1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điện tâm đồ bề mặt và nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa

7 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 474,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định mối liên quan giữa hình ảnh điện tâm đồ bề mặt với nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân hội chứng chuyển hóa. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả sự tương quan trên chùm ca bệnh gồm 123 bệnh nhân hội chứng chuyển hóa, điều trị tại khoa Tim mạch, Bệnh viện Việt Tiệp, từ tháng 8/2018 đến tháng 6/2019.

Trang 1

ĐIỆN TÂM ĐỒ BỀ MẶT VÀ NGUY CƠ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TÂM TRƯƠNG Ở BỆNH NHÂN CÓ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

Vũ Mạnh Tân 1 , Lê Minh Hiếu 2 TÓM TẮT 42

Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa hình

ảnh điện tâm đồ bề mặt với nguy cơ rối loạn

chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân hội

chứng chuyển hóa Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả sự tương quan

trên chùm ca bệnh gồm 123 bệnh nhân hội

chứng chuyển hóa, điều trị tại khoa Tim mạch,

Bệnh viện Việt Tiệp, từ tháng 8/2018 đến tháng

6/2019 Chức năng tâm trương thất trái được

đánh giá bằng siêu âm Doppler tim Phân tích

điện tâm đồ để tìm các dấu hiệu dày thất trái,

QRS phân mảnh, sóng P có pha âm sâu rộng ở

V1 Sử dụng phân tích hồi quy logistic đơn biến

và đa biến để tìm mối liên quan giữa rối loạn

chức năng tâm trương thất trái với các dấu hiệu

điện tâm đồ Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn

chức năng tâm trương thất trái là 27,64% Tỷ lệ

bệnh nhân có dấu hiện sóng P có pha âm sâu

rộng ở V1, QRS phân mảnh, dày thất trái lần lượt

là 26,83%; 29,27%; 8,94% Phân tích hồi quy

logistic đa biến chỉ ra nguy cơ xuất hiện rối loạn

chức năng tâm trương thất trái của các dấu hiệu

sóng P có pha âm sâu rộng ở V1, QRS phân

mảnh, dày thất trái OR, 95%CI lần lượt là 2,82

(1,32 – 8,03); 2,52 (1,12 – 6,99); 9,76 (1,86 –

51,14), p < 0,05 Kết luận: Các dấu hiệu sóng P

có pha âm sâu rộng ở V1, QRS phân mảnh, dày

1 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

2 Trường Đại học Y Dược Thái Bình

Chịu trách nhiệm chính: Vũ Mạnh Tân

Email: vmtan@hpmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 18.3.2021

Ngày phản biện khoa học: 16.4.2021

Ngày duyệt bài: 20.5.2021

thất trái trên điện tâm đồ có có thể sử dụng để tiên đoán nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương thất trái xảy ra ở bệnh nhân hội chứng chuyển hóa với OR, 95%CI lần lượt là 2,82 (1,32 – 8,03); 2,52 (1,12 – 6,99); 9,76 (1,86 – 51,14), p < 0,05

Từ khóa: Hội chứng chuyển hóa, rối loạn

chức năng tâm trương thất trái, sóng P có pha âm sâu rộng ở V1, QRS phân mảnh, dày thất trái

SUMMARY SURFACE ELECTROCARDIOGRAM AND THE RISK OF VENTRICULAR DIASTOLIC DYSFUNCTION ON PATIENTS WITH METABOLIC

SYNDROME Objective: To evaluate the association of

some signs on electrocardiography with left

ventricular diastolic dysfunction Objects and method: a correlational study conducted on123

patients with metabolic syndrome, at Cardiology department, Viet Tiep Friendship Hospital, from August 2018 to June 2019 Left ventricular diastolic function was estimated by echocardiographic examination Standard 12-lead electrocardiograms were recorded and analyzed to find fragmented QRS, abnormal P wave terminal force in lead V1, left ventricular hypertrophy The association between left ventricular diastolic dysfunction and those signs

on electrocardiography were investigated by univariate and multivariate logistic regression

analyses Results: The prevalence of left

ventricular diastolic dysfunction was diagnosed

in 27,64% of patients The prevalence of

Trang 2

abnormal P wave terminal force in lead V1,

fragmented QRS, thickening of ventricle wall

was 26,83%; 29,27%; 8,94%, respectively In

multivariate logistic regression analyses, the

abnormal P wave terminal force in lead V1,

fragmented QRS, left ventricular

hypertrophythickening were associated with

increased risk of left ventricular diastolic

dysfuction with OR (95%CI) were 2,82 (1,32 –

8,03); 2,52 (1,12 – 6,99); 9,76 (1,86 – 51,14),

respectively, (p < 0,05 in all three analyses)

Conclusion: the presence of abnormal P wave

terminal force in lead V1, fragmented QRS,

QRS, left ventricular hypertrophy on surface

ECG were all risk of left ventricular diastolic

dysfunction

Keywords: Metabolic syndrome, abnormal P

wave terminal force in lead V1, left ventricular

diastolic dysfunction, fragmented QRS,

ventricular hypertrophy

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là một

vấn đề sức khỏe toàn cầu Tỷ lệ bệnh nhân

HCCH trên thế giới khoảng 20 – 25% số

người trưởng thành Tại Việt Nam, số người

mắc HCCH ước khoảng 16,3% dân số [1]

Bệnh nhân HCCH có nguy cơ rối loạn chức

năng tâm trương (CNTTr) thất trái cao hơn

bệnh nhân không có HCCH Rối loạn

CNTTr thất trái là hậu quả của tăng áp lực đổ

đầy và giảm thư giãn thất trái Đây là giai

đoạn sớm của suy tim Rối loạn CNTTr thất

trái nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ

làm giảm tốc độ tiến triển đến suy tim tâm

thu và giảm tỷ lệ suy tim

Ở bệnh nhân rối loạn CNTTr thất trái, có

hiện tượng ứ máu ở tâm nhĩ trái Do đó, tăng

thể tích nhĩ, tăng áp lực nhĩ trái là một dấu

hiệu của rối loạn CNTTr thất trái Ngoài ra,

xơ hóa cơ tim và sẹo nhồi máu cơ tim tim là

yếu tố gây giảm thư giãn thất trái và tăng độ cứng buồng thất trái Các dấu hiệu tăng thể tích nhĩ trái và xơ hóa cơ tim đều thể hiện trên điện tâm đồ bề mặt lần lượt bằng các dấu hiệu sóng P có pha âm sâu rộng ở V1 (Abnormal P wave terminal force in lead V1 – PTF-V1) và QRS phân mảnh

Điện tâm đồ bề mặt là thăm dò hình ảnh thường quy, phổ biến tại tất cả các tuyến y

tế, trong khi để đánh giá chức năng tâm trương cần được tiến hành trên hệ thống siêu

âm Doppler có chương trình chuyên biệt với bác sĩ siêu âm được đào tạo bài bản, thường chỉ có ở các tuyến chuyên khoa sâu Vì thế,

có thể sử dụng điện tâm đồ bề mặt để tiên lượng nguy cơ rối loạn CNTTr thất trái hay không? Để trả lời câu hỏi này, để tài được

thực hiện với mục tiêu: xác định mối liên

quan giữa hình ảnh điện tâm đồ bề mặt với nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân rối loạn hội chứng chuyển hóa

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng - thời gian - địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 123 bệnh nhân được chẩn đoán HCCH theo tiêu chuẩn của liên đoàn đái tháo đường thế giới (International Diabetes Federation - IDF) năm 2005

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: tuổi ≥ 18 tuổi, nhịp tim có nút xoang là chủ nhịp và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân có tổn thương van tim thực thể, bệnh cơ tim nguyên phát, cấy máy tạo nhịp, rung nhĩ, cuồng nhĩ, hình ảnh điện tâm đồ nhiễu, bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 3

2.1.2 Thời gian - địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa tim

mạch, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ

tháng 8/2018 đến 6/2019

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu

sự tương quan trên loạt ca bệnh

2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu: thực hiện

theo phương pháp thuận tiện

2.2.3 Các chỉ số, biến số nghiên cứu và

phương pháp thu thập số liệu

Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán

HCCH theo tiêu chuẩn IDF 2005, đáp ứng

tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ

được tham gia vào nghiên cứu Các bệnh

nhân đều được hỏi bệnh sử, thăm khám lâm

sàng theo mẫu bệnh án thống nhất

CNTTr thất trái được đánh giá và phân

loại theo khuyến cáo về khảo sát CNTTr thất

trái của Hội siêu âm tim Hoa Kì và Hội hình

ảnh học tim mạch châu Âu năm 2016 Các

bệnh nhân được thực hiện kĩ thuật siêu âm

tim bởi một bác sĩ chuyên khoa tim mạch

Máy siêu âm tim được sử dụng là VIVID 7

DIMENSION của hãng GE Hoa Kì, đầu dò

3,5 MHz

Điện tâm đồ: bệnh nhân được nghỉ ngơi

thư giãn trước khi đo điện tâm đồ Điện tâm

đồ được thực hiện trên máy Nihkon Kohden

Cardiofax của Nhật Bản Tốc độ bản ghi là

25mm/s và test điện thế là 1mV tương đương

10mm Mỗi bản điện tâm đồ được phân tích

bởi hai chuyên gia về điện tâm đồ độc lập

Kết luận cuối cùng là sự thống nhất ý kiến

của cả hai chuyên gia Dấu hiệu PTF-V1

được xác định khi pha âm ở cuối sóng P của

chuyển đạo V1 có tích số giữa điện thế và

thời gian ≥ 4000µV-ms [2] Dấu hiệu QRS

phân mảnh được chẩn đoán theo tiêu chuẩn

của Das [3],[4]. Đối với phức độ QRS hẹp, QRS phân mảnh khi có hình ảnh sóng R’ hoặc có khía ở đáy sóng S hoặc có trên 1 R’

ở 2 chuyển đạo liên tiếp Đối với phức bộ QRS rộng, hình ảnh RSR’ có thể có hoặc không có sóng Q, và có nhiều hơn 2 sóng R’ hoặc hơn 2 sóng S có khía ở sườn xuống hoặc sườn lên xuất hiện ở 2 chuyển đạo liên tiếp Dày thất trái khi RV5+SV1 ≥ 35 mV

2.2.4 Xử lý số liệu

Quá trình nhập số liệu được thực hiện bằng phần mềm Epidata phiên bản 3.1 Các

số liệu được xử lý theo thuật toán thống kê trong y học bằng phần mềm SPSS 16.0 Các biến liên tục được thể hiện dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Các biến phân nhóm được thể hiện dưới tỷ lệ % Xác định mối liên quan giữa 2 biến bằng OR theo phân tích hồi quy logistic đa biến Chúng tôi cũng sử dụng phân tích hồi quy logistic đa biến để xác định mối liên quan giữa rối loạn CNTTr thất trái và các yếu tố Trong đó, rối loạn CNTTr thất trái là biến phụ thuộc Các biến tuổi, đái tháo đường, bệnh tim thiếu máu cục bộ, tăng huyết áp, chỉ số khối cơ thể, dấu hiệu PTF-1, dày thất trái, QRS phân mảnh là biến tiên lượng Mức có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 và 95%CI không chứa

1

2.3 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tuân theo tiêu chuẩn đạo đức trong nghiên cứu y sinh Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng khoa học và hội đồng đạo đức Trường Đại học Y Dược Hải Phòng Bệnh nhân có quyền

từ chối tham gia nghiên cứu tại bất kì thời điểm nào Tham gia hay không tham gia nghiên cứu không ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân

Trang 4

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 123 bệnh nhân HCCH có tuổi trung bình 68,13 ± 9,34 năm Giới nam chiếm 41,46%

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu

Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn (n, %) 91 (73,98 %)

Rối loạn chức năng tâm trương thất trái (n, %) 34 (27,64%)

Nhận xét: Hầu hết bệnh nhân có tăng huyết áp (93,50%) Tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn chức

năng tâm trương thất trái là 27,64%

Bảng 3.2: Đặc điểm điện tâm đồ bề mặt của các đối tượng nghiên cứu

Dấu hiệu ECG bề mặt (n=123) Số bệnh nhân (n) Tỷ lệ %

Chú thích: * PTF-V1: abnormal P wave terminal force in lead V1 - Dấu hiệu sóng P có

pha âm sâu rộng ở chuyển đạo V1

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có QRS phân mảnh và sóng P có pha âm ở V1 lần lượt là 29,27% và 26,83%

Bảng 3.3: Mối liên quan giữa rối loạn chức năng tâm trương thất trái với một số yếu tố

qua mô hình phân tích hồi quy logistic

0,98 – 1,07 0,34

1,05;

1,00 – 1,11 0,07 Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn 0,97;

0,40 – 2,38 0,94

1,06;

0,36 – 3,14 0,92

Trang 5

Đái tháo đường 0,98;

0,44 – 2,16 0,95

1,43;

0,52 – 3,87 0,48

0,9 – 1,06 0,26

1,25;

1,00 – 1,52 0,05

0,37 – 8,79 0,46

1,23;

0,13 – 12,88 0,83

1,33 – 7,30 0,01

2,82;

1,32 – 8,03 0,03

1,48 – 9,02 0,01

2,52;

1,12 – 6,99 0,04

1,72 – 23,68 0,01

9,76;

1,86 – 51,14 0,01

Chú thích: * PTF-V1: abnormal P wave terminal force in lead V1 - Dấu hiệu sóng P có

pha âm sâu rộng ở chuyển đạo V1

Nhận xét: Các dấu hiệu trên điện tâm đồ bề mặt: QRS phân mảnh, PTF-V1, dày thất trái

làm tăng nguy cơ xuất hiện rối loạn CNTTr thất trái ở bệnh nhân HCCH

IV BÀN LUẬN

Rối loạn CNTTr thất trái được đặc trưng

bởi hai hiện tượng giảm khả năng đồ đầy và

tăng độ cứng thành thất trái Do đó, tâm nhĩ

trái sẽ tăng co bóp để tăng thể tích đổ đầy

thất trái cuối kì tâm trương Như vậy, áp lực

và thể tích nhĩ trái tăng Dấu hiệu PTF-V1

được chứng minh liên quan đến tăng áp lực

và thể tích nhĩ trái Trong nghiên cứu của

chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có dấu hiệu

PTF-V1 trên điện tâm đồ là 26,83% Kết quả này

cũng tương đương với kết quả của các tác giả

khác [2] Khi tìm hiểu về mối liên quan giữa

dấu hiệu PTF-V1 với rối loạn CNTTr, kết

quả nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra sự có

mặt của dấu hiệu PTF-V1 làm tăng nguy cơ

xuất hiện rối loạn CNTTr thất trái với OR =

3,11, 95%CI: 1,33 – 7,30 trong phân tích hồi

quy logistic đơn biến Dấu hiệu PTF-V1

cũng hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường,

tăng huyết áp Mặt khác, đái tháo đường,

tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ của rối loạn

CNTTr thất trái Vậy mối liên quan giữa dấu

hiệu PTF-V1 và rối loạn CNTTr thất trái là

thật sự hay do ảnh hưởng của bệnh tiểu

đường, tăng huyết áp Để trả lời câu hỏi này chúng tôi đã sử dụng phân tích hồi quy logistic đa biến với đái tháo đường, tăng huyết áp là một trong số các yếu tố tác động Kết quả đã chỉ ra dấu hiệu PTF-V1 làm nguy

cơ xuất hiện rối loạn CNTTr thất trái, OR = 2,82, 95%CI: 1,32 – 8,03, p < 0,05 Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu cắt ngang nên chỉ xác định được mối liên quan giữa dấu hiệu PTF-V1 và rối loạn CNTTr thất trái, chưa xác định được ảnh hưởng của dấu hiệu PTF-V1 đến tiến triển của CNTTr thất trái Michael T và cộng sự thực hiện một nghiên cứu xác định ảnh hưởng của dấu hiệu PTF-V1 lên CNTTr thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp với thời gian theo dõi 3 năm Kết quả của nghiên cứu này đã chỉ ra dấu hiệu PTF-V1 liên quan đến sự tiến triển của rối loạn CNTTr thất trái sau 3 năm theo dõi Tác giả sử dụng phân tích hồi quy logistic đa biến cho kết quả dấu hiệu PTF-V1 làm tăng nguy cơ bất thường của tỷ số E/A (OR:1,55; 95%CI: 1,04 – 2,32, p = 0,032) và bất thường của thời gian đổ đầy thất trái (OR: 1,42; 95%CI: 0,94 – 2,15 p = 0,098) [2] Như

Trang 6

vậy, dấu hiệu PTF-V1 không những làm tăng

nguy cơ của rối loạn chức năng tâm trương

thất trái, mà còn liên quan đến tiến triển của

rối loạn CNTTr thất trái theo thời gian

Khối lượng cơ thất trái có mối tương quan

với rối loạn CNTTr thất trái Gia tăng khối

lượng cơ thất trái làm tăng nguy cơ rối loạn

CNTTr [5] Khi khối lượng cơ thất trái tăng

dẫn đến cấu trúc cơ tim biến đổi Số lượng

các sợ collagen tăng lên Đặc tính co dãn của

cơ tim bị hạn chế Vì thế khả năng nhận máu

của thất trái giảm có liên quan một phần đến

độ cứng của cơ tim khi bị phì đại Phì đại

thất trái tác động lên cả giai đoạn giãn đồng

thể tích và giai đoạn đổ đầy thất nhanh

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng chỉ số

Solokow-Lyon để đánh giá dày thất trái với

điểm cắt là 35mV Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi đã chỉ ra, dấu hiệu dày thất trái trên

điện tâm đồ đánh giá bằng chỉ số

Solokow-Lyon có liên quan đến rối loạn CNTTr thất

trái (OR: 6,42; 95%CI: 1,72 – 23,68) với p <

0,05 Khi phân tích hồi quy logistic đa biến,

dấu hiệu dày thất trái tăng nguy cơ rối loạn

CNTTr thất trái 9,76 lần (OR: 9,76; 95%CI:

1,86 – 51,14) với p < 0,05 Kết quả nghiên

cứu của chúng tôi cũng tương tự như kết quả

nghiên cứu của tác giả Joseph M dấu hiệu

dày thất trái trên điện tâm đồ, được đánh giá

bằng tiêu chuẩn Cornell product với điểm cắt

1595 mm-ms, làm tăng nguy cơ rối loạn

CNTTr thất trái 5 lần (OR: 5,1; 95%CI: 2,2 –

11,7; p < 0,001) [5] Như vậy, dấu hiệu dày

thất trái trên điện tâm đồ có mối liên quan

chặt chẽ với rối loạn CNTTr thất trái Tuy

vậy nghiên cứu của chúng tôi mới xác định

được mối liên quan giữa dày thất trái và

nguy cơ rối loạn CNTTr thất trái mà chưa

xác định được ảnh hưởng của khối lượng cơ

thất trái lên tiến triển của rối loạn CNTTr

thất trái Mặt khác, việc sử dụng thuốc giảm

dày thành thất trái, giảm tái cấu trúc thất trái

có làm chậm tiến triển của suy tim hay không? Điều này đã được khẳng định trong các nghiên cứu lớn trên thế giới cũng như trong khuyến cáo chẩn đoán và điều trị suy tim của các hội chuyên ngành Các khuyến cáo này đã xếp bệnh nhân có biểu hiện dày thất trái trên điện tâm đồ vào nhóm suy tim giai đoạn B Đối với nhóm bệnh nhân này, khuyến cáo đã đưa ra vai trò của nhóm thuốc

ức chế men chuyển Ức chế men chuyển là nhóm thuốc có tác dụng giảm dày thành thất trái, giảm tái cấu trúc thất trái Do đó, thuốc

có tác dụng giảm tiến triển suy tim ở bệnh nhân có dày thất trái

Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra dấu hiệu QRS phân mảnh có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ bị rối loạn CNTTr thất trái với OR: 3,74; 95%CI: 1,48 – 9,02, p < 0,05 trong phân tích hồi quy logistic đơn biến và

OR = 2,52, 95%CI: 1,12 – 6,99, p < 0,05 trong phân tích hồi quy logistic đa biến Mối liên quan này cũng được các nghiên cứu chỉ

ra trên bệnh nhân THA và ĐTĐ Kadi H và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu trên 72 bệnh nhân THA có hình ảnh chụp động mạch vành bình thường để tìm hiểu mối liên quan giữa QRS phân mảnh và CNTTr thất trái Kết quả của nghiên cứu cho thấy dấu hiệu QRS phân mảnh có liên quan đến mức

độ nặng của rối loạn CNTTr thất trái OR: 7,0; 95%CI: 1,4 – 35,4 với p = 0,0018 [6] Như vậy, QRS phân mảnh không chỉ liên quan đến nguy cơ xuất hiện của rối loạn chức năng tâm trương thất trái, mà còn liên quan đến mức độ nặng của rối loạn CNTTr thất trái [6] Canga A và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 259 bệnh nhân tim mạch cũng thấy rằng QRS phân mảnh có liên quan rối loạn CNTTr thất trái [7] Như vậy, mối có liên quan giữa QRS phân mảnh và rối loạn

Trang 7

CNTTr thất trái đã được chứng minh qua

nhiều nghiên cứu và trên các đối tượng bệnh

nhân khác nhau

Bên cạnh đó, dấu hiệu QRS phân mảnh đã

được chứng minh liên quan đến nguy cơ xuất

hiện suy tim bảo tồn phân suất tống máu thất

trái ở bệnh nhân rối loạn CNTTr thất trái

Onoue Y và cộng sự đã thực hiện nghiên

cứu trên 239 bệnh nhân rối loạn CNTTr thất

trái Tác giả đã chia bệnh nhân thành 2 nhóm

88 bệnh nhân có QRS phân mảnh và 151

bệnh nhân không có QRS phân mảnh Kết

quả nghiên cứu đã chỉ ra, sau 3 năm, tỷ lệ

bệnh nhân suy tim ở nhóm có QRS phân

mảnh cao hơn nhóm không có QRS phân

mảnh Phân tích hồi quy logistic đa biến đã

xác định QRS phân mảnh có liên quan độc

lập với suy tim có phân suất tống máu bảo

tồn với p < 0,05 [8]

* Hạn chế của đề tài: do thời gian nghiên

cứu ngắn, cỡ mẫu còn hạn chế và là nghiên

cứu cắt ngang nên đề tài chưa xác định ảnh

hưởng của các dấu hiệu điện tâm đồ bề mặt

với tiến triển của các bệnh nhân có các dấu

hiệu này

V KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 123 bệnh nhân hội chứng

chuyển hóa, chúng tôi rút ra kết luận: Sự có

mặt của các dấu hiệu điện tâm đồ bề mặt

PTF-V1, QRS phân mảnh, tăng gánh thất

trái, làm tăng nguy cơ rối loạn CNTTr thất

trái ở bệnh nhân HCCH khi phân tích đơn

biến và đa biến với OR (95%CI) lần lượt là:

3,11 (1,33 – 7,30); 3,74 (1,48 – 9,02); 6,42

(1,72 – 23,68); p < 0,05 và: 2,82 (1,32 –

8,03); 2,52 (1,12 – 6,99); 9,76 (1,86 –

51,14); p < 0,05

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân trọng cảm ơn Ban lãnh

đạo khoa, tập thể bác sĩ và điều dưỡng khoa

Tim mạch, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp đã

tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Quang Bình, Phạm Trần Phương, Bùi Thị Nhung, et al (2014) Metabolic

syndrome among a middle-aged population in the Red River Delta region of Vietnam BMC

Endocr Disord, 14, 77

2 Tanoue M.T., Kjeldsen S.E., Devereux R.B., et al (2017) Relationship between

abnormal P-wave terminal force in lead V1 and left ventricular diastolic dysfunction in hypertensive patients: the LIFE study Blood

Press, 26(2), 94–101

3 Das M.K., Suradi H., Maskoun W., et al (2008) Fragmented Wide QRS on a 12-Lead

ECG: A Sign of Myocardial Scar and Poor Prognosis Circ Arrhythm Electrophysiol,

1(4), 258–268

4 Das M.K., Khan B., Jacob S., et al (2006)

Significance of a fragmented QRS complex versus a Q wave in patients with coronary

artery disease Circulation, 113(21), 2495–

2501

5 Krepp J.M., Lin F., Min J.K., et al (2014)

Relationship of Electrocardiographic Left Ventricular Hypertrophy to the Presence of Diastolic Dysfunction Ann Noninvasive

Electrocardiol, 19(6), 552–560

6 Kadı H., Demir A.K., Ceyhan K., et al (2015) Association of fragmented QRS

complexes on ECG with left ventricular diastolic function in hypertensive patients Turk Kardiyol Dernegi Arsivi Turk Kardiyol

Derneginin Yayin Organidir, 43(2), 149–156

7 Canga A., Kocaman S.A., Durakoğlugil M.E., et al (2013) Relationship between

fragmented QRS complexes and left ventricular systolic and diastolic functions

Herz, 38(6), 665–670

8 Onoue Y., Izumiya Y., Hanatani S., et al (2016) Fragmented QRS complex is a

diagnostic tool in patients with left ventricular

diastolic dysfunction Heart Vessels, 31(4),

563–567.

Ngày đăng: 29/08/2021, 13:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w