1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Tổ chức ngành Áp dụng mô hình SCP trong phân tích ngành bia tại Việt Nam

31 233 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 905,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích mô hình SCP trong phân tích kinh tế và áp dụng với ngành bia tại Việt Nam, phân tích theo định lượng FTU Mô hình SCP trong tiếng Anh gọi là: Structureconductperformance paradigm.Theo mô hình SCP (cấu trúc structure, hành vi – conduct, và kết quả performance), các doanh nghiệp trên thị trường có những hành vi khác nhau tùy thuộc vào vị trí của họ. Nếu họ càng thống lĩnh thị trường thì hành vi của họ càng độc lập với hành vi của các doanh nghiệp khác trên thị trường. Tóm lại, các doanh nghiệp muốn cạnh tranh với nhau tốt thì Nhà nước phải điều chỉnh cấu trúc của thị trường sao cho không doanh nghiệp nào được nắm giữ một tỉ lệ thị phần quá cao để khuynh đảo thị trường.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

- -

TIỂU LUẬN

TỔ CHỨC NGÀNH

ĐỀ TÀI

ÁP DỤNG MÔ HÌNH SCP TRONG PHÂN TÍCH

NGÀNH BIA TẠI VIỆT NAM

Lớp tín chỉ: KTE408(1+2.2/2021).3 Giáo viên hướng dẫn: TS Định Thị Thanh Bình

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SCP TRONG PHÂN TÍCH KINH TÉ 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Các yếu tố của ngành 3

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NGÀNH BIA VỚI MÔ HÌNH SCP 5

2.1 Tổng quan về ngành bia tại Việt Nam 5

2.2 Phân tích ngành bia với mô hình SCP 7

CHƯƠNG 3: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 21

3.1 Cơ hội 21

3.2 Thách thức 22

3.3 Đề xuất giải pháp và chiến lược phát triển ngành bia Việt Nam 23

KẾT LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Hình 1: Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngành bia giai đoạn 2010 – 2019 (Nguồn: VIRAC, GSO) 7 Hình 2: Sabeco và Heinelen áp đảo thị phần bia Việt Nam (Nguồn: Zing) 9 Hình 3: Thị phần ngành bia trong năm 2019 10 Hình 4: Biểu đồ chi phí quảng cáo của Sabeco và Habeco giai đoạn 2014 -

2017 14 Hình 5: Biểu đồ các nhà máy bia tại Việt Nam (Nguồn: FPTS Research) 15 Hình 6: Sản lượng tiêu thụ bia tại Việt Nam (Nguồn: Zing) 17 Hình 7: Giá trị tiêu thụ bia tại VIệt Nam (Nguồn: Statista, PHFM tổng hợp) 18 Hình 8: Kết quả kinh doanh của Sabeco giai đoạn 2011 - 2020 18 Hình 9: Kết quả kinh doanh của Habeco giai đoạn 2011 - 2020 19

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, bia rượu trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt Nam Ngành bia đã có những đóng góp to lớn trong sản xuất công nghiệp và trong nền kinh tế nước ta

Sản xuất bia được người Pháp đưa vào nước ta cuối thế kỷ 19, chính là Nhà máy Bia

Hà Nội và Nhà máy Bia Sài Gòn Từ những năm 1970 do chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng

và Nhà nước ta, đời sống của các tầng lớp nhân dân có những bước cải thiện quan trọng, lượng khách du lịch, các nhà đầu tư vào Việt Nam tăng nhanh, càng thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế Do đó, chỉ trong thời gian ngắn, ngành Bia Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng, thông qua việc đầu tư, khôi phục sản xuất của các nhà máy bia sẵn có, mở rộng đầu tư liên doanh với nước ngoài và xây dựng thêm các nhà máy bia của các địa phương, Trung ương, tư nhân và cổ phần trên phạm vi cả nước

Bia là loại nước giải khát có truyền thống lâu đời, có giá trị dinh dưỡng cao và có độ cồn thấp, mùi vị thơm, ngon và bổ dưỡng Uống bia với một lượng thích hợp không những có lợi cho sức khoẻ, ăn cơm ngon, dễ tiêu hoá mà còn giảm được sự mệt mỏi sau những ngày làm việc mệt nhọc Khi đời sống kinh tế - xã hội phát triển nhu cầu tiêu thụ bia đối với con người ngày càng nhiều, thậm chí đó là loại nước giải khát không thể thiếu được hàng ngày đối với mỗi người dân phương Tây Khác với những loại nước giải khát khác, bia có chứa một lượng cồn thấp (3% - 5%), và nhờ có CO2 giữ được trong bia nên tạo nhiều bọt khi rót, bọt là đặc tính

ưu việt của bia Về mặt dinh dưỡng, một lít bia có chất lượng trung bình tương đương với 25 gam thịt bò hoặc 150 gam bánh mì loại 1, hoặc tương đương với nhiệt lượng là 500 kcal Vì vậy bia được mệnh danh là bánh mì nước Ngoài ra trong bia có vitamin B1, B2, nhiều vitamin

PP và axit amin rất cần thiết cho cơ thể Theo Hopkins, trong 100 ml bia 10% chất khô có: 2,5

- 5 mg vitamin B1, 35 - 36 mg vitamin B2 và PP qua việc tiêu thụ 2,5 lít bia/ngày Chính vì vậy, từ lâu nay bia đã trở thành nhu cầu và là thứ đồ uống được rất nhiều người ưa thích

Theo báo cáo về thị trường bia Việt Nam năm 2018, tổn sản lượng tiêu thụ bia của Việt Nam là 4.2 tỉ lít và trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ 43.3 lít bia Việt Nam tiêu thụ bia bình quân đầu người cao nhất Đông Nam Á và thứ 3 Châu Á, chỉ xếp sau Nhật Bản và Trung Quốc Mức tăng trưởng tiêu thụ bia hằng năm vào khoảng 4-5%

Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu mô hình SCP trong phân tích kinh tế, nhóm nghiên cứu nhận thấy tầm quan trọng và vai trò của các yếu tố như cấu trúc thị trường và hành vi của các doanh nghiệp đến hiệu quả của toàn thị trường Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài “ Phân tích ngành bia Việt Nam với mô hình SCP” Bài nghiên cứu áp dụng khung phân tích SCP để nghiên cứu ngành dựa trên các khía cạnh: cấu trúc thị trường, hành vi của các

Trang 5

doanh nghiệp, từ đó đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố với thị trường Qua báo cáo này, nhóm nghiên cứu sẽ cung cấp những thông tin về cấu trúc, hành vi và hiệu quả của thị trường, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển lành mạnh cho thị trường bia Việt Nam

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SCP

TRONG PHÂN TÍCH KINH TÉ

1.1 Khái niệm

Mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance paradigm) được các nhà kinh tế Edward Chamberlin và Joan Robinson công bố lần đầu tiên vào năm 1933, và được phát triển bởi Joe S Bain, là một mô hình trong Kinh tế tổ chức công nghiệp (Industrial Organization Economics) Qua đó, khi nghiên cứu cấu trúc thị trường (S), người ta có khuynh hướng xem xét liệu những khác biệt về cấu trúc sẽ giải thích những khác biệt về hành vi của các doanh nghiệp (C) về các phương diện chiến lược giá cả, chiến lược đầu tư, các hình thức liên kết, hợp tác, và tác động của cấu trúc - hành vi đến hiệu quả hoạt động (P) của các doanh nghiệp Nói cách khác, mô hình SCP giả định rằng cấu trúc thị trường quyết định hành vi của các doanh nghiệp cần như thế nào; từ đó quyết định hiệu quả của doanh nghiệp

1.2 Các yếu tố của ngành

1.2.1 Cấu trúc

Cấu trúc (Structure) gồm tập hợp các yếu tố tương đối ổn định theo thời gian và có ảnh hưởng đến hành vi của người bán và/hoặc người mua Cấu trúc thị trường thường phụ thuộc vào các yếu tố sau:

− Quan hệ cung – cầu (số lượng người bán – người mua)

− Sự khác biệt của sản phẩm: những sản phẩm được sản xuất đa dạng, có sự khác nhau và không thay thế hoàn hảo cho nhau

− Các rào cản gia nhập thị trường gồm:

+ Rào cản pháp lý: bao gồm sự bảo hộ của chính phủ của các ngành quốc hữu hóa; chế độ bản quyền, sở hữu trí tuệ

+ Rào cản kỹ thuật: là kết quả của quá trình cạnh tranh - lợi thế theo quy mô; ngành

có kỹ thuật, công thức đặc biệt; hay sở hữu một nguồn lực đặc biệt

− Vốn: để gia nhập ngành cần một lượng vốn nhất định

− Mức độ tập trung: Mức độ tập trung của thị trường phản ánh sự phân bố về kích cỡ và

số lượng của các DN Số lượng DN ít hơn và kích cỡ lớn hơn dẫn đến sự gia tăng mức

độ tập trung của thị trường Đo lường bằng chỉ số đo mức độ tập trung của thị trường (HHI) hoặc tỷ lệ tập trung (CR)

− Các chỉ số đánh giá mức độ tập trung thị trường:

+ Chỉ số CR:

Trang 7

Được xác định bằng tỉ lệ sản lượng của r doanh nghiệp lớn trong ngành với r là một số tùy ý Đôi khi tỷ lệ tập trung còn đo lường bằng doanh thu, số nhân công…Xu hướng hiện nay người ta thường đo lường bằng doanh thu của các doanh nghiệp có quy mô lớn

r là số lượng các doanh nghiệp trong ngành (i=1, r) là doanh số doanh nghiệp thứ i

là thị phần doanh nghiệp thứ i

X là tổng doanh số toàn ngành

+ Chỉ số HHI (Herfindahl–Hirschman Index):

Chỉ số HHI được sử dụng để đo lường quy mô của doanh nghiệp trong mối tương quan với ngành Đây là một chỉ báo về mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành, thường được tính bằng tổng bình phương thị phần của các doanh nghiệp và có giá trị từ 0 đến 10.000

Cách tính chỉ số HHI như sau:

Trong đó n là tổng số doanh nghiệp và Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i trong ngành

Ý nghĩa: Thị trường càng gần độc quyền thì mức độ tập trung của thị trường càng cao

và cạnh tranh càng thấp

Bên cạnh đó, công nghệ và đặc tính của sản phẩm cũng được xem xét là yếu tố tham gia xác định cấu trúc của thị trường

1.2.2 Hành vi

Hành vi (Conduct) thể hiện cách mà người bán và người mua (tất cả hoặc một số) hành

xử với nhau Các doanh nghiệp lựa chọn hành vi chiến lược của riêng họ, bao gồm:

− Chính sách và hành vi giá: tăng giá giảm lượng, giảm giá tăng lượng, hợp tác thỏa hiệp với nhau…

− Đầu tư nghiên cứu & phát triển: giúp sản phẩm nâng cao ưu thế về mặt bao bì, chất lượng, từ đó kích thích tiêu dùng

− Cạnh tranh: chính sách quảng cáo, khuyến mãi, chính sách hỗ trợ, bảo hành, bồi thường…

1.2.3 Hiệu quả:

Hiệu quả (Performance) là những nỗ lực để tối đa thặng dư của người tiêu dùng bởi việc tạo ra những sản phẩm với mức chi phí thấp hơn, phân phối hợp lý cho những nhu cầu khác

Trang 8

nhau của người tiêu dùng (nhóm khách hàng) thông qua những cải tiến chất lượng và việc đa dạng hóa sản phẩm, kỹ thuật và sự ổn định trong giá cả và việc làm (Delorme, 2002) Được đánh giá bằng cách so sánh kết quả giữa các doanh nghiệp trong ngành theo các tiêu chí:

− Chất lượng sản phẩm, dịch vụ

− Chi phí sản xuất: Chi phí đầu vào thấp, sản xuất với chi phí tiết kiệm

− Các chỉ số lợi nhuận: thể hiện khả năng sinh lời của sản phẩm

− Tiến bộ công nghệ, kỹ thuật

Hiệu quả có thể đo lường thông qua chỉ số vòng quay tổng tài sản (TTS), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Hành vi năng động của người mua và người bán có ảnh hưởng đến thị trường, khiến cho việc dự đoán và thiết lập cấu trúc thị trường cố định trở nên khó khăn hơn Khó khăn phát sinh khi cố gắng giải thích mô hình và điều này là do thiếu dữ liệu, và nhiều định nghĩa và mở rộng thị trường Trên thực tế, vấn đề chính khi sử dụng phương pháp này để phân tích thị trường hoặc ngành là khó xác định giới hạn hoặc ranh giới của một ngành nhất định

Đến nay, mô hình SCP vẫn là một công cụ cơ bản của phân tích chống độc quyền Mặc

dù các nhà kinh tế chủ đạo không còn tin rằng cấu trúc thị trường quyết định kết quả nhưng họ cũng chấp nhận rằng cấu trúc thị trường là quan trọng đối với khả năng của công ty hành xử

mang tính hạn chế cạnh tranh Theo học giả Hovenkamp: “Chống độc quyền mà không có phân

tích cấu trúc, không nhờ chủ yếu vào các tác giả của mô hình SCP, sẽ là không khả thi” (H Hovenkamp, “Federal Antitrust Policy: The Law of competition and its Practice” (2nd edn.,

West Publishing Co, 1999), tr 45)

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NGÀNH BIA VỚI MÔ HÌNH SCP

2.1 Tổng quan về ngành bia tại Việt Nam

Cũng tương tự như bánh mì, bia du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 thông qua người Pháp Cụ thể, ông Alfred Hommel đã thành lập xưởng bia đầu tiên tại Hà Nội vào năm

1890, nhằm thỏa mãn nhu cầu uống bia của lính Pháp cùng người dân viễn xứ Dân ta khi ấy vẫn chưa thực sự đón nhận loại thức uống Tây phương này cho lắm, đơn giản vì họ vẫn còn quen với các loại rượu gạo truyền thống Từ xuất phát điểm là 30 nhân công giúp sản xuất ra khoảng 150 lít bia/ngày, nhà máy của ông Hommel đã phát triển đến 300 nhân công cùng khoảng 5 triệu lít bia/năm sau 45 năm Trong giai đoạn đó, bia dần trở thành thức uống được

ưa chuộng bởi tầng lớp trung lưu nhằm thỏa mãn cái gu tinh tế, sành sỏi của mình trong mắt bạn bè Không chỉ mang tính giải khát nhẹ nhàng hơn các loại rượu gạo truyền thống, bia còn mang giá cả phải chăng hơn nhiều so với các loại rượu nhập khẩu khác ở thời điểm đấy

Trang 9

Đến năm 1957, nhà máy bia Hommel thuộc về quyền kiểm soát của nhà nước, chính thức trở thành nhà máy bia Hà Nội, là tiền đề của Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội (HABECO) ngày nay Vào năm 1960, nhà máy bia Hà Nội đã cho ra đời một tuyệt phẩm làm say lòng bao thế hệ người Việt Đó chính là bia hơi

Dòng chảy của Bia Sài Gòn cũng khá tương tự như ở Hà Nội Năm 1875, ông Victor Larue người Pháp mở một xưởng bia nhỏ tại Sài Gòn, để rồi phát triển nó thành nhà máy lớn, chuyên sản xuất bia, nước giải khát và nước đá vào năm 1910 Sau khi thống nhất đất nước, nhà máy rơi vào quyền quản lý của Công ty Bia rượu miền Nam, đổi tên thành Công ty bia Sài Gòn vào năm 1993, và nay là Tổng Công ty Cổ phần Bia rượu Nước giải khát Sài Gòn (SABECO)

Xuyên suốt thập niên 1990, các loại bia phổ biến và được tiêu thụ nhiều tại Việt Nam cũng không nhiều đổi thay, chủ yếu thuộc dòng laser đóng chai và đóng lon từ các thương hiệu bia trong nước lẫn quốc tế

Nhưng đến đầu những năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu xuất hiện các nhà hàng phục vụ bia Tiệp, được thiết kế với xưởng chế biến bia ngay trong khuôn viên của mình

Đi đầu và nổi tiếng nhất trong số đó có lẽ là Hoa Viên Brauhaus, hay còn mang danh là “nhà hàng nấu bia” đầu tiên tại Việt Nam Đây là thành quả hợp tác văn hóa giữa Cộng hòa Séc với nước ta, ứng dụng công nghệ nấu bia truyền thống của thành phố Pilsen (vốn vang danh toàn cầu với bia Pilsner) do các chuyên gia nước bạn chia sẻ, nhằm cho ra đời những mẻ bia laser tươi đậm phong cách châu Âu ngay tại nhà hàng

Nhưng có lẽ cú chuyển mình rực rỡ nhất trong dòng chảy bia Việt chính là từ năm 2015 trở lại đây Cụ thể, bia thủ công bắt đầu thành hình và tạo nên một cơn sốt không hề nhỏ với thực khách trong và ngoài nước Từ xuất phát điểm nho nhỏ với chỉ một xưởng làm bia của thương hiệu Pasteur Street Brewing Co., nay cộng đồng bia thủ công đã phát triển lên thành gần 20 thương hiệu kiêm xưởng ủ bia lớn nhỏ, tập trung chủ yếu tại Sài Gòn và Hà Nội Những cái tên như East West Brewing Co., BiaCraft, Heart of Darkness, Tê Tê, Lạc, Platinum, Rooster,… luôn tìm tòi cho ra đời vô vàn các loại bia đặc sắc, mới lạ nhằm phục vụ ngay tại nhà hàng của riêng mình hoặc cung cấp cho các địa điểm ăn uống, khách sạn, giải trí, khác trên khắp cả nước lẫn trong khu vực

Năm 2019 tổng sản lượng sản xuất bia đạt hơn 5 tỷ lít (tăng 22.9% so với cùng kỳ năm 2018); tiêu thụ đạt hơn 4 tỷ lít (tăng 29.1% so với cùng kỳ năm trước) Doanh thu thị trường bia đạt hơn 65 tỷ đồng (tăng 0.5% so với cùng kỳ năm trước) Về chủng loại tiêu thụ, tiêu thụ bia đóng lon chiếm 66.8% tổng tiêu thụ bia tại Việt Nam, tiếp theo là bia đóng chai 29.9%; bia hơi 3.1% và chiếm 1 thị phần khiêm tốn là bia tươi 0.1%

Trang 10

Hình 1: Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngành bia giai đoạn 2010 – 2019 (Nguồn: VIRAC, GSO)

Về nhập khẩu, sản lượng bia nhập khẩu đạt hơn 37 triệu lít (tăng trưởng 8.9% so với cùng kỳ năm 2018), 3 nguồn cung ứng bia chính của Việt Nam là Hà Lan (25%), Mexico (17%)

và Bỉ (16%) So với lượng tiêu thụ bia tại Việt Nam, nhập khẩu bia vào Việt Nam chiếm tỷ trọng khá nhỏ Doanh nghiệp nội địa và FDI chiếm lĩnh thị trường bia trong nước, với ưu thế giá bia rẻ, hợp khẩu vị của đông đảo bộ phận khách hàng

Về xuất khẩu, sản lượng bia xuất khẩu tăng hơn năm trước đạt hơn 46 triệu lít, trị giá 45.87 triệu USD Mức sản lượng xuất khẩu sụt giảm khoảng 7% so với cùng kỳ, chủ yếu là do chất lượng bia của Việt Nam chưa được đánh giá cao, chưa tạo được thương hiệu trên thị trường quốc tế Guinea xích đạo (chiếm khoảng 20%) là thị trường tiêu thụ bia Việt Nam lớn nhất Trong khi Mexico và Hà Lan là 2 quốc gia cung cấp bia lớn nhất cho Việt Nam

2.2 Phân tích ngành bia với mô hình SCP

2.2.1 Cấu trúc thị trường

2.2.1.1 Số lượng và quy mô doanh nghiệp

Với gần 4 tỷ lít bia được tiêu thụ trong năm 2016, Việt Nam trở thành thị trường bia lớn thứ ba thế giới, sau Nhật Bản và Trung Quốc Năm 2017, Việt Nam lọt Top 10 thị trường bia lớn nhất thế giới, dù lượng bia tiêu thụ tại Việt Nam liên tục tăng nhưng vẫn chưa nằm trong

20 nước tiêu thụ bia nhiều nhất thế giới tính theo đầu người

Mức tiêu thụ bia tăng lên nhanh chóng đã đẩy Việt Nam lên cao hơn trong bảng xếp hạng các thị trường bia lớn của khu vực và thế giới Hiện Việt Nam là quốc gia tiêu thụ bia cao

Trang 11

nhất Đông Nam Á, đứng thứ ba châu Á, sau Nhật Bản và Trung Quốc và nằm trong top 25 của thế giới

Thị trường bia trong nước đang có mức độ tập trung tương đối cao, với các thương hiệu lớn như Sabeco, Habeco, Heineken và Carlsberg chiếm đến hơn 90% thị phần toàn ngành

Bên cạnh đó, độ phủ sóng của các hãng còn có xu hướng phân chia theo miền Cụ thể, Sabeco chiếm lĩnh khu vực miền Nam, Carlsberg sở hữu 100% thương bia Huế hiện diện nhiều nhất trong miền Trung, Habeco dẫn đầu thị trường miền Bắc và Heineken thì phủ sóng rộng rãi tại miền Trung và miền Nam 10% còn lại thuộc về các công ty bia nước ngoài mới gia nhập trong ngành như Sapporo và AB - Inbev cùng với các công ty bia với quy mô nhỏ hơn như Masan Brewery với thương hiệu bia Sư tử trắng tiêu thụ nhiều nhất ở khu vực Tây Nam Bộ

Về phân khúc sản phẩm, Sabeco (Saigon Export, 333′ export, Saigon Lager) và Habeco đang thống trị phân khúc bình quân và trung cấp; trong khi đó phân khúc bia cao cấp lại thuộc

về các hãng bia ngoại

Cuối năm 2017, thị trường bia Việt Nam đã “dậy sóng” khi 53,59% cổ phần của Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) với trị giá gần 5 tỷ USD đã thuộc về Thaibev Sabeco cho thấy sự chuyển mình rõ rệt sau khi về với Thaibev Theo nhóm phân tích của Euromonitor International, việc Sabeco thay đổi hình ảnh của Bia Sài Gòn theo hướng hiện đại, cao cấp hơn phù hợp với xu thế chuyển dịch tiêu dùng sang các phân khúc bia cao hơn của người Việt khi tầng lớp trung lưu ngày càng gia tăng Sự tăng trưởng mạnh mẽ của bộ đôi Heineken và Sabeco đã khiến các hãng bia khác trên thị trường như Habeco, Carlsberg, Masan Brewery, AB Inbev, Sapporo… bị bỏ lại khá xa Trong khi cả Sabeco và Heineken đều tăng trưởng 2 chữ số thì doanh thu năm 2016 của cả Habeco và Carlsberg đều gần như bất động Hãng bia lớn nhất thế giới AB Inbev với thương hiệu Budweiser sau vài năm vào Việt Nam cũng mới thu được kết quả hết sức khiêm tốn với doanh thu chưa đến 200 tỷ đồng

Trong năm 2020, ngành bia chịu tác động kép từ luật phòng chống tác hại của rượu bia

và dịch bệnh COVID - 19 bùng phát, tổng số thu ngân sách từ các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Bia Rượu Nước giải khát Việt Nam năm 2019 đạt khoảng 60.000 tỷ đồng, trong đó nhóm các doanh nghiệp bia lớn như Heineken, Sabeco, Habeco, Carlsberg nộp 49.595 tỷ đồng, chiếm 80% số nộp của cả ngành Tuy nhiên, hết 10 tháng năm 2020, số nộp ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp lớn này mới đạt 39.111 tỷ đồng Theo VBA, mức tăng trưởng sản lượng của ngành bia Việt Nam có dấu hiệu chậm lại Giai đoạn 2016-2019 tăng trưởng chỉ đạt 6,8%, sang năm 2020 thì giảm mạnh Trong khi đó, các doanh nghiệp đều có mục tiêu về lợi nhuận và thị phần Do đó, cạnh tranh trong ngành bia ngày càng khốc liệt và nhiều cạm bẫy để đạt kế hoạch đặt ra

Trang 12

2.2.1.2 Mức độ tập trung của ngành

Mức độ tập trung của thị trường rất cao với 3 doanh nghiệp lớn là Sabeco, Habeco và Heineken nắm giữ hơn 80% thị phần toàn ngành Phần còn lại hầu hết rơi vào tay các hãng bia nước ngoài Cạnh tranh ngày càng gay gắt được thể hiện ở thị phần của các doanh nghiệp Việt Nam (Sabeco) và thậm chí có xu hướng giảm (Habeco) trong các năm gần đây Trong đó thị phần của các tập đoàn bia ngoại như Heineken lại không ngừng tăng lên

Hình 2: Sabeco và Heinelen áp đảo thị phần bia Việt Nam (Nguồn: Zing)

Để có thể thấy rõ hơn mức độ cạnh tranh của thị trường bia, chúng ta sử dụng 2 chỉ số HHI và CR Mức độ tập trung của tất cả các doanh nghiệp trên cả ngành bia Việt Nam được thể hiện qua chỉ số HHI; cũng như tỷ lệ tập trung của các hãng bia lớn nhất trên thị trường được thể hiện qua tỷ lệ tập trung CR

Trang 13

Hình 3: Thị phần ngành bia trong năm 2019

Dựa vào thị phần của các doanh nghiệp bia trong năm 2019, có thể dễ dàng tính được chỉ số HHI và CR:

HHI = 0,3962 + 0,3352 + 0,1092 = 0,281 Chỉ số HHI nằm trong khoảng 0,15 tới 0,5 cho thấy mức độ tập trung thị trường cao, với các thương hiệu lớn như Heineken, Sabeco, Habeco chiếm phần lớn thị phần toàn ngành

CR = 0,396 + 0,335 + 0,109 = 0,84 Tương tự, chỉ số CR ở đây cũng cho thấy tỷ lệ tập trung cao của các doanh nghiệp bia trên thị trường Việt Nam khi mà có hơn 85% thị phần nằm trong tay những hãng lớn này Tỷ

lệ tập trung thị trường cao như này đồng nghĩa với mức độ cạnh tranh tương đối thấp và sự độc quyền của các doanh nghiệp lớn trên thị trường bia

2.2.1.3 Rào cản gia nhập ngành

− Rào cản về mặt pháp lý:

Trong bối cảnh mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới: tham gia Hiệp định thương mại tự

do (FTA), việc mở cửa đồng nghĩa với việc các sản phẩm trong nước sẽ phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập ngoại Với các hiệp định ký kết, thuế nhập khẩu bia giảm mạnh, xu hướng tiêu dùng cao cấp hóa và thu nhập cá nhân tăng, các dòng bia ngoại sẽ có được sự ưu chuộng hơn, đặc biệt tại các tỉnh, thành phố lớn Thị yếu người tiêu dùng thay đổi; các loại bia mới, đặc biệt là bia nhập khẩu trong phân khúc cao cấp, xuất hiện càng nhiều trên thị trường Việt Nam, tạo áp lực lên các thương hiệu bia trong nước, bao gồm cả những ông lớn cũng như những doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ

Với mức độ tập trung của ngành cao (với thị phần của 3 ông lớn chiếm đến hơn 85%), cộng với hệ thống phân phối rộng khắp cả nước và mức độ hiện diện rộng của các hãng bia

Trang 14

đang hoạt động trong ngành sẽ khiến nguy cơ bị đào thải của một số hãng bia mới rất cao Bên cạnh đó, người Việt có xu hướng chỉ tiêu thụ các thương hiệu bia quen thuộc và lâu đời, vì vậy, đây là bài toán khó dành cho những hãng mới tham gia vào ngành

Mặc dù mang lại nguồn thu thuế dồi dào cho ngân sách nhà nước, ngành bia cũng như toàn ngành đồ uống có cồn được nhận định là có tác động tiêu cực đến sức khỏe của người tiêu dùng và an ninh xã hội Do vậy, chính phủ cũng như nhiều tổ chức xã hội đã có nhiều hoạt động

để hạn chế tăng trưởng của ngành bia Một loạt các chính sách như thuế giá trị gia tăng 10% với mặt hàng bia, rượu và nước giải khát hay Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt quy định áp thuế mặt hàng bia là 60% vào năm 2017 và tới 2018 là 65% Trong năm 2019, Nghị định 100/2019/NĐ

- CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt được ban hành, đặt ra các quy định chặt chẽ hơn với tiếp thị và quảng cáo bia, cũng như áp dụng hình phạt nặng khi điều khiển phương tiện giao thông dưới ảnh hưởng của bia với bất kỳ nồng độ cồn trong máu và hơi thở Dưới tác động của Nghị định, lưu lượng khách đến các quán

ăn giảm và người dân có xu hướng chuyển sang các sản phẩm khác như nước suối, nước có ga

Ngoài ra, trong Nghị định 24 ban hành ngày 24/02/2020 đưa ra các quy định khắt khe hơn trước về quảng cáo bia rượu, cụ thể liên quan đến quản lý việc quảng cáo rượu có độ cồn dưới 15% và bia; hạn chế sử dụng hình ảnh diễn viên uống rượu bia trong các tác phẩm điện ảnh, sân khấu, truyền hình và thực hiện ngăn ngừa người chưa đủ 18 tuổi tiếp cận, truy cập thông tin và mua rượu bia

Có thể thấy các chính sách của Chính phủ về phòng chống và lạm dụng rượu bia, đi kèm với tăng cường hoạt động tuyên truyền, giáo dục về tác hại của rượu bia làm thay đổi hành vi tiêu dùng và ít nhiều tác động làm giảm lượng cầu về rượu bia

− Rào cản về mặt thị hiếu người tiêu dùng

Cơ cấu dân số vàng, trình độ dân trí ngày càng cao, sự phát triển của tầng lớp trung lưu

và triển vọng kinh tế ổn định của chính phủ là những yếu tố chính giúp cho người tiêu dùng Việt lạc quan hơn, chi tiêu nhiều hơn và uống bia nhiều hơn Các hãng bia nội địa chưa đủ năng lực cạnh tranh tại phân khúc bia cao cấp, trong khi xu hướng cao cấp hóa đang diễn ra mạnh

mẽ Lợi nhuận từ phân khúc này đang dồn về các hãng bia ngoại Điều này tạo áp lực lên các loại bia sản xuất trong nước bắt buộc phải nâng cấp cả về chất lượng, mẫu mã và chủng loại sản phẩm

− Rào cản về các yếu tố sản xuất

Điều kiện thiên nhiên không phù hợp cho việc phát triển vùng nguyên liệu, khiến cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải nhập khẩu gần như 100% nguyên liệu đầu vào, chịu rủi ro cao về biến động nguồn cung, biến động giá và biến động tỷ giá Do vậy, vị thế các doanh nghiệp bia trong nước yếu hơn so với các nhà cung cấp nguyên liệu Điều này tạo ra sức cạnh

Trang 15

tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước; đây có thể là rào cản quá lớn với những doanh nghiệp mới muốn gia nhập thị trường bia

Ngoài ra, chi phí cơ sở vật chất, dây chuyền máy móc, chi phí thuê nhân công, là những vấn đề mà các doanh nghiệp khi tham gia ngành đều phải đối mặt Đó chưa kể đến việc

để xin được giấy phép sản xuất có thể coi là trở ngại chính đối với các doanh nghiệp mới Để

mở nhà máy sản xuất bia tại Việt Nam, các doanh nghiệp phải được Bộ Công Thương cấp giấy phép Trong khi các quy định khá rõ ràng, việc thực hiện có thể gặp nhiều khó khăn Ngay cả khi tất cả các tỉnh thành đều sẵn sàng tạo điều kiện cho các nhà máy bia mới nhằm thu thuế, việc cấp phép còn tùy thuộc vào quy hoạch bia và đồ uống của Bộ Công Thương, có thể đã được đăng ký trước nhiều năm

2.2.2 Hành vi

Trong những năm qua, thị trường bia Việt Nam được đánh giá là một thị trường tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao Do vậy, sự cạnh tranh trong ngành này cũng đang càng trở nên gay gắt khi xuất hiện ngày càng nhiều những thương hiệu bia quốc tế với tiềm lực lớn và sẵn sàng đầu tư rất mạnh vào thị trường Trong phần này, nhóm sẽ tập trung phân tích hành vi của 3 “ông lớn” hiện đang chiếm phần lớn thị phần của thị trường bia Việt Nam bao gồm: Sabeco, Heineken và Habeco Những hành vi bao gồm chiến lược marketing của từng hãng, chiến lược cạnh tranh trên thị trường

2.2.2.1 Chiến lược marketing

Nhìn chung, các hãng bia trên thị trường Việt đã và đang áp dụng chiến lược marketing hỗn hợp (hay còn được biết đến với tên gọi 4P) nhằm đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu Nhóm sẽ đi phân tích 4 khía cạnh (4P) của chiến lược marketing này của 3

“ông lớn” trên thị trường bia Việt Nam

a Chiến lược sản phẩm (Product)

Sabeco là hãng đang chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường bia Việt và những sản phẩm của Sabeco hướng tới yếu tố có lợi cho sức khỏe của khách hàng là trên hết, thêm vào đó yếu

tố chất lượng cao cũng được hãng làm nổi bật lên qua việc các sản phẩm của Sabeco luôn được

“cộp” mác Premium Bao bì sản phẩm cũng được hãng chú trọng vào thiết kế nhãn pha trộn giữa màu trắng sang trọng, lịch lãm với ánh bạc mạnh mẽ kết hợp với các điểm nhấn tinh tế giữa các màu vàng, đỏ truyền thống của người Á Đông Rất nhiều thương hiệu ngoại nhập có bao bì bắt mắt, vì vậy Sabeco thấu hiểu điều này nên hãng tập trung cho ra sản phẩm có mẫu

mã đẹp để có thể cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành khác

Đối với Heineken, việc trung thành với màu xanh và kiểu dáng chai hiện tại của Heineken là một phần trong chiến lược marketing của họ nhằm gìn giữ chất lượng truyền thống

Ngày đăng: 29/08/2021, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w