1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tiểu luận Cổ phần hoá và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước docx

26 534 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cổ Phần Hoá Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam
Người hướng dẫn TS. Vũ Thị Minh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 252 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cổ phần hoá DNNN là một chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước ta nhằm huy động thêm nguồn vốn của xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo độnglực mạnh mẻ, cơ chế quản lí năng động nhằm sử dụng

Trang 1

KHOA KTNN&PTNT

Tiểu luận

ĐỀ TÀI:

CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Sinh viên : Phạm Xuân Hùng

Giảng viên hướng dẫn TS.Vũ Thị Minh

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu 1

Nội dung 3

I) Cổ phần hóa và cổ phần hóaDNNN 3

1.Cổ phần hóa 3

2.Cổ phần hóa DNNN 3

II) Cơ sở lí luận và thực tiễn cổ phần hóa DNNN 4

1.Cơ sở lí luận 4

2.Thực tiễn cổ phần hóa DNNN 6

III) Tiến trình cổ phần hóa DNNN 8

1.Giai đoạn 1 9

2.Giai đoạn 2 10

3.Giai đoạn 3 10

4.Giai đoạn 4 11

IV) Đánh giá chung về quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam12 1.Những thành tựu 13

1.1.Những thành tựu mang tính định lượng 13

1.2.Thành tựu của cổ phần hóa DNNN đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hóa và tác động của nó tới việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động 14

1.2.1.Về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ phần hóa .14

1.2.2.Về huy động vốn 15

1.2.3.Về giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động 15 2.Những hạn chế 16

2.1.Tốc độ cổ phần hóa chậm 16

2.2.Cổ phần hóa chưa được thực hiện đều khắp trong tất cả các lĩnh vực17 2.3.Cơ chế chính sách cho các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa chưa đầy đủ 18

2.4.Sự chỉ đạo của các cấp còn thiếu sự kiên quyết và còn chưa sâu sát kịp thời 18

2.5.Công tác tuyên truyền, vận động cung cấp những kiến thức cần thiết về cổ phần hóa còn bị xem nhẹ 18

2.6.Những hạn chế, trì trệ từ phía doanh nghiệp 19

VI) Mục tiêu của cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam 19

VII) Giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam 23

1.Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chế độ chính sách để thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN 23

Trang 3

2.Mở rộng đề cao các biện pháp kinh tế, hạn chế thu hẹp các biện pháp tài chính 24

3.Giải quyết dứt điểm các khoản nợ tồn đọng của các DNNN sau khi cổ phần hóa 25

4.Quán triệt một cách sâu rộng trong toàn thể cán bộ, Đảng viên và người lao động về tính tất yếu phải cổ phần hóa 25

5.Những giải pháp khác 25

Kết luận 27

Tài liệu tham khảo 28

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta đang chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế Muốn thực hiện được mục tiêu đã đề ra thì năng lực cạnh tranhcủa nền kinh tế nói chung cũng như của từng doanh nghiệp, từng sản phẩm nói riêng phảikhông ngừng được nâng cao Thực chất cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là phần lớncác doanh nghiệp nông nghiệp Muốn nâng cao được sức cạnh tranh cho các doanh nghiệpViệt Nam thì cổ phần hoá một bộ phận các doanh nghiệp nhà nước(DNNN) được coi là mộttrong những giải pháp quan trọng Đảng và Nhà Nước ta đã chủ trương thực hiện quá trìnhnày từ đầu thập niên 90, cho đến nay thì đã trải qua bốn giai đoạn Giai đoạn 1992-1996thực hiện thí điểm theo quyêt định số 220/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là ChínhPhủ) Giai đoạn 1996-1998 triển khai thực hiện cổ phần hoá một bộ phận DNNN theo tinhthần Nghị Định 28/CP của Chính Phủ Giai đoạn 1998-2001 đẩy mạnh cổ phần hoá DNNNtheo Nghị Định 44/1998/NĐ_CP Giai đoạn mới, giai đoạn tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóatheo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP Cổ phần hoá DNNN là một chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước ta nhằm huy động thêm nguồn vốn của xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo độnglực mạnh mẻ, cơ chế quản lí năng động nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn của Nhà nướccung cấp như của toàn xã hội, nhằm tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trên trườngquốc tế Sau hơn 10 năm thực hiện với kết quả tích cực chủ trương ngày càng có sức sống,

cơ chế chính sách ngày càng được điều chỉnh, bổ sung hợp lí hơn và hoàn thiện hơn Cổphần hoá DNNN là một nhu cầu, một thực tế khách quan trong quá trình xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các công ty cổ phần sẻ là loại hình doanhnghiệp phổ biến do thu hút được nguồn vốn rộng rãi trong xã hội, tách được quyền sở hữuvốn và quyền sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh Xét một cách toàn diện thì cổ phầnhoá DNNN đã đem lại lợi ích rõ rệt cho người lao động, cổ đông, Nhà nước và xã hội.Thông qua cổ phần hoá vốn Nhà nước không những được đảm bảo mà còn được tăng thêm.DNNN có nhiều cơ hội huy động vốn trong xã hội để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinhdoanh, mở rộng sản xuất Sau 3 năm triển khai thực hiện nghị quyết lần thứ 3 hội nghị banchấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng caohiệu quả DNNN việc thực hiện cổ phần hoá nói riêng và đổi mới DNNN nói chung đã cónhững chuyển biến tích cực Các cơ chế chính sách được ban hành đã sớm phát huy đượchiệu quả, tạo ra được động lực quan trọng và kết quả đáng ghi nhận trong tiến trình cổ phầnhoá DNNN Tuy nhiên qua quá trình cổ phần hoá DNNN đã xuất hiện nhiều tồn tại hạn chếcần sớm được khắc phục , tốc độ cổ phần hoá đang diễn ra khá chậm mà một trong nhữngnguyên nhân chủ yếu chính là những “rào cản”, vì thế việc xác định cụ thể chính xác những

“rào cản” trong tiến trình cổ phần hoá DNNN là hết sức cần thiết để từ đó đưa ra những giảipháp hợp lí nhằm hạn chế bớt những “rào cản” làm chậm tiến trình cổ phần hoá DNNN nóiriêng cũng như chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta nói chung

Nội dung đề án được chia làm các phần chính sau:

Trang 5

I) Khái niệm cổ phần hoá và cổ phần hoá DNNN.

II) Cơ sở lí luận và thực tiễn cổ phần hoá DNNN

III).Tiến trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam

IV) Đánh giá chung về tiến trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam.V) Mục tiêu cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam

VI) Giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam

Trang 6

NỘI DUNG

I) Cổ phần hoá và cổ phần hoá DNNN

1.Cổ phần hoá

Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần

bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ khác của

doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự dochuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp qui định tại khoản 3 điều

55 và khoản 1 điều 58 của luật doanh nghiệp Cổ đông có thể là tổ chức cá nhân số lượng

cổ đông tối thiểu là 3 không hạn chế tối đa Công ty cổ phần được phép phát hành chứngkhoán và có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh

Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu, biến doanh nghiệp một chủ

thành doanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữuchung thông qua chuyển một phần tài sản cho người khác, cổ phần hoá có thể áp dụng vớitất cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ duy nhất Vì thế doanh nghiệp tư nhân,doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều có thể cổ phần hoá

2 Cổ phần hoá DNNN

DNNN được định nghĩa ở điều 1 luật DNNN: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức

kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổchức dưới hình thưc công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.Định nghĩa này chứa đựng những thay đổi cơ bản trong nhận thức của các nhà lập pháp vàhoạch định chính sách đối với các thành phần kinh tế Như vậy việc xác định DNNN khônghoàn toàn dựa vào tiêu chí sở hữu như trước đây ( trước đây doanh nghiệp được Nhà nướcthành lập, đầu tư vốn, tổ chức quản lí được coi là DNNN trong đó sở hữu được coi là tiêuchí cơ bản nhất); tiêu chí quyền chi phối được áp dụng trong luật DNNN năm 2003 là tiêuchí định lượng, tính chất định lượng thể hiện ở phần vốn góp của Nhà nước trong toàn bộvốn của doanh nghiệp Như vậy quyền kiểm soát được coi là tiêu chí cơ bản để xác địnhmột doanh nghiệp có phải là DNNN hay không, đây có thể coi là một bước tiến trong cáchtiếp cận DNNN

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu

một phần tài sản của Nhà nước, biến doanh nghiệp từ sở hữu của Nhà nước thành dạng sởhữu hỗn hợp trong đó Nhà nước có thể giữ một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này tuỳ thuộc vào từngdoanh nghiệp cũng như vai trò và vị trí của nó trong nền kinh tế

Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường được đại hội ĐảngVI khởi xướng đã tạo ra nhữngđiều kiện tiền đề để cải cách triệt để hơn đối với DNNN, thông qua việc cổ phần hoá chúng

Sở dĩ cổ phần hoá được coi là giải pháp triệt để vì nó giải quyết được căn nguyên trong tổchức quản lí và hoạt động của DNNN đó là sở hữu Cổ phần hoá DNNN chấp nhận sự dunghoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau mà trước hết là các doanh nghiệp Cổ phần hoálàm thay đổi kết cấu sở hữu của chúng

II) Cơ sở lí luận và thực tiễn cổ phần hoá DNNN

Quá trình cổ phần hoá DNNN có cả những thành công và những va vấp lệch lạc Nhữngthành công chủ yếu là gặt hái được nhiều kinh nghiệm, làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề

Trang 7

không chỉ trong phạm vi cổ phần hoá mà cả trong lĩnh vực hệ trọng hơn, như sắp xếp đổimới DNNN và cơ chế quản lý

1 Cơ sở lí luận

Về thực chất hình thức công ty cổ phần đầu tiên đã được C.Mac đánh giá và kháiquát một cách khách quan và khoa học Sự ra đời của các công ty cổ phần là một bước tiếncủa lực lượng sản xuất:

Chúng đã biến những người sỡ hữu tư bản thành những người sở hữu thuần tuý, một mặtchỉ giản đơn điều khiển và quản lí tư bản của người khác, mặt khác là những nhà tư bản-tiền tệ thuần tuý Quyền sở hữu tư bản hoàn toàn tách rời chức năng của tư bản trong quátrình tái sản xuất thực tế

Làm cho quy mô sản xuất được tăng lên, mở rộng, một điều mà đối với các doanh nghiệpriêng lẻ rất khó thực hiện Xuất hiện những tiền đề thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tưnhân ở ngay trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thủtiêu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở ngay trong lòng nó

Các công ty cổ phần là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng của quá trình tái sảnxuất hiện còn gắn liền với quyền sỡ hữu tư bản đơn giản thành những chức năng của nhữngngười sản xuất liên hợp, tức là thành những chức năng xã hội

Bên cạnh những thành công đó thì C.Mac cũng phân tích những hạn chế ( tiêu cực) của cáccông ty cổ phần C.Mac chủ yếu phân tích những ảnh hưởng của phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa, so sánh công ty cổ phần tư bản chủ nghĩa với công ty hợp tác của côngnhân Dưới chủ nghĩa tư bản có thể hình thức sản xuất mới này sẻ đưa đến việc thiết lập chế

độ độc quyền và đưa đến sự can thiệp của Nhà nước

Như vậy sự xuất hiện của các công ty cổ phần theo lí luận của C.Mac là kết quả của sự pháttriển của lực lượng sản xuất và là bước tiến từ sở hữu tư nhân lên sở hữu tập thể của các cổđông

Quá trình cổ phần hóa một bộ phận DNNN ở nước ta có nhiều nét đặc thù, đó là cổphần hóa một bộ phận doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, thuộc sở hữu xã hội, toàn dân.Mục tiêu cơ bản của việc chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần là nhằm hoànthiện quan hệ sản xuất, phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao hiệuquả của DNNN Cụ thể là tìm một hình thức quản lí vừa phát huy quyền làm chủ của ngườilao động vừa đảm bảo quản lí một cách có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp

Chúng ta đã đưa ra nhiều hình thức công ty cổ phần nhưng có thể gói gọn trong hai nhómchính:

Nhóm các công ty cổ phần trong đó Nhà nước có tham gia cổ phần như: Giữ nguyên giá trịcủa doanh nghiệp kêu gọi thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, bán một phần tàisản doanh nghiệp, cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Tất cả các hình thức cổ phầnhóa theo ba dạng trên thì Nhà nước hoặc là nắm giữ cổ phiếu khống chế(51%) hoặc làkhông nắm giữ cổ phiếu khống chế

Loại hình cổ phần hóa theo thể thức Nhà nước bán toàn bộ doanh nghiệp cho người laođộng Nhằm rút vốn, đầu tư vào những ngành lĩnh vực quan trọng, then chốt, địa bàn quantrọng Không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các ngành, lĩnh vực, sản phẩm củanền kinh tế

Trang 8

Dù tồn tại dưới bất kì hình thức nào thì công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp đa sởhữu khi người lao động tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp thì họ cũng đã gắn lợi íchcủa bản thân vào lợi ích của doanh nghiệp, tạo ra sự giám sát tập thể đối với đối với quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra cơ chế phân phối hài hòa giữa doanh nghiệp,Nhà nước và người lao động Nhờ đó mà hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp cóđiều kiện được nâng lên.

Như vậy có thể nói quá trình cổ phần hóa một bộ phận DNNN không phải là quá trình tưnhân hóa Bởi vì Nhà nước chỉ nắm giữ những ngành, những lĩnh vực cần thiết, vai trò chủđạo của khu vực kinh tế nhà nước không những không được cũng cố mà còn có thể bị yếu

đi nếu cứ tiếp tục duy trì những doanh nghiệp hiệu quả thấp, năng lực cạnh tranh kém Việcbán toàn bộ tài sản chỉ được áp dụng đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước không cầnnắm giữ, những lĩnh vực mà khu vực dân doanh hoàn toàn có thể làn tốt hơn DNNN Nhànước sẻ lựa chọn hình thức bán phù hợp và nếu bán theo cách để cho người lao động có cổphần ưu đãi hay cổ phần không chia thì rõ ràng không thể nói đó là tư nhân hóa

Cổ phần hóa cũng xuất phát từ yêu cầu đổi mới DNNN DNNN nắm giữ trong tay nhữngnguồn lực của nền kinh tế như tài nguyên thiên nhiên, vốn và nhân lực Việc sử dụng lãngphí, không hiệu quả cao các nguồn lực khan hiếm là một trong những nhân tố làm chậmtiến trình phát triển kinh tế của nước ta Tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế nước tatrong những năm qua không có nghĩa là nền kinh tế chúng ta đang vận hành trơn tru mà sựtăng trưởng cao đó như các tổ chức kinh tế thế giới đã cảnh báo là do chúng ta có xuất phátđiểm thấp Hiện nay mối quan hệ giưa nhà nước và các DNNN là không rõ ràng, để duy trìcác doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả Nhà nước đã sử dụng hàng loạt các biện pháp trựctiếp và gián tiếp như : xóa nợ, khoanh nợ, tăng vốn, ưu đãi tín dụng Và như vậy DNNNtrở thành đối tượng “trợ cấp” của xã hội, và xã hội trở thành chổ bấu víu cho các DNNN làm ăn thua lỗ Theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác định lại giá trị tài sản của DNNN

thì thực trạng như sau: “tổng giá trị tài sản của DNNN theo sổ sách kế toán là 517.654 tỷ

đồng, theo giá kiểm kê xác định lại là 527.256 tỷ đồng; số nợ phải thu là 187.091 tỷ đồng chiếm 35% giá trị tài sản của doanh nghiệp, gấp 1,43 lần vốn kinh doanh; hàng hóa tồn kho là 45.688 tỷ đồng, trong đó hàng ứ đọng, mất phẩm chất không dùng đến là 1.600 tỷ đồng; doanh nghiệp có 1 đồng vốn thì phải vay hoặc chiếm dụng 1,2 đồng cho kinh doanh,

hệ số vốn vay và vốn chiếm dụng so với vốn sở hữu là 1,8 lần; tổng số nợ phải trả là 353.410 tỷ đồng, bằng 2,3 lần vốn nhà nước cấp, gấp 2 lần nợ phải thu trong đó nợ quá hạn phải trả là 10.171 tỷ” theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác định lại tài sản DNNN

tại thời điểm 0 h ngày 01-01-2000.

Yêu cầu đổi mới DNNN còn phát sinh sự từ cạnh tranh với khu vực kinh tế tư nhân đang cónhững bước chuyển mình mạnh mẻ Mặt khác trong quá trình hội nhập DNNN không chỉcạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân trong nước mà còn cả với các doanh nghiệp kháccủa nước ngoài Cạnh tranh trên thị trường không chấp nhận sự bảo hộ của Nhà nước đốivới các doanh nghiệp của mình mà cạnh tranh bình đẳng đòi hỏi nhà nước không chỉ xóađộc quyền mà cả bao cấp Như vậy cổ phần hóa là một giải pháp tốt cho nền kinh tế nước tanói chung cũng như các DNNN nói riêng

Trang 9

2 Thực tiễn cổ phần hóa DNNN.

DNNN có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa Sự tồntại của DNNN ở các nước tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan Khi mà những cuộckhủng hoảng liên tục của chủ nghĩa tư bản vào những năm đầu của thế kỉ XIX đã chứng

minh sự sụp đổ của học thuyết bàn tay vô hình Sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động

của nền kinh tế là rất cần thiết để duy trì sự phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân Tuynhiên sự phát triển của DNNN ở nhiều nước đều vấp phải tình trạng chung là hiệu quả thấp,tham nhũng, lãng phí Vì thế cải cách DNNN là một điều tất yếu; Có nhiều cách thức đểcải cách DNNN nhưng tư nhân hóa là biện pháp được sử dụng rộng rãi nhất và đem lạinhiều kết quả khả quan nhất Tư nhân hóa được tiến hành mạnh mẻ ở các nước có nền kinh

tế phát triển mạnh như Hàn Quốc, Xingapo, Nam phi cũng như các nước đang phát triển

và các nước phát triển và nó đang trở thành một xu thế mang tính chất toàn cầu Là mộtnước xã hôi chủ nghĩa, có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cũng gần giống với Việt Nam.Trung Quốc cũng tiến hành cải cách DNNN và thực tiễn cải cách DNNN ở Trung Quốc đã

để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu Cải cách DNNN ở Trung quốc được thựchiện khá rộng rãi và thành công, thực sự là một kinh nghiệm cho việc cải cách DNNN màkhông cần phải tư nhân hóa hàng loạt Cải cách DNNN bắt đầu từ năm 1984 và đã trải quabốn giai đoạn Cổ phân hóa DNNN trong giai đoạn này thực sự trở thành chiến lược củaTrung Quốc trong việc hiện đại hóa và phát triển kinh tế và đã thể hiện rõ rệt hiệu quả của

khu vực kinh tế công cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN

Phải nói rằng cụm từ “cổ phần “ đã rất quen thuộc từ hơn nhiều năm nay, kể từ khiĐảng ta lập hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng, lập cửa hàng xí nghiệp công tư hợpdoanh và đã được phát triển rộng khắp Trước sức ép đẩy nhanh việc cổ phần hóa một sốđịa phương và DNNN đã tìm mọi cách để đạt được chỉ tiêu kế hoạch Nếu chọn đơn vị kémhấp dẫn để cổ phần hóa thì cổ phần hóa thường rất bế tắc vì xuất phát từ tâm lí chủ quancủa mọi người là ai cũng muốn bảo toàn lợi ích của mình, không ai muốn rủi ro vì thếkhông ai muốn bỏ vốn ra để mua cổ phần Bởi vậy để có thể suôn sẻ việc chọn đơn vị nàođang làm ăn được, đang có triển vọng được coi là một giải pháp hữu hiệu dễ được cán bộcông nhân viên và người ngoài doanh nghiệp chấp nhận việc mua cổ phần Nếu chỉ làDNNN thuần túy thì cơ chế tài chính rất ngặt nghèo, dù làm ăn có hiệu quả, lãi lớn thì tiềnlương vẫn bị khống chế, không được tăng lên tương ứng Sự xuất hiện của công ty cổ phần

đã phần nào khắc phục được những hạn chế đó Nhưng qua thực tế thì rõ ràng không phải

cổ phần hóa là một phép màu làm cho các công ty cổ phần bỗng nhiên phát đạt, bởi vì nếukhông có sự “hỗ trợ” của các DNNN thì các công tyđó mất rất nhiều hợp đồng kinh tế, mấtviệc làm và có thể dẫn đến sa sút ngay Điều này càng chứng tỏ cổ phần hóa làm sáng tỏnhu cầu và nội dung đổi mới DNNN, đó là phải đồng bộ cả về sắp xếp cải tiến hoạt độngcủa doanh nghiệp và cơ chế chính sách đối với nó để đảm bảo động lực phát triển, nhân tốkích thích sự hăng hái sáng tạo, nâng cao hiệu quả kinh doanh

Các công ty thành viên hoặc bộ phận trong DNNN sau khi cổ phần hóa về nguyên tắc coinhư đã ra khỏi doanh nghiệp mẹ Nhưng xét về thực chất thì công ty cổ phần mới vẫn gắnchặt với công ty mẹ và thông thường không muốn rời bỏ quan hệ mật thiết trong hệ thốngcủa tổng công ty Nhà nước Bởi vậy cổ phần hóa đã gợi mở mô hình tổng công ty đa sở hữu

Trang 10

với thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, vai trò chủ đạo ở đây bắt nguồn từkhả năng chi phối bằng sức mạnh kinh tế, từ lợi ích mà thành phần kinh tế chủ đạo dẫn dắt

và mang lại cho các thành phần kinh tế khác Trong thực tế đã bắt đầu xuất hiện công ty đa

sỡ hữu kiểu này ở một vài DNNN có quy mô lớn nhưng mô hình này chưa được thể chếhóa và nhân rộng Khi mô hình này được phát triển thì sẻ ẩn chứa khả năng hình thành cáccông ty đầu tư hoặc kinh doanh tài sản của Nhà nước, qua đó quyền sở hữu tài sản củadoanh nghiệp sẻ chuyển thành quyền sở hữu giá trị dưới hình thức phổ biến là cổ phiếu Trong nền kinh tế thị trường các công ty cổ phần các, công ty TNHH, tư nhân đầu tư muachứng khoán của nhau, đan xen xâm nhập nhau tạo nên những hình thái doanh nghiệp đa sởhữu, tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh nhưng lại gắn kết các thành viên trong xã hội

ở hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có thể nói đây là xu hướng tích cực,ngày càng phổ biến làm cho các thành viên trong nền kinh tế có thể hợp sức nhau lại tạonên một động lực mới cho tiến trình phát triển kinh tế của đất nước

III) Tiến trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam

Cổ phần hóa là một phần quan trọng trong cải cách hệ thống doanh nghiệp Nhà nước củanhiều quốc gia trên thế giới kể từ đàu thập niên 80 của thế kỉ XX ở Việt Nam, cổ phần hóaDNNN là một quá trình tìm tòi thử nghiệm và từng bước tháo gỡ khó khăn trong quá trìnhtriển khai Trong quá trình đó Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy, từng bước chỉ đạođúng đắn cổ phần hóa góp phần sắp xếp, cũng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả của hệthống DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong thời gian từ

1960 đến 1990 tức là trước thời điểm thực hiện cổ phần hóa, Đảng và Nhà nước ta đã triểnkhai nhiều biện pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh Trong thời kì đổi mới ýtưởng về cổ phần hóa DNNN đã được hình thành khá sớm Từ hội nghị Trung ương3( khóa VI) về đổi mới cơ chế quản lí đã nêu: “ Nếu không đủ điều kiện để cũng cố vàkhông cần thiết duy trì hình thức quốc doanh thì chuyển sang hình thức sở hữu khác ( kể cảcho tập thể, tư nhân thuê), hoặc giải thể, trước hết là những xí nghiệp sản xuất hàng tiêudùng không thuộc loại thiết yếu, xí nghiệp dịch vụ trang bị kĩ thuật thấp, bị thua lỗ thườngxuyên Những biện pháp cải cách tương đối có giá trị đột phá được qui định trong quyếtđịnh số 21/HĐBT ngày 14-11-1987 của hội đồng bộ trưởng Nếu tính về số lượng các vănbản được ban hành thì vấn đề đổi mới DNNN chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống chínhsách và pháp luật ở nước ta Quyết định 21/HĐBT đã đề cập tới việc tiến hành thí điểm cổphần hóa DNNN và giao cho bộ tài chính chủ trì Nhưng do điều kiện thị trường chưa pháttriển, tồn tại quá lâu trong cơ chế củ nên từ Trung ương đến cơ sở chưa hiểu hết vấn đềphức tạp này do đó chưa thống nhất về quan điểm Ở giai đoạn này thì cổ phần hóa là mộtvấn đề mới đối với thực tiễn quản lí DNNN ở nước ta Đầu năm 1990 trên cơ sở đánh giákết quả sau 5 năm đổi mới, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành quyết định số 143/HĐBT ngày10/5/1990 về chủ trương nghiên cứu làm thử xí nghiệp quốc doanh sang công ty cổ phần.Tuy vậy đến năm 1992 cả nước chưa cổ phần hóa được doanh nghiệp nào Một trong nhữngnguyên nhân của tình trạng này là quyết định 143/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng đặt ra quánhiều mục tiêu không rõ ràng dễ gây hiểu nhầm đối với các doanh nghiệp và người laođộng Đến đại hội XII Đảng ta lại chủ trương thực hiện quan điểm: “ khẩn trương sắp xếp

Trang 11

lại và đổi mới quản lí kinh tế quốc dân Cho thuê, chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thểcác cơ sở thua lỗ kéo dài và không có khả năng vươn lên” Đại hội đã chỉ rỏ: “đối vớinhững cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh, cần chuyển hình thức kinh doanh, hìnhthức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động.Khuynh hướng coi nhẹ kinh tế quốc doanh, muốn tư nhân hóa tràn lan, cho rằng chuyểnsang cơ chế thị trường phải tư hữu hóa tất cả các tư liệu sản xuất là sai lầm Tuy nhiên nếuduy trì và phát triển kinh tế quốc doanh một cách tràn lan, kéo dài cơ chế bao cấp cũngkhông đúng” Cổ phần hóa DNNN có thể chia thành 4 giai đoạn chính:

1 Giai đoạn thứ nhất(1992-giữa năm 1998): Nhằm thể chế hóa Nghị quyết Đại hộiXII của Đảng, Hội đồng bộ trưởng đã ra quyết định số 202/QĐ-HĐBT chỉ đạo tiếp tục triểnkhai tiếp tục tiến hành cổ phần hóa DNNN bằng việc chuyển thí điểm một số DNNN thànhcông ty cổ phần Đây được coi là một mốc trong tiến trình cổ phần hóa DNNN ở nước ta,đánh dấu tiến trình cổ phần hóa đang được xúc tiến và đang trong giai đoạn thí điểm Đểthực hiện Nghị quyết này theo chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ

đã chọn 7 doanh nghiệp, đồng thời cũng giao cho các bộ, các tỉnh các thành phố trực thuộcTrung ương chọn 1 đến hai doanh nghiệp để tiến hành thí điểm cổ phần hóa Triển khaithực hiện theo tinh thần chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ các bộ ,nghành, địa phương đãthông báo đến từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp tự nguyện tiến hành thí điểm chuyểndoanh nghiệp mình thành công ty cổ phần Cuối năm 1993 đã có 30 doanh nghiệp đăng kíthực hiện thí điểm cổ phần hóa nhưng vì nhiều lí do mà cả 7 doanh nghiệp đã đươc Chínhphủ chọn và nhiều doanh nghiệp khác xin rút lui hoặc không tiếp tục làm thử Điều này đãđặt chúng ta trước những khó khăn lớn và để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trongquá trình thí điểm cổ phần hóa Đảng ta đã chủ trương: “ để thu hút thêm các nguồn vốn, tạođộng lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có hiệu quả cần thực hiện các hìnhthức cổ phần hóa có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất kinh doanh; Trong

đó Nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối” Hội Nghị giữa nhiệm kì khóa XII Đảng ta đãđặt ra yêu cầu: áp dụng từng bước vững chắc việc bán một tỷ lệ cổ phần cho công nhânviên chức làn việc tại doanh nghiệp; Thí điểm việc bán một phần cổ phần, cổ phiếu của một

số DNNN cho một số tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp; Trên cơ sở cổ phần hóa tổchức Hội đồng quản trị gồm đại diện cho sở hữu nhà nước, sở hữu công nhân và sở hữu vàcác chủ sở hữu khác Mặc dù có sự chỉ đạo sít sao của Đảng với quan diểm rõ ràng nhưngkết quả thu được không cao, tới tháng 4/1996 chỉ có 5 doanh nghiệp chuyển thành công ty

cổ phần trong đó 2 trong tổng số 61 tỉnh thành và 3 trong số 7 bộ có doanh nghiệp cổ phầnhóa Cả 5 doanh nghiệp này đều là những doanh nghiệp nhỏ, sản xuất hàng hóa và dịch vụtrong những lĩnh vực không quan trọng Có thể nói giai đoạn thí điểm cổ phần hóa DNNN

đã khjông đạt được những kết quả như mong đợi, tốc độ cổ phần hóa quá chậm và còn quánhiều những vướng mắc khó khăn cần được tháo gỡ và rút kinh nghiệm

2 Giai đoạn 2( giữa năm 1996-giữa năm1998): Đây là giai đoạn vừa làm vừa rútkinh nghiệm để tạo hành lang pháp lí cho các doanh nghiệp khi cổ phần hóa, hay nói cáchkhác đây là giai đoạn mở rộng cổ phần hóa Với kinh nghiệm sau 4 năm tiến hành thí điểm

cổ phần hóa và trước nhu cầu về vốn của các DNNN, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã chủtrương mở rộng cổ phần hóa bằng Nghị định 28/CP với những qui định rõ ràng, đầy đủ và

Trang 12

cụ thể hơn về việc chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần Sau hơn 2 năm thực hiệntính đến tháng 6/1998 cả nước đã tiến hành cổ phần hóa được 25 DNNN Việc triển khaithực hiện Nghị định 25/CP vẫn còn khá nhiều vướng mắc bất cập như phương pháp xácđịnh giá trị doanh nghiệp, chế độ ưu đãi cho doanh nghiệp và người lao động sau cổ phầnhóa , đây chính là những rào cản bước đàu làm chậm tiến trình cổ phần hóa, tuy nhiên nếunhìn nhận một cách khách quan thì cổ phần hóa trong giai đoạn này cũng đã đạt đượcnhững kết quả khả quan.

3 Giai đoạn 3(1998-2001): Trên cơ sở những kết quả bước đầu của giai đoạn mởrộng cổ phần hóa, Đảng ta đã chủ trương chủ trương đẩy mạnh tốc độ cổ phần hóa DNNN.Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã yêu cầu: Đối với các doanh nghiệp mà Nhà nướckhông cần nắm giữ 100% vốn, cần lập kế hoạch cổ phần hóa tạo động lực thúc đẩy doanhnghiệp phát triển, làm ăn có hiệu quả phát huy tốt nguồn lực hiện có Tiến hành thí điểmbán cổ phần cho người nước ngoài, khuyến khích nông dân tham gia sản xuất nguyên liệucung ứng cho các nhà máy, xí nghiệp , tham gia mua cổ phần ở các doanh nghiệp đặc biệt

là các doanh nghiệp chế biến nông sản Từ thực tiễn kinh nghiệm ngày 4/4/1997 Bộ Chínhtrị ra thông báo số 63TB/TW “ ý kiến của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai tích cực vàvững chắc cổ phần hóa DNNN” Nhằm thực hiện quan điểm của Đảng ngày 29/6/1998Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP thay thế cho các văn bản về cổ phầnhóa trước đó, cùng với chỉ thị 20/CT-TTg ngày 21/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩymạnh sắp xếp và đổi mới DNNN Nghị định này là một bước tiến lớn trong việc đẩy nhanhtốc độ cổ phần hóa, hạn chế bớt được những bất cập trong các văn bản chỉ đạo thực hiệntrước đó Nghị định này đã bước đầu cho những kết quả khả quan, đến 6 tháng cuối năm

1998 đã có 90 DNNN được cổ phần hóa gấp hơn 3 lần kết quả của những năm trước đó,đặc biệt năm 1999 cả nước cổ phần hóa được hơn 240 doanh nghiệp Đạt được những thànhcông này một phần là nhờ ở sự chỉ đạo, giám sát, đôn đốc của các cơ quan, ban , nghành từTrung ương đến cơ sở Trong vòng hai năm các cơ quan Nhà nước đã ban hành 15 văn bảnhướng dẫn tháo gỡ những vướng mắc khó khăn trong cổ phần hóa Nhưng đến năm 2000 cảnước chỉ cổ phần hóa được 155 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đạt 26% kế hoạch

Sự chững lại của cổ phần hóa có nhiều nguyên nhân nhưng một trong số các nguyên nhânchính vẫn là những bất cập về chính sách và cơ chế pháp lí Trước tình hình đó Hội nghịTrung ương 3 khóa IX về sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước đãxác định: phải kiên quyết điều chỉnh cơ cấu để doanh nghiệp có cơ cấu hợp lí và theo đó thì

cổ phần hóa DNNN được xác định là khâu tạo ra những chuyển biến quan trọng trong việcnâng cao hiệu quả DNNN

4 Giai đoạn 4( giai đoạn mới): Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương khóa IXChính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP nhằm thay thế Nghị đinh44/1998/NĐ-CP, đồng thời ra quyết định số 50/2002/QĐ-CP về ban hành tiêu chí, danhmục phân loại DNNN và một số văn bản chỉ đạo thực hiện khác nhằm từng bước tháo gỡnhững vướng mắc của các văn bản trước đó, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình cổ phầnhóa Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các bộ, các tỉnh, các tổng công ty rà soát, sắp xếp lạicác doanh nghiệp, xây dựng đề án đổi mới nâng cao hiệu quả của DNNN trong một sốngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân Bằng các hình thức sáp nhập, hợp nhất,

Trang 13

giải thể, phá sản, giao bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa Từ 2001-2003 cổ phần hóađược 979 doanh nghiệp, riêng 2003 là 611 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp được cổphần hóa Các doanh nghiệp cổ phần hóa chỉ chiếm 6% tổng số vốn của DNNN, với tốc độ,

số lượng và mức độ cổ phần hóa như vậy thì cổ phần hóa chưa thực sự tạo được nhữngchuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN như Nghị quyết Trung ương 3khóa IX đã đề ra Bước sang năm 2004 Hội nghị Trung ương 9 khóa IX đã đề ra nhữngđiểm rất mới và rất quan trọng trong chủ trương đổi mới sắp xếp lại DNNN: “ kiên quyếtđẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và mở rộng diện các DNNN cần cổ phần hóa kể cả nhữngdoanh nghiệp lớn và một số tổng công ty làm ăn có hiệu quả, gắn với việc phát hành cổphiếu và tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán giá trị DNNN được cổ phần hóa,trong đó có giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc phải do thị trường quyết định Việcmua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kíntrong nội bộ doanh nghiệp”

Cho đến nay tuy còn nhiều khó khăn nhưng kết quả cổ phần hóa đã phần nào phản ánhđược những thành công nhất định

hoỏ

Mở rộng thí điểm theo Nghị định 28/CP (giữa 1996 - giữa 1998) 25

Đẩy mạnh cổ phần hoá theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP (1998-2001) 745

Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá theo Nghị định

64/2002/NĐ-CP

2002 164

2003 611

Nguồn: từ ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp

Số doanh nghiệp được cổ phần hóa trong 2 năm 2002 và 2003 tương đương với giai đoạn1998-2001 tuy nhiên kêt quả còn nhiều hạn chế, số doanh nghiệp được cổ phần hóa khôngđạt mục tiêu đề ra, riêng 6 tháng đầu năm 2004 chỉ đạt được 16% kế hoạch ( chỉ tiêu đề ratrong năm nay là cổ phần hóa được 1770 đơn vị)

IV) Đánh giá chung về quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam

Cổ phần hóa DNNN là một chủ trương lớn của Đảng Mấy năm trước diễn biến khá chậmchạp Đến hội Nghị lần thứ 9 Hội nghị Trung ương khóa IX Đảng ta đã chủ trương đẩynhanh tiến độ, và đẩy mạnh hơn nữa công việc đó Thực tiễn cổ phần hóa đang bắt đầu diễn

ra sôi động, quá trình diễn ra không đơn giản vừa có những thuận lợi vừa có những khókhăn phức tạp, tuy nhiên sau hơn 10 năm thực hiện chủ trương đổi mới doanh nghiệp thì

cổ phần hóa DNNN đã có được những thành công và những hạn chế nhất định

1.Những thành tựu

1.1 Những thành tựu mang tính định lượng

Chủ trương cổ phần hóa DNNN đã được thực hiện ở nước ta hơn 10 năm qua Chođến nay thì cả nước đã cổ phần hóa được 1790 DNNN Trong 10 tháng của năm 2003 thìtrong số 766 DNNN thực hiện việc chuyển đổi thì có 425 doanh nghiệp cổ phần hóa (nguồn

Ngày đăng: 22/12/2013, 15:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH THỨC 2003 2004 2005 Tổng - Tài liệu Tiểu luận Cổ phần hoá và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước docx
2003 2004 2005 Tổng (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w