1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương ôn thi Triết học (Dành cho hệ Sau đại học)

17 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 170 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Thế giới quan và Nhân sinh quan Phật giáo. Tư tưởng trung tâm của triết học Phật giáo? Khái niệm thế giới quan: Thế giới quan là những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới xung quanh, về bản thân và về cuộc sống của con người, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Phật giáo là một trào lưu TH tôn giáo xuất hiện khoảng thế kỷ VI V TCN ở miền Bắc Ấn Độ, xuất hiện trong phong trào đấu tranh chống lại Bà la môn giáo. Do hoàng tử Tất Đạt Đa sáng lập, ông đã giác ngộ trở thành Phật và được các đệ tử gọi là Phật Thích Ca Mầu Ni. Phật đi thuyết giảng nhưng không trước tác. Sau này, các bài giảng của Ngài được các đệ tử tập hợp lại và phát triển lên. Qua các lần kết tập, đến thế kỷ III TCN thì hình thành lên bộ “Tam tạng kinh”. ...

Trang 1

CÂU HỎI ÔN THI TRIẾT CAO HỌC

Câu 1: Thế giới quan và Nhân sinh quan Phật giáo Tư tưởng trung tâm của triết học Phật giáo?

Khái niệm thế giới quan: Thế giới quan là những quan điểm, quan niệm của con người về thế

giới xung quanh, về bản thân và về cuộc sống của con người, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy

Phật giáo là một trào lưu TH tôn giáo xuất hiện khoảng thế kỷ VI - V TCN ở miền Bắc Ấn Độ, xuất hiện trong phong trào đấu tranh chống lại Bà la môn giáo

Do hoàng tử Tất Đạt Đa sáng lập, ông đã giác ngộ trở thành Phật và được các đệ tử gọi là Phật Thích

Ca Mầu Ni Phật đi thuyết giảng nhưng không trước tác Sau này, các bài giảng của Ngài được các đệ tử tập hợp lại và phát triển lên Qua các lần kết tập, đến thế kỷ III TCN thì hình thành lên bộ “Tam tạng kinh”

Bộ “Tam tự kinh” bao gồm 3 giỏ - 3 tạng:

- Kinh tạng: tập hợp các lời thuyết giảng của Phật

- Luận tạng: phần phát triển những lời thuyết giảng của Phật Thích Ca Mầu Ni do các Phật tổ, cao tăng làm ra

- Luật: giới luật dành cho các tín đồ Phật giáo và các giáo đoàn

Thế giới quan Phật giáo

Thế giới quan Phật giáo là sự kế thừa thế giới quan của TH phương Đông, đó là những quan điểm về

sự hình thành, vận động và biến đổi thế giới

- Trước hết, Phật giáo cho rằng: thế giới này hình thành do các ngtử, các ngtử đó nguồn gốc từ Tứ đại (đất, nước, lửa, không khí) Các ngtử đó là bất biến

- Khác với quan niệm phổ biến của truyền thống Ấn Độ, Phật giáo cho rằng: các ngtử vốn ko dài, ko ngắn, ko tròn, ko vuông, kết hợp với nhau theo luật Nhân quả, nhân duyên, theo nhu cầu nội tại để tạo thành thế giới Nghĩa là: ko ai tạo tác ra thế giới (Vô tạo giả) Đây là quan niệm vô thần của Phật giáo nguyên thuỷ

- Ngoài ra, Phật giáo cho rằng thế giới này nằm trong sự vận động, biến đổi liên tục theo những chu

kì xác định, nối tiếp nhau, ko có đầu, ko có cuối (vô thuỷ vô chung) Chu kì đó bao gồm: sinh trụ dị -diệt

Trong một chu trình và toàn bộ thế giới, sự vật chịu sự chi phối của luật Nhân quả, nhân duyên: Nhân là tiền để để tạo thành Quả và để nhân trở thành Quả cần có Duyên; sau đó, quả chịu sự tác động của một duyên khác mà trở thành Duyên mới,… Quá trình này diễn ra liên tục, ko ngừng, làm cho thế giới luôn luôn nằm trong sự vận động, biến đổi Phật giáo coi thế giới đó ko phải là đích thực, vì trong một khoảng khắc thời gian (gọi là Sahma), thế giới đó ko phải là chính nó nữa Như vậy, thế giới là Vô thường

- Quan niệm về con người: Phật giáo cho rằng Con người do ngũ uẩn hợp thành:

+ Sắc (vật chất)

+ Thụ (cảm giác)

+ Tưởng (ấn tượng)

+ Hành (tư duy)

+ Thức (ý thức)

Ngũ uẩn này tạo thành Sắc (vật chất) và Danh (tinh thần) Ngũ uẩn kết hợp với nhau theo quy luật của trời đất, từ đó con người có sinh – lão - bệnh - tử

- Con người chịu sự chi phối của nhân quả, nhân duyên Bản thân con người là vô ngã (không có cái

ta đích thực) và vô thần (không do ai tạo ra)

Nhân sinh quan

Nhân sinh quan Phật giáo là nội dung cơ bản của TH Phật giáo

Trang 2

Xuất phát từ quan điểm thế giới là ảo ảnh, ảo giác, mặt khác, từ nhận thức của con người ko đúng về

thế giới, Phật giáo quan niệm đời người là bể khổ, kiếp người là trầm luân, con người càng trải qua nhiều kiếp thì càng khổ trầm trọng Chính vì vậy, Phật giáo đặt ra vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự “giải thoát” khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn.

Nội dung của Nhân sinh Phật giáo tập trung trong thuyết “tứ đế” (tứ diệu đế) với ý nghĩa là 4 chân lý

tuyệt vời để giải thoát con người

Khổ đế:

Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ và đưa ra 8 nỗi khổ (bát khổ) của con người:

- Sinh – lão - bệnh -tử

- Thụ biệt ly (thương yêu nhau phải xa nhau)

- Oán tăng hội (oán ghét nhau nhưng phải sống cùng nhau)

- Sở cầu bất đắc (mong muốn nhưng không làm được)

- Ngũ thụ uẩn khổ (5 yếu tố uẩn tụ lại làm nên cái khổ)

Nhân đế (tập đế) :

Phật giáo cho rằng cuộc sống đau khổ là có nguyên nhân Để cắt nghĩa nỗi khổ của nhân loại, Phật giáo đưa ra thuyết “thập nhị nhân duyên” – là 12 nguyên nhân và kết quả nối theo nhau dẫn đến các khổ đau của con người :

- Vô minh (mọi sự vật hiện tượng đều là ảo giả)

- Hành (hành động của tư duy)

- Thức (tâm thức)

- Danh sắc (ngũ uẩn tạo thành lục căn là 6 cơ quan cảm giác: nhĩ - tỵ - thiệt – thân - ý)

- Lục nhập

- Xúc (sự tiếp xúc của lục căn hình thành ý thức)

- Thụ

- Ái

- Thủ

- Hữu

- Sinh (cái tôi)

- Lão tử

Trong đó vô minh là nguyên nhân đầu tiên

Diệt đế :

Khẳng định của nhà Phật là cuộc đời là bể khổ, nhưng mọi nỗi khổ có thể khắc phục, tiêu diệt được

để đạt tới trạng thái Niết bàn Có 2 loại Niết bàn :

- Niết bàn từng phần

- Niết bàn toàn phần

Đạo đế :

Đạo chỉ ra rằng con đường tiêu diệt cái khổ là con đường đi đến giác ngộ thông qua tu đạo, hoàn thiện đạo đức cá nhân với 8 nguyên tắc (bát chính đạo)

- Chính kiến : Hiểu biết đúng tứ đế

- Chính tư: Suy nghĩ đúng đắn

- Chính ngũ: nói lời đúng đắn

- Chính nghiệp: giữ nghiệp không tác động xấu

- Chính mệnh : giữ ngăn dục vọng

- Chính tịnh tiến : Rèn luyện tu lập không mệt mỏi

- Chính niệm: Có niềm tin bền vững

- Chính định : Tập trung tư tưởng cao độ, thiền định

Trang 3

8 nguyên tắc đó có thể thâu tóm vào “Tam học” tức 3 điều cần học tập và rèn luyện là : Giới - Định

– Tuệ

Trải qua quá trình vận động của lịch sử, ngay trên đất Phật, đầu công nguyên, đã xuất hiện nhiều hệ phái Phật, sau khi Thích Đạt Đa mất, Phật giáo chia thành 2 phái: Tiểu thừa và đại thừa

- Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ) : Chủ trương bảo tồn giáo lý Phật giáo nguyên thuỷ, đi đến giải thoát cá nhân (tự giác) để trở thành các vị La Hán

- Đại thừa (cố xe lớn) : Chủ trương giải thoát cho chúng sinh nhờ sự trợ giúp của Bồ Tát (giác tha) Bồ Tát là những người có tu tập thành công đạt đến viên giác tức là đã giũ bỏ bụi trần, giác ngộ và quay trở lại cứu độ chúng sinh đang quằn quại trong khổ đau

Tóm lại Phật giáo đã đem lại một triết lý duy tâm về XH và về đời người do không nhìn vào cơ sở vật chất, giai cấp, đẳng cấp đã sinh ra bi kịch trong XH Nên khi tìm nguyên nhân của mọi sự khổ ải và các tệ nạn XH lại tìm trong tính sinh vật, trong dục vọng và ham muốn của con người Triết lý nhân sinh

về con đường giải thoát của Phật giáo là mang tính yếm thé, bi quan và không tưởng

Tư tưởng trung tâm của triết học Phật giáo chính là tư tưởng giải thoát khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn.THPG thông cảm nỗ khổ của con người, tựu trng lại dạu

con người sống thế nào để kiếp sau không quay lại nổi khổ khác

Câu 2: Nho giáo bàn về con người và về việc đào tạo con người.?

Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội và 1 trong 4 học thuyết cơ bản của TH Trung Quốc cổ đại (Nho, Đạo, Pháp, Mặc) Người sáng lập là Khổng Tử thế kỷ 6 TCN, sau đó được Mạnh Tử, Tuân Tử

kế thừa và phát triển theo 2 hướng Duy tâm và DV

Đó là ko phải là một trường phải TH thuần tuý mà là một học thuyết chính trị XH - đạo đức, bàn về vấn đề con người với vai trò là trọng tâm của học thuyết

Nội dung tư tưởng của Nho gia là học thuyết chính trị XH, chú trọng giải quyết vấn đề quản lý XH như thế nào? Con người trong XH ấy phải ứng xử như thế nào để XH hoạt động có hiệu quả?

1 Về bản tính người : Nho gia không đặt vấn đề con người từ đâu ra mà cho rằng “con người là

đức của trời đất, là chỗ giao nhau của âm và dương, là nơi hội tụ của quỷ thần và chí tinh anh của ngũ hành” Ở đây, Nho gia chú trọng bàn về bản tính con người

- Khổng Tử cho rằng: “tính tương cận, tập tương viễn” – tính con người vốn gần nhau, do tập

nhiễm XH nên đi đến chỗ xa nhau

- Mạnh Tử thì cho rằng: “ nhân tri sơ tính bản thiện” - gắn với tứ đoan : nhân, nghĩa, lễ, trí.

Nhưng sở dĩ có người không thiện là do tập nhiễm XH Ông là người đầu tiên sử dụng khái niệm “Nhân nghĩa” trong đó Nhân là lòng người và Nghĩa là con đường đi của lòng người

- Đến Tuân Tử lại cho rằng: Tính con người là ác (ở đây không phải là độc ác mà có nghĩa là có

nhu cầu thoả mãn cuộc sống tinh thần của con người)

- Cáo Tử lại cho rằng con người không thiện cũng không ác.

- Dương Hùng thì cho rằng Thiện – Ác lẫn lộn, đan xen.

- Thời Hán (Hán Nho), Đổng Trọng Thư chia bản tính người làm 3 dạng người, cho rằng tính

con người là tính “tam phẩm” (có thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm) trong đó: Thượng phẩm là toàn thiện, Trung phẩm là vừa thiện và ác, Hạ phẩm là chỉ có ác mà thôi

- Thời nhà Đường (Đường Nho), Hàn Dũ cho rằng tính con người có 3 loại giống như Hán

Nho

- Thời cận đại lại cho rằng tính người là tính bình đẳng (lúc này Nho giáo đã có sự ảnh hưởng tư

tưởng bên ngoài)

- Đến thời hiện đại người ta vẫn tiếp tục bàn đến tính người và cho rằng tính người là tính giai cấp Trong XH có giai cấp, không có con người chung chung mà nó mang màu sắc của 1 giai cấp nhất định, vấn đề tính người được nhìn nhận qua lăng kính giai cấp

Trang 4

Tóm lại, các nhà TH có tư tưởng TH khác nhau, đối lập nhau nhưng dù có sự khác nhau đó thì họ đều có tư tưởng thống nhất là cần giáo dục cái Thiện cho con người

2.Quan hệ giữa con người

Nho giáo quan niệm con người có 2 mqhệ là : Trong QHSX đó là mqhệ giữa lao tâm và lao lực; trong quan hệ chính trị - đạo đức

- Khổng Tử chia quan hệ của con người thành các mqhệ Nhân luân : Vua – Tôi, Cha – Con,

Chồng - Vợ, Anh – Em, Bạn bè

- Mạnh Tử: cho rằng : con người ta có Ngũ Luân tức là 5 sợi dây giàng buộc, 5 mqhệ : Phụ - Tử

hữu thân, Quân - Thần hữu nghĩa, Phu - phụ hữu biệt , Trưởng - Ấu hữu tự, Bằng - Hữu hữu tín

Đến Hán Nho, Đổng Trọng Thư chia thành 3 mqhệ cơ bản của con người trong XH gọi là “Tam

cương” Đó là các mqhệ : Vua – Tôi, Phụ - Tử và Phu - Phụ Đó là các mqhệ một chiều dựa trên thuyết

Âm Dương, Âm phải phục tùng Dương Ở thời kỳ này, tư tưởng Hán Nho chủ yếu là “Tam cương” từ đó sinh ra tam tòng đối với người phụ nữ Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới : Tòng phu, Tòng phụ, Tòng tử Lý thuyết này chi phối toàn bộ tư tưởng Hán nho trong suốt chế độ phong kiến tập quyền Trung Quốc

Bên cạnh “Tam cương” còn có “Ngũ thường” là 5 chuẩn tương ứng với ngũ hành : Nhân, Nghĩa,

Lễ, Trí, Tín

3.Về giáo dục và đào tạo con người.

Theo quan điểm của Nho gia, tập tính XH làm con người xa nhau Nếu không phục hồi được bản tính Thiện thì sẽ trở thành kẻ tiểu nhân, nếu giữ được bản tính Thiện sẽ trở thành người quân tử Do vậy cần giáo dục và đào tạo con người trở thành quân tử Nho gia dùng đạo đức để giáo dục con người

- Mục đích của Nho gia: Đào tạo con người phục vụ cho chế độ XH, chế độ phong kiến, tạo trật tự

kỷ cương, bình đẳng không va chạm, vua ra vua, tôi ra tôi, xây dựng một XH giống như thời Nghiêu Thuấn

- Đối tượng đào tạo: là con người của giai cấp Phong Kiến, con em tầng lớp quý tộc, quan lại và những người của các giai cấp khác có khả năng học tập, có chí hướng

- Nội dung đào tạo: dạy những nguyên tắc làm người của chế độ Phong kiến, dạy đạo đức, đối nhân

sử thế,văn thơ, sử ca…ít quan tâm đến kiến thức KH - KT, giới tự nhiên, sản xuất vật chất Nho giáo không chú trọng giáo dục chuyên môn, coi thường lao động chân tay, kẻ lao lực làm ra của cải cho người lao tâm, do vậy đã phân chia thành các tầng lớp trong XH

- Mẫu người đào tạo: kẻ sĩ, đại trượng phu, người quân tử Mẫu người lý tưởng để bắt chước chính là Thánh Nhân

Để giáo dục và đào tạo con người, Khổng Tử đã mở trường tư để dạy học nhằm đào tạo những người có ích cho XH

Khổng Tử dạy người ta “tứ giáo” : Văn = chữ, Hạnh = đức hạnh, Trung = trung thành, Tín = chữ tín Lục nghệ : Ngự = cưỡi ngựa, Xạ = bắn cung, Thư = viết chữ, Số = tính toán, Lễ= hoạ lễ, Nhạc =

âm nhạc

Phương pháp giáo dục của Khổng Tử là học đi đôi với tư (tư duy), đi đôi với tập, học đi đôi với hành Ông đề cao tự tu, tự học “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

Có thể thấy Nho giáo khuyên người ta làm việc thiện, mưu cầu hạnh phúc cho con người, giáo hoá đạo đức, cải biến XH và con người, có triết lý nhân sinh sâu sắc Song hạn chế của Nho giáo là ở chỗ phân biệt đối xử trong đào tạo con người, phụ nữ không nằm trong diện được đào tạo, mặt khác không chú trọng đào tạo về chuyên môn, coi thường người lao động

Câu 3 : Học thuyết nguyên tử trong triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại?

TH HL ra đời vào thế kỷ 5 TCN và kéo dài tới TK I - SCN khi XH chuyển sang chế độ chiếm hữu

nô lệ Đây là 1 trong 3 nền TH lớn thời cổ đại và được Mác đánh giá là một trong những nền văn minh sang giá nhất của nhân loại từ trước đến nay

Trang 5

Có thể nói TH HL cổ đại chứa tất cả các mầm mống của các ngành KHsau này Đây được coi là TH

tự nhiên vì bản thân các nhà TH ở thời kỳ này không chỉ nghiên cứu về TH mà còn nghiên cứu về giới tự nhiên, các nhà TH đồng thời cũng là những nhà KHtự nhiên lỗi lạc

TH HL thời kỳ này đã hình thành 2 đường lối DV và DT với một số tác gia tiêu biểu:

- Duy vật có : Talét, Đêmôcrit, Epiquya, Hêraclit, Lơxip

- Duy tâm có: Platôn, Xôcrat

Riêng Aritxtôt là đại biểu dao động giữa duy vật và duy tâm

Một trong số đóng góp lớn lao thời kỳ này là sự ra đời của học thuyết ngtử (từ khoảng thế kỷ 5 đến thế kỷ 3 TCN) của Lơxip, Đêmôcrit và Êpiquya

Học thuyết khẳng định quan điểm DV cho rằng: Thế giới được cấu tạo, sinh ra từ ngtử

Lơxip:

Ông là người đầu tiên ở Hy Lạp cổ đại phát hiện ra ngtử, ông cho rằng khởi nguyên của vật chất không phải là 4 căn nguyên mà là vô số ngtử

- Lơxip cho rằng mọi sự vật được cấu thành từ những ngtử Đó là những hạt vật chất tuyệt đối không thể phân chia, nó vô hạn về số lượng và cả về hình thức Sở dĩ có sự vật khác nhau là vì có hình thức sắp xếp khác nhau của các ngtử

- Theo Lơxip nhờ có không gian rỗng mà các ngtử và các vật thể có thể vận động, kếp hợp và phân tán Ông hiểu vận động chỉ là sự di chuyển của vật thể trong không gian

Đêmôcrit

Ông là học trò giỏi của Lơxip, tiếp tục nghiên cứu và phát triển về thuyết ngtử của người thầy Khi

xây dựng học thuyết ngtử, Đ đã đứng vững trên lập trường DV khẳng định ngtử là bản nguyên vật chất

đầu tiên của vũ trụ

- Ông đã phát triển học thuyết ngtử lên một trình độ mới, ông cho rằng ngtử là cơ sở cấu tạo nên vạn vật, là hạt vật chất cực nhỏ, không thấy, không phân chia, không mùi vị, không âm thanh, không màu sắc, không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế

- Cũng như Lơxip, ông cho rằng mỗi ngtử có một hình thức nhất định, ngtử không những vô hạn về

số lượng mà còn vô hạn về hình thức, sự kết hợp các ngtử hình thành vạn vật không phải là tuỳ tiện mà là kết hợp theo một trật tự khác nhau, nhưng chúng chuyển động theo quỹ đạo nhất định Mọi sự biến đổi của sự vật thực chất là sự thay đổi trình tự sắp xếp của các ngtử tạo nên chúng, còn bản thân các ngtử không thay đổi

- Đ cũng nêu ra lý thuyết về vũ trụ học, theo ông ngtử luôn vận động, sự vận động vốn có tự thân

trong chân không và theo tính tất nhiên của tự nhiên Trong không gian vô tận của vũ trụ, những ngtử tự vận động, xô đẩy lẫn nhau và làm thành những cơn lốc ngtử, đẩy các ngtử nặng quy tụ vào tâm, các ngtử nhẹ và nhỏ hơn bị đẩy ra vùng ngoại biên, nhờ đó hình thành nên các hành tinh kể cả trái đất Do cách vận động đó, các ngtử có cùng một kích thước, cùng một hình thức kết hợp với nhau thành nước, lửa, đất, không khí Trong thế giới đã được hình thành, mọi vật thể đều luôn quy tụ về trung tâm do trọng lượng của nó

- Theo Đ, sự vận động của ngtử là vĩnh viễn, và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của

ngtử ở bản thân ngtử, ở động lực tự thân, tự nó, còn khoảng trống hay chân không là điều kiện vận động

của nó Tuy nhiên Đ đã không lý giải được nguồn gốc của sự vân động.

- Về sự sống và con người, Đ cho rằng linh hồn được cấu tạo từ ngtử hình cầu, giống như ngtử của

lửa, và vận động với tốc độ lớn Ngtử linh hồn sinh ra nhiệt làm cho cơ thể hưng phấn và vận động Song, ông lại coi linh hồn không phải là hiện tượng tinh thần, ý thức mà là một hiện tượng vật chất

Êpiquya (341 – 279 TCN)

Ê không những tiếp tục học thuyết ngtử của Đ, mà ông còn có những đóng góp mới đã được Mác

đánh giá rất cao trong luận án tiến sĩ của ông

Trang 6

Ông cho rằng các ngtử có khác nhau về trọng lượng, do đó chúng vận động theo chiều thẳng đứng từ trên xuống, giống như sự rơi của các vật thể hay như các hạt mưa Trong quá trình rơi, các hạt va vào nhau, quyện vào nhau hoặc xa rời nhau Từ đó, ông kết luận các ngtử vận động theo quy luật nội tại của chúng, nhưng nó bao hàm yếu tố ngẫu nhiên, chúng có thể đi chệch quỹ đạo ban đầu Đây là một tư tưởng quan trọng vừa mang ý nghĩa tự nhiên vừa mang ý nghĩa XH: Mỗi vật không đơn thuần là tổng số các ngtử mà là một chỉnh thể có những đặc tính nhất định

Học thuyết ngtử ra đời và phát triển chính là cơ sở, là nền tảng cho sự ra đời các quan điểm DV sau này Mác đã đưa ra một kết luận mang tính TH: ngay cả trong tự nhiên, ngtử cũng đã có khả năng chuyển động một cách tự do như vậy thì trong lĩnh vực XH sự thay đổi là tất yếu

Câu 4: Nhưng đặc điểm chủ yếu của triết học Tây âu từ Phục hưng đến thế kỷ XVIII.

- Khẳng định sức mạnh của con người, luận chứng cho việc khoa học phải góp phần giải phóng con người, chinh phục tự nhiên vì hạnh phúc của con người, “con người hãy thờ phụng bản thân mình, chiêm ngưỡng chính mình” Là

- Là ngọn cờ lý luận phục vụ thiết lập sự thống trị của chủ nghĩa tư bản Triết học phát triển trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên Nhiều nhà triết học đồng thời là những nhà khoa học

tự nhiên lớn của thời đại như L.Đơ Vanhxi, Bruno, G.Galile, G.Lép nít, Ph.Bêcơn, R Đềcác, I Cantơ

- Tiếp tục chống lại thần học và nhất là chủ nghĩa tư biện Vào thế kỷ XVII-XVIII các nhà duy vật, đặc biệt là Xpinoda và các nhà duy vật Pháp, kể cả một số nhà duy tâm như Đ.Hium, là những nhà vô thần

- Khoa học lúc này đã đi sâu hơn vào các sự vật, do đó sự hiểu biết về thế giới sâu sắc hơn Song, cả khoa học tự nhiên lẫn triết học lại thua thời cổ đại trong việc đưa ra một bức tranh về thế giới: “thấy cây

mà không thấy rừng”, máy móc

- Vấn đề phương pháp nhận thức nổi lên và triết học đã đáp ứng nhu cầu đó (Đêcác, Ph.Bêcơn)

- Chủ nghĩa duy vật không biết áp dụng phép biện chứng vào quá trình nhận thức

- Các nhà duy vật là những người duy vật khi xem xét các vấn đề tự nhiên nhưng lại duy tâm khi xem xét các vấn đề xã hội và lịch sử xã hội

Câu 5: Ph Bêcơn và R Đềcác tơ bàn về vai trò của phương pháp nhận thức?

a Quan điểm TH của Bêcơn : Bêcơn được Mác đánh giá là “Ông tổ của CNDV Anh và toàn bộ

KH thực nghiệm hiện đại” Tác phẩm lớn của ông là “Oócganon mới”

Chịu ảnh hưởng của quan niệm “TH là khoa học của các khoa học” ông cho rằng: “TH là tổng thể các tri thức lý luận của con người về Thượng đế, về thế giới tự nhiên và về bản thân con người”

Về bản thể luận : Vật chất không tách rời vận động, nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự

vận động của chúng Ông phân loại vận động của vật chất thành 19 hình thức vận động, ông đã quy vận

động thành các hình thức vận động; song cống hiến mới của ông là đã coi đứng yên là một hình thức vận

động, coi vận động là đặc tính cố hữu của vật chất, ông là một trong những người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới

Ông cũng cho rằng linh hồn biết cảm giác, tồn tại trong óc người và vận động theo các dây thần kinh

và mạch máu, là một vật thể giống như lửa và không khí

Về nhận thức luận: Ông cũng là một đại diện lớn của TH duy cảm, ông coi cảm giác là điểm xuất phát trong nhận thức Là người đầu tiên xây dựng phương pháp quy nạp thành 1 hệ thống có giá trị trong

nghiên cứu khoa học Phương pháp này nhằm giải quyết 3 vấn đề :

- Không có tri thức bẩm sinh, mọi tri thức đều bắt đầu từ kinh nghiệm và thực hiện sự chế biến thành một hệ thống, nhờ đó biết được bản chất, quy luật của sự vật Ông thể hiện là nhà TH DV trong việc giải thích quan hệ giửa nhận thức cảm tính và lý tính nhưng ông chưa lý giải được quan hệ biện chứng của việc phát triển từ nhận thức cảm tính lên lý tính cũng như phép biện chứng của tư duy lý tính

Trang 7

- Muốn nhận thức được giới tự nhiên một cách KH, đúng đắn người ta phải từ bỏ các ảo tưởng (có 4 loại ảo tưởng), là những tiếp thu không có chọn lọc, đánh giá, phê phán đã thống trị bấy lâu để áp dụng phương pháp nhận thức tối ưu là phương pháp quy nạp

Trong lý luận nhận thức ông đã không đứng vững trên lập trường vô thần mà cho rằng chân lý có tính 2 mặt là KH và thần học

b Quan điểm TH của Đềcactơ: là đại biểu xuất sắc của TH Pháp Di sản ông để lại ở tất cả các lĩnh

vực Ông là nhà nhị nguyên vì coi linh hồn con người độc lập với thể xác Trong vật lý học ông là nhà

DV về các quy luật của tự nhiên, về sự hình thành vũ trụ Ông có nhiều tác phẩm trong đó có “luận về phương pháp”

Về bản chất của TH: Ông cho rằng theo nghĩa rộng TH là tổng thể tri thức của con người về nhiều

lĩnh vực, đem lại lợi ích thiết thực và trực tiếp cho đời sống con người Theo nghĩa hẹp là siêu hình học, là nền tảng của thế giới quan, nó phục vụ cho con người môt cách gián tiếp chủ yếu thong qua các KH khác

Về bản thể luận: Theo ông vũ trụ là thế giới vật chất, vật chất là vô tận, vật chất có những hạt nhỏ

có thể phân chia vô cùng, không giới hạn Đây là quan điểm DV về thế giới

Ông đứng trên quan điểm nhị nguyên cho rằng: có 2 thực thể vật chất và tinh thần tồn tại độc lập không phụ thuộc nhau, cả 2 thực thể này đều phụ thuộc thượng đế

Về phương pháp luận: Điểm xuất phát của TH Đềcac là quan điểm duy lý “tôi suy nghĩ vậy tôi tồn

tại” - ở đây, căn cứ vào sự tư duy để khẳng định sự tồn tại của thể xác, ông coi tư duy là cái quyết định, ông nghi ngờ cảm giác vì ông vốn là nhà vật lý, ông cho rằng cảm giác đánh lừa ta phải có tư duy mới là chân lý

Ông nêu ra 4 nguyên tắc làm cơ sở cho phương pháp nhận thức mới:

- Không công nhận cái gì là chân lý trước khi biết chắc chắn nó là chân lý Chỉ công nhận những gì

là rõ rang, minh bạch (tuy nhiên cái tiêu chuẩn ấy chưa khách quan rõ ràng)

- Cần bao nhiêu thì chia sự vật thành từng ấy phần để nghiên cứu được dễ dàng hơn (KH muốn đạt kết quả thì phải nghiên cứu cái bộ phận cấu thành chỉnh thể của nó)

- Đôi khi phải thừa nhận rằng trong tự nhiên cũng như trong nhận thức không phải cứ đi theo một trình tự nhất định Ở đây đã thể hiện sức mạnh của tư duy đi trước lịch sử, đó là sứ mệnh dự báo của khoa học

- Phải sắp xếp lại sự vật hiện tượng để tin chắc là không bỏ sót (phân tích rồi phải tổng hợp lại)

c Bêcơn và Đềcác bàn về vai trò của phương pháp trong nhận thức khoa học

Cả Bêcơn và Đềcac đều khẳng định cần giải thoát con người khỏi những lầm lạc về nhận thức bằng cách đưa ra một phương pháp nhận thức mới

* Bêcơn : - Ông là người đi tiên phong trong việc giải thoát tư duy khỏi tư biện Ông đặt ra và trả lời

các câu hỏi về vấn đề giải thoát đó là phải có phương pháp nhận thức mới mà ông trình bày trong tác phẩm của mình : phương pháp quy nạp

- Theo ông phương pháp là ngọn đèn soi đường cho người ta đi trong đêm Ông khẳng định phương pháp quy nạp mới cần phải dựa vào các tiền đề đã được thực nghiệm xác nhận đúng đắn không chỉ dựa vào tư biện hay giả định, khi đó những kết luận rút ra mới đảm bảo mang tính chân lý

- Ông chỉ ra vì sao con người mắc phải lầm lạc: vì con người vốn sinh ra đã ảo tưởng khó khắc phục, bao gồm ảo tưởng tộc loại, hang động, công cộng và rạp hát không biết đánh giá, phân tích rút ra cái đúng sai Do đó con người phải được trang bị phương pháp nhận thức đúng đắn

- Ông cho rằng chỉ có phương pháp quy nạp mới cho chân lý

* Đềcáctơ: - Trọng tâm của tác phẩm “luận phương pháp” cũng bàn về phương pháp nhận thức, ông

nói “thà không đi tìm chân lý còn hơn làm việc đó mà không có phương pháp” Ông đặt ra nhiệm vụ tìm

ra cơ sở làm chỗ dựa cho nhận thức đúng đắn của con người Do vậy ông đặt ra điểm xuất phát là nguyên

lý “nghi ngờ phổ biến” tức là hoài nghi tất cả Ông nói “tôi nghi ngờ không phải để nghi ngờ mà để tìm ra những gì đáng tin cậy, những gì là chân lý” Đó là nghi ngờ mang tính phương pháp luận

Trang 8

Bêcơn và Đềcác coi trọng việc tìm ra phương pháp nhận thức mới vì trong những nhiệm vụ đặt ra cho TH là tìm ra con đường khác mà TH trước đó Do nhu cầu của PTSX mới, do nhu cầu chế độ tư bản mới manh nha phải chiến thắng PTSX phong kiến, do đó phải giải phóng trí tuệ con người khỏi sự kìm kẹp của lối tư duy cũ là lối tư duy tư biện

Câu 6 : Hệ thống TH và phép biện chứng của Hêghen Sự đối lập của triết học đó với Triết học

Mác Những đánh giá của Ph.Ănghen về Hêghen trong “Lútvich Phoiơbắc và sự cáo chung của TH

cổ điển Đức”.

1- Hệ thống TH và phép biện chứng của Hêghen, sự đối lập với phương pháp biện chứng của ông

-a Hệ thống TH và phép biện chứng của Hêghen

Heghen là một nhà TH duy tâm khách quan (thừa nhận sự tồn tại nằm ngoài con người, là ý niệm tuyệt đối nhưng luôn vận động và phát triển) Ông có một số tác phẩm lớn : “Hiện tượng học tinh thần”,

“TH lịch sử”, “TH pháp quyền” “TH tôn giáo”…

Hệ thống :Ông đã xây dựng 1 hệ thống TH hoàn chỉnh đầy đủ các bộ phận, cấu thành theo kiểu bộ

ba:

- Lôgic học :

+ Học thuyết về tồn tại (quy luật lượng chất)

+ Học thuyết về bản chất (quy luật thống nhất và đấu tranh giưac các mặt đối lập)

+Học thuyết khái niệm (Quy luật phủ định của phủ định, từ những ý niệm tha hoá hình thành khái niệm)

- TH tự nhiên (học thuyết về tự nhiên)

+ Vật lý học

+ Hoá học

+ Thể hữu cơ

Sự tha hoá của ý niệm qua các giai đoạn thì trở thành sự sống

- TH tinh thần( học thuyết về tinh thần)

+ Tinh thần chủ quan

+ Tinh thần khách quan

+ Tinh thần tuyệt đối

Hệ thống là duy tâm, đặt ý niệm lên đầu, có ý niệm sản sinh ra mọi cái

Hệ thống xuất phát từ tư duy, tinh thần, khái niệm Theo Heghen thì cho rằng ý niệm luôn vận động biến đổi tha hoá thành giới tự nhiên, độc lập với con người, nằm ngoài con người rồi tiếp tục phát triển lên thành giới tình thần từ tinh thần chủ quan đến tinh thần khách quan rồi đến tinh thần tuyệt đối

Phép biện chứng: lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại Heghen đề cập đến các nguyên lý, quy luật và

hệ thống các cặp phạm trù

Phương pháp: Phương pháp được nghiên cứu trong TH là một thành tựu của Heghen, phương pháp

giúp vận dụng lý thuyết vào trong đời sống, lý thuyết phải cụ thể hoá thành những tiêu chí chỉ dẫn cho con

người hành động Lý thuyết của Heghen được tóm tắt trong phương pháp thường gọi là phương pháp biện

chứng tức là phải xem xét sự vật trong sự vận động biến đổi, phát triển và trọng sự lien hệ với các sự vật hiện tượng khác Nó được cụ thể hoá thành logic học biên chứng (xem xét khách quan, toàn diện, lịch sử

cụ thể)

Chân lý nằm trong quá trình nhận thức

Mâu thuẫn lớn giữa hệ thống và phương pháp:

- Thừa nhận nhận thức của con người là một quá trình phát triển vô tận nhưng mặt khác lại cho rằng

hệ thống của ông là đỉnh cao về mặt nhận thức, chân lý nằm ngay trong hệ thống của mình, không thể them bớt

Trang 9

- Lịch sư XH là một quá trình phát triển không ngừng nhưng theo hệ thống của ông thì chế độ phong kiến Phổ là tột cùng của sự phát triển lịch sử

- Tất cả đều vận động, biến đổi và phát triển không ngừng nhưng theo hệ thống của ông thì giới tự nhiên chỉ là sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối

Từ mâu thuẫn đó đã hình thành nên phái Heghen già thừa nhận hệ thống, còn phái Heghen trẻ chỉ thừa nhận phương pháp Một trong những đại diện của phái Hêghen trẻ là Phoiơbắc với tác phẩm “bản chất của đạo cơđốc” đã giải quyết được mâu thuẫn của hai phái và phục hồi CNDV

b Sự đối lập của triết học Heghen và triết học Mác:

Triết học của Mác khác về chất với triết học Hêghen Phép biện chứng của Heghen là phép biện chứng ý niệm Heghen chỉ mới phỏng đoán phép biện chứng của sự vật trong phép biện chứng của ý niệm Đối lập với Hêghen, Mác và Ănghen cho rằng phép biện chứng của khái niệm chỉ là sự phản ánh phép biện chứng của thế giới khách quan trong ý thức của con người

2- Đánh giá của Ănghen về Hêghen trong “Lútvich Phoiơbắc và sự cáo chung của TH cổ điển Đức”.

Ănghen đã đánh giá rất cao TH Heghen vì trong TH đó, Heghen đã trình bày các nguyên lý các quy luật, các cặp phạm trù Ở đó chứa đựng tất cả các mầm mống chuyên ngành TH : TH tự nhiên, TH tinh thần, logic học, TH lịch sử, mỹ học…

Ông coi TH Hêghen là đỉnh cao của TH cổ điển Đức và là một trong những nguồn gốc lý luận của

TH Mác mà giá trị lớn nhất phải kể đến là phép biện chứng

Mâu thuẫn giữa hệ thống TH và phép biện chứng Theo Ă nếu phép biện chứng là hạt nhân hợp lý,

là một tiến bộ của TH Heghen thì ngược lại hệ thống TH lại là duy tâm siêu hình Mác nói “TH Heghen là

TH đứng bằng đầu, nếu ta lật ngược lại sẽ thấy tất cả những gì là hợp lý ở đó” Ở Heghen là điểm bắt đầu thì Mác là điểm kết thúc

Hạn chế lớn nhất trong TH Hêghen là nghiên cứu biện chứng của tinh thần, của ý niệm để phỏng đoán về sự phát triển của hiện thực

Câu 7 Quan niệm DV về lịch sử và học thuyết hình thái kinh tế - XH của Mác (trong “ Lời tựa” của “Góp phần phê phán KH kinh tế chính trị”) Quan điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

về việc vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vào điều kiện nước ta hiện nay Vấn đề nhà nước và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1- Quan niệm DV về lịch sử và học thuyết hình thái kinh tế - XH của Mác (trong “ Lời tựa” của “Góp phần phê phán KH kinh tế chính trị”)

a Quan niệm DV lịch sử:

Nghĩa là vận dụng một cách triệt để quan điểm của CNDV vào xem xét các hiện tượng XH Nguyên

lý cơ bản và quan trọng nhất của CNDV lịch sử là TTXH quyết định ý thức XH, nguyên lý thứ hai là LLSX quyết định QHSX, nguyên lý thứ 3 là CSHT quyết định KTTT

Cơ sở cho sự tồn tại XH là sản xuất vật chất, không có sxvc thì không có tồn tại XH, do đó sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên của con người, XH ngừng sản xuất thì mọi hoạt động trong XH đều ngừng trệ Đây là điểm khác biệt đầu tiên giữa quan điểm của TH Mác với quan điểm DV trước đó

b Nội dung cơ bản của học thuyết HTKT –XH trong “Lời tựa”

Mác khẳng định Tồn tại XH quyết định ý thức XH :

+ Con người muốn sống và tồn tại phải có điều kiện sống như ăn, mặc, ở… rồi mới nghĩ đến việc khác Con người phải tạo ra cái nuôi sống mình, phải lao động sản xuất mà trong khi lao động sản xuất con người phải phối hợp với nhau Do đó Mác khẳng định : quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất là QHSX, để tiến hành lao động thì con người phải có công cụ sản xuất và tư liệu lao động được gọi là LLSX LLSX qua các thế hệ cứ phát triển mãi đến một trình độ nào đó đòi hỏi phải có QHSX phù hợp Mác nói “ QHSX phải phù hợp với trình độ nhất định của LLSX”

Trang 10

+ Khi QHSX trở thành xiềng xích của LLSX đòi hỏi phải thay thế bằng một QHSX khác thì khi đó

mở đầu thời kỳ cách mạng XH để thay thế QHSX cũ bằng một QHSX mới tiến bộ phù hợp hơn

+ QHSX mới trong mqhệ với LLSX tạo thành PTSX, và QHSX cũng hợp thành cơ sở hạ tầng của một XH (còn gọi là cơ sở kinh tế)

+ CSHT trong quan hệ tác động qua lại với KTTT (là những quan điểm pháp luật, chính trị, TH, tôn giáo và các thể chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội…được hình thành trên CSHT nhất định), nó quyết định KTTT “khi CSHT thay đổi thì KTTT cũng thay đổi ít nhiều nhanh chóng”

+ Các yếu tố QHSX, LLSX, KTTT quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại với nhau tạo nên các quy luật XH, tạo nên một Hình thái kinh tế XH :

“ Hình thái kinh tế XH là một phạm trù của CNDV lịch sử dùng để chỉ XH ở từng giai đoạn lịch sử nhất định với một kiểu QHSX đặc trưng cho XH đó phù hợp với trình độ phát triển nhất định của LLSX cùng với một KTTT tương ứng được xây dựng trên những QHSX ấy”

+ Mác khẳng đính: sự phát triển của HTKT-XH là một qúa trình lịch sử tự nhiên vì do quy luật khách quan chi phối LLSX phát triển làm thay đổi QHSX, QHSX thay đổi làm KTTT thay đổi theo do đó

mà HTKT –XH cũ được thay thế bằng hình thái mới cao hơn tiến bộ hơn

Như vậy Mác đã trình bày từ những luận điểm cơ bản đến học thuyết của ông HTKT-XH dựa trên một QHSX tương ứng trong đó QHSX suy đến cùng do LLSX quyết định

c Quan điểm của ĐCSVN về việc vận dung học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào điều kiện nước ta hiện nay

Khẳng định việc lựa chọn con đường tiến lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta là một qúa trình lịch sử tự nhiên: Điều kiện lịch sử của nước ta đã đủ để quá độ lên CNXH mà không cần phải trải qua giai đoạn TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của QHSX và KTTT TBCN nhưng tiếp thu thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN đặc biệt về KH và công nghệ để phát triển nhanh LLSX xây dựng nền kinh tế hiện đại Điều đó hoàn toàn phù hợp với quy luật lịch sử tự nhiên

- Phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời sống XH: Quan niệm thết lập QHSX trước để thúc đẩy LLSX là quan niệm sai lầm, không theo đúng quy luật khách quan Sau đại hội 6, Đảng xác định cần phải thiết lập lại QHSX cho phù hợp với trình độ của LLSX nhằm xây dựng cơ sở vật chất tạo tiền đề cho sự phát triển lên CNXH

- Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XH chủ nghĩa : Đó là xu hướng phù hợp với xu hướng phát triển chung của nhân loại vừa phù hợp với yêu cầu phát triển LLSX của nước

ta, nghĩa là đã thiết lập QHSX phù hợp với LLSX

- CNH –HĐH đất nước: Đảng chỉ rõ ưu tiên phát triển LLSX đồng thời xây dựng QHSX phù hợp theo định hướng XHCN Nước ta còn lạc hậu, thủ công, chủ yếu là sx nhỏ, vì vậy phải tiến hành CNH, HĐH thúc đẩy LLSX phát triển đồng thời trước hết hướng vào các ngành công nghệ cao Từ đóut ngắn thời gian, tạo đã nhảy vọt cho con đường quá độ lên CNXH

d.Vấn đề nhà nước và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:

1- Khái niệm: Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức xã hội đặc biệt mà ở đó có sự ngự trị

cao nhất của pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực của nhân dân.

Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, bản chất của nhà nước là sự thống nhất biện chứng của

ba phương diện sau đây

Thứ nhất, nhà nước là một hình thức tổ chức xã hội mà ở đó một bộ máy quyền uy bạo lực được

thiết lập, mang tính cưỡng chế trong việc quản lí dân cư và mọi hoạt động xã hội

Thứ hai, nhà nước chính là công cụ bạo lực được sử dụng để xác lập và duy trì quyền thống trị giai

cấp của giai cấp thống trị

Thứ ba, nhà nước là hiện thân của sức mạnh kinh tế giữ địa vị thống trị trong nền kinh tế của một

xã hội

Theo Ph.Ăngghen, bất cứ nhà nước nào cũng có ba đặc trưng

Ngày đăng: 29/08/2021, 15:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w