Trước tình hình đó để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa lí nói chung và dạy học Địa lí KT – XH thế giới nói riêng, phù hợp với xu thế phát triển của nhà trường nhằm giúp cho HS hì
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ LOAN
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ VŨ SƠN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến thầy giáo Tiến sĩ Đỗ Vũ Sơn người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm khoa Địa lí, các thầy, cô giáo trong khoa đặc biệt là các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Địa lí đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Ban giám hiệu các trường THPT Đồng Hỷ, Trường phổ thông Vùng Cao Việt Bắc, Trường THPT Lương Ngọc Quyến các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh ba trường THPT mà tôi tiến hành thực nghiệm Tôi xin chân thàn cảm ơn Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân đã động viên giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KT - XH : Kinh tế - xã hội SGK : Sách giáo khoa THPT : Trung học phổ thông VTĐL : Vị trí địa lí
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Hệ thống các phương tiện dạy học địa lí [13] 16
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa mục tiêu-phương tiện-phương pháp dạy học [25] 17
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa kĩ năng ban đầu, kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện [4] 20
Hình 2.1 Các cảnh quan và khoáng sản chính ở Mĩ Latinh [20] 55
Hình 2.2 Các trung tâm công nghiệp chính của Nhật Bản [20] 58
Hình 3.1 Biểu đồ tổng hợp điểm của nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng 85
Hình 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả phân loại trình độ học sinh 85
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Các đơn vị kiến thức lớn trong SGK Địa lí lớp 11 33
Bảng 2.1 Phân tích kĩ năng sử dụng bản đồ tương ứng với các bài học địa lí 11 63
Bảng 2.2 Kịch bản dạy học (Bài 9) 69
Bảng 2.3 Kịch bản dạy học (Bài 6) 76
Bảng 3.1: Thông tin về lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 81
Bảng 3.2 Phân loại điểm kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 84
Bảng 3.3 Phân loại trình độ học sinh qua bài kiểm tra 85
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC BẢNG v
MỤC LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3
6.Các quan điểm nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc luận văn 7
NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Một số vấn đề trong dạy học địa lí 9
1.1.2 Bản đồ giáo khoa 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 30
1.2.1 Phân tích chương trình Địa lí lớp 11 THPT 30
1.2.2 Tâm sinh lí học sinh lớp 11 tác động đến quá trình dạy học địa lí 34
1.2.3 Thực trạng và định hướng rèn luyện kĩ năng bản đồ cho học sinh 36
Chương 2: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 42
Trang 92.2 Những yêu cầu về việc sử dụng bản đồ trong dạy học đia lí lớp 11 42
2.2.1 Yêu cầu đối với giáo viên 43
2.2.2 Yêu cầu đối với học sinh 44
2.3 Hình thức rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí lớp 11 45 2.4 Rèn luyện một số kĩ năng sử dụng bản đồ cần thiết trong quá trình dạy học địa lí 11 48
2.4.1 Kĩ năng đọc bản đồ 48
2.4.2 Mô tả địa phương bằng bản đồ 51
2.4.3 Kĩ năng xác định vị trí đối tượng 54
2.4.4 Kĩ năng đo đạc bản đồ 56
2.4.5 Kĩ năng suy giải bản đồ 57
2.5.6 Kĩ năng so sánh, đánh giá bản đồ 59
2.6.7 Kĩ năng vẽ lát cắt địa hình 59
2.7.8 Kĩ năng sử dụng bản đồ ngoài thực địa 60
2.5 Hệ thống bản đồ lớp 11 và kĩ năng sử dụng tương ứng 61
2.5.1 Hệ thống bản đồ sử dụng trong dạy học địa lí 11 61
2.5.2 Kĩ năng sử dụng bản đồ tương ứng 62
2.6 Xây dựng một số giáo án dạy học địa lí 11 nhằm hình thành và tăng cường kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh 67
2.6.1 Giáo án số 1 67
2.5.2 Giáo án 2: Dạy học thực hành 75
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích thực nghiệm 80
3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 80
3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 80
3.4 Phương pháp thực nghiệm 80
3.5 Nội dung thực nghiệm 82
3.5.1 Giáo án thực nghiệm 82
3.5.2 Tiến trình thực nghiệm 82
Trang 103.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 84
3.6.1 Về mặt định lượng 84
3.6.2 Kết quả định tính 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHẦN PHỤ LỤC 92
Trang 11Trong quá trình dạy học môn Địa lí, ngoài truyền thụ các kiến thức về địa
lí thì việc giúp HS làm việc với bản đồ và khai thác tri thức từ bản đồ là rất quan trọng và cần thiết Theo Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô - K.A Salishev: “Mọi nghiên cứu về địa lí đều xuất phát từ bản đồ và kết thúc cũng bằng bản đồ” đã nói lên tầm quan trọng của bản đồ đối với Địa lí
Bản đồ là phương tiện để học sinh khai thác kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi để rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy Địa lí cho HS một cách độc lập, sáng tạo Phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí KT – XH thế giới lớp 11 - THPT là rất cần thiết và quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, làm tăng hứng thú học tập của các em Đó chính là một trong những con đường để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Địa lí theo phương pháp tích cực, đây là vấn đề được nhiều người quan tâm
Tuy nhiên, trong thực tế các trường trung học phổ thông (THPT) hiện nay thì việc sử dụng BĐGK chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn Đa số các giáo viên (GV) mới chỉ dừng lại ở mức độ coi BĐGK là phương tiện để minh họa các kiến thức trong bài Việc sử dụng các loại BĐGK để khai thác kiến thức cho HS còn chưa được quan tâm đúng mức; vì vậy việc dạy học chưa đạt được hiệu quả, chưa phát huy hết tác dụng vốn có của nó Mặt khác, điểm nổi bật trong đổi mới chương trình dạy học lớp 11 hiện nay là hệ thống SGK mới đã được đưa vào sử dụng, trong đó có SGK Địa lí So với SGK cũ, SGK Địa lí mới có ưu thế hơn hẳn về kênh hình, trong đó có hệ thống BĐGK Do đó, phương pháp dạy học cũng cần phải có sự thay đổi theo cho phù hợp
Trang 12Trước tình hình đó để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa lí nói chung và dạy học Địa lí KT – XH thế giới nói riêng, phù hợp với xu thế phát triển của nhà trường nhằm giúp cho HS hình thành, rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ nhằm học tập tốt hơn môn Địa lí ở trường phổ thông, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay, tác giả đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí lớp 11 – THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để thấy được tầm quan trọng của bản đồ đối quá trình dạy học Địa lí, tính tất yếu và hiệu quả sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí Đồng thời đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng bản đồ cho HS lớp 11 trong quá trình học tập môn Địa lí
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí
- Hệ thống hóa một số kĩ năng cần rèn luyện cho HS trong học tập Địa lí
- Nghiên cứu những biện pháp cụ thể để hình thành và rèn luyện kĩ năng
sử dụng bản đồ cho HS
- Ứng dụng các nội dung nghiên cứu của đề tài vào dạy học Địa lí 11 để chứng minh tính hiệu quả cần thiết trong quá trình rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS một cách hợp lí
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về chuyên môn: Nghiên cứu về kĩ năng sử dụng bản đồ và quá trình hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí lớp11 THPT
- Về không gian: Một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Về thời gian: Năm học 2015 - 2016
Trang 135 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Trong nhiều nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học Địa lí ở Việt Nam đều có đề cập đến cách thức sử dụng các thiết bị dạy học, trong đó có
phương pháp sử dụng bản đồ, ví dụ như: Đổi mới phương pháp dạy Địa lí theo
hướng dạy học tích cực hoá hoạt động của người học - Đặng Văn Đức, Nguyễn
Thị Thu Hằng, Nxb Sư phạm Hà Nội năm 2004; Phương pháp dạy học Địa lí -
Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn Trọng Phúc, Nguyễn Thị Thu Hằng,
Trần Đức Tuấn, Nxb Giáo dục năm 1996; Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
ở trung học phổ thông - Nguyễn Đức Vũ, Phạm Thị Sen, Nxb Giáo Dục năm
2004 Nhiều báo cáo trong các tạp trí, tập san khoa học đã nêu các kết quả nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Địa lí theo hướng dạy học tích cực nói riêng và đặc biệt trong đó có phần hướng dẫn cách thức sử dụng bản đồ Địa lí trong dạy học Có nhiều công trình
khoa học viết riêng về cách sử dụng các thiết bị dạy học Địa lí như: Sử dụng
bản đồ - Lâm Quang Dốc, Nxb Giáo dục năm 1996; Giáo trình Phương pháp
sử dụng các phương tiện dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông - Nguyễn
Trọng Phúc, Nxb Giáo dục năm 1997; Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy
học Địa lí - Nguyễn Trọng Phúc, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2001; Sử dụng bản đồ và phương tiện kĩ thuật trong dạy học Địa lí - Nguyễn Trọng
Phúc, Nxb Đai học Quốc gia Hà Nội năm 1997; Lâm Quang Dốc, Nguyễn
Quang Vinh - Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí lớp
10, Nxb Giáo dục năm 2007; Trong Giáo trình Bản đồ học – Nxb Đại học Thái
Nguyên, Tiến sĩ Đỗ Vũ Sơn hướng dẫn một số phương pháp sử dụng bản đồ cơ bản như đọc bản đồ, đo đạc bản đồ, sử dụng bản đồ trong dạy học sử dụng bản
đồ ngoài thực địa,
Trong một số luận văn Thạc sĩ và luận án Tiến sĩ, cũng có đề cập đến
“phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí” như luận án phó tiến sĩ:
“Các biện pháp hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS các lớp 6,7,8 phổ
Trang 14thông cơ sở” của giảng viên Đặng Văn Đức Gần đây trong quá trình nghiên
cứu nhằm đổi mới phương pháp dạy học Địa lí ở trường THPT cũng có một số bài viết về vấn đề sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí, như tài liệu “Chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học Địa lí bậc trung học” (Hà Nội 1999) Nhưng các tài liệu cũng chỉ dừng lại ở mức đề cập đến ý nghĩa của bản đồ trong việc dạy học Địa lí Việc dạy các kiến thức và kĩ năng bản đồ cho HS THPT chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống Tuy vậy, các tài liệu đã nêu chưa đi sâu nghiên cứu kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS trong dạy học riêng cho môn Địa lí lớp 11 Hướng nghiên cứu của tác giả về hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí lớp 11 là mới
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình có liên quan, đề tài này sẽ
nghiên cứu cụ thể hơn việc “Hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy
học Địa lí lớp 11 – THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa lí
nói chung và Địa lí lớp 11 – Chương trình cơ bản nói riêng
6.Các quan điểm nghiên cứu
6.1 Quan điểm duy vật biện chứng
Phép biện chứng duy vật là cơ sở của mọi nhận thức khoa học Phép biện chứng gồm hai nguyên lí cơ bản:
- Nguyên lí về mối quan hệ phổ biến của thế giới chỉ ra cho các nhà khoa học tính vô hạn của thế giới và tính hữu hạn của các sự kiện, hiện tượng cụ thể và mối liện hệ phức tạp của chúng
- Nguyên lí về tính phát triển của thế giới, theo đó nghiên cứu phải xem xét các sự kiện, hiện tượng trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng
Trong đề tài tác giả vận dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu bản
đồ trong dạy học môn địa lí trong các nhà trường
6.2 Quan điểm cấu trúc hệ thống
Phương pháp hệ thống là con đường nghiên cứu các đối tượng phức tạp trên cơ sở phân tích đối tượng thành các bộ phận để đi sâu nghiên cứu, tìm ra
Trang 15tính hệ thống, tính toàn diện của đối tượng Phương pháp hệ thống là công cụ phương pháp luận, nó giúp ta nghiên cứu các đối tượng phức tạp và cho ta một sản phẩm khoa học có cấu trúc và logic chặt chẽ
Phương pháp này được vận dụng trong việc nghiên cứu cấu trúc chương trình và nội dung sách giáo khoa địa lí ở THPT Đồng thời cho phép tác giả nghiên cứu sâu vào chương trình địa lí lớp 11 để hiểu rõ hơn nội dung và định hướng những bài học
6.3 Quan điểm thực tiễn
Quan điểm thực tiễn là luận điểm quan trọng của phương pháp luận, nó yêu cầu phải bám sát vào sự phát triển của thực tế sinh động
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính lịch sử - xã hội của con người Diễn biến hiện thực là diễn biến khách quan, các sự kiện thực tiễn là những gợi ý quan trọng cho những ý tưởng của các đề tài khoa học Chính vì thế, mọi đề tài nghiên cứu khoa học phái có tính cấp thiết, xuất phát
và đa dạng Chúng có quá trình hình thành, phát triển trong mối quan hệ nhiều chiều giữa bản thân các hiện tượng đó với nhau và giữa chúng với các hiện tượng khác
Quan điểm này được tác giả vận dụng trong việc nghiên cứu các yêu cầu
cơ bản trong quá trình dạy học theo hướng tích cực và áp dụng vào việc thiết kế một số kịch bản dạy học sử dụng bản đồ trong dạy và học địa lí
Trang 167 Phương pháp nghiên cứu 7.1 Phương pháp phân tích hệ thống
Thực chất của phương pháp này là đem đối tượng được nghiên cứu ra xem xét nó trong một hệ thống hoàn chỉnh, gồm những yếu tố có liên quan đến nhau thành một cấu trúc chặt chẽ, và các mối quan hệ qua lại cần được quan tâm Trong đề tài này, phương pháp phân tích hệ thống được sử dụng trong việc nghiên cứu nội dung và phương pháp hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ đối với môn địa lí lớp 11
7.2 Phương pháp phân tích tổng hợp
Nội dung, phương pháp và các phương tiện dạy học là một chủ thể thống nhất gồm nhiều yếu tố liên quan tạo nên cấu trúc chặt chẽ của quá trình dạy học địa lí Để đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm của đề tài trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài cần nghiên cứu, xem xét, phân tích các đối tượng nghiên cứu trong một hệ thống hoàn chỉnh Cụ thể tác giả đi nghiên cứu mối quan hệ với toàn bộ chương trình địa lí phổ thông, việc hình thành kiến thức bản đồ trong dạy học.Để từ đó rút ra những kết luận chính xác, khách quan về vấn đề nghiên cứu
7.3 Phương pháp sử dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông
Thực chất của quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là sử dụng các phương tiện hiện đại, mở rộng khả năng nghe nhìn và trao cho máy các thao tác truyền đạt, xử lí thông tin Trong các giờ dạy có sử dụng công nghệ thông tin học sinh sẽ được quan sát những hình ảnh thực tế liên quan đến nội dung bài học sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh trong các bài giảng
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được sử dụng để sử lí số liệu sau khi tiến hành thực nghiệm sư phạm, kết quả thu được nhằm đánh giá tính khả thi của đề tài
Trang 17Trên cơ sở các số liệu thu thập được từ việc thực nghiệm sư phạm, thực hiện việc thống kê kết quả thực nghiệm, để chứng minh tính hiệu quả của việc
rèn luyện kĩ năng bản đồ cho HS trong dạy học Địa lí – 11 THPT
7.5 Phương pháp bản đồ
Là phương pháp đặc trưng của khoa học bản đồ, sử dụng kiến thức kĩ năng bản đồ trong nghiên cứu và dạy học Địa lí cho HS Được sử dụng thường xuyên, qua việc thành kĩ năng bản đồ trong các bài học hay trong các giờ kiểm tra và tổ chức dạy thực nghiệm tại trường thực nghiệm
7.6 Phương pháp khảo sát điều tra
Nhằm tìm hiểu thực tế của việc sử dụng bản đồ ở các trường trung học hiện nay Tôi đã sử dụng nhiều biện pháp như phỏng vấn, trao đổi, phát phiếu điều tra… để tìm hiểu vấn đề này
7.7 Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp tranh thủ những ý kiến của các giáo sư, tiến sĩ, các thầy
cô giáo dạy giỏi môn Địa lí, để từ đó định hướng và bổ sung phương pháp, nội dung nghiên cứu đề tài
7.8 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính khoa học, tính thực tiễn và tính khả thi của đề tài Phân tích các kết quả thực nghiệm thu được, rút ra những kĩ năng cơ bản trong học tập và giảng dạy bộ môn
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được vận dụng có hiệu quả nhằm đánh giá tính khả thi của việc hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong quá trình dạy học qua môn Địa lí 11, THPT Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhất là đối với chuyên ngành phương pháp
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, luận văn gồm các nội dung chính:
Trang 18Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu của việc hình
thành kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí lớp 11
Chương 2: Rèn kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học Địa lí 11 THPT Chương 3: Thực nghiệm Sư phạm
Trang 19NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
KĨ NĂNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số vấn đề trong dạy học địa lí
1.1.1.1 Khái niệm về quá trình dạy học
Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhận kiến thức từ kho tàng văn hóa xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân
“Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và HS (học) nhằm thực hiện các mục đích dạy học Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường không chỉ đảm bảo một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành
nhân cách con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa” [15]
Quan niệm trên về quá trình dạy học đã phản ánh tính chất hai mặt của quá trình này: quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của HS Hai quá trình không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới, đáp ứng được yêu cầu của thời đại Trong quá trình hoạt động chung đó, người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS để giúp họ tự khám phá ra tri thức Tất nhiên người giáo viên còn có chức năng cung cấp cho người học tri thức, nhưng chỉ khi nào thật cần thiết Song chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy Người giáo viên phải suy nghĩ để giúp HS
sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống, kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp để tạo nên sự hiểu biết của bản thân mình [6]
Trang 20Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, HS tự giác, tích cực, chủ động,
tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức của con người mới Chính HS chứ không phải người nào khác phải tự mình làm ra sản phẩm giáo dục Tính chất hành động của họ có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng tri thức mà họ tiếp thu [11]
Từ những phân tích trên có thể rút ra định nghĩa quá trình dạy học như
sau: Quá trình dạy học là quá trình mà dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển
của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
1.1.1.2 Mục đích dạy học
Trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng đề ra năm 1991 có ghi rõ: “Giáo dục là sự nghiệp đào tạo và xây dựng con người vừa phục vụ nhiệm vụ kinh tế trước mắt, vừa chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn lâu dài”, “Giáo dục đào tạo những thế hệ trẻ thành người lao động có ý thức làm chủ, có tri thức thành thạo nghề nghiệp, có thái độ tích cực sáng tạo…” Như vậy mục đích của dạy học là đào tạo thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước bằng cách trang bị những kiến thức cơ bản, được quy định trong chương trình dạy và học của Bộ giáo dục và Đào tạo.[1] Giáo dục cung cấp cho người học hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng hoạt động thực tiễn, nâng cao trình độ học vấn, phát triển năng lực của mỗi cá nhân và hình thành lối sống văn hóa Qua giáo dục mỗi con người trở thành người lao động tự chủ, năng động, thông minh và sáng tạo tham gia một cách có ý thức trách nhiệm vào công cuộc xây dựng và phát triển cộng đồng, đất nước
Trang 211.1.1.3 Nhiệm vụ dạy học
- Nhiệm vụ 1: Làm cho HS nắm vững hệ thống những tri thức phổ thông
cơ bản, hiện đại phù hợp với thực tiễn nước ta về tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời rèn luyện hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
- Nhiệm vụ 2: Phát triển trong HS năng lực hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo
- Nhiệm vụ 3: Trên cơ sở vũ trang tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và thực hành mà hình thành cho HS cơ sở thế
giới quan khoa học, lý tưởng và những phẩm chất đạo đức của con người mới
Ba nhiệm vụ dạy học nêu trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động
hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành mục đích giáo dục
1.1.1.4 Phương pháp dạy học
Phương pháp hiểu theo nghĩa chung và rộng nhất là hành vi thực hiện một công việc có mục đích nhất định Đó cũng là cách thức, con đường mà người ta cần đi theo để đạt được mục đích Theo cách hiểu như vậy thì phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa giáo viên và HS trong phạm trù hoạt động dạy
và học, nhằm mục đích giáo dục và trau dồi học vấn cho thế hệ trẻ Tuy nhiên, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp dạy học, thường gặp một số quan niệm về phương pháp dạy học như sau:
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của người giáo viên để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục HS theo mục tiêu của nhà trường Theo quan niệm này thì giáo viên là nhân vật trọng tâm giữ vai trò chỉ đạo, còn HS thì thụ động thực hiện những điều thầy dạy, người thầy cố gắng truyền đạt hết những kiến thức và kinh nghiệm của mình để hoàn thành bài giảng còn HS lắng nghe lời giảng của thầy, ghi chép và học thuộc [4]
Phương pháp dạy học là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện làm việc của giáo viên và HS trong quá trình dạy học, nhằm đạt tới mục đích giáo dục Như vậy, quan niệm này coi phương pháp dạy học là một sự kết hợp của hai
Trang 22hoạt động dạy và học Nhiệm vụ truyền đạt tri thức của giáo viên cũng quan trọng như nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của HS [25]
Phương pháp dạy học là cách thức hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của HS dẫn tới việc
HS lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực nhận thức [25] Có thể nói đây là quan niệm mới nhất về phương pháp dạy học Theo quan niệm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức, HS có vai trò chủ động trong quá trình dạy học Nói một cách khác các phương pháp học tập, xuất phát từ các qui luật của sự lĩnh hội tri thức quyết định hoạt động dạy của giáo viên, phương pháp dạy của giáo viên
Có thể phân chia phương pháp dạy học địa lí thành 3 nhóm:
- Nhóm các phương pháp truyền thống, sử dụng ngôn ngữ nói để trình bày, lấy thầy làm trung tâm Trong dạy học địa lí nhóm các phương pháp dùng lời vẫn được đa số giáo viên sử dụng từ trước đến nay Nhóm này gồm các phương pháp: Diễn giảng, giảng thuật, giảng giải và đàm thoại
Các phương pháp dùng lời có một số ưu điểm nhất định Chúng có khả năng cung cấp cho HS một lượng thông tin lớn trong một thời gian ngắn Nếu như lời lẽ trình bày của giáo viên trong sáng, truyền cảm, nội dung khoa học, chính xác, có lôgic chặt chẽ thì bài giảng sẽ có sức hấp dẫn, làm cho HS tiếp thu tri thức một cách dễ dàng Tuy nhiên, nhược điểm chính của nhóm phương pháp này là kém tác dụng trong việc phát huy trí lực cũng như hạn chế năng lực chủ động, sáng tạo của HS trong việc lĩnh hội tri thức Các phương pháp dùng lời đều thiên về việc cung cấp cho HS những tri thức làm sẵn
- Nhóm các phương pháp hướng dẫn HS tích cực, chủ động khai thác tri thức với các nguồn tri thức và phương tiện thiết bị kỹ thuật dạy học địa lí
Đây là nhóm phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành những khái niệm, biểu tượng địa lí cho HS Đối với môn địa lí, việc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học là rất cần thiết vì HS chỉ có thể quan
Trang 23sát được một phần nhỏ các đối tượng, hiện tượng địa lí ở xung quanh, còn phần lớn các đối tượng khác thì không có điều kiện quan sát trực tiếp như sự biến đổi của các hiện tượng: Động đất, núi lửa, hay những cảnh quan không có ở nước
ta như địa hình băng tuyết, hoang mạc, khi đó HS chỉ có thể hình dung ra nhờ các phương tiện trực quan
Theo ý kiến của M.V.Xtuđênikin [Dẫn theo 13] phương tiện trực quan bao giờ cũng có hai chức năng: Phương tiện minh hoạ và nguồn tri thức Khi sử dụng các phương tiện trực quan nếu giáo viên sử dụng như một nguồn tri thức
để cho HS khai thác trong quá trình học tập thì việc sử dụng nó có thể coi như một phương pháp, còn nếu chỉ sử dụng như một đồ dùng minh hoạ thì đó là biện pháp phục vụ cho phương pháp dùng lời Những phương tiện trực quan thường được sử dụng trong dạy học địa lí là:
+ Tranh ảnh giáo khoa địa lí, các tranh ảnh minh hoạ trong SGK
+ Các mô hình, mẫu vật, các bộ sưu tầm phục vụ cho chủ đề về địa lí + Phim ảnh, phim đèn chiếu, băng video,
+ Các loại bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ,
- Nhóm các Phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm: Nhóm này gồm
có nhiều phương pháp, trong đó HS thể hiện rõ vai trò chủ thể trong việc lĩnh hội kiến thức, tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình bằng cách phát huy năng lực của bản thân dưới sự chỉ đạo của giáo viên Với các phương tiện học tập, HS phải tự lực đến mức tối đa để khai thác kiến thức qua sự hướng dẫn của giáo viên, qua các bài viết trong sách giáo khoa, qua các nguồn tri thức khác nhau: Bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, các số liệu thống kê, các phương tiện nghe nhìn
và các tranh ảnh địa lí, các tài liệu thông tin khác Trong quá trình khai thác tri thức, HS không những có điều kiện thuận lợi để vận dụng các thao tác tư duy một cách tích cực, mà còn có điều kiện củng cố các tri thức cũ một cách sáng tạo vào những trường hợp thực tế cụ thể Tuy nhiên để làm được điều đó, HS cần phải biết cách làm việc với các nguồn tri thức, hay nói cách khác là phải
Trang 24nắm được một số kỹ năng cơ bản trong việc khai thác chúng Trong các phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm, vai trò của giáo viên chủ yếu là hướng dẫn
HS biết vận dụng các kỹ năng để khai thác nguồn tri thức Nhóm này gồm có một số phương pháp hướng dẫn HS:
+ Khai thác tri thức từ bản đồ;
+ Khai thác tri thức địa lí từ các nguồn số liệu thống kê kinh tế và biểu đồ; + Khai thác tri thức qua băng hình (Videos);
+ Khai thác tri thức qua quan sát ngoài thực địa;
+ Khai thác tri thức từ những tranh ảnh địa lí;
+ Thảo luận;
+ Sử dụng sách giáo khoa địa lí;
+ Sử dụng các phương tiện hiện đại;
+ Tìm tòi khám phá (hay phương pháp nghiên cứu);
Hiện nay, nhóm phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm đã được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông song vẫn còn có nhiều hạn chế vì HS chưa được trang bị đầy đủ những kỹ năng cần thiết Do đó, vấn đề trước tiên là quan tâm đến việc hình thành và rèn luyện cho HS các loại kỹ năng cơ bản giúp cho HS biết khai thác các nguồn tri thức địa lí
1.1.1.5 Phương tiện dạy học
* Khái niệm về phương tiện dạy học
Có nhiều quan niệm khác nhau về các phương tiện dạy học (nói chung) và phương tiện dạy học địa lí (nói riêng) Theo các tài liệu lý luận dạy học: Phương tiện dạy học đồng nghĩa với các phương tiện trực quan, đó là các vật thật, vật tượng trưng và các vật tạo hình được sử dụng để dạy học Các vật thật giúp cho HS tiếp thu tri thức, gây hứng thú tìm tòi, học tập như: Động vật, thực vật sống trong môi trường tự nhiên, Các vật tượng trưng như: Các sơ đồ, lược
đồ, bản đồ giáo khoa, giúp cho HS thấy được một cách trực quan các sự vật, hiện tượng được biểu diễn dướii dạng khái quát hoặc đơn giản Còn các vật tạo
Trang 25hình kể cả các phương tiện hiện đại như: Tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, băng Video, phim đèn chiếu, thay cho các sự vật và hiện tượng khó trông thấy trực tiếp như: Biển, đại dương, hoặc các sự vật và hiện tượng không thể trông thấy như: Cấu tạo của Trái đất, vận động của Trái Đất, hoàn lưu gió [13]
Theo Nguyễn Ngọc Quang [16] “Phương tiện dạy học là mọi thiết bị kỹ
thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo” Với quan
niệm này, các phương tiện dạy học được phân thành ba nhóm:
1) Các phương tiện phòng thí nghiệm;
2) Các phương tiện nghe, nhìn: phim đèn chiếu, băng Video, máy tính điện tử 3) Các đồ dùng trực quan bao gồm: Vật thật, mô hình, tranh ảnh, sơ đồ, đồ thị, bản đồ địa lí,
Theo nhà nghiên cứu và giảng dạy địa lí N.N Branxki trong cuốn:
“Phương pháp giảng dạy địa lí kinh tế” thì thiết bị dạy học là những phương tiện trực quan, nó là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự tổ chức và kết quả của việc giảng dạy địa lí ở nhà trường Các thiết bị đó bao gồm: phòng địa lí, các bản đồ giáo khoa, quả cầu địa lí, các tranh treo tường biểu đồ, đồ thị [dẫn theo 12]
Theo GS Nguyễn Dược và một số tác giả khác trong giáo trình “Lý luận dạy học địa lí” xuất bản năm 1993 cho rằng: Các thiết bị dạy học địa lí gồm một phần cơ sở vật chất tạo điều kiện cho việc giảng dạy môn địa lí như: Phòng
bộ môn địa lí, vườn địa lí, tủ sách địa lí Toàn bộ các đồ dùng trực quan như: Bản đồ, tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng cụ quan trắc, đo đạc, và các tài liệu cung cấp những tri thức cơ bản cho giáo viên và HS như: Sách giáo khoa địa lí, các sách báo tham khảo có nội dung địa lí, Ngoài ra, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các thiết bị kỹ thuật hiện đại cũng đã được công nhận
là những phương tiện dạy học như: Các loại máy chiếu, băng Video, vô tuyến truyền hình, máy chiếu ảnh, máy ghi âm, máy chiếu hình nổi, máy vi tính [5]
Trang 26* Phân loại các phương tiện kỹ thuật trong dạy học địa lí
Cho đến nay việc phân loại các phương tiện dạy học vẫn chưa thống nhất Theo Tô Xuân Giáp có một số cách phân loại sau:
+ Phân loại theo tính chất của phương tiện dạy học;
+ Phân loại theo cách sử dụng phương tiện dạy học;
+ Phân loại theo mức độ chế tạo phức tạp hay không phức tạp của các phương tiện dạy học (xem hình 1.1) [13]
Hình 1.1 Hệ thống các phương tiện dạy học địa lí [13]
Trong các cách phân loại trên thì việc phân loại theo cách sử dụng các phương tiện dạy học phù hợp với hệ thống phương tiện dạy học được sử dụng trong nhà trường hiện nay Theo cách phân loại này các phương tiện dạy học được chia làm 2 nhóm:
HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐỊA LÍ
Các phương tiện dạy học truyền thống Các phương tiện nghe nhìn hiện đại
Các phương tiện trực tiếp phản ánh các đối tượng địa
lí như thật (các
bộ sưu tập mẫu vật)
Các phương tiện nhằm tái tạo lại các đối tượng địa lí bằng hình ảnh
Các phương tiện phản ánh các đối tượng bằng ngôn ngữ và vật tượng trưng
Các phương tiện, dụng cụ nghiên cứu địa
lí (các dụng cụ quan trắc, đo vẽ)
Các phương tiện nhìn (các loại phim không
có âm thanh)
Các phương tiện nghe nhìn (phim ảnh, phim video, )
Truyền thông
đa phương tiện (mạng máy tính, truyền hình)
Trang 27- Nhóm phương tiện dùng trực tiếp để dạy học gồm: Các phương tiện truyền thống và các phương tiện nghe nhìn được hình thành do sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin
- Nhóm phương tiện dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học gồm các phương tiện hỗ trợ (bảng viết, các giá cố định, lưu động, thiết bị thay đổi ánh sáng phòng học, các phương tiện ghi chép
Trên cơ sở phân loại các phương tiện dạy học, do đặc trưng của bộ môn, các phương tiện trực tiếp dạy học địa lí được phân thành 2 nhóm phương tiện cơ bản:
- Nhóm các phương tiện dạy học truyền thống
- Nhóm các phương tiện, thiết bị kỹ thuật dạy học địa lí hiện đại
Để đổi mới phương pháp dạy học đạt kết quả cao cần đổi mới các phương tiện thiết bị dạy học sao cho phù hợp với nội dung dạy học, phù hợp với từng vấn đề trong nội dung của từng bài học cụ thể phương tiện dạy học phải có tính khoa học, tính sư phạm, tính trực quan và tính thẩm mỹ, phải có giá trị trong truyền đạt và lĩnh hội kiến thức và phải thuận tiện trong sử dụng (xem hình 1.2)
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa mục tiêu-phương tiện-phương pháp dạy học [25]
1.1.1.6 Tích hợp trong quá trình dạy học
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp
Mục tiêu, kế hoạch giáo dục
phổ thông
Phương tiện, thiết bị kỹ thuật dạy học
Trang 28các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy [dẫn theo 4] Trong dạy học, tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học
Như vậy, dạy học tích hợp là: Lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học Xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống Giáo viên có thể tích hợp các nội dung ở các môn học khác nhau, hoặc các kiến thức khác liên quan đến bài giảng để chuyển tải đến học sinh những chủ đề giáo dục lồng ghép thông qua các hình thức truyền đạt bằng trình chiếu, giảng dạy, thảo luận, dạy học theo dự án
Tích hợp là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực khoa học, giáo dục khái niệm tích hợp dùng để chỉ một quan điểm giáo dục toàn diện con người, nhằm nâng cao năng lực của người học, đào tạo những người có đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống
Căn cứ vào nội dung bài học địa lí và yêu cầu dạy học, có các hình thức tích hợp như sau: Liên môn, nội môn, xuyên môn
Tích hợp liên môn là hình thức tích hợp được chú trọng nhất đây là hướng tích hợp mở rộng ra tất cả các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật, thể dục thể thao,… Không phải bài nào cũng phải dạy tích hợp liên môn,
mà giáo dục theo chủ đề xuyên suốt nhiều bài
Tích hợp xuyên môn là hình thức mở rộng phạm vi tìm hiểu ra ngoài trường học Nó đảm bảo tính cập nhật, tính thực tế vì gắn với các tư liệu thu thập được trong cuộc sống cộng đồng và các phương tiện thông tin đại chúng Tích hợp nội môn là hình thức tích hợp lâu nay vẫn thường được sử dụng trong dạy học truyền thống, đến nay sẽ có định hướng rõ ràng hơn Tích hợp nội môn gồm:
Trang 29+ Tích hợp ngang là tích hợp giữa hai phân môn địa lí với nhau, giữa lý thuyết và thực hành rèn kĩ năng
+ Tích hợp dọc là tích hợp trong cùng một phân môn địa lí với nhau từ bậc trung học cơ sở trở lên
+ Xác định dược hệ thống câu hỏi mang tính sát thực với nội dung có liên
hệ thực tế và tính phân hóa được dẫn dắt từ dễ đến khó
+ Tạo môi trường tương tác giữa người dạy và người học, giữa người học với người học, giữa người dạy với người dạy
Giúp cho học sinh và giáo viên tự tin bày tỏ ý kiến cá nhân, tạo điều kiện học tập giảng dạy với tính tự lập và liên kết nhóm, tính sáng tạo ngày càng được phát huy trong các giờ học địa lí
1.1.1.7 Kĩ năng, kĩ xảo trong dạy học địa lí
* Khái niệm về kĩ năng, kĩ xảo
Kĩ năng là sự vận dụng năng lực, kiến thức đã có để thực hiện có kết quả một loạt các thao tác, hoạt động để giải quyết một nhiệm vụ mới
Kĩ xảo là kĩ năng thực hiện một động tác nào đó đã được củng cố bằng việc rèn luyện nhiều lần Trong kĩ xảo những động tác đã ít nhiều đã có tính chất tự động hóa Quá trình kĩ năng trở thành kĩ xảo không phải là một quá
Trang 30trình đơn giản mà phải thông qua nhiều lần luyện tập và được hoàn thiện trong
hoạt động thực tiễn
Trong những năm gần đây các nhà tâm lí học và lí luận dạy học lại phân
biệt ra hai loại kĩ năng: Kĩ năng ban đầu và kĩ năng hoàn thiện
- Kĩ năng ban đầu: Thực chất là năng lực vận dụng kiến thức vào hành động một cách đơn giản
- Kĩ năng hoàn thiện: Kĩ năng này hoàn thiện sau khi đã có kĩ xảo, loại kĩ năng này cao hơn kĩ năng ban đầu vì khó hơn, phức tạp hơn và đòi hỏi ở HS phải có kinh nghiệm và một mức độ sáng tạo nhất định trong hành động
Như vậy, trong kĩ năng hoàn thiện ngoài các thành phần kiến thức kĩ năng ban đầu, kĩ xảo ra còn phải có hai thành phần nữa là các kinh nghiệm thực tiễn
và yếu tố sáng tạo, nó biểu hiện năng lực phẩm chất trí tuệ của người thực hiện Mối quan hệ giữa kĩ năng ban đầu, kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện có thể biểu hiện trong sơ đồ (xem Hình 1.3)
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa kĩ năng ban đầu, kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện [4]
Theo sơ đồ (xem hình 1.3): Kĩ năng ban đầu được hình thành trên cơ sở vốn kiến thức đã có và xuất hiện trước khi có kĩ xảo Ngược lại, kĩ năng hoàn
Kiến
Kĩ xảo
Kĩ năng hoàn thiện
Kinh nghiệm thực tiễn
Yếu tố sáng tạo
Trang 31thiện được hình thành sau khi có kĩ xảo, và bao gồm 5 thành phần là: kiến thức,
kĩ năng ban đầu, kĩ xảo, kinh nghiệm thực tiễn và yếu tố sáng tạo
Như vậy để đạt được kĩ năng ở trình độ cao nhất, các kĩ năng ban đầu và kĩ
xảo của HS phải được rèn luyện nhiều lần thông qua hoạt động thực tiễn
Trong bộ môn Địa lí thường sử dụng các kĩ năng sau:
+ Kĩ năng làm việc với bản đồ, trong đó có các kĩ năng, định hướng trên bản đồ, đo đạc trên bản đồ, đọc bản đồ, sử dụng bản đồ, lược đồ
+ Kĩ năng làm việc ngoài trời, trong đó kĩ năng quan sát, đo đạc với các công
cụ quan trắc về các hiện tượng thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng, thực động vật
+ Kĩ năng làm việc với các tài liệu địa lí, trong đó các kĩ năng lập lát cắt,
vẽ biểu đồ, bản đồ phân tích các số liệu
+ Kĩ năng học tập địa lí, trong đó có các kĩ năng làm việc với SGK, tài liệu tham khảo, kĩ năng mô tả, viết và trình bày các vấn đề Địa lí
1.1.2 Bản đồ giáo khoa
1.1.2.1 Kiến thức chung về bản đồ giáo khoa
a Định nghĩa Bản đồ giáo khoa
“Bản đồ giáo khoa là những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng
cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ HS đến việc đào tạo các chuyên gia Những bản đồ đó cũng được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trước hết là Địa lí và Lịch sử” (Bibich và Vasinic ) [3]
b Vai trò của Bản đồ giáo khoa
Bản đồ là hình ảnh không gian được khái quát hóa và trực quan hóa, giúp
HS khả năng hiểu rõ sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng Địa lí trên bề mặt Trái đất một cách cụ thể mà không một phương tiện khác nào có thể làm được Qua bản đồ, có thể cho HS xem xét, nghiên cứu, nhìn nhận một cách bao quát những khu vực đất đai rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi ở trên bề mặt Trái đất mà HS chưa có điều kiện đến tận nơi để quan sát
Trang 32Là đối tượng nghiên cứu bản đồ có mục đích hình thành các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cho HS Là nguồn tri thức, bản đồ có tác dụng cho HS khai thác, củng cố tri thức và phát triển năng lực tư duy trong quá trình học tập Địa lí
Có thể nói bản đồ chính là nguồn tri thức, là “quyển sách Địa lí thứ hai”
của HS Nếu không có bản đồ, lược đồ… thì HS sẽ không có một cơ sở nào để khai thác tri thức ngoài SGK Vì thế, câu trả lời của HS thường không chính xác, hoặc trả lời được nhưng các em không hiểu, do HS chỉ đọc SGK, rồi nói lại nội dung đó, hoặc HS sẽ suy đoán không có cơ sở Cách dạy như vậy không những không kích thích được hoạt động tư duy của HS mà còn làm mất thời gian của cả thầy và trò, hiệu quả giờ dạy chắc chắn không cao
Mặt khác, nếu không có bản đồ, lược đồ thì khi ôn bài cũ HS sẽ không có biểu tượng chính xác về đối tượng, các em sẽ chỉ học thuộc, còn khi trả lời dễ
bị nhầm, sai Các kiến thức Địa lí nhanh chóng bị lãng quên, ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy của GV và học tập của HS
Tóm lại, bản đồ là một công cụ cần thiết góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập Địa lí Nếu cung cấp cho bộ môn Địa lí với mức cao, đầy
đủ nhất những bản đồ phù hợp với mục đích giảng dạy thì sẽ là biện pháp quan trọng và có hiệu lực nhất để nâng cao toàn bộ công việc tổ chức giảng dạy và học tập Địa lí trong nhà trường phổ thông
c Đặc điểm, tính chất của bản đồ giáo khoa
Bản đồ giáo khoa trước hết phải mang những đặc điểm của bản đồ địa lí nói chung Bản đồ giáo khoa phải được xác định trên cơ sở toán học nhất định, bản đồ phải là sự thể hiện một cách có chọn lọc, khái quát hoá để phục vụ cho mục đích, nội dung chủ đề và tỉ lệ nhất định Đồng thời, bản đồ giáo khoa cũng phải dùng ngôn ngữ bản đồ để phản ánh sự vật và hiện tượng Như vậy, ngoài những tính chất chung của một bản đồ địa lí, bản đồ giáo khoa còn có những tính chất riêng để xác định mục đích sử dụng của nó
Trang 33- Tính khoa học: Là một nguồn tư liệu độc lập, một cuốn sách giáo khoa
thứ hai cho nên tính chất đầu tiên của bản đồ giáo khoa phải là tính khoa học Tính khoa học được biểu thị ở độ chính xác tương ứng về mặt địa lí giữa bản
đồ và thực địa, độ chính xác về cơ sở toán học bản đồ Bản đồ địa lí được xây dựng theo quy luật toán học nhất định, theo tỉ lệ nhất định Ngoài những biểu hiện trên, tính khoa học của bản đồ còn biểu hiện ở tính trừu tượng, tính chọn lọc và tính tổng hợp, tính bao quát, tính đồng dạng và tính logic
- Tính trực quan: Các bản đồ dùng trong nhà trường, đặc biệt thể loại bản
đồ treo tường đòi hỏi phải có tính trực quan cao, đó chính là tính đặc trưng quan trọng nhất của bản đồ giáo khoa So với các bản đồ khác, bản đồ giáo khoa khái quát cao hơn, dùng nhiều hình ảnh trực quan, phương pháp biểu thị trực quan hơn và phần lớn là vượt ra ngoài điều kiện cho phép của tỉ lệ bản đồ Trong một bài giảng địa lí nếu dùng bản đồ như một đồ dùng trực quan thì bài giảng sẽ dễ hiểu và có sức hấp dẫn đối với HS Tuy nhiên, không nên lạm dụng tính trực quan mà cần phải lựa chọn giới hạn một cách hợp lí cho tính trực quan để khỏi gây ra những ảnh hưởng phản tác dụng
- Tính sư phạm: Tính sư phạm của bản đồ được biểu hiện trên nhiều mặt,
nhưng nói chung đều thống nhất ở chỗ phải đảm bảo tính tương ứng giữa bản
đồ với chương trình, sách giáo khoa, tâm lí lứa tuổi HS, hoàn cảnh của nhà trường và hoàn cảnh xã hội
c Phân loại bản đồ giáo khoa
Có nhiều dấu hiệu để phân loại bản đồ giáo khoa nhưng để phục vụ tốt cho
đề tài luận văn, tác giả phân loại bản đồ giáo khoa theo hình thức và mục đích
sử dụng, đó là:
* Quả địa cầu
Quả địa cầu là mô hình thu nhỏ của Trái Đất mà trong đó tất cả các yếu tố của nó như bán kính Trái đất, hệ thống kinh vĩ tuyến, diện tích các lục địa, đảo
và đại dương… đều giảm theo một tỉ lệ nhất định Quả địa cầu cho ta một khái
Trang 34niệm đúng và trực quan về hình dạng Trái đất, về kích thước, hình dạng và vị trí tương quan của các phần trên bề mặt đất, đồng thời cụ thể hóa các yếu tố của Trái đất – trục quay, các cực và mạng lưới Địa lí
* Bản đồ giáo khoa treo tường
Bản đồ giáo khoa treo tường là loại bản đồ dùng để treo ở trên lớp Được được dùng để nghiên cứu, giảng dạy và học tập Bản đồ giáo khoa treo tường thể hiện được nội dung Địa lí trong các mối quan hệ và cấu trúc không gian, đảm bảo được tính logic khoa học của vấn đề GV trình bày Bản đồ giáo khoa treo tường được thiết kế sao cho người sử dụng có thể đọc được kí hiệu từ khoảng cách từ 5-10m
* Bản đồ trong sách giáo khoa
Bản đồ có nhiệm vụ bổ sung những nội dung mà phần “kênh chữ” không trình bày hết được Do khuôn khổ SGK nhỏ, in đen trắng hoặc màu, cho nên bản đồ trong SGK thường có tỉ lệ nhỏ và nội dung đơn giản nhưng rất cô đọng Bản đồ dùng để minh họa trực tiếp cho bài bài học, gắn liền với bài học
* Atlas giáo khoa
Atlas giáo khoa là một tập hợp có hệ thống các bản đồ Địa lí, được sắp xếp một cách logic để phục vụ mục đích dạy học Nó có tính thống nhất cao về cơ
sở toán học, nội dung và bố cục bản đồ Atlas giáo khoa được phân biệt theo sự bao trùm lãnh thổ, theo nội dung và mục đích sử dụng Atlas giáo khoa dùng cho GV có nội dung phong phú và sâu sắc hơn Atlas giáo khoa chuyên dùng cho HS Atlas giáo khoa là một dạng Atlas chuyên đề
* Các dạng bản đồ khác
- Bản đồ “câm” (còn được gọi là bản đồ trống): trên bản đồ thường chỉ có
lưới bản đồ, đường ranh giới các lãnh thổ, mạng lưới thuỷ văn, mạng lưới giao thông, các điểm dân cư quan trọng Trên bản đồ không có địa danh Trong các giờ học, giáo viên dùng bản đồ “câm” để vừa dạy, vừa điền các đối tượng, hiện
Trang 35tượng, địa danh,… phù hợp với bài giảng; học sinh dùng bản đồ “câm” để vừa nghe, vừa điền hoặc giải các bài tập tìm đối tượng, địa danh,… Đây là một trong những phương pháp dạy học tích cực mang lại hiệu quả cao, gây hứng thú và tính tích cực, tự giác cho học sinh
- Bản đồ mạng (Web cartography): là những bản đồ được biên tập, truyền
thông, sử dụng trong môi trường Internet Đặc điểm của loại bản đồ này là tính tương tác, tính mềm dẻo cao Người sử dụng có thể dễ dàng lấy để sử dụng, thêm bớt, điều chỉnh nội dung cho phù hợp với mục đích, in ra giấy hoặc lưu trữ ở dạng file dữ liệu - điều này rất thuận lợi trong quá trình dạy học tích cực Loại bản đồ này còn được sử dụng rộng rãi trong việc thiết kế bài giảng điện tử
- Bản đồ đa phương tiện (Multimedia) là dạng bản đồ số hóa, ngoài hình
ảnh bản đồ, còn được kèm thêm các hiệu ứng khác như videos, âm thanh, màu sắc, tạo thẩm mỹ, hứng thú, sự vận động, làm tăng khả năng dạy học
- Bản đồ do giáo viên và học sinh tự xây dựng: Ở những trường còn nhiều
khó khăn (thậm chí cả những trường tương đối đầy đủ) về cơ sở vật chất, việc
tự xây dựng bản đồ giáo khoa dùng cho dạy học là tương đối phổ biến, loại bản
đồ này tuy kém chính xác về mặt toán học hay chưa đẹp trong trình bày bản đồ, nhưng lại phát huy được một số ưu điểm nổi bật, đó là:
+ Mang tính phương pháp cao: giáo viên lồng ghép phương pháp dạy học của mình vào bản đồ
+ Qua quá trình xây dựng bản đồ cũng là quá trình tiếp nhận thông tin của bài học
+ Dễ dàng bổ sung các thông tin mới lên bản đồ
+ Có thể cải tiến phương pháp dạy học, tránh dạy học theo quy trình, lối mòn định sẵn
+ Chi phí ít, thực hiện được ở mọi hoàn cảnh
Trang 361.1.2.2 Sử dụng bản đồ giáo khoa
* Sử dụng bản đồ
Mục đích của sử dụng bản đồ chính là để nhận thức thực tế khách quan nhằm thu được từ bản đồ những đặc trưng chất lượng và số lượng của hiện tượng được biểu thị trên bản đồ, nghiên cứu những mối quan hệ tương tác và động thái của các hiện tượng, dự đoán sự xuất hiện, sự phân bố và phát triển của chúng Bản đồ được sử dụng nhiều trong tất cả các ngành khoa học về Trái Đất và trong nhiều khoa học xã hội, trong quy hoạch, trong xây dựng và trong các ngành kinh tế
Phương pháp sử dụng bản đồ để nhận thức các hiện tượng được biểu thị trên bản đồ thì được gọi là phương pháp nghiên cứu bằng bản đồ Nó bao gồm các nhóm phương pháp sau đây:
- Mô tả theo bản đồ: Đó là sự trình bày ở dạng bài viết các kết quả phân tích
về chất lượng và số lượng của các hiện tượng và quá trình thể hiện trên bản đồ
- Các phương pháp đồ giải: Đó là những phương pháp dựng theo bản đồ các lát cắt, mặt cắt, đồ thị, biểu đồ và những mô hình hình vẽ hai chiều và ba chiều khác
- Các phương pháp đồ giải - giải tích: Là các phương pháp đo trên bản đồ các tọa độ, độ dài, độ cao diện tích, thể tích, góc và từ đó tính toán được các chỉ
số hình thái và cấu trúc của các đối tượng và hiện tượng Các phương pháp đồ giải - giải tích bao gồm các phương pháp đo đạc bản đồ và các phương pháp đo đạc hình thái
- Các phương pháp lập mô hình bản đồ - toán: Đó là những phương pháp dựng và phân tích những mô hình toán học dựa theo các số liệu thu nhận được
từ bản đồ và lập ra các bản đồ dẫn xuất mới trên cơ sở mô hình toán học đó Trong thực tế, các phương pháp mới trên thường được sử dụng kết hợp, ví
dụ, sự phân tích có thể được bắt đầu bằng mô tả hiện tượng theo bản đồ, tiếp theo tiến hành đo đạc trên bản đồ và kết thúc ở việc lập mô hình bản đồ - toán
Trang 37Theo mức độ cơ giới hoá và tự động hoá, các phương pháp sử dụng bản đồ được phân ra thành 4 nhóm sau đây:
- Phân tích trực quan: Bao gồm đọc bản đồ, so sánh trực quan và đánh giá trực quan các đối tượng
- Phân tích bằng dụng cụ: Đó là việc sử dụng các dụng cụ đo và các trang
bị cơ học (Compa đo, các ô lưới, máy đo diện tích,…) trong sử dụng bản đồ
- Các phương pháp nửa tự động: Đó là việc ứng dụng máy tính điện tử và các thiết bị tự động để thu nhận, tính toán, phân tích các số liệu từ bản đồ có sự kết hợp với phân tích trực quan và phân tích bằng dụng cụ thông thường
- Tự động hoá nghiên cứu bản đồ: Đó là việc tự động hoá hoàn toàn quá trình sử dụng bản đồ
* Kĩ năng sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí
Một trong những kĩ năng địa lí cơ bản và quan trọng nhất là kĩ năng sử dụng bản đồ Biết sử dụng bản đồ một cách thành thạo sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực tự học và vận dụng kiến thức địa lí vào thực tiễn cuộc sống của người học Do đó, cần trang bị cho HS những kĩ năng vận dụng các kiến thức địa lí nhất là kĩ năng sử dung bản đồ để giải thích các sự vật hiện tượng địa lí, giải quyết các vấn đề đang đặt ra ở địa phương, đất nước Thực chất của
kĩ năng sử dụng bản đồ là năng lực vận dụng kiến thức Địa lí vào các hoạt động
cụ thể với bản đồ nh xác định toạ độ địa lí, đo đặc tính toán khoảng cách, tìm
và mô tả các đối tượng Địa lí, đọc bản đồ các hoạt động đó được diễn ra nhiều lần thì hình thành kỹ năng Trong quá trình học tập Địa lí, kĩ năng sử dụng bản
đồ được vận dụng một cách hợp lý đúng mức sẽ đem lại tác dụng lớn Kĩ năng
sử dụng bản đồ không những giúp cho HS lĩnh hội kiến thức Địa lí một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng củng cố hiểu sâu kiến thức địa lí lâu bền, mà còn phát triển cho HS năng lực tư duy nói chung và năng lực địa lí nói riêng Vì trong khi làm việc với bản đồ HS phải quan sát, tưởng tượng, phân tích, đối chiếu, so sánh xác lập mối liên hệ địa lí và HS còn có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ
Trang 38năng sử dụng bản đồ vào cuộc sống như theo dõi các thông tin đại chúng một cách thuận lợi, tìm hiểu các tư liệu Địa lí từ bản đồ khi cần thiết
Trong quá trình dạy học địa lí thường sử dụng các kĩ năng sau:
- Kĩ năng đọc bản đồ: Quá trình đọc bản đồ là quá trình giải mã kí hiệu và
tạo thành khái niệm về không gian, về quy luật phân bố, tính chất và đặc điểm của hiện tượng Nói cách khác là qua bản đồ tạo hình ảnh thực tế khách quan Xét theo đặc điểm tâm sinh lý chung thì quá trình đọc bản đồ đi từ nhìn bao quát chung đến mức độ đọc sâu dần rồi tạo thành hình ảnh rõ rệt của đối tượng trong tư duy
- Kĩ năng đo đạc bản đồ: Việc đo tính trên bản đồ để đánh giá cụ thể kích
thước của các đối tượng Địa lí có một ý nghĩa rất quan trọng về mặt khoa học (Địa lí) cũng như về mặt hình thành các khái niệm Địa lí cho HS
Kích thước của một đối tượng Địa lí là quan trọng nhất, quyết định tính chất và mức độ tác động của nó đến môi trường xung quanh
Về phía dạy học, khi hình thành cho HS khái niệm về một dải núi, một con sông, một đồng bằng, nếu như cung cấp cho các em các số liệu về chiều dài, chiều rộng, độ lớn của mỗi đối tượng đó, nhất là nếu các em tự đo được những số liệu đó dựa vào bản đồ thì các khái niệm đó trở nên rõ ràng và sâu sắc hơn
- Kĩ năng mô tả địa phương bằng bản đồ
Mô tả địa phương bằng bản đồ là rất cần thiết đối với những người nghiên cứu và dạy - học địa lí Bằng bản đồ, khai thác các nội dung về địa lí địa phương là rất phong phú như việc đọc một cuốn sách hoặc khảo sát thực tế địa phương
- Kĩ năng phân tích bản đồ: Phân tích bản đồ nghĩa là học sinh có khả
năng phân tích các yếu tố thành phần của đối tượng để tìm ra mối liên hệ của các yếu tố thể hiện trên một bản đồ hoặc xác định mối liên hệ giữa những yếu
tố thể hiện trên bản đồ và những kiến thức Địa lí đã học để hiểu rõ hơn nguyên nhân, tính chất hay đặc điểm của đối tượng Để thực hiện thao tác này học sinh
Trang 39cần phải dựa vào bản đồ, kiến thức về bản đồ và các kiến thức địa lí liên quan Xét về bản chất, phân tích bản đồ là nhằm tìm ra mối liên hệ địa lí bao gồm mối liên hệ giữa các đối tượng tự nhiên, mối liên hệ giữa các đối tượng KT – XH hoặc mối liên hệ giữa đối tượng tự nhiên với đối tượng KT – XH Khi hướng dẫn HS thực hiện kĩ năng này, giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh các đối tượng trên bản đồ, phân tích các yếu tố thành phần sau đó tổng hợp lại để đưa
ra những đánh giá, nhận định hay giải thích về các hiện tượng đó Khi đó kiến thức mà người sử dụng bản đồ thu lượm được sẽ rộng hơn và sâu sắc hơn rất nhiều so với những nội dung được thể hiện trên bản đồ
- Kĩ năng so sánh, đánh giá bản đồ: Sự đánh giá bản đồ yêu cầu khảo sát
mức độ đầy đủ và tin cậy của chúng Trong đó có mức độ hiện thực (năm xuất bản, tài liệu sử dụng), độ tin cậy và đầy đủ của nội dung, độ chính xác hình học
và các tính chất đo đạc bản đồ khác Sự khảo sát này cần có sự so sánh giữa bản đồ được khảo sát với các bản đồ khác có cùng lãnh thổ, cùng hiện thực địa lí; so sánh với các nguồn thông tin khác (văn bản, số liệu thống kê,…), các cơ
sở dữ liệu của máy tính
So sánh bản đồ cũng là một phương pháp sử dụng bản đồ đặc thù Khi so sánh các bản đồ phản ánh các thời kì phát triển của các hiện tượng ở các thời điểm khác nhau, cho phép ta tìm hiểu sự tiến hoá của các hiện tượng đó Sự so sánh các bản đồ còn cho phép phân tích mối quan hệ giữa các hiện tượng Trong phần lớn các trường hợp, bằng cách quan sát, hoặc bằng các phép đo bản
đồ, ta có thể tìm ra và phân tích sự giống nhau và khác nhau của các hình ảnh bản đồ
- Kĩ năng vẽ bản đồ: thông qua vẽ bản đồ, giáo viên có thể giúp học sinh
học cách mã hoá thông tin để thành lập những bản đồ đơn giản dưới dạng các
sơ đồ (trường học, hay một dãy phố) Khi học sinh tự thành lập các bản đồ, các
em sẽ hiểu một cách rõ ràng hơn các kiến thức cơ bản về bản đồ (Tỉ lệ bản đồ, phương hướng, phương pháp thể hiện bản đồ, ) Khi có được những kiến thức
Trang 40bản đồ cơ bản tốt các em mới có thể phát triển các kĩ năng bản đồ phức tạp hơn
Sử dụng bản đồ: Tìm thấy mối quan hệ một cách trực tiếp giữa các đối tượng thể hiện trên bản đồ với những đối tượng đó ngoài thực tế Với kĩ năng này, học sinh
có thể đưa kĩ năng bản trong học đường ra ngoài thực tế, biến kĩ năng tư duy mang tính lý thuyết thành kĩ năng tư duy gắn với thực tiễn
Trong quá trình dạy học địa lí, việc sử dụng bản đồ để tổ chức hoạt động nhận thức và rèn luyện kĩ năng thường là hai hoạt động đan xen và làm nền tảng cho nhau Học sinh có kĩ năng bản đồ tốt thì sẽ gặp thuận lợi hơn trong quá trình nhận thức
- Kĩ năng sử dụng bản đồ ngoài thực địa: Việc sử dụng bản đồ một cách
thành thạo trên thực địa đối với dạy học là một yêu cầu không thể thiếu được Trước hết phải đặt bản đồ phù hợp với thực địa, dùng bản đồ để nghiên cứu thực địa, nhận biết các yếu tố xung quanh nhận biết địa phương, liên hệ đối chiếu những đối tượng trên bản đồ với những đối tượng đó ngoài thực địa Khi
sử dụng thành thạo thì bản đồ là một người dẫn đường tin cậy
1.2 Cơ sở thực tiễn 1.2.1 Phân tích chương trình Địa lí lớp 11 THPT
1.2.1.1 Vị trí, vai trò của địa lí lớp 11 trong chương trình địa lí THPT
Địa lí là môn học không thể thiếu được trong các nhà trường phổ thông Môn địa lí không những cung cấp tri thức về địa lí mà còn có tác dụng to lớn về mặt giáo dục lòng yêu quê hương, Tổ quốc cho thế hệ trẻ, bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan khoa học, quan điểm lịch sử, tư duy kinh tế, tư duy sinh thái
và những quan điểm đúng đắn trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên những tri thức về địa lí địa phương đất nước mình và sâu hơn nữa là những tri thức về các nước khác trong khu vực, mở rộng các mối quan hệ giao lưu quốc
tế trong xu thế toàn cầu hóa
Môn Địa lí lớp 11 cung cấp cho HS những kiến thức khoa học về tự nhiên,
về dân cư, về chế độ xã hội và về các hoạt động kinh tế của con người ở một số quốc gia trên thế giới