Tuy nhiên, trước yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước, Luật TNBTCNN năm 2009 đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập như: Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và thiệt hại được b
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành lần đầu năm
2009 (sau đây gọi là Luật TNBTCNN năm 2009), có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2010) Qua 06 năm thi hành, Luật TNBTCNN năm 2009 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức và chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước Theo thống
kê của Bộ Tư pháp, từ ngày 01/01/2010 đến 31/12/2015, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thụ lý, giải quyết 258 vụ việc yêu cầu bồi thường; đã giải quyết xong 204 vụ việc (đạt tỷ lệ 79%), với tổng số tiền Nhà nước phải bồi thường là 111.149.416.000 đồng
Tuy nhiên, trước yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước, Luật TNBTCNN năm 2009 đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập như: Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và thiệt hại được bồi thường chưa đồng bộ so với Hiến pháp năm 2013 và các quy định của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình
sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo…; Luật TNBTCNN năm 2009 chưa xác định cụ thể cơ quan giải quyết bồi thường nên thực tế có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giải quyết bồi thường Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong trường hợp gây thiệt hại cũng chưa được thực hiện thống nhất, dẫn đến chưa bảo đảm tính răn đe và nâng cao trách nhiệm thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức Mặt khác, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường của Luật TNBTCNN năm 2009 thiếu sự chặt chẽ; thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường, do đó làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại cũng như uy tín của Nhà nước
Trang 2Để khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ
3 Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
(sau đây gọi là Luật TNBTCNN năm 2017 Luật gồm 9 chương, 78 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018 và thay thế LTNBTCNN năm 2009
LTNBTCNN năm 2017 đã thể hiện rõ nét tinh thần Điều 14 Hiến pháp
năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của Luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng…”.
Trang 3Chương 1
Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
và về quyền con người 1.1 Về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước:
1.1.1 Khái niệm bồi thường:
Có khá nhiều định nghĩa về “bồi thường” như sau:
- Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra
- Bồi thường là đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất mà mình phải chịu trách nhiệm
- Bồi thường thiệt hại là một hình thức chế tài nhằm buộc bên vi phạm pháp luật phải bù đắp, đền bù thiệt hại về mặt vật chất cho bên bị vi phạm Căn cứ phát sinh chế tài này là phải có hành vi vi phạm pháp luật, có thiệt hại xảy ra, có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại xảy ra và lỗi của bên vi phạm…
1.1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước:
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới Về mặt pháp lý, bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự, là việc khôi phục lại những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm phát sinh do hành vi vi phạm gây ra bằng giá trị vật chất hoặc những cách thức và tiêu chí do pháp luật quy định Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân là trách nhiệm pháp lý được xác định với mọi chủ thể Vì vậy, khi người đại diện cơ quan Nhà nước thực hiện công quyền gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì cũng phải bồi thường thiệt hại bằng cách khôi phục những thiệt hại về tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần trong trường hợp có hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ gây ra
Trang 4Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động hành chính được hiểu là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
a) Đặc diểm chung:
- Là loại trách nhiệm có giới hạn;
- Chi trả bằng tiền;
- Bồi thường khi có yêu cầu của người thiệt hại
b) Đặc điểm riêng:
- Chủ thể thực hiện gây thiệt hại đến trách nhiệm bồi thường nhà nước là người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước phát sinh trên cơ sở hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi hành công vụ
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước được giới hạn áp dụng trong các hoạt động hành chính, có tính chất
áp dụng pháp luật do Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định
c) Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước: là tổng hợp các yếu tố do
pháp luật quy định mà dựa vào đó có thể xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính có phát sinh hay không, bao gồm:
- Có lỗi của người thi hành công vụ
- Có thiệt hại thực tế xảy ra
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra
Trang 51.1.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Luật TNBTCNN năm 2017 quy định: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi có đủ các căn cứ sau đây: Có một trong các căn cứ xác định hành
vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật; Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này; Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế
và hành vi gây thiệt hại
Căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng bao gồm: Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường; Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại; Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và có yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
1.1.4 Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước:
Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung Chương VIII về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước
Trang 6Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi
cả nước Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước theo quy định của Luật Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản
lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại địa phương Luật cũng quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo hướng các cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này
1.2 Về quyền con người:
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người đã định nghĩa
“quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các
cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”
Để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền con người, sau khi thành lập Liên Hợp quốc năm 1945, các điều ước quốc tế đã ghi nhận các quyền con người trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người 1948 (sau đây viết tắt là UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân
sự, chính trị, 1966 (sau đây viết tắt là ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội, 1966 (sau đây viết tắt là ICESCR), v.v được gọi chung là Luật quốc tế về quyền con người Năm 1977, Karel Vasak đưa ra
ý tưởng về ba “thế hệ quyền con người” trên cơ sở phân loại các nhóm quyền,
cụ thể:
Thế hệ thứ nhất, các quyền dân sự, chính trị, bao gồm các quyền và tự
do cá nhân về phương diện dân sự và chính trị mà tiêu biểu như quyền sống, quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo tín ngưỡng, tự do biểu đạt, quyền được
Trang 7bầu cử, ứng cử, quyền được xét xử công bằng Những văn kiện pháp lý quốc
tế tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là UDHR và ICCPR
Thế hệ thứ hai, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, bao gồm các quyền
có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở, quyền giáo dục, quyền được đảm bảo mức sống phù hợp, quyền công đoàn, v.v Văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu nhất đề cập đến thế hệ quyền này là ICESCR
Thế hệ thứ ba, các quyền tập thể, bao gồm các quyền tập thể, tiêu biểu
như quyền tự quyết dân tộc; quyền phát triển; quyền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên; quyền được sống trong hoà bình; quyền được sống trong môi trường trong lành, v.v Danh mục các quyền thuộc thế hệ quyền này vẫn đang được bổ sung, trong đó những quyền được đề cập gần đây bao gồm: quyền được thông tin và các quyền về thông tin; quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa Những văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu hiện nay đề cập đến thế hệ quyền này là Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa 1960; Hai công ước cơ bản về quyền con người năm 1966 là ICCPR (Điều 1), ICESCR (Điều 1); Tuyên bố về quyền của các dân tộc được sống trong hoà bình 1984; Tuyên bố về quyền phát triển 1986, v.v
Đa số các quyền trong ba thế hệ quyền con người đã được pháp điển bằng các điều ước quốc tế và nội luật hóa trong luật quốc gia, trong đó có Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 (sau đây viết tắt là Luật TNBTCNN 2017)
Chương 2 Quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 bảo đảm
thực hiện một số quyền con người về kinh tế, văn hóa, xã hội
2.1 Về quyền bình đẳng:
Điều 7 UDHR quy định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị” và Điều 3 ICCPR quy
Trang 8định các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và
nữ đối với mọi quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà Công ước quy định Xuyên suốt các quy định của Luật TNBTCNN 2017 đều quy định người bị thiệt hại, không phân biệt nam nữ hay giới tính, kể cả người thành niên hay chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, v.v đều có quyền được yêu cầu bồi thường và được giải quyết yêu cầu bồi thường miễn sao đáp ứng đủ các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Điều 7 Luật TNBTCNN 2017 Quy định này cũng được hiểu là không chỉ công dân của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới được bồi thường mà còn được áp dụng đối với người nước ngoài Theo đó, các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bao gồm: (i) có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật; (ii) có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại
2.2 Về quyền sở hữu tài sản:
Điều 17 UDHR quy định “mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hoặc tài sản sở hữu chung với người khác Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tuỳ tiện” Bên cạnh đó, Điều 2 ICESCR quy định “mỗi quốc gia thành viên Công ước này cam kết sẽ tiến hành các biện pháp, một cách riêng rẽ và thông qua sự hợp tác giúp đỡ quốc tế, đặc biệt là các biện pháp kinh tế và kỹ thuật, sử dụng tới mức tối đa các tài nguyên sẵn có của mình, nhằm đạt được việc bảo đảm ngày càng đầy đủ các quyền được thừa nhận trong Công ước này bằng mọi biện pháp thích hợp, đặc biệt kể cả việc thông qua những biện pháp lập pháp Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm rằng các quyền được nêu trong Công ước này sẽ được thực hiện không có bất
Trang 9kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc
xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác Các quốc gia đang phát triển có thể quyết định mức độ đảm bảo các quyền kinh tế mà đã được ghi nhận trong Công ước này cho những người không phải là công dân của
họ, có xem xét thích đáng đến các quyền con người và nền kinh tế quốc dân của mình” Như vậy, khác so với yêu cầu đặt ra đối với Nhà nước trong
ICCPR, đối với các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, yêu cầu Nhà nước căn cứ vào biện pháp kinh tế và kỹ thuật, các tài nguyên sẵn có của mìnhbảo đảm ngày càng đầy đủ các quyền - nói cách khác việc bảo đảm thực hiện quyền này có lộ trình (trong khi đó, để thực hiện các quyền dân sự, chính trị, yêu cầu Nhà nước phải thực hiện ngay thông qua các biện pháp lập pháp hoặc các biện pháp khác)
Để ghi nhận quyền sở hữu tài sản trong lĩnh vực bồi thường nhà nước, Nhà nước đã ghi nhận trách nhiệm trong việc trả lại tài sản cho người bị thiệt hại Cụ thể, khoản 1 Điều 30 Luật TNBTCNN 2017 quy định tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu trái pháp luật phải được trả lại ngay khi quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị hủy bỏ Và đặc biệt, so với pháp luật
về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật TNBTCNN 2017 đã bổ sung nhiều loại thiệt hại được bồi thường, tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với một số trường hợp, lương hóa một số loại thiệt hại về vật chất, ví
dụ, Điều 23 Luật quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm Theo đó, trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật TNBTCNN 2017 Thời điểm
để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra Trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là
Trang 10chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật TNBTCNN 2017 để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; v.v
Ngoài ra, Luật không chỉ để bảo đảm quyền và lợi ích cho đối tượng hại là cá nhân, mà còn quy định về việc bồi thường thiệt hại đối với tổ chức, được thể hiện tại Điều 2 về đối tượng được bồi thường Theo đó, người bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Luật TNBTCNN 2017
2.3 Về quyền được trả lương:
Khoản 2 Điều 23 UDHR quy định “Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác”; điểm i khoản 1 Điều 7 ICESCR quy định
“tiền lương thoả đáng và tiền công bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào được trả công ngang nhau đối với những công việc giống nhau” Người bị thiệt hại đáng lẽ làm việc để bảo
đảm cuộc sống cho bản thân và gia đình, tuy nhiên, vì hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mà cản trở người bị thiệt hại thực hiện quyền làm việc và được trả lương của mình, tương tự đối với tổ chức, vì hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mà ảnh hưởng đến thu nhập doanh nghiệp Vì vậy, Điều 24 Luật TNBTCNN 2017 quy định cụ thể trường hợp thu nhập thực tế của người bị thiệt hại là cá nhân và thu nhập thực tế của người bị thiệt hại là tổ chức
Đồng thời, để bảo đảm nguyên tắc “trả lương tương xứng và công bằng” như đã được đề cập trong khoản 2 Điều 23 UDHR, khoản 1 Điều 24
Luật TNBTCNN 2017 đã phân loại các trường hợp có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công; thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công và thu