1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THI CHÍNH SÁCH VĂN HÓA: Nội dung một số chính sách mang tính truyền thống của văn hóa Quốc gia trên thế giới hiện nay. Liên hệ thực tế.

16 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 606,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.( Nghị quyết hội nghi 5, TW Đảng khóa VIII) Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, văn hoá Việt Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trang 1

Nội dung một số chính sách mang tính truyền thống của văn hóa Quốc gia

trên thế giới hiện nay Liên hệ thực tế

Trả lời

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.( Nghị quyết hội nghi 5, TW Đảng khóa VIII)

Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, văn hoá Việt Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

1 Chính sách và nội dung của chính sách về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc

Nước nào, dân tộc nào cũng có quyền tự hào về DSVH của mình và mọi thành quả của sáng tạo vh hôm nay không thể tách khỏi cội nguồn của quá khứ Do vậy, trong CSVH, các QG đều đặt nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị các DSVH, cả DSVHVT và DSVHPVT Các DSVH bao gồm các công trình kiến trúc, di tích lịch sử, văn hóa…DSVH còn bao gồm hệ thống các giá trị

về văn học dân gian, âm nhạc truyền thống, phong tục, tập quán, lễ hội… được các thế hệ truyền nhân truyền lại, được hoàn thiện và phát triển từ đời này qua đời khác, thể hiện bản sắc và cốt cách của một dân tộc hay cộng đồng xã hội khác

- Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể: đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của bất kỳ chính sách văn hóa nào

- Một CSVH tiến bộ khoa học phải khuyến khích được việc bảo tồn và phát huy các giá trị đó theo hướng:

Trang 2

+ giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc trao truyền các giá trị văn hóa đó + Bảo tồn các giá trị DSVH gắn với phát triển du lịch

Liên hệ:

Ở nước việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được thể hiện rõ nét qua việc, những di sản văn hóa bị lãng quên và có phần mai một đi, thì nay đã được phục hồi và có khả năng phát triển trở lại như:

+ Hát Then ở Tuyên Quang, đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia

Theo kết quả kiểm kê, khảo sát trên địa bàn tỉnh của Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch vừa rồi, để lập hồ sơ di sản hát Then đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho thấy một sự thật đáng lo ngại, đó là, xu hướng hát Then đang dần bị mai một Vì các nghệ nhân già ngày càng mất dần, lớp trẻ thì thích nhạc trẻ Hát Then, theo cách nói của những người làm bảo tồn, bảo tàng cũng đang bị “biến đổi” mạnh Lời Then giờ chủ yếu được đặt lại Then cổ không còn mấy người lưu giữ Ở Tuyên Quang, nghệ nhân nắm giữ làn điệu Then cổ không còn mấy người Trên 40 hạt nhân văn nghệ là người dân tộc Tày làm nhiệm vụ trao truyền, duy trì hát Then ở cơ sở cũng chỉ mấy người biết hát Then cổ Đó quả là một thách thức không nhỏ đối với Tuyên Quang trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát Then, khi

mà lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới, Then cổ mới là cái tinh túy, chứa đựng “những giá trị văn học nghệ thuật ngàn đời của cha ông” cần được trưng ra thế giới

Trước thực trạng như vậy, những năm gần đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu, đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc, trước mắt tập trung bảo tồn, phát huy giá trị di sản hát then của dân tộc Tày với một số việc làm cụ thể như: Nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, xuất bản các cuốn sách, đĩa nhạc về hát Then Tày; tham mưu với UBND tỉnh để hàng năm ngành tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn hát Then cho hạt nhân văn nghệ cơ sở,

Trang 3

mời các nghệ nhân đến truyền dạy các làn điệu Then cổ; phối hợp với huyện, xã có phong trào hát Then, có nghệ nhân tâm huyết với các làn điệu Then cổ tổ chức mở lớp truyền dạy cho thế hệ trẻ Cách làm này khá thành công ở xã Tân An (Chiêm Hóa), nơi có hai anh em nghệ nhân Hà Phan, Hà Thuấn, người dành cả đời mình cho việc bảo tồn, phát huy giá trị hát Then của dân tộc mình Cụ Hà Thuấn tâm sự:

“Yêu thích, trân trọng giá trị nhân văn của nghệ thuật truyền thống dân tộc, nên thấy cần phải giữ gìn, truyền dạy cho con, cháu, thế thôi ” Ông cũng là người khởi xướng việc thành lập CLB hát then thôn Tân Thịnh, xã Tân An, do các thế hệ gia đình nghệ nhân Hà Thuấn làm nòng cốt Từ hoạt động hiệu quả của CLB, huyện Chiêm Hóa đã tổ chức Đêm Then, cọi - Chiêm Hóa tại Tân An rất thành công

+ Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là DSVHPVT,

+ Quan họ Bắc Ninh được UNSCO công nhận là DSVHPVT:

Quan họ Bắc Ninh là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang) Đây là môn nghệ thuật được hợp thành bởi nhiều yếu tố như âm nhạc, lời ca, phục trang, lễ hội … với một lối hát giao duyên dân dã, thể hiện mối quan hệ gắn bó tình nghĩa giữa những "liền anh", "liền chị" hát quan họ và là nét văn hóa tiêu biểu của người dân vùng Kinh Bắc Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân

ca Việt Nam và được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua phương thức truyền khẩu Muốn hát quan họ phải có "bọn": "bọn nam" hoặc "bọn nữ" Vì vậy trong một làng quan họ thường có nhiều "bọn nam" và "bọn nữ" Mỗi "bọn" thường có 4,

5, 6 người và được đặt tên theo thứ tự: chị Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu hoặc anh Hai,

Ba, Tư, Năm, Sáu Nếu số người đông tới 7, 8 người thì đặt tên là chị Ba, chị Tư (bé) hoặc anh Ba, anh Tư (bé)… mà không đặt chị Bảy, Tám hay anh Bảy, Tám Trong các sinh hoạt quan họ, các thành viên của "bọn" quan họ không gọi nhau bằng tên thật mà gọi theo tên đặt trong "bọn"

Trang 4

Hát quan họ là hình thức hát đối đáp giữa "bọn nam" và "bọn nữ" Một "bọn nữ" của làng này hát với một "bọn nam" của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về ca từ và đối giọng "Bọn hát" phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng của hai người hát cặp với nhau phải tương hợp thành một giọng

để tạo ra một âm thanh thống nhất Dân ca quan họ có 213 giọng khác nhau, với hơn 400 bài ca Lời một bài ca có hai phần: lời chính và lời phụ Lời chính là thể thơ và ca dao của Việt Nam, phần lớn là thể lục bát, lục bát biến thể, bốn từ hoặc bốn từ hỗn hợp với từ ngữ giàu tính ẩn dụ, trong sáng, mẫu mực Đây là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của bài ca là thể hiện tình yêu lứa đôi Lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi,ư hư, a ha v.v…

Quan họ Bắc Ninh tồn tại trong một môi trường văn hóa với những tập quán

xã hội riêng Đầu tiên là tập quán "kết chạ" giữa các làng quan họ Từ tục "kết chạ", trong các "bọn" quan họ xuất hiện một tập quán xã hội đặc biệt là tục kết bạn quan họ Mỗi "bọn" quan họ của một làng đều kết bạn với một "bọn" quan họ ở làng khác theo nguyên tắc quan họ nam kết bạn với quan họ nữ và ngược lại Với các làng đã "kết chạ", trai gái trong các "bọn" quan họ đã kết bạn không được cưới nhau

Một điểm khác biệt của quan họ Bắc Ninh so với các loại hình dân ca khác ở Việt Nam trong việc truyền dạy là tục "ngủ bọn" Sau một ngày lao động, "bọn" quan họ, nhất là thiếu niên nam, nữ từ 9 đến 17 tuổi thường rủ nhau "ngủ bọn" ở nhà ông/bà Trùm để tập nói năng, ứng xử, giao tiếp, học câu, luyện giọng, và nhất

là phải biết bẻ giọng, ứng đối kịp thời Yêu cầu đặt ra với tục "ngủ bọn" là "liền anh" và "liền chị" phải ghép đôi và luyện sao cho từng đôi một thật hợp giọng nhau

để đi hát

Nói đến quan họ Bắc Ninh là nói đến ẩm thực quan họ Đã là trầu quan họ thì phải là trầu têm cánh phượng hoặc trầu têm cánh quế, chè phải là chè Thái

Trang 5

Nguyên Cơm quan họ dùng mâm đan nghĩa là mâm gỗ tròn sơn đỏ, còn gọi là

"mâm son", vừa trang trọng vừa thể hiện tình cảm thắm thiết của chủ nhà đối với khách Các món ăn trong bữa cơm phụ thuộc vào tập quán của từng làng nhưng phải có một đĩa thịt gà, hai đĩa giò lụa, thịt lợn nạc, đặc biệt không dùng thức ăn nhiều mỡ để tránh hỏng giọng

Trong quan họ, trang phục của "liền anh" và "liền chị" có sự khác biệt

Trang phục của "liền chị" gồm nón ba tầm hoặc nón thúng quai thao, khăn vấn và khăn mỏ quạ, yếm, áo, váy, thắt lưng, dép Trang phục của "liền anh" gồm khăn xếp, ô lục soạn, áo cánh bên trong và áo dài 5 thân bên ngoài, quần, dép Vào lúc 16h55 ngày 30/9/2009 tại thủ đô Abu Dhabi của Các tiểu vương quốc

Ả Rập thống nhất, Ủy ban UNESCO đã công nhận quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của Nhân loại dựa trên các giá trị văn hóa, giá trị lưu giữ tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, phong cách ứng xử văn hóa, ca từ và trang phục Phạm vi công nhận chính thức gồm có 49 làng quan họ phân bố như sau: tỉnh Bắc Giang có 5 làng là Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ; tỉnh Bắc Ninh có 44 làng là: Bái Uyên, Duệ Đông, Hạ Giang, Hoài Thị, Hoài Trung, Lũng Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Vân Khám, Tam Sơn, Tiêu, Đông Mai, Đông Yên,

Bồ Sơn, Châm Khê, Cổ Mễ, Dương Ổ, Đẩu Hàn, Điều Thôn, Đông Xá, Đỗ Xá, Hòa Đình, Hữu Chấp, Khả Lễ, Khúc Toại, Ném Đoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Niềm

Xá, Phúc Sơn, Thanh Sơn, Thị Chung, Thị Cầu, Thọ Ninh, Thượng Đồng, Trà Xuyên, Vệ An, Viêm Xá, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Ổ, Xuân Viên, Y Na, Yên Mẫn

+ Hoàng Thành Thăng Long: Ngày 1/8, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới

Trang 6

Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ từ tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam

Vào lúc 20 giờ 30 ngày 31/7/2010 theo giờ địa phương tại Brasil, tức 6 giờ 30 ngày 1/8/2010 theo giờ Việt Nam, Ủy ban di sản thế giới đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của di sản với

tư cách là một trung tâm quyền lực, và các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú

+ Cố đô Huế: Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những

di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, Việt Nam Phần lớn các di tích này nay thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày

11 tháng 12 năm 1993 Hiện tại, cố đô Huế đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng Quần thể di tích Cố đô Huế có thể phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và trong Kinh thành Huế

2 Chính sách và nội dung của chính sách nói về việc sáng tạo và phổ biến các giá trị văn học- nghệ thuật Thể hiện ở 2 phương diện

- CSVH tạo điều kiện khuyến khích người nghệ sĩ sáng tạo ra nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, chúng ta thấy 2

Trang 7

mảng tách biệt, nhưng lại gắn kết hữu cơ với nhau, đó là văn học, nghệ thuật, nghệ

sĩ và công chúng

+ Mảng văn học, nghệ thuật bao gồm các lĩnh vực nghệ thuật như: Nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, điện ảnh, văn học, sách xuất bản và thư viện Bên cạnh các loại hình trong lĩnh vực này là các thiết chế văn hóa như hệ thống các nhà hát, rạp chiếu phim, thư viện, bảo tàng, các nhà xuất bản…

Đây là những mảng hoạt động văn hóa quan trọng và có thể ví như bộ mặt của đời sống văn hóa thường nhật của mỗi nước, do vậy chính sách văn hóa quốc gia thường có khuynh hướng thúc đẩy và khuyên khích các hoạt động văn học, nghệ thuật nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và giải trí của người dân

- CSVH phải nhằm phát triển thể chế văn hóa, nhằm đảm bảo cho mọi người dân có điều kiện tham gia sáng tạo, hưởng thụ, đánh giá, các giá trị văn học nghệ thuật.( Thể chế này bao gồm: sân khấu, nhà hát…) Song song với việc này là các chính sách trợ cấp tài chính, khuyến khích nhân dân đến với văn hóa, nghệ thuật Đối với nhiều quốc gia, nhất là các nước phát triển, chính sách khuyến khích nhân dân đến với văn hóa, nghệ thuật

- Liên hệ:

Trước hết là chính sách đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá phục vụ cộng đồng, mang lại lợi ích thiết thực, phục vụ trực tiếp cho người dân: sửa chữa, xây mới hệ thống các nhà văn hoá cấp huyện, với phương châm nâng cao chất lượng sinh hoạt văn hoá cộng đồng, dành ưu tiên cho nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tuỳ theo mỗi vùng, miền, mỗi tộc người cũng như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán mà mỗi sinh hoạt văn hoá cộng đồng được nhà nước đầu tư khác nhau: với người Khơmer theo Phật giáo Tiểu thừa, chùa là nơi thực hành tôn giáo còn là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng nên nhà nước và chính quyền địa phương đầu tư kinh phí cho xây,

Trang 8

sửa chùa; với người Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận, Nhà nước đã đầu tư kinh phí xây, sửa nhà làng; năm 2000, Nhà nước triển khai dự án đầu tư sửa chữa, làm mới nhà Rông cho các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên góp phần duy trì tập quán sinh hoạt văn hoá truyền thống của đồng bào; đối với vùng nông thôn trải dài từ Bắc tới Nam là việc triển khai xây dựng điểm bưu điện - văn hoá xã

Đến năm 2007 tổng số cơ sở văn hoá thông tin trong cả nước là 6.527 cơ sở, trong đó nhà văn hoá cấp huyện, cấp xã có 5.749 cơ sở Hệ thống thư viện trong cả nước (gồm thư viện, phòng đọc sách, tủ sách) là 16.546 đơn vị, trong đó số phòng đọc sách cơ sở (xã, phường, thị trấn, làng, thôn, bản) có tới 14.333 đơn vị

Đầu tư phát triển văn hoá trải theo diện rộng được triển khai song song với đầu tư phát triển văn hoá theo trọng điểm Trong những năm qua, Nhà nước đã, đang đầu tư xây dựng nâng cấp các công trình văn hoá tiêu biểu như: Thư viện Quốc gia, Trung tâm chiếu phim Quốc gia, Nhà hát lớn Hà Nội, Trung tâm Hội chợ triển lãm Giảng Võ, Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Chính sách đầu tư cho các thiết chế văn hoá đương đại từ cấp cơ sở đến cấp Quốc gia đi liền với chính sách đầu tư cho việc bảo tồn di sản văn hoá vật thể và phi vật thể Nhà nước đã quan tâm đầu tư một cách thích đáng, cho trùng tu và xây dựng cơ sở hạ tầng tại các di sản văn hoá: Kinh đô Huế, khu phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, động Phong Nha Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long Lập hồ sơ di sản văn hóa trình UNESCO công nhận như “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc cung đình Huế, Hát ca trù

-

Trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước từ năm 1986, những nhận thức mới của Đảng về văn hóa có bước chuyển quan trọng Nền văn hóa mà Đảng

xác định phải xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với đặc

trưng dân tộc, hiện đại, nhân văn Một hệ thống lý luận văn hoá được hợp thành với lý luận chung trong quá trình đổi mới tư duy của toàn xã hội

Trang 9

Tháng 11-1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 05 về văn hóa - văn nghệ trong cơ chế thị trường; Nghị quyết của Bộ Chính trị và các kết luận về văn hóa, văn nghệ (tháng 11-1988); tháng 8-1989, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 52- CT/TW

về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học - nghệ thuật; tháng 6-1990, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 61-CT/TW về công tác quản lý văn học- nghệ thuật; tháng 1-1993, BCHTƯ ra Nghị quyết Trung ương 4 về một số nhiệm

vụ văn hóa - văn nghệ những năm trước mắt; tháng 7-1998, Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII ra Nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Toàn bộ tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã làm sáng lên bức tranh của nền văn hóa đất nước trong tương lai Đó là nền văn hóa với vai trò

là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển, gắn với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, gắn với những vấn đề nảy sinh trong

xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường Đối với công tác lãnh đạo văn hóa,

Nghị quyết khẳng định: Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây

dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước như Bác Hồ đã dạy “Đảng

ta là đạo đức, là văn minh” Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng, cơ bản và chiến lược

không chỉ đối với công tác lãnh đạo mà cả công tác quản lý văn hóa, với mỗi cán

bộ, đảng viên

Có thể nói Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã thể hiện sự phát triển cả nhận thức và tư duy lý luận về văn hóa lãnh đạo văn hoá của Đảng Đó cũng chính

là kết tinh của sự kế thừa và phát triển Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa, về phương pháp lãnh đạo văn hóa, quản lý văn hóa; là sản phẩm từ tổng kết lý luận và thực tiễn trong quá trình hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo văn hóa của Đảng

Trang 10

Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về văn hóa thông qua việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng bằng luật pháp, pháp lệnh, nghị định, quy định, các chính sách văn hóa Thông qua các chương trình hành động, phong trào thi đua yêu nước, qua hệ thống các thiết chế văn hóa để vận động quần chúng nhân dân thực hiện; biến chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng thành lực lượng vật chất, thành phong trào cách mạng; tạo ra những kết quả cụ thể nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, trực tiếp xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội

Đến Đại hội IX, những tư tưởng chủ yếu của Đảng về phát triển văn hóa được thể hiện trên cơ sở thực tiễn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), Nghị quyết Đại hội IX tiếp tục nhấn mạnh vị trí của văn hóa trong lịch sử phát triển của dân tộc ta; khẳng định sức sống lâu bền của những quan điểm, tư tưởng nêu trong Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) trong đời sống xã hội, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về

ý nghĩa “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”, Nghị quyết nhấn mạnh đó là

tầm cao, chiều sâu của sự phát triển của dân tộc, khẳng định và làm rõ vị trí của văn hóa trong đời sống dân tộc, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và ra kết luận tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa làm nền tảng tinh thần xã hội, gắn kết và đồng bộ với phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt

Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gắn kết chặt chẽ hơn với phát triển kinh tế xã hội; làm cho văn hóa thấm sâu và mọi lĩnh vực đời sống xã hội; xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam; bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, sinh viên, học sinh,

Ngày đăng: 29/08/2021, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w