu thị cho cẩnh chết ehổc u minh mầ thối.
Nhưng mặt trừỉ và quả đất lử đĩ đuực ũũ\ \k nguồn gốc của muốn vạn lự vật và muôn vạn hỉện tượng cúng ìà nhd d 2 lực ỉưựng dối ]ập ỉà Âm dưỉrng,
nố hấp dỉn trộn l&n bỉến hổB mà Bỉnh ra lự mấu thuỉn gỉứa động, tĩnh, nổng,
lạnh, sáng, tối Quả đất nhờ các ỉuật thỉên nhiẻn ấy, một mặt tự quay quanh
nó, một mặt quay quanh mặt trời sinh ra 4 mùa vđl nhứng nống, lạnh, ấm,
mát, gây thành nhứng hlộn tượng: Binh, trưởng, hóa, thâu, tàng
Nấu khống cố sự thay đổi cùa 4 mùa tức ỉà động vật cúng như thực vật
không thể có gì ainh sản ra được, chẳng hạn ở Bắc cực và Nam cực, auốt năm
băng tuyết lạnh glá và không c<5 8ự thay đổi của 4 mÙ8 nén thực vột cứng
n h ư động vật cơ hồ đều không sỉnh ềần ra đưực,
Nội kinh vđi câu; “Âm dương là một qui ỉuật tự nhỉốỉi trong khoảng trừi
đất, cdng là cưdng ỉĩnh phân ỉoại tất cả aự vật, là cân bản cùa vạn vột biến
hổa, dồng thdỉ cúng ỉà cội nguồn của flự Binh tntông và hủy diệt, nơi phát nguyên tấ t cả hình tượng phơi bày Do đd, kết hợp vàọ vỉệc trị bộnh trọng y học, dầu tièn phầi rổ Ẳm dương, bắt đầu từ căn bản đd mả giải quyết^^phải chăng ỉà để biểu thị cái ý ấy?
Trưởù đây, trong phần Nga hành tương sinh đđ từng, nhấn mạnh, toàn
cả pho Nộl kinh dếu lẾy 2 chữ “Tứ thời" làm nồng cốt^? Hđn th ế nứa,
Nộỉ kỉnh củng cổ câu “Trong Âm dương còn cồ phân biệt Âm dương nứa
Ví dụ đsm một ngày đêm mố phâiỉ tỉch thl: Ban ngày ỉà Dương, ban đồm
là Âm, nếu pbAn tích thèm một bưđc tìứa, thì cổ ữ ỉĩ nổi: Từ hửng sáng
đến gỉứBi tn ô i là Dutmg trên Dương, từ ^ đ ầ tn m đến Ịiỉc boàog hôn là Ằm trên Dương, từ ỉức hoàng hồn đến ỉúc gà gáy khuya ià Âm trôn Âm Từ
gà gáy khuya đến sáng sđm là Duơng trèn Âm Thế là đem Âm đương để ph&n tích ngày đêm nếu dùng nó để phân tích ứng đụng vào con người
th ì cũng cùng một kiểu nhự vệy.'’®
Vệy ở đây xin căn cứ vào nhứng hiện tượng biến hóa của 4 mùa ngày
đêm để th ử giải thích thuyết Ngũ hành tương sinh tương khắc như sau:
Sức nống của ánh sáng măt trời có tín h chất hay bốc và đi lên, hả'p lực của tru n g tâm quầ đất lại có tín h chất hay chìm và n ít xuống Mặt đất chúng ta đang
ở là cái bản lề của 2 lực lượng lên và xuống ôy Nhtítig mặt đất chẳng phải im lìm
mà cùng với địa cầu xoay vần khiến một mặt không khí bốc không th ể bốc đựng lên, một m ặt khống khí chìm không th ể chìm dọc xuống, raà hỉnh thành một ỉuồng không khí xoay vần theo vòng tròn mà luôn luôn không nghỉ
Trang 38Trong lúc ánh sáng do mặt trời Ibức xọ đã tiến tới chiều dọc (gọi là đứng bóng), tức là lúc mà hấp lực củai đương quang bắt dầu mạnh lần hơn hấp lực của tru n g tâm trái đất Trong lúc: á n h sáng mặt trừl bắt dầu đi xiên tức
là lúc mà hấp lực của trung tâm quả đất bắt đầu mạnh lần hơn hấp lực củaánh sáng mặt trời
Các hiện tượng tiêu, trưởng, tiếm, thối của 2 lực lượng Ầm dương ấy, dó tức là Ngă hành tiừmg sinh, tương kHiỔc vậy Tương sinh tức ỉà sự diễn biên cãa 2 lực lượng ấy Tựơng khắc lại là sự dối trị của 2 ỉực lượng ấy Tổng hợp
cả 2 lực lượng tượng sinh yà tương kìhỗc ẵy tức thành một sức vận động tuần hoàn không đầu không m úi*^
Nói vé ngày đêm, mỗi buổi sáng: mai sức nóng cùa mặt trdi hấp dẫn địa khí lên, các lực lượng sđ tán và thăng: đằng ấy tức là hàiih Mộc, kịp đến trung ngọ, nhiệt lực của ánh sáng mặt trời gia cường, địa khí trưđc rađỉ bốc sơ, bây
gid hực lên mặt đất, hiệti tượng này ttức là Mộc sinh Hòạ, kế đến hạ ngọ, ánh
sáng mặt trời bát đầu đi xiên, sức bỄ6c lồn của địa khí vì bị hấp lực của quà
đất chi phối bèn quay trd xuống, hiệni tượng này tức là Hỏa sinh Thổ Và đến
xế chiều, ánh sáng m ạt trời đâ khuấít lần, địa khí nhân bị chi phối bởi hâ'p íực của trung tâm quả đất mà rút xuỉống ngang mặt đất, hiện tượng này tức
ìà Thổ sinh Kim Và đến lúc nửa dêini ánh sáng m ặtn íờ ỉ dã n ít về phía bên
kia quả đất, địa khí trưđc ở trên mặỊt bây giờ rú t hẳn xuống dưới dết Hiệiì
tượng này tức là Kim 3inh Thủy Tí®p đó, mặt trời hừng đông dịa khí bị chi phối bởi nhiệt lực cùa Dương quang ttừ đưứi đất bốc iềh Hiện tượng này tức
ỉà Mộc sinh Thùy
Sự vận động thăng giáng của địa khí tùy theo ngày đêm như đã nói trên
là biện tượng Ngữ hành tưang 5Ỉnh wậy.
Tưcmg khắc tức là sự đốỉ tr[ cùSa 2 lực lượng và cOng là sự cùng nhau
thắng phục của 2 lực lượng, như hàmb Mộc đó là nhiệt lực của m ặt Irời lúc mới bắt dầu hiện ra, hành Hôa tức là BUc nhi^t lực của thầi dương đả trổ thành
gay gắt, Hai hành Mộc vk Hda dếu ìềí 2 lực Iv6?ng nó xoay chuyển để đi lèn.
Hành Kim là lúc nhiệt lực cùa m ặ t trời dố bắt dầu giảm thối Hành Thùy
là lức nhiệt lực của tháỉ đfi gịiảni thối rỗ rệt, và cứng nhân nhiệt lựccùa m ệt trời giảm thối nôn hấp lực của trung tâm quả đất mđi thắng phục, hai hành Kim và Thủy đỆu là nhứ ng lợc luợng r»5 xoay vần dể đỉ xuống và cúng nhân hành Kim cở sức di xuốnig nèn mdỉ thắng đưực cái sức đi lên của hành Mộc Bởí th ế mđi gọi là Kim khắc Mộc,
Lúc di xuống của hành Kim khững thắng nổỉ sức bốc lên của hành Hỏa,
th ế gọi ỉà Hỏa khắc Kim Siíc bốc ỈẾra của hành Hồa ỉọỉ khdng thổng được sức
đi xuống của hành Thủy, th ế gọi ỉà Thùy khắc Hòa
Sức vận hành của hành Thổ cổ> thể chụyển biến aức đi xuống của hành Thùy bởi thế gọi là Thổ khắc Thủy Sức đi lên của hành Mộc lạl thắng được sức vận hóa của hành Thổ, bởi th ế gọỉ là Mộc khổc Thổ
Trang 39Sức cùng nhau th ắn g phục của cáíc lực iượng ấy tức ỉà tương khắc vậv.Thời Dật Nhán'*? để giải thích híệên tượng sinh khắc ncfi con người, ôngnói:
Ngũ h ành sinh khắc nơi con ngườíi là nói vẹ sự ở gịứa ngũ tạng cái nặỵ cùng với cái kia hoặc cùng nhau xúc ítiẻn, hoặc cùng nhau chẽ ước dê cùng nhau p h át sinh một tác đụng hiệp điềm Nay th ử dựa vào học thuyết nội tiê't (Enđocrinologie) để giải thích Ví dụ như lúc th ần kinh giao cam (Orthosympathique) hưng phấn tức là Cíhất Âdrénaline tiế t ra, ch ất này có táo dụng làm cho quả tim đập nhanh (nhưr th ế phải chăng là sinh?), trái lại lúc
th ần kinh đối giao cảm (Parasympathiíque) hưng phấn, nó lại làm cho chất Acétylcholène tiết ra, chất này ỉại có tá c dụng làm cho quả tim đập chậm lại (phải chăng như th ế này là khắc?)
Lại nứa, trong lúc ỉnsuỉin (Insulinée) một nội tiế t tố do tụy tiế t ra, nó ỉàm cho bạ huyết áp đưđi ỉnức bình thưtòng, tb ì nang thượng thận (capsuỉes surrénaỉes) ìại tiế t ra chất thận thượn® tô' (aổrénaỉìne) đế' iàm cho tăng huyết
áp (như th ế phải chăng iă sinh?) Tráit lại, iúc huyết áp táng cao quá độ, dáo
tụy (ilôte de langherans ở trong tụy) bị kích th íc h rồi tiế t ra chất ỉnsưline đế
ngăn cân huyết áp không cho nó lèn caoi nữa (phải chăng như th ế này lằ khắc? )
Có sinh mà không có khắc tức là có tiến mà không có thối, như th ế thì sin h khí sẽ tới chỗ kiệt tuyệt, mà khíắc không có sinh thì phần bị ức chế khồng th ể trối dậy nổl mà rồi cũng 8ẽ Ibị tiêu mất Sinh khắc tức là cái lý tự nhiên của trời đất, nhưng sinh mà th â i quá tức ỉà cũng trở lại thành khẩo
CỔ n h ân nói “Cang tắc hại thừa nãl ch ế ", có gì chế lại mđi có sinh hóa vậy
Riêng về cái lý tương khắc, đó ctiiầng qua ỉà đề chế ước phần thái quá
làm cho trồ thành bình bôa, chứ không; phải làrn cho tuyệt điệt, và cũng là dữ
Uc chế phần phù việt để kéo nó về gốf'c dược dự trù cái sinh cơ về sau này
N hư th ế thì, tương khắc cứng lã tương: thành vậy
Để minh họa thêm lý luận gỉảí thiích cho chúng ta v'ê sự vận hành của
4 mùa cũng nhd đó tnđi có 8ự sinh, truíởng, thu, tàn g của 4 mùa Xuân sinh,
Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàng, đều (CÓ ảnh hưdng trự c tiếp đến khí huyết vận h ành trong cơ th ể con người và cúmg ỉà nhờ đó mà có sự chỉ đạo lý luận trong Đông y và châm cứu
Để dễ hiểu vâ cụ thể:'*®
— Đối vđi ý nghĩa vận khí trong nàmt
T ừ Tý <Đồng chí) đến Ngọ (Hạ c;hí) gồm 6 thổng, đây là giai đoạn mà
đương khí tiến từ ví ổến th ịn h , từ Ngọ (Hộ chO đến T ý (Đông chi) ^ i n 6
tháng, đây là giai đoạn mà Am khí tiếm từ rihượtí tới cường.
— Đối với Âm dương động khí:
Tý thuộc giai đoạn âm cực "Nhốt dương sịn h ” Ngọ thuộc giai đoạn đương cực “N hất âm sinh”
Trang 40— E>ối vđỉ Âm đương tiến thối:
Từ Tý đến Ngọ 6 thời thần, là giai đoạn "Dương tiến Âm thối” Từ
Ngọ tđi Tý 6 thời th ầ n là giai đoạn “Ầm tiến Dương th ố r
— Đối vđi Âm dương tiêu tức:
Từ Tý dến Ngọ là giai đoạn "Tức”, Từ Ngọ đến Tý là giai đoạn “Tiêu”
— Đối vđi phưđng hướng:
Tý nằm ở phương Bắc, Ngọ nằm ở phương Nam
— Đối vđi Ngũ hành:
Tý thuộc Thủy, Ngọ thuộc Hỏa
— Đối vđỉ Bự vận h ành nghịch chiều Âm dương, tả hứu:®*^
Tý nằm ở Bắc, Dương qm y về hứu, Ằm quay về tả.
— E)ối với 12 thiên tử quái:
Hãy bát dầu tor ngày Đỏng chí.®^
Nhìn phiến diện bên ngoài, thì Đông chí là ngày thê lương ồtn đạm, nhưng
không! Nếu tra cứu tới căn nguồn thì Đông chí lại là ngày “Âm dưcmg hợp tỉn h ”, “N hật nguyệt hỢp bích"®^Cho nên, ngày Đông chí lại là ngày “N hất dương lai phục”, lii ngày của nguồn sống bắt đầu âm thầm tung tỏa từ lòng sâu vật chất và vạn vật.^®
Thời gian ấy ứng vào gid gọi ìà Tý hàm ngụ ý nghĩa xuất sinh,®® ứng vào quẻ gọi là “P hục” để đánh đấu sự trở lại của sinh khí cũng như của vừng đương
Nhưng th ậ t ra, Đông chí chỉ là khởi điểm cùa đường trời, tháng giêng mới chính lá khời điểm cho các động tác cùa nhân loại