Với mong muốn góp phần vào công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng chứng từ, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu đề tài :" Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ", qua đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các bên, giảm thiểu rủi ro trong phương thức thanh toán này
Trang 1TR ƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG I H C NGO I TH ỌC NGOẠI THƯƠNG ẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ƯƠNG NG KHOA QU N TR KINH DOANH ẢN TRỊ KINH DOANH Ị KINH DOANH
KHOA T I CH NH NG N H NG ÀI CHÍNH NGÂN HÀNG ÍNH NGÂN HÀNG ÂN HÀNG ÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
B MÔN T I CH NH QU C T Ộ MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ ÀI CHÍNH NGÂN HÀNG ÍNH NGÂN HÀNG ỐC TẾ Ế MÔN THANH TO N QU C TÊ ÁN QUỐC TÊ ỐC TẾ
C C LO I R I RO TRONG THANH TO N QU C T ÁN QUỐC TÊ ẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ ÁN QUỐC TÊ ỐC TẾ Ế THEO PH ƯƠNG NG TH C T N D NG CH NG T ỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ ÍNH NGÂN HÀNG ỤNG CHỨNG TỪ ỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Ừ
Giáo viên h ướng ng
d n: ẫn: Nguy n Th Thanh Ph ễn Thị Thanh Phương ị Thanh Phương ương ng Sinh viên th c hi n: ực hiện: ện: 06 Lê Hùng C – Lê Hùng Cường ường ng
11 V Qu nh Giao – Lê Hùng Cường ũ Quỳnh Giao ỳnh Giao
12 o n Th Thu H – Lê Hùng Cường Đ àn Thị Thu Hương ị Thanh Phương ương ng
17 – Lê Hùng Cường Đặng Trung Kiên ng Trung Kiên
18 Nguy n Tùng Lâm – Lê Hùng Cường ễn Thị Thanh Phương
20 Ph m Th Ng c L – Lê Hùng Cường ạm Thị Ngọc Lương ị Thanh Phương ọc Lương ương ng
25 Ph – Lê Hùng Cường ương ng Qu nh Nga ỳnh Giao
30 Lê Thanh Ph – Lê Hùng Cường ượng ng
32 Lê Huy Quy t – Lê Hùng Cường ết
37 V Th Thu Trang – Lê Hùng Cường ũ Quỳnh Giao ị Thanh Phương
H N i, tháng 10 n m 2008 àn Thị Thu Hương ội, tháng 10 năm 2008 ăm 2008
M c l c ục lục ục lục
Lời mở đầu 1
Phần I Khái quát về TTQT và phương thức thanh toán TDCT 2
1 TTQT và các phương thức TTQT chủ yếu 2
1.1 Khái niệm TTQT 2
1.2 Vai trò của TTQT 2
Trang 21.3 Các phương thức TTQT chủ yếu 3
2 Phương thức thanh toán TDCT 4
2.1 Khái niệm 4
2.2 Quy trình nghiệp vụ 5
2.3 Ý nghĩa 6
Phần II Các loại rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT 8
1 Khái niệm 8
2 Phân loại 8
2.1 Rủi ro kỹ thuật 8
2.1.1 Rủi ro đối với người bán 8
2.1.2 Rủi ro đối với người mua 10
2.1.3 Rủi ro đối với ngân hàng 11
2.2 Rủi ro chính trị 12
2.3 Rủi ro ngoại hối 13
2.4 Rủi ro đạo đức 14
2.5 Rủi ro khác 16
3 Nguyên nhân 17
3.1 Đối với rủi ro kỹ thuật 17
3.2 Đối với rủi ro chính trị 17
3.3 Đối với rủi ro ngoại hối 18
3.4 Đối với rủi ro đạo đức 18
Phần III Một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro 19
1 Kiến nghị đối với Nhà nước 19
2 Kiến nghị đối với các đơn vị kinh doanh XNK 21
3 Kiến nghị đối với các Ngân hàng thương mại 23
3.1 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định khách hàng 23
3.2 Xây dựng đội ngũ chuyên viên và đạo đức nghề nghiệp 24
3.3 Thành lập bộ phận quản lý và phòng ngừa rủi ro 25
3.4 Đẩy mạnh công tác tư vấn cho khách hàng 25
3.5 Tiếp tục đổi mới công nghệ ngân hàng 27
4 Kiến nghị cụ thể về nghiệp vụ 28
Kết luận 31
Tài liệu tham khảo 32
LỜI NÓI ĐẦU
Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao lưu đầy triển vọng Lịch sử đã chứng minh rằng không một quốc gia nào có thể phát triển trong
sự tách biệt với thế giới bên ngoài, các nước đang xích lại gần nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế Vượt qua không gian và thời gian, những luồng chu
Trang 3chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết bền vững giữa cung và cầu ởnhững nước có trình độ kinh tế khác nhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạngkéo theo sự phức tạp ngày càng lớn trong mắt xích cuối cùng của quá trình trao đổi,thanh toán quốc tế Được xem là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển củathương mại quốc tế, hoạt động thanh toán quốc tế đã không ngừng được đổi mới vàhoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu an toàn, thuận tiện và nhanh chóng của các giao dịchthương mại.
Cùng với xu hướng hội nhập ngày càng tăng, các mối giao lưu thương mại cũngngày càng được mở rộng Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thương mại phải phát triểncác dịch vụ kinh tế đối ngoại một cách tương ứng, trong đó không thể không kể đếnhoạt động thanh toán quốc tế với nhiều phương thức thanh toán đa dạng và phong phú.Trong các phương thức thanh toán này, tín dụng chứng từ là phương thức thanh toánđược sử dụng phổ biến nhất do những ưu việt của nó Song tín dụng chứng từ khôngphải là nghiệp vụ đơn giản, trong thực tế công tác này đã gặp phải không ít những rủi
ro gây thiệt hại cả về tài chính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại cũng như cácdoanh nghiệp Việt Nam
Thực trạng trên cho thấy việc phát hiện, phòng ngừa những rủi ro trong thanhtoán quốc tế đặc biệt là thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ là một việclàm cần thiết mà các Ngân hàng Thương mại cũng như các doanh nghiệp Việt Namphải quan tâm chú trọng
Với mong muốn góp phần vào công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng chứng từ,
chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu đề tài :" Các loại rủi ro trong thanh toán quốc tế
theo phương thức tín dụng chứng từ", qua đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của các bên, giảm thiểu rủi ro trong phương thức thanh toán này
Phần I:
Khái quát về thanh toán quốc tế và
phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1 Thanh toán quốc tế và các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
Trang 41.1 Khái niệm thanh toán quốc tế (TTQT)
Dưới giác độ kinh tế, TTQT là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện thanh toánquốc tế trong quan hệ thanh toán giữa các nước Trong quan hệ đó, các vấn đề có liênquan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện đượcquy định lại thành những điều kiện gọi là các điều kiện thanh toán quốc tế sau:
- Điều kiện về tiền tệ
- Điều kiện về địa điểm
- Điều kiện về thời gian
- Điều kiện về phương thức thanh toán
- Điều kiện về đảm bảo hối đoái
Những điều kiện này được thể hiện trong các điều khoản thanh toán của hiệp địnhtrả tiền ký kết giữa các nước, các hiệp định thương mại, các hợp đồng mua bán ngoạithương ký kết giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu
1.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT) ngày càng có vị trí quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đangtiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước Thông qua hoạt động TTQT, chúng ta có thểtận dụng được vốn, công nghệ nước ngoài để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế đất nước hoà nhập với nềnkinh tế khu vực và trên thế giới
Hoạt động TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hoádịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau Hoạt động TTQT củacác ngân hàng ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng, nó là công cụ, là cấu nối trongquan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới Hoạt động TTQT giúp cho doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiệnhợp đồng xuất nhập khẩu Do vị trí địa lý của các bạn hàng thường cách xa nhau làmhạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng của người mua, của bên nợ Đồngthời trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay, tình trạng lừa đảo ngày càng
Trang 5tăng nên rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu ngày càng nhiều Tổchức tốt hoạt động TTQT sẽ giúp các nhà xuất khẩu hạn chế được rủi ro trong quátrình kinh doanh quốc tế, nhờ đó sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển Đối với ngân hàng thương mại, việc mở rộng hoạt động TTQT có vị trí và vai tròhết sức quan trọng Đây không chỉ là một dịch vụ thuần tuý mà còn được coi là mộtnghiệp vụ không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bổ sung và
hỗ trợ cho các hoạt động khác phát triển Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng thu hútthêm khách hàng có nhu cầu giao dịch kinh doanh quốc tế, trên cơ sở đó ngân hàngphát triển được các nghiệp vụ như huy động vốn ngoại tệ, đẩy mạnh hoạt động tíndụng tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ khác, nhờ đó quy mô hoạt động của ngânhàng ngày càng lớn Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh đối ngoại giúp cho ngân hàngnâng cao uy tín và ngày một tạo niềm tin vững chắc cho ngân hàng
Tóm lại, trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt và trong xu thế toàn cầu hoánhư hiện nay, hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò hết sức quan trọng trong việcgóp phần tăng thu nhập, uy tín và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng
1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu:
Phương thức TTQT là việc tổ chức quá trình trả tiền hàng trong giao dịch muabán ngoại thương giưã người xuất khẩu và người nhập khẩu Thực chất phương thứcthanh toán là cách thức người bán thu tiền còn người mua trả tiền
Trong buôn bán Quốc tế có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán khácnhau Tuy vậy, việc lựa chọn các phương thức đều phải xuất phát từ nhu cầu của ngườibán, thu tiền nhanh, đầy đủ và từ yêu cầu của người mua là nhập hàng đúng số lượng,chất lượng và đúng thời hạn đã ghi trong hợp đồng
Trong ngoại thương có 5 phương thức thanh toán sau thường được áp dụng baogồm:
- Phương thức thanh toán bằng tiền mặt (Cash Payment)
+ CIA: cash in advance
+ CBD: Cash before delivery
+ COD: Cash on delivery
+ CAD: Cash against document
Trang 6- Phương thức chuyển tiền ( Remittance )
- Phương thức ghi sổ ( Open account )
- Phương thức nhờ thu ( Collection of payment )
+ Nhờ thu phiếu trơn ( clean collection )
+ Nhờ thu kèm chứng từ ( documentary collection )
- Phương thức tín dụng chứng từ ( Documentary credit )
Hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được áp dụng phổ biếnnhất trong TTQT
2 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:
Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:
- Người yêu cầu mở thư tín dụng là Người nhập khẩu hoặc là người nhập khẩu ủythác cho một người khác
- Ngân hàng phát hành thư tín dụng là Ngân hàng của người nhập khẩu, nó cấptín dụng cho người nhập khẩu
- Người hưởng lợi thư tín dụng là người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác màNgười hưởng lợi chỉ định
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành
ở nước người hưởng lợi
2.2 Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:
(2) (5) (6)
6
Ngân hàng mở L/
CNgười nhập khẩu
Ngân hàng thôngbáo L/CNgười xuất khẩu
Trang 7(3) Ngân hàng thông báo L/C cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung L/C
(4) Nếu người xuất khẩu chấp nhận L/C sẽ giao hàng cho người nhập khẩu nếu khôngthì yêu cầu sửa đổi bổ sung cho phù hợp
(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuấttrình tới ngân hàng thông báo để qua đó xin ngân hàng mở L/C thanh toán
(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra toàn bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì sẽ trảtiền cho người xuất khẩu, nếu không thấy phù hợp sẽ từ chối thanh toán và gửi lạichứng từ cho người xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển toàn bộ chứng từ chongười nhập khẩu nếu người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
2.3 Ý nghĩa của phương thức tín dụng chứng từ
Trong giao dịch thương mại quốc tế hiện đại, các bên đối tác mua bán thường lựachọn Tín dụng chứng từ làm phương thức thanh toán Sở dĩ tín dụng chứng từ được ưachuộng và sử dụng phổ biến như vậy là do nó có những đặc điểm nổi bật so với cácphương thức thanh toán khác Nếu như phương thức chuyển tiền, nhờ thu gây bất lợicho một bên người mua hoặc một bên người bán, cũng có khi là cả hai bên thì phươngthức thanh toán Tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn, nó không những mang lại một sốquyền lợi nhất định cho Ngân hàng mà nó còn đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên thamgia xuất nhập khẩu: Người bán đảm bảo được thanh toán nếu xuất trình được bộ chứng
từ hoàn chỉnh, hợp lệ, còn người mua cũng đảm bảo nhận được hàng đúng thời hạn,
Trang 8đúng như quy định trong hợp đồng Cụ thể, sử dụng phương thức thanh toán tín dụngchứng từ có những ý nghĩa nhất định như sau:
* Đối với nhà xuất khẩu
Là người hưởng lợi của thư tín dụng, nhà xuất khẩu có được đảm bảo rằng khixuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của thư tín dụng (L/C)cho ngân hàng, nhà xuất khẩu sẽ nhận được tiền thanh toán
Tình trạng tài chính của người mua được thay thế bằng việc ngân hàng mở thưtín dụng cam kết trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu trên cơ sở chứng từ được trao phùhợp với các điều khoản của L/C
* Đối với nhà nhập khẩu
Trước hết, nhà nhập khẩu sẽ nhận được hàng hoá như thể hiện trong các chứng từđược ngân hàng mở L/C ghi rõ trong thư tín dụng Anh ta cũng được bảo đảm rằng tàikhoản của mình sẽ chỉ bị ghi nợ số tiền của thư tín dụng khi tất cả các chỉ thị của thưtín dụng được thực hiện đúng
Trong trường hợp ngân hàng áp dụng mức miễn ký quỹ 100% hoặc một tỷ lệmiễn ký quỹ nhất định nào đó, nhà nhập khẩu sẽ không bị đọng vốn vì không phải ứngtrước tiền Hơn nữa, nhờ có sự bảo đảm về thanh toán, nhà nhập khẩu có thể tiến hànhthương lượng các điều kiện tốt hơn về hàng hóa như giá cả, chất lượng và trên hết là
có thêm cơ hội để nhập được hàng hoá mà mình cần
* Đối với ngân hàng thương mại (NHTM)
Có thể nói, thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ là một loại hình dịch
vụ không thể thiếu của ngân hàng phục vụ cho người nhập khẩu nên khi hoạt độngthanh toán đạt hiệu quả cao sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngân hàng với một mức rủi
ro tương đối thấp
Khi tiến hành nghiệp vụ thanh toán L/C, ngân hàng có được một nguồn thu ổnđịnh từ việc thu phí như phí mở, sửa đổi, điều chỉnh L/C, phí thông báo, thanh toán,xác nhận L/C (các khoản phí trong nghiệp vụ thanh toán L/C nói chung khá cao, caohơn so với những phương thức thanh toán khác vì nghiệp vụ này tương đối phức tạp,đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao) Ngoài ra khi quy định các khoản ký quỹ cho doanhnghiệp mở L/C ngân hàng còn huy động thêm được một lượng vốn đáng kể phục vụ
Trang 9cho hoạt động của các nghiệp vụ khác như cho vay xuất nhập khẩu, xác nhận, bảolãnh Hơn nữa, với việc thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán L/C sẽ góp phần nâng cao
uy tín của ngân hàng trên nhiều phương diện khác nhau không chỉ ở trong nước màngay cả trên trường quốc tế
Trong thanh toán L/C, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của một hoặc các bên tham gia
bị vi phạm, rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ không được
Trang 10thanh toán mà còn phải được hiểu theo nghĩa rộng của nó là bất kỳ một sự khúc mắc,chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán
Rủi ro trong thanh toán bằng L/C có thể xảy ra đối với tất cả các bên: đối vớingười bán, đối với người mua và đối với các ngân hàng
2 Phân loại:
Trong thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức TDCT, có rất nhiều rủi ro cóthể xảy ra cho các bên tham gia vào quy trình này, tổng kết lại gồm 4 loại rủi ro chính:Rủi ro kỹ thuật, rủi ro chính trị, rủi ro hối đoái và rủi ro đạo đức
2.1 Rủi ro kỹ thuật
Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quytrình thanh toán XNK, như sự sai khác giữa bộ chứng từ thanh toán với hợp đồng hoặcL/C hay việc thực hiện sai một khâu trong quy trình nghiệp vụ thanh toán
2.1.1 Rủi ro đối với người bán
Trong thanh toán xuất nhập khẩu người bán có trách nhiệm chuẩn bị hàng, giaohàng và lập bộ chứng từ nhận hàng cho người mua Khi ngân hàng là trung gian thanhtoán giữa người bán và người mua thì ngân hàng chỉ làm việc với bộ chứng từ màngười bán lập ra
Rủi ro trong việc lập chứng từ gửi hàng:
Tại các ngân hàng, hầu hết các bộ chứng từ gửi tới thanh toán hàng xuất khẩu đềumắc phải những sai sót đơn giản (như sai chính tả, tên, địa chỉ, số lượng, ) đến nhữngsai sót lớn hơn như không thống nhất với nhau, hối phiếu ghi sai người ký phát, bộchứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng: ví dụ : tại ngân hàng VCB, khi giao dịchL/C số 018012396 ILC 0023, công ty may Hưng Yên là người hưởng lợi đáng lẽ phải
ký phát cho Keore Exchange Bank, Seoul thì lại ký phát cho người yêu cầu mở làNational Sundrives Import and Export Coporation Hoặc thậm chí, người xuất khẩucòn lập hoá đơn thương mại với số tiền vượt quá số tiền của thư tín dụng Nếu đã vượt
ra ngoài dung sai cho phép thì ngân hàng mở sẽ từ chối trả tiền Trong trường hợp nàyphải lập hai bộ chứng từ thanh toán: một bộ hối phiếu đòi tiền ngân hàng mở thư tíndụng, một bộ hối phiếu đòi tiền người mua với số tiền vượt quá số tiền của thư tín
Trang 11dụng cùng với một uỷ thác nhờ thu ngân hàng thu hộ tiền Trên tờ hối phiếu nhờ thunày, người bán phải ghi câu: “Số tiền vượt quá chuyển sang nhờ thu”.
Như ta đã biết, nếu như bộ chứng từ không phù hợp thì việc thanh toán không thểthực hiện được Bộ chứng từ là cơ sở để người mua giảm giá, từ chối nhận hàng, kéodài thời gian thanh toán hay không thanh toán tiền hàng và đặc biệt khi bộ chứng từkhông phù hợp với L/C thì Ngân hàng sẽ từ chối thanh toán Do vậy, thời gian thanhtoán luôn bị kéo dài do chứng từ phải sửa đi sửa lại Thậm chí những lỗi không sửađược phải đợi sự đồng ý của bên mua Thường thì các đơn vị xuất khẩu của ta rất eohẹp về vốn và vì vậy họ thường chọn thanh toán L/C trả ngay Nhưng nhiều khi do bộchứng từ có sai sót và phải chờ nhà nhập khẩu chấp nhận, đơn vị mới nhận được tiền
Và như vậy, nhà xuất khẩu sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu tăng vòng quay củavốn Hơn nữa họ còn bị phạt vì sai sót chứng từ Rủi ro này là một trở ngại lớn đối vớingười bán
Các sai lầm khi tiến hành giao hàng: việc thực hiện không đúng, sai sót khigiao hàng, hàng hoá giao không đúng quy định về chất lượng, chủng loại, thời hạn…giao hàng, xuất trình chứng từ muộn, chọn sai cảng bốc dỡ, sai hãng vận tải…
Trong khi ký hợp đồng, người bán hàng nếu không có trình độ nghiệp vụ ngoạithương thì dễ chấp nhận các điều kiện hợp đồng thương mại bất lợi để rồi sau đókhông thực hiện được làm cho đối tác có cơ sở để kéo dài thời gian thanh toán, giảmgiá hoặc từ chối thanh toán, khiến cho quá trình thanh toán gặp nhiều khó khăn Đây làrủi ro thường gặp nhất là ở các đơn vị mới tham gia vào hoạt động xuất khẩu
Rủi ro do chưa nắm bắt được các thủ tục tố tụng, khi quá trình thanh toán cókhúc mắc xảy ra thì người bán không khiếu nại kịp thời, đúng chỗ mà chỉ biết khiếunại ngân hàng dẫn đến người bán bị kéo dài thời hạn thanh toán Ví dụ như khiếu nại
về việc chậm thanh toán của người mua khi đã nhận chứng từ và nhận đủ hàng
2.1.2 Rủi ro đối với người mua
Thứ nhất là rủi ro trong việc làm đơn yêu cầu mở L/C không cụ thể và đầy đủdẫn đến việc người bán có thể lợi dụng các sơ hở trong L/C để cung cấp hàng hóakhông đúng như mong muốn của người mua
Thứ 2 là rủi ro trong việc chấp nhận chứng từ do người bán lập ra để thanhtoán: khi chứng từ xuất trình hoàn toàn không đúng với tình trạng của hàng hoá thì saukhi thanh toán người mua sẽ nhận được số hàng không đúng yêu cầu có thể là cả về
Trang 12chất lượng cũng như số lượng và làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh đặc biệt làlàm mất uy tín trong kinh doanh của người mua Mặt khác chứng từ còn là cơ sở pháp
lý đầu tiên của hàng hoá, nếu người mua hàng không xem xét kỹ lưỡng từ lỗi câu chữđến số lượng các loại chứng từ cũng như người cấp giấy chứng nhận…thì sẽ khó khăntrong việc khiếu kiện khi có rủi ro về hàng hoá
Thứ ba là rủi ro do chưa nắm bắt được các thủ tục tố tụng, khi quá trình giaohàng có khúc mắc xảy ra thì người mua không khiếu nại kịp thời, đúng chỗ dẫn đếnngười mua bị lỡ cơ hội kinh doanh hay bị đọng vốn Ví dụ như người bán giao hàngkhông đúng quy định, khiếu nại về việc giao hàng không đúng quy định của kháchhàng nước ngoài, khiếu nại việc mất mát tổn thất lớn với hãng vận tải và bảo hiểm…
Ba loại rủi ro nêu trên đều là rủi ro liên quan đến kinh nghiệm và trình độ nghiệp
vụ của các cán bộ trong đơn vị mua hàng: theo một số báo cáo thống kê, có hơn 40%cán bộ thuộc các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia hoạt động xuất nhập khẩu nhưngchưa qua đào tạo về nghiệp vụ ngoại thương Do sự yếu kém trong nghiệp vụ ngoạithương của các đơn vị XNK, vì vậy họ đã sai sót trong việc lựa chọn đối tác; khôngtìm hiểu kỹ, không nắm vững khả năng của bên bán dẫn đến khi không nhận đượchàng hoặc nhận được hàng không đúng theo hợp đồng vv thì kế hoạch kinh doanh bịphá vỡ
2.1.3 Rủi ro đối với Ngân hàng
Rủi ro kỹ thuật xuất hiện ở các khâu trong quy trình thanh toán, xảy ra khi ngânhàng tuân thủ không đúng theo quy định của luật pháp và các quy tắc được áp dụng.Ngân hàng thường gặp phải một số rủi ro về kỹ thuật sau:
Do công tác quản lý và kỹ thuật nghiệp vụ của ngân hàng: Nghiệp vụ TTQT làmột nghiệp vụ không hề đơn giản, hơn nữa, sự xuất hiện của nhiều thủ đoạn lừa đảomới rất tinh vi trong TTQT đã làm cho nghiệp vụ này càng trở nên phức tạp, nhiều rủi
ro Chính vì vậy, các cán bộ nghiệp vụ của ta ở một số chi nhánh do chưa có kinhnghiệm, chưa được đào tạo sâu, chưa nắm bắt kịp thời kỹ thuật nghiệp vụ nên đã dẫnđến không ít trường hợp sơ suất trong quá trình thực hiện thanh toán, gây ra thiệt hạilớn cho khách hàng và ngân hàng
Do sai sót trong quan hệ với khách hàng trong nước: Việc thu nhập, phân tíchthông tin, đánh giá tình hình hoạt động trong kinh doanh của các doanh nghiệp còn
Trang 13chưa được đầy đủ và chặt chẽ Có khách hàng có hiện tượng vi phạm cam kết về tàichính với ngân hàng nhưng vẫn được bảo lãnh, hay có những khách hàng làm ăn phạmpháp song ngân hàng cũng không tìm hiểu kỹ và kết quả là khi doanh nghiệp rơi vàovòng tố tụng thì ngân hàng phải chịu hết rủi ro Trong trường hợp này, nếu ngân hàngđứng ra trả tiền thay cho các doanh nghiệp đó thì rủi ro rất cao bởi vì khả năng thu hồitiền là rất mong manh Nhưng theo quy định của L/C thì ngân hàng mở phải có tráchnhiệm trả tiền cho người bán khi người mua mất khả năng thanh toán Điển hình làtrường hợp của VCB khi cấp L/C trả chậm cho các hợp đồng của vụ án Minh Phụng,Tamexco
Các quy định về an toàn trong ký quỹ L/C, đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố, camkết của ngân hàng chưa được áp dụng chặt chẽ Thậm chí đối với các L/C thế chấpbằng chính lô hàng nhập cũng chưa có sự giám sát chặt chẽ của cán bộ ngân hàng đốivới hàng nhập về này nên khách hàng đã bán hàng và sử dụng tiền vào mục đích khác
mà ngân hàng không phát hiện ra
Hậu quả lớn nhất chính là ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng Mất mát về uy tín
là mất mát lớn nhất và sâu sắc nhất ảnh hưởng tới vị thế của ngân hàng trong lòng thịtrường
Nói tóm lại, tất cả những sai sót về mặt kỹ thuật dù từ phía nào cũng đều làm choquá trình thanh toán bị gián đoạn, kéo dài, thậm chí gây thiệt hại rất lớn cho các bên
2.2 Rủi ro chính trị
Rủi ro chính trị hay rủi ro quốc gia (Country Risk) quốc gia là những rủi ro về
sự thay đổi chính trị, kinh tế, chính sách của một quốc gia khiến cho nhà xuất khẩukhông nhận được tiền hàng và nhà nhập khẩu không nhận được hàng hoá, qua đó cóảnh hưởng không tốt tới ngân hàng
Những biến động về chính trị như: chiến tranh, nổi loạn, đảo chính và các biến
cố chính trị xã hội khác đã gây cản trở cho việc giao nhận hàng và thanh toán quangân hàng của các doanh nghiệp Những biến động này thường khiến cho các bênxuất nhập khẩu và ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình, làm cho L/C
có thể bị huỷ bỏ gây thiệt hại cho các bên
Bên cạnh đó, biến động về môi trường pháp lý cũng có những ảnh hưởng khôngnhỏ đến hoạt động của các bên tham gia phương thức thanh toán L/C và nó cũng đểlại những hậu quả đáng kể Rủi ro này xảy ra khi có sự vận dụng không thống nhất
Trang 14các nguồn luật điều chỉnh L/C ngoài UCP600 Nó thường xuất hiện khi có sự tranhchấp hoặc khiếu kiện giữa các bên
Ví dụ trường hợp một công ty nhập khẩu đến VCB xin mở một L/C cho ngườihưởng lợi nước ngoài Sau khi xem xét đơn yêu cầu mở L/C và giấy cam kết của kháchhàng, căn cứ vào tình hình tài chính, phân tích đánh giá nhu cầu thị trường, ngân hàng yêucầu doanh nghiệp ký quỹ 20% Quy định mức tiền ký quỹ này là một biện pháp để ngânhàng mở tự bảo vệ mình Khi đồng ý mở L/C cho doanh nghiệp, VCB cũng vận dụng kếthợp các thông lệ quốc tế không chỉ trong ngân hàng mà còn trong các lĩnh vực khác nhưvận tải, bảo hiểm và yêu cầu vận đơn phải được theo lệnh của ngân hàng phát hành.Theo thông lệ quốc tế về vận tải, với vận đơn đó ngân hàng sẽ được quyền nhận hànghoặc bán hàng cho khách hàng khác nếu đơn vị mở L/C không có khả năng thanh toánhoặc có nguy cơ bị phá sản Song thực tế lại diễn ra không theo như ý muốn của các bêntham gia Sau khi hàng đã giao và bộ chứng từ thanh toán đã đến ngân hàng mở - VCB,ngân hàng yêu cầu đơn vị nhập khẩu thanh toán để nhận chứng từ đi lấy hàng thì họ lạikhông có khả năng thanh toán do có nhiều hợp đồng bị thua lỗ trước đó Sau khi khôngcòn có hy vọng gì về việc người mua có thể thanh toán được tiền hàng, VCB đã phải cầmchứng từ hàng hoá đi nhận hàng của người nhập khẩu nhưng đã bị hải quan từ chối với lýdo: “ngân hàng chỉ là người bảo lãnh chứ không phải người mua nên không được nhậnhàng” Đây là mặt hàng phải có quota nhập khẩu nên ngân hàng không có đủ điều kiện đểnhận hàng hoặc bán lại cho bên thứ ba Rõ ràng ngân hàng mở trong trường hợp này đãtìm cách tự bảo vệ mình nhưng rủi ro vẫn xảy ra ngoài tầm kiểm soát Hay chẳng hạn nhưtrường hợp của một doanh nghiệp cung ứng vật liệu xây dựng ký một hợp đồng xuấtkhẩu gỗ cho một công ty của Đài Loan Sau khi hợp đồng được ký kết, Nhà nước lạiban hành quyết định tăng thuế, hạn chế xuất khẩu mặt hàng này Do đó doanh nghiệp
đã không cung cấp được đủ số lượng cho bên nước ngoài theo đúng thời hạn Bên ĐàiLoan đã căn cứ vào đó để phạt thanh toán chậm 20 ngày, gây thiệt hại về tài chính chodoanh nghiệp Cùng với mất mát tài chính của đơn vị xuất khẩu, uy tín của VCB với tưcách là ngân hàng thông báo cũng bị ảnh hưởng
2.3 Rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là những rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằngđồng tiền nước ngoài Do vậy nó phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là tỷ giá hối đoái vàtrạng thái ngoại hối về loại ngoại tệ đó của ngân hàng
Trang 15 Thứ nhất là vấn đề tỷ giá hối đoái: đây là một yếu tố nhạy cảm và sự biếnđộng của nó là không thể lường trước được, nó có ảnh hưởng rất lớn đến các quyếtđịnh của doanh nghiệp Khi kí hợp đồng mua hàng, nhà nhập khẩu không thể lườngtrước được mức độ trượt giá đồng nội tệ so với ngoại tệ mạnh Khi hàng nhập về, tỷgiá trượt mạnh, đối với những mặt hàng giá bán cạnh tranh không thể tăng giá được,nhà nhập khẩu có thể từ chối nhận hàng vì sợ bị lỗ và vì cũng không có đủ khả năngthanh toán, khi đó thì rủi ro tất yếu sẽ xảy ra đối với ngân hàng thương mại
Bản thân ngân hàng đã có những biện pháp để tự phòng ngừa những ảnh hưởngcủa sự biến động tỷ giá hối đoái một cách có hiệu quả Tuy nhiên trong một số trườnghợp, do sơ suất ngân hàng đã phải chịu một số thiệt hại do sự biến động của tỷ giá hốiđoái gây nên Ví dụ: Trong thực tế ở nước ta, một số doanh nghiệp nhập khẩu thườngkhông sẵn có ngoại tệ hoặc nếu có thì số lượng không đáng Do đó khi cần ngoại tệ, họ
sẽ chuyển nội tệ vào ngân hàng và yêu cầu ngân hàng bán ngoại tệ cho mình để thanhtoán Khi có yêu cầu mở L/C thanh toán ngân hàng sẽ thu tiền ký quỹ đối với nhà nhậpkhẩu Do trong TTQT ngoại tệ mạnh thường được sử dụng nên ngân hàng mở sẽ phảidùng số tiền đó để mua ngoại tệ Số tiền ký quỹ mà doanh nghiệp nộp vào ngân hàng
đã được tính ra ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái tại thời điểm đó Nếu vì một lý do nào đóngân hàng không thực hiện ngay việc trao đổi lấy ngoại tệ tại thời điểm đó mà lùi lạimột thời gian, giả sử khi đó đồng nội tệ giảm giá và ngân hàng không lường trướcđược điều này, ngân hàng sẽ phải mất thêm một khoản tiền để bù vào mức giảm đó khimua ngoại tệ Kết quả là ngân hàng sẽ bị mất một khoản tiền do sự biến động của tỷgiá hối đoái
Bên cạnh đó, nếu trạng thái ngoại hối của ngân hàng không tốt, một mặt ngânhàng sẽ không đáp ứng được nhu cầu mua ngoại tệ của khách hàng, mặt khác bản thânngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn trong quá trình thanh toán cho ngân hàng Thiệt hạixảy ra có thể về mặt tài chính vì ngân hàng phải đi vay ngoại tệ của ngân hàng khác,nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng trong hoạt động thanh toánnói riêng, hoạt động ngân hàng nói chung
Cụ thể là trường hợp xảy ra đối với Petrolimex Hà Nội Trong quá trình thanhtoán, VCB đã cố gắng cung cấp ngoại tệ để thanh toán các L/C đến hạn Tuy nhiên cómột vài trường hợp khi đến hạn thanh toán, ngân hàng đã không thể thanh toán đượcnhư kế hoạch vì khi đó Petrolimex Hà Nội không kịp chuẩn bị tiền VND hoặc ngân
Trang 16hàng chưa có đủ ngoại tệ để bán Kết quả chúng ta đã bị ngân hàng nước ngoài phạt.Petrolimex Hà Nội khi đó không những không quan tâm mà còn đổ lỗi cho ngân hàng
vì không chuẩn bị đủ ngoại tệ để bán cho họ Như vậy, Vietcombank vừa bị mangtiếng với ngân hàng nước ngoài vừa có trục trặc trong quan hệ với khách hàng
2.4 Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là những rủi ro xảy ra khi một bên tham gia phương thức L/C cốtình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại đến quyền lợi của một bênhoặc các bên còn lại
Trong phương thức thanh toán L/C, dù quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên thamgia được quy định rõ ràng Song không phải lúc nào những nguyên tắc đó cũng đượctôn trọng
Rủi ro đạo đức có thể xảy ra khi:
Người xuất khẩu có nghĩa vụ phải giao hàng đúng theo hợp đồng, theo đúng L/
C nhưng anh ta không giao hàng hoặc giao hàng không đúng, không đủ nhưng lại xuấttrình được bộ chứng từ hoàn hảo Cũng có thể người bán không giao hàng vì muốntăng giá, dẫn đến làm chậm trễ việc giao hàng Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đếnngười mua và đồng thời cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến ngân hàng Nếu người muagặp rủi ro thì khả năng anh ta thanh toán lại tiền cho ngân hàng là rất khó Do đó ngânhàng có thể sẽ bị chậm trễ trong việc thu hồi tiền từ người mua, thậm chí nghiêm trọnghơn là sẽ không được người mua thanh toán
Người nhập khẩu có nghĩa vụ trả tiền cho ngân hàng mở L/C nhưng anh ta có thể
cố tình trì hoãn hoặc từ chối thanh toán, từ chối nhận hàng bằng những thủ đoạnnghiệp vụ bắt lỗi sai sót chứng từ hoặc phát hành thư tín dụng giả mạo bởi một ngânhàng “ma”
Người bán giao hàng cho nhà chuyên chở, nhưng bị họ lừa đảo nhận hàng, lấytiền cước rồi biến mất, hoặc có tìm thấy tàu nhưng hàng thì không còn Trong trườnghợp này, nếu nhà xuất khẩu vẫn xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ thì ngân hàng pháthành vẫn buộc phải thanh toán, nhưng thực tế thì nhà nhập khẩu lại không nhận đượchàng nên họ sẽ từ chối thanh toán, khi đó rủi ro xảy ra đối với ngân hàng thanh toán(ngân hàng mở L/C) là điều chắc chắn