Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế Đào 2014 – công trình đã nghiên cứu và đưa ra thực tiễn áp dụng các công cụ kinh tế như thuế BVMT, phí BVMT, ký quỹ… Bà
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH TÚ
PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH TÚ
PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trình khoa học nào khác Các trích dẫn và số liệu đưa ra đảm bảo tính khách quan, trung trực
TÁC GI Ả LUẬN VĂN
Nguy ễn Thanh Tú
Trang 4MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI
NƯỚC THẢI VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI
NƯỚC THẢI 8
1.1 Khái quát về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 8
1.2 Khái quát về pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 20
1.3 Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở một số quốc gia trên
thế giới và kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
TP.HCM 36
2.1 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và quản lý nước thải tại Thành phố
Hồ Chí Minh 36
2.2 Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 38
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 49
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÍ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI 58
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 58 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải 60
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi
trường đối với nước thải tại Thành phố Hồ Chí Minh 66
KẾT LUẬN CHUNG 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Sở Tài Nguyên & Môi Trường: Sở TN&MT
Trang 6DANH M ỤC CÁC BẢNG, BIỂU Bảng 3.1 Số tiền phí BVMT thu được từ 01/01/2018 – 31/08/2019
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nhiều năm qua cùng với sự phát triển của đất nước, tình hình kinh tế TP.HCM đã đạt được những thành tựu đáng kể với mức tăng trưởng khá ổn định, cụ thể như trong năm 2019, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 1.344.743 tỷ đồng, tăng 7,86%, cao hơn so với năm 2018 Trong đó, khu vực dịch vụ tăng 8,51%, đạt mức tăng cao hơn so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 8,01%), có 8/9 ngành dịch vụ chủ yếu có mức tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,19%, có mức tăng trưởng
thấp hơn so với cùng kỳ (cùng kỳ 8,12%), trong đó, ngành công nghiệp tăng 7,51%, (cùng kỳ có mức tăng 8,17%) và ngành xây dựng tăng thấp với 0,76%, (cùng kỳ tăng 7,95%) [41] Tuy nhiên, với sự phát triển kinh tế, nhiều khu công nghiệp, công trình xây dựng được hình thành khiến cho thành phố
gặp không ít những khó khăn với các vấn đề về môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân
Hiện nay, trên địa bàn TP.HCM có hơn 2.000 kênh rạch Những con kênh này đã trở thành nổi ám ảnh của người dân dù nắng hay mưa bởi nó đã
bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng do các chất thải rắn, nước thải làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những hộ dân sống ven các con kênh, con rạch này Các nguồn nước thải từ các khu dân cư, các hộ dân, các cơ sở chế biến, nước
thải từ các khu công nghiệp, khu chế xuất xả thải trực tiếp vào lòng sông, ao
hồ khiến nguồn nước ở đây đổi màu, bốc mùi và ô nhiễm trầm trọng
Để BVMT do nước thải gây ra, chính quyền thành phố đã áp dụng nhiều công cụ kiểm soát khác nhau như: công cụ hành chính, công cụ dựa vào
cộng đồng, công cụ kinh tế Trong đó, công cụ kinh tế được xem là đem lại
hiệu quả khả quan nhất vì nó được tạo lập dựa trên sự cân bằng giữa tăng
Trang 8trưởng kinh tế và BVMT Công cụ này được thực hiện thông qua việc Nhà nước thu phí BVMT đối với nước thải Phí BVMT đối với nước thải đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chủ động hơn trong việc tạo
lập kế hoạch BVMT kết hợp giữa phí BVMT và chi phí sản xuất kinh doanh vào giá thành của sản phẩm
Đến thời điểm hiện tại, những văn bản được ban hành để điều tiết về phí BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng có thể kể đến như: Nghị định số 154/2016/NĐ-CP của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân TP.HCM về việc điều chỉnh mức thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn TP.HCM; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP của Chính phủ
về thoát nước và xử lí nước thải; Luật BVMT năm 2014 Những văn bản này
đã thể hiện rõ sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền TP.HCM trong công tác BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng Tuy nhiên, trong thực tiễn, công tác thi hành các quy định về phí BVMT đối
với nước thải còn nhiều hạn chế, thiếu sót trong công tác quản lí và BVMT
Do vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu về phí BVMT đối với nước thải là điều
cần thiết trong hệ thống các công cụ kinh tế ở lĩnh vực BVMT
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách của mỗi quốc gia, trong đó, phí BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng là một công cụ kinh tế quan trọng trong việc BVMT và công tác quản lí môi trường Đây là
vấn đề cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nên cũng đã
có nhiều công trình nghiên cứu từ những khía cạnh tiếp cận khác nhau để làm
rõ về vấn đề này
Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về phí BVMT đối với nước thải, có thể kể đến như:
Trang 9Luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế
Đào (2014) – công trình đã nghiên cứu và đưa ra thực tiễn áp dụng các công
cụ kinh tế như thuế BVMT, phí BVMT, ký quỹ…
Bài nghiên cứu “Kinh nghiệm quốc tế về phí bảo vệ môi trường đối với
Thắng trên Tạp chí môi trường số 7 năm 2010, giới thiệu kinh nghiệm thực
tiễn áp dụng phí BVMT đối với nước thải công nghiệp của một số quốc gia trên thế giới, từ đó gợi mở cho quá trình xây dựng và thực hiện về phí BVMT
ở Việt Nam
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi
trường” của tác giả Nguyễn Thị Hằng (2014) nêu ra thực trạng về vấn đề bảo
vệ môi trường, qua đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về phí BVMT
Bài nghiên cứu “Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải: Làm sao
kỳ 1, tháng 6/2012
Luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế “Vai trò của các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Diệu Linh (2015)
Bài nghiên cứu “Đánh giá tác động của pháp luật về mức phí và sử
Tạp chí Nghề luật, số 2 năm 2018
Sách “Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường: Một số vấn đề lý luận và thực
chủ biên Nội dung trọng tâm của sách quy định pháp luật và thực tiễn thi hành một số công cụ kinh tế trong BVMT ở Việt Nam Phân tích ưu nhược
Trang 10điểm của các công cụ này, nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Hay bài nghiên cứu “Thực trạng áp dụng một số công cụ kinh tế trong
Nguyên (2013) trên Tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 5 (3/2010)
Qua những bài nghiên cứu trên cho thấy rằng vấn đề phí BVMT là một trong những vấn đề khá quan trọng, được nhiều học giả quan tâm Tuy nhiên,
mỗi công trình lại nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau về phí BVMT, có công trình chỉ dừng lại ở phí BVMT đối với từng loại nước thải, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về phí BVMT đối với nước thải được áp dụng tại một địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận
về pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
tại các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn TP.HCM Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống những vấn đề lý luận về phí và pháp luật
về phí BVMT đối với nước thải, từ đó đề xuất những giải pháp, phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu trong công tác BVMT
Để luận văn đạt được những mục tiêu nói trên, tác giả đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
pháp luật về phí BVMT đối với nước thải như khái niệm về phí BVMT đối
với nước thải theo sự điều chỉnh của pháp luật, đặc điểm, vai trò của phí
Trang 11BVMT đối với nước thải và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về phí BVMT đối với nước thải và điều kiện áp dụng để mang lại hiệu quả cao nhất
phí BVMT đối với nước thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn TP.HCM trong thời gian gần đây nhằm chỉ ra những ưu điểm và bất cập của pháp luật về phí BVMT đối với nước thải Từ đó xác định được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải tại TP.HCM
BVMT đối với nước thải, giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật tại TP.HCM
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chủ yếu là: phí BVMT và pháp luật
về phí BVMT đối với nước thải, thực trạng pháp luật về phí BVMT và thực
tiễn thực hiện pháp luật về phí BVMT trên địa bàn TP.HCM; kinh nghiệm
của một số quốc gia trên thế giới về xây dựng pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
với nước thải từ những khái niệm chung đến thực trạng pháp luật, thực tiễn
thực hiện và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
Trang 12Với đề tài “Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo pháp luật Việt
những quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước, của HĐND, UBND Thành Phố về phí BVMT đối với nước thải, từ đó phân tích và thực tiễn thi hành của những quy định này Song song đó, tác giả sẽ tìm hiểu thêm một số quy định về phí BVMT đối với nước thải của một số quốc gia trên trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện hơn pháp luật về phí BVMT ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin
Phương pháp so sánh, phân tích, diễn giải, bình luận… được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu, đưa ra quan niệm về các vấn đề lý luận của phí BVMT và pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
Với phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề, tác giả sử dụng trong chương 2 và chương 3 để tìm hiểu về thực tiễn thi hành pháp luật và
thực trạng về phí BVMT đối với nước thải trên địa bàn thành phố; từ đó chỉ ra
một số điểm đạt được và chưa được trong công tác thực hiện để rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong việc BVMT
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về phí BVMT đối với nước thải và thực tiễn thi hành từ thực tiễn TP.HCM trong công tác bảo vệ
Trang 13môi trường Luận văn có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần nghiên cứu và hệ thống hóa một số cơ sở quan điểm
về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong việc thực
hiện pháp luật về phí BVMT đối với nước thải trên địa bàn TP.HCM Hệ thống về vấn đề về phí BVMT bằng biện pháp hành chính, nêu ra những điểm tích cực và hạn chế của pháp luật về phí BVMT đối với nước thải, qua đó đề
xuất một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương
Chương 1: Khái quát về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
Chương 2: Thực trạng pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải và thực tiễn thực hiện tại TP.HCM
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Trang 14Chương 1
KHÁI QUÁT V Ề PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
VÀ PHÁP LU ẬT VỀ PHÍ BẢO MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI 1.1 Khái quát v ề phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
1.1.1.1 Sơ lược về sự hình thành về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Trên thế giới, phí BVMT đối với nước thải là một trong những công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường Phí nước thải đã được áp dụng từ khá lâu ở nhiều nước phát triển như: ở Phần Lan áp dụng năm 1961, ở Thụy Điển từ năm 1970, ở Đức từ năm 1980…đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong việc quản lý ô nhiễm
do nước thải gây ra ở nước này [38] Còn ở các nước đang phát triển, phí nước thải được áp dụng chậm hơn, ví dụ như ở Trung Quốc và Malaysia được
áp dụng từ năm 1978, ở Philippines và Thái Lan từ năm 2000…
Ở Việt Nam, trước năm 2003, pháp luật hầu như không có quy định cụ
thể nào về việc thu phí BVMT đối với nước thải Trong Pháp lệnh Phí và lệ phí năm 2002, phí BVMT đối với nước thải được đề cập trong danh mục phí BVMT và thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, nhưng chưa có văn bản nào quy định chi tiết về loại phí này Do không có cơ sở pháp lý cụ thể cho
việc thu phí BVMT đối với nước thải, nên về cơ bản, loại phí này mới chỉ được nhắc tên trong quy phạm pháp luật mà chưa được đưa vào thực hiện trên
thực tế
Ngày 13/6/2003, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 67/2003/NĐ-CP quy định về phí BVMT đối với nước thải, có hiệu lực từ 1/1/2004 Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên quy định cụ thể về phí BVMT đối với nước thải Sau đó, Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành
Trang 15Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTN&MT ngày 18/2/2003 hướng dẫn Nghị định số 67/2003/NĐ-CP Theo đó, từ ngày 1/1/2004, các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình phải nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp và nước
thải sinh hoạt Nguồn thu sau đó được sử dụng để tái đầu tư cho các công trình, dự án BVMT ở địa phương
Tiếp đó, ngày 8/1/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 04/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-
CP Một số nội dung được sửa đổi như loại bỏ chất BOD khỏi chất gây ô nhiễm trong nước thải; sửa đổi, bổ sung các điều về quản lý sử dụng tiền phí thu được, về trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc công
bố định mức chất gây ô nhiễm, khảo sát, xác định chất gây ô nhiễm có trong nước thải công nghiệp để điều chỉnh cho phù hợp
Với mục đích hướng dẫn Nghị định số 04/2007/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTN&MT, liên bộ này đã ban hành Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT-BTC-BTN&MT với nội dung
sửa đổi chủ yếu là các quy định về kê khai nộp phí; trách nhiệm của đối tượng
nộp phí, của các cơ quan có liên quan; việc quản lý sử dụng số tiền phí thu được
Tiếp đến, ngày 22/3/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 26/2010/NĐ-CP để sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 Nghị định số 67/2003/NĐ-CP Theo văn bản này, phần phí còn lại đối với nước thải (80% trên tổng số tiền phí BVMT đối với nước thải công nghiệp thu được) sẽ không được chi cho ngân sách địa phương như theo quy định tại Thông tư số 125/2003/TTLT-BTC-BTN&MT nữa, mà được nộp 100% vào ngân sách địa phương để sử dụng cho việc BVMT, đầu tư mới, nạo vét cống rãnh, duy tu,
bảo dưỡng hệ thống thoát nước tại địa phương, bổ sung vốn hoạt động cho
Trang 16Quỹ BVMT của địa phương, trả nợ vay đối với các khoản vay của các dự án thoát nước thuộc nhiệm vụ của ngân sách địa phương
Để tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về phí BVMT phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong giai đoạn mới, ngày 29/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2013/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải thay thế cho những văn bản trước đây quy định về loại phí này Cùng thời điểm đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTN&MT ngày 15/5/2013 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25/2013/NĐ-CP Sự ra đời của
những văn bản này đã khắc phục một số những vướng mắc về phí BVMT đối với nước thải ở những văn bản trước như: xác định đầy đủ và bao quát các đối tượng nộp phí, tránh tình trạng thu phí trùng có thể xảy ra; khắc phục khó khăn trong việc xác định lưu lượng nước thải chủ yếu thông qua hệ thống cung cấp nước sạch; cải cách thủ tục kê khai và thẩm định tờ khai phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
Ngày 16/11/2016, Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 154/2016/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017) đã quy định rõ các đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải bao gồm nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt Ngoài ra, Nghị định còn bổ sung quy định hộ gia đình là người nộp phí do Nghị định số 25/2013/NĐ-CP đã quy định đối tượng chịu phí BVMT là nước thải từ hộ gia đình nhưng lại chưa quy định hộ gia đình là người nộp phí Với đối tượng
miễn phí BVMT được bổ sung hai thêm đối tượng là: nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy, hải sản của ngư dân và nước thải sinh hoạt tập trung do đơn vị vận hành quản lý, vận hành hệ thống thoát nước tiếp nhận và
đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định xả thải ra môi trường
Trang 17Như vậy, có thể thấy rằng, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí BVMT đối với nước
thải Những quy định của pháp luật về loại phí này luôn được ban hành kịp
thời, đúng lúc, đáp ứng được yêu cầu của thực tế xã hội, tạo nên khung pháp
lý rõ ràng và cụ thể cho công tác thu, nộp, quản lý và sử dụng phí BVMT đối
với nước thải đạt hiệu quả cao nhất trong công tác BVMT
1.1.1.2 Cơ sở lý luận và pháp lý của phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Nước thải là nguồn nước được thải ra từ các hoạt động kinh doanh, sản
xuất công nghiệp, thương mại – dịch vụ và các hoạt động sống của con người Trong đó, nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt là hai loại nước thải đáng quan tâm nhất trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Nước thải sinh hoạt là loại nước được thải ra ngay sau khi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt từ các trường học, bệnh viện, cơ quan…Loại nước thải này chưa hàm lượng cao chất thải rắn, dầu mỡ và một lượng đáng kể thức ăn cho vi khuẩn (Ni tơ và Phốt pho)
Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản
xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và hoạt động phục vụ sản xuất Trong nước thải công nghiệp thường được phân loại theo ngành công nghiệp
sản sinh ra nước thải đó, với đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh, đồng nghĩa với việc cũng có đa dạng các loại nước thải công nghiệp được thải ra hàng ngày
Với mục tiêu bảo vệ môi trường nói chung, giảm thiểu số lượng nước thải chưa qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường nói riêng, từ đó hạn chế các chủ
thể xả thải, đồng thời, có được nguồn tài chính sử dụng để đầu tư trở lại cho
hoạt động BVMT, việc tiến hành thu phí BVMT đối với nước thải được xác định là hữu hiệu hơn cả Bên cạnh đó, phí bảo vệ môi trường đối với nước
Trang 18thải được xác định là công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước phát triển và đem lại những kết quả đáng ghi
nhận trong việc quản lý ô nhiễm do nước thải gây ra ở những nước này [35]
Ngoài việc xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn, sự ra đời của phí BVMT đối
với nước thải cũng được dựa trên những cơ sở lý luận và cơ sở chính trị, pháp
lý nhất định
nước thải là công cụ trực tiếp đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm được áp dụng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản đã được quốc tế thừa nhận đó là, nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả” (PPP) và “Người hưởng thụ phải
Đối với nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” bắt nguồn từ các
sáng kiến của OECD đề ra vào năm 1972 và mở rộng năm 1974 Theo định nghĩa chính thức khởi xướng đầu tiên bởi khối OECD, nguyên tắc người gây
ô nhiễm phải trả là nguyên tắc được dùng để phân bổ chi phí cho các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp
lý nguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và tránh làm ảnh hưởng tới đầu tư
và thương mại quốc tế [39, Tr.93-117]
“Người gây ô nhiễm phải trả” có nghĩa là buộc người gây ô nhiễm
(doanh nghiệp, cá nhân hay chính quyền) phải trả hoàn toàn các chi phí về sự phá hoại môi trường do hoạt động của họ gây ra Điều này sẽ khuyến khích các chủ thể đó giảm thiểu, điều tiết hành vi của mình, ít ra chi phí biên của
việc giảm ô nhiễm bằng chi phí biên của sự tổn hại do ô nhiễm đó gây ra Để làm được điều đó thì tổng chi phí sản xuất ra một hàng hóa, dịch vụ bao gồm chi phí của tất cả tài nguyên được sử dụng phải được tính đủ vào giá của nó
Việc sử dụng không khí, đất hay nước cho việc loại bỏ hay cất giữ chất thải cũng là sử dụng các tài nguyên giống như các đầu vào của sản xuất Tình
Trang 19trạng định giá không tính đủ chi phí sử dụng các tài nguyên môi trường và không xác định rõ quyền sở hữu đối với tài nguyên môi trường dẫn đến việc khai thác và sử dụng quá mức và có thể làm phá hủy hoàn toàn nguồn tài nguyên đó Nguyên tắc này buộc người gây ô nhiễm phải tính toán đầy đủ chi phí sản xuất (chi phí sử dụng tài nguyên và làm ô nhiễm) thông qua các công
cụ như thuế, lệ phí…
Nguyên tắc PPP năm 1974 chủ trương rằng, các tác nhân gây ô nhiễm thì ngoài việc tuân thủ theo các chỉ tiêu đối với việc gây ô nhiễm thì còn phải
bồi thường thiệt hại cho những người bị thiệt do ô nhiễm gây ra Việc buộc
những người gây ô nhiễm trả tiền là một trong những biện pháp tốt nhất để làm giảm bớt các tác động của ngoại ứng gây ra làm thất bại thị trường, đảm
bảo cho môi trường ở mức chấp nhận được
Đối với nguyên tắc “người thụ hưởng phải trả tiền”, nguyên tắc này
chủ trương tạo lập một cơ chế, định hướng hỗ trợ nhằm đạt được các mục tiêu
về môi trường dù đó là bảo vệ hay phục hồi môi trường Đồng thời, nguyên
tắc này cũng đưa ra giải pháp BVMT với cách nhìn nhận mới, chú trọng tới
việc phòng ngừa và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, hiệu quả của nó có thể đạt được hay không, trên thực tế phụ thuộc vào mức lệ phí, số người đóng góp và
khả năng sử dụng tiền hợp lý cho các mục đích BVMT Đối nghịch với người
trực tiếp gây ô nhiễm phải trả tiền, người được hưởng thụ một môi trường đã
cải thiện cũng phải trả một khoản phí Có thể hiểu nguyên tắc này là tất cả
những ai hưởng thụ do có được môi trường trong lành không bị ô nhiễm, thì đều phải nộp phí Mức tính phí theo đầu người càng cao thì càng có nhiều người nộp phí, thì số tiền thu được sẽ càng nhiều Số tiền này có thể do các cá
nhận muốn BVMT, hoặc do những cá nhân không phải trả tiền cho việc thải
ra các chất gây ô nhiễm trong giá thành sản phẩm nộp Tuy nhiên, hạn chế của nguyên tắc này đó là tiền không phải do các chủ thể gây ô nhiễm trực tiếp trả
Trang 20nên sự khuyến khích đối với việc BVMT khó có thể đạt được hiệu quả cao nhất
nước và chính quyền thành phố đặc biệt quan tâm, là một trong những chủ trưởng, chính sách và nhiệm vụ quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước Để khôi phục hiện trạng môi trường và BVMT nói chung cũng như xử lý chất thải khắc phục nguồn nước bị ô nhiễm do chất thải gây ra, Nhà nước đã tiến hành đồng bộ cả ba biện pháp: hành chính – kinh tế - giáo dục, trong đó, biện pháp kinh tế được xem là quan trọng nhất Nhà nước
ta là Nhà nước pháp quyền, do vậy, để quán triệt được các nguyên tắc “Người
nguyên tắc này vào cuộc sống thì nó cần phải được thể chế hóa bằng các văn
bản quy phạm pháp luật Cho nên, việc thu phí BVMT đối với nước thải cần căn cứ vào hệ thống pháp luật môi trường và những văn bản pháp luật có liên quan
Trước đây, Hiến pháp 1992 đã khẳng định, BVMT là nghĩa vụ của mọi
cá nhân, tổ chức trong xã hội Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nước ta xây
dựng các quy phạm pháp luật về phí BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng Trên tinh thần đó, Nghị quyết số 24-NQ-TW ngày 03/06/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT
đã ghi nhận, BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được phát triển
Kế thừa những nội dung trên, Điều 43 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ
Trang 21môi trường” Tiếp đó, Khoản 2 Điều 63 Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định: “Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển,
nhận trong Hiến pháp sẽ tạo ra một nền tảng quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục thể chế hóa, sửa đổi, hoàn thiện các quy định về BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng
Do đó, Luật Bảo vệ môi trường được xác định là văn bản pháp luật cơ
bản, quan trọng nhất về BVMT, về quản lý nước thải ở Việt Nam Luật đã đặt
ra những quy định chung về tiêu chuẩn chất thải, cam kết thực hiện biện pháp
giảm thiểu, xử lý chất thải nói chung, trong đó có nước thải Đồng thời, Điều
148 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định, tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu đối với môi trường thì phải nộp phí BVMT Đây được xem là quy định có tính chất nguyên tắc, có tác dụng chi
phối và quyết định đến các quy định của pháp luật về thu phí BVMT Theo
đó, mọi các nhân, tổ chức có hành vi xả thải ra môi trường đều phải nộp phí BVMT đối với nước thải
Bên cạnh các văn bản pháp luật về môi trường thì việc xây dựng phí BVMT đối với nước thải còn dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật về tài chính Theo Khoản 1 Điều 3 Luật phí và lệ phí năm 2015 đưa ra khái niệm về
phí như sau: “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự
cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này” Theo đó, Luật phí và lệ phí sẽ điều chỉnh đối với các khoản thu phí
thuộc dịch vụ công do cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ
chức khác được giao thực hiện, không điều chỉnh đối với các khoản phí do các tổ chức, cá nhân ngoài Nhà nước cung ứng Đồng thời, trong Danh mục
Trang 22phí, lệ phí ban hành kèm theo cũng có liệt kê phí BVMT đối với nước thải thuộc về nhóm phí trong lĩnh vực BVMT nói riêng và lĩnh vực tài nguyên môi trường nói chung Loại phí này sẽ do Chính phủ quy định
Hiện nay, văn bản điều chỉnh trực tiếp về phí BVMT đối với nước thải
là Nghị định số 154/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 11 năm 2016
về phí BVMT đối với nước thải
1.1.1.3 Khái niệm phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Về khái niệm phí BVMT đối với nước thải, trên thực tế, pháp luật hiện hành chỉ đưa ra khái niệm về phí BVMT nói chung, chưa có khái niệm cụ thể nào là phí BVMT đối với nước thải, nhưng dựa vào những hiểu biết của tác giả, có thể hiểu phí BVMT đối với nước thải như sau:
“Phí BVMT đối với nước thải là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải
lượng nước thải chưa qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường, đồng thời tạo ngu ồn thu để phục vụ, bù đắp chi phí cho việc khôi phục và bảo vệ môi trường”
Nếu nhìn nhận các khoản phí thuộc nguồn thu của NSNN, có thể thấy, khoản thu này do các tổ chức, cá nhân nộp vào quỹ NSNN khi thụ hưởng lợi ích từ hàng hóa, dịch vụ công cộng được cung cấp bởi Nhà nước [24, Tr.160] Chính vì vậy mà phí mang tính đối giá và tính hoàn trả trực tiếp, khác biệt so
với thuế không mang hai đặc điểm này, và khác biệt so với lệ phí không mang tính đối giá Khoản thu phí có tác dụng bù đắp một phần chi phí cho những khoản đầu từ, bảo dưỡng các công trình công cộng, duy trì hoạt động dịch vụ của Nhà nước, đồng thời, bảo đảm tính tiết kiệm trong tiêu dùng dịch vụ công
từ phía người thụ hưởng và góp phần trang bị thêm các điều kiện vật chất để
phục vụ tốt hơn, có hiệu quả hơn cho người thụ hưởng dịch vụ
Trang 23Như vậy, việc đóng phí của tổ chức, cá nhân chỉ phải thực hiện khi họ nhận được sự cung ứng một dịch vụ từ một chủ thể khác Tiền phí sẽ tương ứng với tính chất, mức độ của dịch vụ được cung ứng Do đó, phí BVMT đối
với nước thải mà các tổ chức, cá nhân khi xả thải vào môi trường phải nộp
thực chất là số tiền mà họ phải đóng cho Nhà nước để nhận lấy sự cung cấp
dịch vụ từ phía Nhà nước, đó là những hoạt động nhằm bảo vệ và đầu tư cho môi trường tại địa phương nơi họ xả thải mà đáng lẽ ra những hoạt động này
phải do chính các chủ thể xả thải phải thực hiện, nhưng Nhà nước đã đứng ra
thực hiện thay họ
Phí BVMT đối với nước thải có những dấu hiệu cơ bản để nhận diện như sau:
tế trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường
Phí BVMT là được coi là công cụ kinh tế hữu hiệu trong việc kiểm soát
ô nhiễm nguồn nước vì nó có tác dụng điều chỉnh hành vi của người xả thải Người xả thải phải chi trả một khoản tiền nhất định cho mỗi đơn vị chất gây ô nhiễm, nồng độ càng cao thì số phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra càng lớn Ngược lại, nếu lượng nước thải của doanh nghiệp giảm cũng như hàm lượng
chất gây ô nhiễm trong nước thải khi xả ra môi trường ít thì số phí nộp cũng
sẽ ít đi Do vậy, mục đích của việc áp dụng phí BVMT đối với nước thải là khuyến khích giảm các tác nhân gây ô nhiễm, giảm thiểu lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường và tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước để sử dụng cho việc khôi phục, cải thiện chất lượng môi trường sống
Việc thu phí BVMT đối với nước thải có thể bù đắp một phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên cho việc duy trì, bảo vệ và cả thiện các thành phần môi trường, giữ gìn sự cân bằng sinh thái và các chi phí khác về tổ
Trang 24chức và quản lý phục vụ cho vấn đề BVMT nói chung và vấn đề nước thải nói riêng
hưởng đến tăng trưởng kinh tế vì mức phí này được quy định trên điều kiện kinh tế - xã hội, thu nhập và mức sống của người dân, nên khi áp dụng loại phí này, các nhà chuyên môn đã có sự tính toán, cân nhắc để không ảnh hưởng việc tăng trưởng kinh tế của đất nước
giảm ô nhiễm nước, đồng thời, tạo nguồn thu cho công tác BVMT, tái đầu tư vào các hoạt động BVMT Song song đó, việc thu phí cũng ảnh hưởng ít nhiều đến hành vi của các tổ chức, cá nhân bởi vì càng thải nhiều chất độc hại
ra môi trường càng phải nộp phí nhiều và để không phải nộp phí nhiều, họ
phải cắt giảm lượng nước thải xả trực tiếp ra môi trường Điều này cho thấy phí BVMT đối với nước thải góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường nước, đồng thời số phí thu được sẽ dùng cho các hoạt động xử lý, khắc phục thiệt
hại từ nước thải và các hoạt động BVMT khác
Sau cùng, để cho việc thu phí BVMT đạt được hiệu quả cao nhất, cần
phải có hệ thống kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xử lý nghiêm đối với các hành vi
vi phạm Việc thu đúng, thu đủ phí BVMT đối với nước thải gặp không ít khó khăn Một trong những nguyên nhân chủ yếu đó là công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm chưa thật sự triệt để Vì vậy, để công tác thu phí đạt hiệu quả, cần làm tốt hơn trong công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra
và xử lí vi phạm triệt để
1.1.1.4 Phân loại phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Hiến chương châu Âu quan điểm nước thải là việc ô nhiễm nước, cụ
thể, đó là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông
Trang 25nghiệp, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã Còn ở Việt Nam, nước thải là nước đã được thải ra từ sau khi đã sử dụng hoặc được tạo
ra trong quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó [33] Nước thải được chia thành nhiều loại khác nhau để tiện cho việc quản lý
và tạo cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp giải quyết hay công nghệ xử lý phù
hợp
Theo quan điểm quản lý môi trường, xuất phát từ các nguồn gây ô nhiễm nước, nước thải được phân thành hai loại: nước thải có nguồn xác định
và nước thải không có nguồn xác định:
(i) Nước thải có nguồn xác định bao gồm nước thải đô thị và nước thải công nghiệp, các cửa cống xả nước mưa và tất cả các nguồn tiếp nhận nước
có tổ chức qua hệ thống cống và kênh thải
(ii) Nước thải có nguồn không xác định bao gồm nước chảy trôi trên bề
mặt đất, nước mưa và các nguồn phân tán khác
Căn cứ phổ biến hơn để phân loại nước thải, đó là dựa theo nguồn gốc phát thải của chúng Theo đó, nước thải được phân thành những loại sau:
Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất, cơ sở chế
biến nông sản, lâm sản, thủy sản xả thải ra môi trường… [10, Khoản 2, Điều 2]
Nước thải sinh hoạt là từ các hộ gia đình, tổ chức khác không phải là các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản xả thải ra môi trường [10, Khoản 3, Điều 2]
Dựa vào những tiêu chí phân loại này mà Nhà nước đưa ra những quy định điều chỉnh hoạt động, quản lý đối với từng loại nước thải tương ứng Theo đó, pháp luật của Việt Nam hiện nay chỉ quy định thu phí đối với hai
loại nước thải, đó là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt vì đây là hai loại nước thải chủ yếu, chứa hàm lượng cao các chất gây ô nhiễm Vì vậy,
Trang 26cần phải thu phí BVMT đối với hai loại nước thải này để có nguồn kinh phí
xử lý nước thải, cải tạo và chống ô nhiễm môi trường
Cụ thể, nước thải sinh hoạt là nước được thải ra từ các hoạt động sống
của con người Trong nước thải sinh hoạt thường chứa nhiều độc tố, tạp chất khác nhau cùng nhiều loại vi sinh vật gây bệnh Thành phần và tính chất của nước thải sinh hoạt phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước thải sinh hoạt Ngoài
ra lượng nước thải ít hay nhiều còn phụ thuộc vào tập quán sinh hoạt Hiện nay, có hai cách để tính mức tạo ta nước thải sinh hoạt Một là thông qua tính thông số cơ bản trong đánh giá chất lượng nước Hai là dựa vào lượng chất
thải tổng số, chất thải hữu cơ và vô cơ của một người trong một ngày Ngoài
ra còn có cách tính khác thông qua khối lượng nước thải theo chỉ số dân tương ứng
Nước thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần cũng như lượng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình công nghiệp, công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của thiết bị, trình độ quản
lý của cơ sở và ý thức của cán bộ công nhân viên So với nước thải sinh hoạt thì nước thải công nghiệp có thành phần và tính chất phức tạp hơn nhiều
Tuy nhiên, dù nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp, nếu không được xử lý thì khi thải trực tiếp vào nguồn nước tự nhiên sẽ gây ra
những thay đổi về tính chất vật lý, thành phần hóa học và sinh học của nguồn nước, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tự nhiên
1.2 Khái quát về pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
1.2.1 Khái niệm pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Bảo vệ môi trường là vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với công cuộc đấu tranh xóa đói, giảm nghèo ở mỗi quốc gia và cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến
bộ của xã hội trên phạm vi toàn thế giới Với điều kiện của nước ta hiện nay,
Trang 27khi Nhà nước chú trọng nguyên tắc thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, tiến tới xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng trong công tác BVMT thành các quy định của pháp luật để điều chỉnh quan hệ, hành vi của con người trong việc ứng xử với môi trường Đồng thời, pháp luật về phí BVMT cần được xây dựng để làm sao đủ sức tác động vào nhận thức của các chủ thể ở cả ba phương diện: khai thác, sử dụng tài nguyên môi trường; giữ gìn và BVMT thiên thiên; phòng
ngừa và khắc phục sự cố môi trường khi môi trường bị xâm hại hoặc bị tàn phá Để đạt những mục tiêu trên, ngoài việc phải coi trọng công tác xây dựng pháp luật mà còn phải tạo dựng một cơ chế đảm bảo thi hành pháp luật đủ mạnh Đây là nhân tố quan trọng và cũng là tiêu chí đánh giá tính khả thi và
hiệu quả của hệ thống pháp luật về BVMT
Pháp luật về phí BVMT đối với nước thải sẽ bao gồm những quy định chi tiết, cụ thể điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với những chủ thể xả nước thải ra môi trường Ngoài ra, pháp
luật cũng sẽ xác định loại nước thải nào phải chịu phí, chủ thể nào xả thải
phải nộp phí và cơ chế thu, nộp, quản lý và sử dụng ra sao
Tóm lại, nói một cách khái quát, tác giả có thể đưa ra định nghĩa pháp
luật về phí BVMT đối với nước thải như sau:
bảo vệ môi trường đối với nước thải
Như vậy, pháp luật về phí BVMT đối với nước thải có mục đích là điều
chỉnh hành vi xả nước thải ra môi trường của các chủ thể, từ đó có nguồn ngân sách để khắc phục, xử lý đối với lượng nước thải Pháp luật này được coi là một trong những bộ phận của pháp luật BVMT và là yếu tố cấu thành
Trang 28không thể thiếu với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địa phương Ngoài ra, pháp luật về phí BVMT đối với nước thải cũng có mối quan hệ hệ với các loại pháp luật phí khác, do đây là phí có tư cách là một
loại phí tạo lập, bổ sung nguồn thu của NSNN
th ải
Mỗi quốc gia có điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau, do
vậy, hoạt động BVMT và thu phí BVMT nói chung, cũng như thu phí BVMT đối với nước thải nói riêng cũng sẽ khác nhau Tuy nhiên, dù ở quốc gia đã phát triển, đang phát triển hay chưa phát triển đều hy vọng khoản phí BVMT đối với nước thải sẽ đạt được những vai trò riêng của nó, tạo nguồn thu cho NSNN, tác động đến hành vi của chủ thể xả thải và có nguồn tài chính khắc
phục hậu quả của lượng nước thải có thể sẽ gây tác động xấu đến môi trường
Vì vậy, pháp luật về phí BVMT đối với nước thải thông thường sẽ bao gồm
những nội dung cơ bản sau đây:
nước thải
Đối với đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải, đó là những loại nước thải có khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường Nước thải bao gồm nhiều loại khác nhau, tuy nhiên, Nhà nước sẽ xác định loại nước thải nào sẽ
phải chịu phí BVMT căn cứ vào nguồn gốc, mức độ ô nhiễm và hậu quả của
từng loại nước thải Các quốc gia trên thế giới thông thường chỉ thu phí BVMT đối với hai loại nước thải, đó là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt
Nước thải công nghiệp được xác định là nước thải ra môi trường từ các nguồn sau: cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; cơ sở sản
xuất, chế biến thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá; cơ sở chăn nuôi,
Trang 29giết mổ: gia súc, gia cầm tập trung;cơ sở nuôi trồng thủy sản; cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề; cơ sở: thuộc da, tái chế da; cơ sở: khai thác, chế biến khoáng sản; cơ sở: dệt, nhuộm, may mặc; cơ sở sản xuất giấy,
bột giấy, nhựa, cao su; cơ sở sản xuất: phân bón, hóa chất, dược phẩm, thuốc
bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, đồ gia dụng; cơ sở: cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng; cơ sở sản xuất: linh kiện, thiết bị điện, điện tử; cơ sở: sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu; nhà máy cấp nước sạch ; hệ thống xử lý nước thải tập trung trong khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất khác [10, Khoản 2 Điều 2]
Như vậy, các quy định của pháp luật hiện hành đã xác định tương đối chi tiết danh mục những cơ sở sản xuất, kinh doanh xả nước thải ra môi trường phải nộp phí BVMT đối với nước thải Quy định này đã khắc phục được việc xác định đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp,
do trước đây số lượng các chủ thể, các cơ sở sản xuất kinh doanh quá nhiều
và đa dạng ngành nghề nên việc thống kê đầy đủ các lĩnh vực hoạt động của các cơ quan chức năng cũng gặp không ít khó khăn Đồng thời, quy định này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan nhà nước thực hiện và quản lý việc thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp mang lại hiệu quả tốt hơn, tranh
bỏ sót đối tượng chịu phí
Nước thải sinh hoạt là nước thải ra môi trường từ hộ gia đình; cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân (trừ các cơ sở sản xuất,
cơ sở chế biến thuộc các đơn vị vũ trang nhân dân); trụ sở điều hành, chi nhánh văn phòng của các tổ chức, cá nhận không gắn liền với địa điểm sản xuất, chế biến; cơ sở: rửa ô tô, rửa xe máy, sửa chữa ô tô, sửa chữa xe máy;
bệnh viện, phòng khám chữa bệnh, nhà hàng, khách sạn, cơ sở đào tạo, nghiên cứu, cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác [10, Khoản 3 Điều 2]
Trang 30Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật cũng quy định khá cụ thể các nhóm đối tượng chịu phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt nhằm tránh nhầm lẫn
với các đối tượng phải nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, khắc
phục được tình trạng nhầm lẫn trong quá trình thực hiện dễ dẫn đến việc thu trùng phí Trong thực tế, có nhiều doanh nghiệp đóng trụ sở trong các khu, các cụm công nghiệp nhưng chỉ là các chi nhánh, trụ sở văn phòng mà không
có hoạt động sản xuất, nên được xếp vào nhóm đối tượng nộp phí BVMT đối
với nước thải sinh hoạt Nếu trước đây, khi pháp luật không phân định rõ ràng
về nhóm chủ thể này với nước thải công nghiệp nên gây không ít khó khăn và
bất cập cho cả phía người nộp phí và cơ quan thu phí, thì hiện nay, vấn đề này
đã được khắc phục
Bên cạnh việc quy định về đối tượng chịu phí, pháp luật cũng có quy định về việc miễn thu phí BVMT đối với nước thải trong các trường hợp sau đây [10, Điều 5]:
(i) Nước xả ra từ các nhà máy thủy điện, nước tuần hoàn trong các cơ
sở sản xuất, chế biến mà không thải ra môi trường dưới bất kỳ hình thức nào (chất rắn, chất lỏng, chất khí)
(ii) Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra;
(iii) Nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ở địa bàn đang được Nhà nước thực hiện chế độ bù giá để có giá nước phù hợp với đời
sống kinh tế - xã hội;
(iv) Nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ở các xã thuộc vùng nông thôn và những nơi chưa có hệ thống cấp nước sạch;
(v) Nước làm mát thiết bị, máy móc không trực tiếp tiếp xúc với các
chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng;
(vi) Nước mưa tự nhiên chảy tràn (trừ diện tích thuộc khu vực nhà máy hóa chất);
Trang 31(vii) Nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy, hải sản của ngư dân; (viii) Nước thải sinh hoạt tập trung do đơn vị quản lý, vận hành hệ
thống thoát nước tiếp nhận và đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định xả thải ra môi trường
Quy định về những trường hợp không thu phí BVMT đối với nước thải nêu ở trên thể hiện chính sách hỗ trợ, khuyến khích của Nhà nước đối với từng trường hợp cụ thể Việc pháp luật quy định nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đình đang được Nhà nước thực hiện chế độ bù giá, hộ gia đình ở các xã thuộc vùng nông thôn, ở những vùng có điều kiện khó khăn…thì không phải
chịu phí BVMT đối với nước thải Đây được xem là quy định cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, sát sao với chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc giúp đỡ, tạo điều kiện cho những đối tượng nêu trên
Thêm nữa, Nghị định 154/2016/NĐ-CP còn bổ sung thêm hai đối tượng được miễn phí (Phụ lục 2) đó là nước thải từ các phương tiện đánh bắt
thủy, hải sản của ngư dân và nước thải sinh hoạt tập trung do đơn vị quản lý,
vận hành hệ thống thoát nước tiếp nhận và đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật quy định xả thải ra môi trường Tác giả cho rằng, đây được xem là điểm mới và tiến bộ của Nghị định 154/2016/NĐ-CP của Chính phủ Việc thêm đối tượng miễn phí là nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy, hải
sản của ngư dân nhằm khuyến khích, tạo nguồn động lực lớn cho ngư dân bám biển, khẳng định chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Còn trường hợp miễn phí đối với nước thải sinh hoạt tập trung do đơn vị quản lý, vận hành thoát nước tiếp nhận và đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định xả
thải ra môi trường để khuyến khích các đơn vị này xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật xả thải, tăng cường hiệu quả quản lý và BVMT
Trang 32Hai là, quy định về chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phí BVMT đối với nước thải Có hai nhóm chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này đó là người nộp phí và người thu phí Phí BVMT đối với nước thải là một khoản phí thuộc nguồn thu của NSNN, do vậy, chủ thể thu loại phí này phải là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được pháp luật quy định hoặc ủy quyền Tùy vào quan điểm của mỗi nước về vị trí của phí BVMT mà cơ quan thu phí có thể là những cơ quan, tổ chức khác nhau nhưng có sự phân định rõ ràng về
thẩm quyền thực hiện, có thể chia ra thành cơ quan có thẩm quyền quy định
về phí, cơ quan có thẩm quyền quy định mức phí và cơ quan có thẩm quyền thu phí Giới hạn về quyền lực thực thi, các cơ quan, tổ chức thu phí sẽ phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình theo đúng các quy định
của pháp luật
Người nộp phí là chủ thể thứ hai tham gia vào quan hệ pháp luật phí BVMT đối với nước thải với mục đích tác động đến hành vi xả thải ra môi trường, người nộp phí được quy định tương đối rộng với nhiều chủ thể khác nhau bao gồm cá nhân, tổ chức xả nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp
BVMT đối với nước thải
Mức thu phí BVMT đối với nước thải sẽ được xác định tương ứng với
từng loại nước thải, mức độ độc hai và định hướng điều tiết của Nhà nước
Thực tế, các nước trên thế giới đều có cách xác định mức thu phí BVMT đối
với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của nước đó nên mức thu phí cũng sẽ khác nhau Đồng thời, quy định về về chế độ thu, nộp phí cũng điều chỉnh tới việc phí BVMT đối với nước thải sẽ được người nộp phí chuyển giao đến người thu theo cách thức và quy trình ra sao Thêm nữa, do phí BVMT đối với nước thải là khoản thu
Trang 33thuộc về quỹ NSNN, nên chế độ quản lý và sử dụng phí này cũng phải tuân theo những quy định cụ thể, chặt chẽ của pháp luật, để đảm bảo thu đúng, thu
đủ và sử dụng có hiệu quả nguồn phí thu được
và xử lý vi phạm pháp luật về phí BVMT đối với nước thải
Hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thu nộp phí BVMT đối với nước thải là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường Từ những hoạt động này, các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền có thể phát hiện ra những vi phạm từ các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phí BVMT đối với nước thải, từ đó có những chế tài thích đáng tương ứng với hành vi mà các chủ thể đó gây tác hại đến môi trường Đây là nhóm quy định có tính răn đe cao đối với những hành vi vi phạm pháp
luật về phí BVMT đối với nước thải
1.3 Quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở một số quốc gia trên th ế giới và kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, phong tục, tập quán, truyền
thống văn hóa, lịch sử và tình hình môi trường mà mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật về môi trường có tính đặc thù riêng Phí BVMT nói chung và phí BVMT đối với nước thải nói riêng là một trong những công cụ kinh tế được nhiều nước áp dụng nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường Ở nhiều quốc gia trên
thế giới, kể cả các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ý… và các nước đang phát triển như: Philippines, Thái Lan, Malaysia…đều đã thành công trong việc thu phí BVMT đối với nước thải
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước thuộc nhóm OECD
Nếu như vài ba thập kỷ trước, các công cụ kinh tế, đặc biệt là các biện pháp thị trường còn chưa hề được các nước OECD chú ý thì hiện nay, nhờ có các ưu thế và hiệu quả linh hoạt, mềm dẻo, các công cụ kinh tế đã được các
Trang 34nước sử dụng ngày càng nhiều trong việc hoạch định và thực thi các chính sách kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường Các quốc gia này đều chủ trương thu phí BVMT đánh vào nguồn gây ô nhiễm và nguồn sử
dụng Theo báo cáo của OECD, phần lớn các nức đều có mức phí khác biệt tùy vào khối lượng và nồng độ của các chất ô nhiễm có trong nước thải Hệ
thống phí ô nhiễm của Hàn Quốc, Bỉ, Cộng hòa liên bang Đức đều đạt mục tiêu tạo khuyến khích và thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm, trong khi đó
tại các nước khác, mục tiêu chính là tạo ra nguồn thu… (Phụ lục 1)
Thực tiễn sử dụng các công cụ kinh tế vào mục đích BVMT nói chung
và đối với nước thải nói riêng ở các nước thuộc OECD đã chứng tỏ nhiều mặt tích cực:
tác dụng lâu dài, vừa trực tiếp làm thay đổi hành vi của các chủ thể, doanh nghiệp, lại vừa có tác dụng sâu xa đến việc nghiên cứu, triển khai, trao đổi công nghệ và kỹ thuật sản xuất có lợi cho môi trường
vật chất vững chắc cho việc phục vụ, tái tạo trở lại cho môi trường, đồng thời,
nó còn góp phần đáng kể vào nguồn thu của NSNN
cách tự động, thích ứng với cơ chế của thị trường và đạt hiệu quả chi phí với
một mức phát thải nhất định
lai, các công cụ kinh tế duy trì và chuyển giao hợp lý nguồn lực thông qua việc đánh giá các nguồn tài nguyên môi trường, đồng thời, góp phần sử dụng
có hiệu quả nguồn lực hiện tại
1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển
Trang 35Hiện nay, hệ thống quản lý môi trường ở các nước đang phát triển chủ yếu vẫn dựa vào các công cụ CAC (quy định pháp lý về “điều chỉnh và kiểm soát”) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với sự trợ giúp của các nước thuộc OECD về mặt kinh nghiệm và kỹ thuật, một số Chính phủ đã bắt đầu quan tâm hơn đến các công cụ kinh tế Công cụ kinh tế thường được áp dụng
nhất là đối với phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm và phí đánh vào sản phẩm Nhưng khác với các nước OECD áp dụng các công cụ kinh tế này một cách riêng lẻ thì ở một số nước đang phát triển luôn có sự phối hợp chặt chẽ giữa
yếu tố pháp luật với các công cụ kinh tế
Theo đó, ở các quốc gia này, hệ thống các tiêu chuẩn của công cụ pháp luật vẫn đóng vai trò là cơ sở để đánh gia mức hiệu quả của các chính sách, và các mặt tích cực của biện pháp điều hành bằng pháp luật được bổ sung bằng tính mềm dẻo và linh hoạt của các biện pháp kinh tế Bởi vậy, nó góp phẩn
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi có hiệu quả các hoạt động bảo vệ chất lượng môi trường ở các nước đang phát triển trong khu vực và trên thế giới,
chủ yếu là dưới các hình thức phí, lệ phí và cao hơn nữa là thuế phát thải Tại
mỗi quốc gia đều có sẵn hệ thống thuế hiện hành, nên việc thu thuế, phí, lệ phí dễ dàng tiến hành hơn Tuy nhiên, khi áp dụng phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm và phí đánh vào sản phẩm tại các nước đang phát triển còn tại tại một
số vấn đề
Ở Philippines, phí nước thải được áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp trọng điểm có mức thải trung bình hàng năm từ 4 tấn BOD trở lên Từ năm 1998, hệ thống phí được mở rộng, bao gồm tất cả các doanh nghiệp thuộc địa phận hành chính của vùng hồ Laguna và có nước thải vào hồ Các doanh nghiệp này gồm các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, các doanh nghiệp công nông nghiệp, các cụm dân cư và các hộ gia đình Phí nước thải công nghiệp đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh theo Nghị quyết
Trang 36số 26 của Ban quản lý hồ Laguna ở Philippines bao gồm hai phần là phí cố định và phí biến đổi
Phí cố định hàng năm: Mục đích thu phí cố định hàng năm là nhằm trang trải các chi phí quản lý của Ban quản lý hồ Laguna Phí cố định được xác định dựa vào lượng nước thải bình quân/ngày của cơ sở sản xuất Nếu lượng nước thải của cơ sở sản xuất dưới 30m3/ngày thì mức phí cố định là 5.000 Peso/năm; nếu lượng nước thải 30 – 150m3/ngày thì mức phí là 10.000 Peso/năm; nếu lượng nước thải của cơ sở trên 150m3/ngày thì mức phí cố định là 15.000 Peso/năm [36, 40]
Phí biến đổi: là phí tính trong một quý của cơ sở sản xuất tính theo tổng lượng ô nhiễm gây ra trong quý và tính trên một đơn vị ô nhiễm gây ra
Ở Trung Quốc, phí nước thải được quy định trong Luật bảo vệ môi trường năm 1979 Từ năm 2003, việc tính phí nước thải ở quốc gia này được
dựa trên tải lượng chứ không chỉ dựa trên nồng độ Phí được tính với tất cả các đơn vị ô nhiễm (cả đơn vị trên và dưới tiêu chuẩn cho phép); phí được tính với hơn 100 thông số ô nhiễm trong nước thải Các tiêu chuẩn do Bộ Môi trường quy định thay đổi tùy thuộc vào từng ngành công nghiệp và mức phí thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm Ngoài ra, các địa phương có thể đưa
ra các tiêu chuẩn chặt chẽ hơn tiêu chuẩn quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí do Bộ Môi trường quy định Đồng thời, Trung Quốc quy định mức phí được xác định thay đổi theo số lượng, nồng độ và loại chất gây
ô nhiễm được thải ra; phí ô nhiễm áp dụng cho việc xả thải nước thải công nghiệp đối với chất gây ô nhiễm nhất định nào đó được tính bằng cách nhân với lượng nồng độ chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn [21]
Còn ở Thái Lan, sự tăng trưởng kinh tế nhanh ở quốc gia này kéo theo nhiều vấn đề ngày càng trở nên nặng nề và cấp bách trong đó có ô nhiễm môi trường Nguồn nước và không khí ở các đô thị lớn, các khu công nghiệp bị ô
Trang 37nhiễm trầm trọng dẫn tới việc Chính phủ nước này phải áp dụng chế độ phí đối với nước thải Ở Băng Cốc, họ áp dụng hai loại phí: phí đánh vào các xí nghiệp lớn và phí đánh vào các hộ gia đình và các xí nghiệp công nghiệp nhỏ
Đối với xí nghiệp lớn, mức phí được tính theo công thức có hai yếu tố
là khối lượng nước tiêu thụ và mức độ tích tụ các chất thải BOD (chất oxy sinh hóa) trong nước thải Phần phí dánh vào BOD được xác định như phần phí vi phạm và chỉ tính cho mức chất thải đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Còn đối với hộ gia đình và các xí nghiệp nhỏ, phí được dựa vào hóa đơn thu tiền nước tiêu thụ hàng tháng (theo đồng hồ đo) Với việc chỉ thu phí
ô nhiễm từ các cơ sở gây ô nhiễm lớn, đưa phí vào hóa đơn thu tiền nước của các hộ gia đình và các xí nghiệp nhỏ đã làm đơn giản hóa việc thu phí và việc theo dõi chấp hành các tiêu chuẩn đã được quy định cũng vì thế mà dễ dàng hơn
Thêm vào đó, nguồn thu phí ở Thái Lan chủ yếu được đưa vào quỹ môi trường để dùng vào việc trợ cấp, giúp các xí nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào công nghệ kiểm soát ô nhiễm Phần thu còn lại được dùng cho vận hành và
bảo quản nhà máy xử lý nước thải trung tâm, các nhà máy xả chất thải, cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước có trách nhiệm thu phí dịch
vụ và tiền phạt
Từ kinh nghiệm của các nước quốc tế cho thấy việc áp dụng phí BVMT đối với nước thải có một số đặc điểm sau:
Phí BVMT đối với nước thải là một trong số các công cụ kinh tế được
áp dụng tại các quốc gia trên thế giới, nó thường áp dụng và phối hợp cùng với công cụ mệnh lệnh, kiểm soát
Việc áp dụng phí BVMT đối với nước thải không gây ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 38Phí BVMT đối với nước thải góp phần đáng kể làm giảm ô nhiễm nước
và tạo nguồn thu cho công tác BVMT Tuy nhiên, mức độ thành công có khác nhau tùy thuộc vào cơ chế thu khác nha và có tỷ lệ thành công cao hơn với các nước có:
- Cơ chế thu đơn giản
- Áp dụng quy mô thí điểm trước khi áp dụng rộng rãi
- Áp dụng việc đánh phí với tất cả các đơn vị ô nhiễm (cả đơn vị vượt tiêu chuẩn và không vượt tiêu chuẩn)
Đa số các nước sử dụng phí BVMT đối với nước thải để tái đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường
Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả của việc thu phí, các cơ quan thu phí
cần thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát, xử phạt nghiêm minh những đơn vị không đóng phí Bên cạnh đó, xây dựng hệ thống quản lý môi trường trong các doanh nghiệp để tăng tính công khai, minh bạch của các số liệu xả thải cũng là việc làm cần thiết
1.3.3 Một số gợi mở cho Thành phố Hồ Chí Minh
Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng phí BVMT đối
với nước thải của một số quốc gia trên thế giới nêu trên, có thể thấy rằng, loại phí này là một trong những công cụ kinh tế đã được áp dụng tương đối rộng rãi và phổ biến nhằm hạn chế, kiểm soát tình trạng ô nhiễm môi trường Song song đó, việc áp dụng này đã tạo nên sự liên kết hữu hiệu giữa các chính sách kinh tế với chính sách môi trường tùy vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của
mỗi nước mà công cụ phí này sẽ được thực hiện với những mục tiêu khác nhau Nhìn chung, phí BVMT đối với nước thải có hai mục tiêu chính: một là
tạo nguồn thu cho NSNN để chi cho hoạt động BVMT và hai là khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất thải ô nhiễm ra môi trường
Trang 39Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thu phí của các nước cũng cho thấy, không phải việc thu phí nào cũng đạt được cả hai mục tiêu nêu trên với vị trí ngang nhau Ở các nước OECD, mục tiêu khuyến khích giảm ô nhiễm được coi là quan trọng hơn khi mục tiêu tăng nguồn thu để chi cho hoạt động cải thiện môi trường vẫn đang giữ ưu thế ở phần lớn các nước, đặc biệt là ở một số nước đang phát triển Bên cạnh đó, có nhiều nước dù đặt ra mục tiêu của việc thu phí là khuyến khích giảm ô nhiễm song lại không đạt được mục tiêu đó vì
mức phí quy định quá thấp, không khuyến khích được các xí nghiệp thay đổi hành vi gây ô nhiễm Nhưng dù thế nào, việc đặt ra mục tiêu cho công tác thu phí rất quan trọng, bởi nó quyết định đến mục tiêu dự kiến sẽ đạt được trong chương trình thu phí và góp phần quyết định đến cách thu phí
Trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về phí BVMT đối nước thải, TP.HCM có thể tiếp thu những kinh nghiệm quý báu sau:
Một là, mức phí phải dựa trên những cơ sở mang tính phương pháp
nhất định, đặc biệt phải được điều chỉnh theo các yêu cầu cụ thể của vùng ô nhiễm, đặc tính của loại hình sản xuất Mức phí phải ở mức có thể chấp nhận được, không quá thấp vì sẽ không tạo nên sự thay đổi về hành vi của những
chủ thể gây ô nhiễm theo hướng có lợi cho môi trường, và ngược lại, không quá cao vì có thể làm cho tính cạnh tranh của sản phẩm giảm đi và lợi nhuận
của nghiệp bị suy giảm, vấp phải sự chống đối của những chủ thể gây ô nhiễm
ổn định kinh tế vĩ mô và khi có môi trường cạnh tranh thật sự Môi trường kinh doanh sẽ là cơ chế tự động buộc những đối tượng gây ô nhiễm phải giảm chi phí, tối ưu hóa chi phí và hợp lý hóa kinh doanh, còn doanh nghiệp giữ độc quyền thường sẽ tìm cách tăng giá hàng hóa để đối phó Nếu hiện tượng
Trang 40này xảy ra, người tiêu dùng sẽ phải gánh chịu phí BVMT đối với nước thải chứ không phải là doanh nghiệp
Ba là, phí BVMT đối với nước thải chỉ phát huy tác dụng nếu có được
bộ máy hành chính tốt và hiệu quả, đi theo đó là một hệ thống giám sát môi trường hữu hiệu để thực hiện Những hiện tượng như trốn phí, tham nhũng sẽ khiến tác dụng của phí bị vô hiệu Việc xác định phí đòi hỏi phải có hệ thống giám sát ô nhiễm môi trường tốt, cơ bản để giám sát được lượng chất thải,
mức độ ô nhiễm, có như vậy mới có cơ sở thực tế để xác định được một cách đúng đắn phí BVMT đối với nước thải [35]
Tiểu kết chương 1
Phí BVMT đối với nước thải được xây dựng và tạo lập trên nền tảng cơ
sở lý luận, pháp lý chặt chẽ Dựa trên những cơ sở này, phí BVMT đối với nước thải được hiểu là khoản tiền mà cá nhân, tổ chức phải trả cho việc xả nước thải vào môi trường với mục đích giảm thiểu số lượng nước thải chưa qua xử lý xả trực tiếp vào môi trường để bù đắp chi phí cho việc khôi phục, bảo vệ môi trường Có nhiều tiêu chí để phân loại phí BVMT đối với nước thải nhưng nhìn chung pháp luật của các quốc gia chỉ thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt
Phí BVMT đối với nước thải có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Về mặt ý nghĩa, loại phí này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến lĩnh vực môi trường; sự gắn kết chặt chẽ giữa môi trường và phát triển kinh tế, góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về BVMT Về vai trò, phí BVMT đối với nước thải là một trong những công cụ kinh tế hữu hiệu trong công tác quản lý và BVMT; giúp điều chỉnh hành vi của người xả thải; bổ sung nguồn thu cho NSNN và giúp