1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

V i lê nin phát triển phép biện chứng duy vật trong bút ký triết học

124 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 591,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ăngghen xây dựng là sự kế thừa và phát triển những tinh hoa tư tưởng biện chứng của các nhà triết học trước đó, nó đã vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên

Trang 1

KHOA TRIẾT HỌC -W œX -

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

V.I LÊNIN PHÁT TRIỂN PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG “ BÚT KÝ TRIẾT HỌC”

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

KHOA TRIẾT HỌC -W œX -

NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG

V.I LÊNIN PHÁT TRIỂN PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG “ BÚT KÝ TRIẾT HỌC”

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn: TS PHẠM NGỌC MINH

TP HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 3

Tôi là Nguyễn Thị Hương Giang xin cam đoan rằng luận văn này do chính tôi thực hiện Nếu có gì sai sót, tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm

Người cam đoan

Nguyễn Thị Hương Giang

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 7

4 Cơ sở và phương pháp luận nghiên cứu của luận văn 7

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 8

6 Kết cấu của luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1 Phép biện chứng duy vật của triết học Mác 9

1.1 Phép biện chứng trước Mác 9

1.2 Phép biện chứng duy vật của Mác 33

Chương 2 V I Lênin phát triển phép biện chứng duy vật trong tác phẩm “ Bút ký triết học ” 52

2.1 Hoàn cảnh ra đời và tư tưởng cơ bản của tác phẩm “ Bút ký triết học” 52

2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm 52

2.1.2 Tư tưởng cơ bản của tác phẩm 57

2.2 V.I Lênin phát triển phép biện chứng duy vật trong tác phẩm “ Bút ký triết học” 58

2.2.1 Định nghĩa về phép biện chứng của V.I Lênin 59

2.2.2 Các yếu tố chủ yếu và hệ thống kết cấu của phép biện chứng duy vật 60 2.2.3 Nội dung cơ bản về vấn đề phép biện chứng duy vật 71

Trang 5

2.2.3.1 Hạt nhân và thực chất của phép biện chứng duy vật 71 2.2.3.2 Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lôgích học và lý luận nhận thức 81 2.2.3.3 Phép biện chứng là sự nhận thức sống động, nhiều mặt 93 2.2.3.4 Đặc trưng bản chất của phép biện chứng duy vật 98 2.3 Đóng góp của V.I Lênin vào sự phát triển tư duy khoa học của nhân loại 106

KẾT LUẬN .112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phép biện chứng duy vật là một học thuyết khoa học, là đỉnh cao của

tư duy khoa học mà loài người đã đạt được Nghiên cứu, tìm hiểu và nắm vững nội dung phép biện chứng là để nắm vững được sự vận động và phát triển của thế giới tự nhiên và xã hội loài người Như vậy, lịch sử hình thành phép biện chứng và phát triển gắn liền với sự ra đời của triết học, mà trong đó đỉnh cao của nó là phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật do C Mác và Ph Ăngghen xây dựng là sự kế thừa và phát triển những tinh hoa tư tưởng biện chứng của các nhà triết học trước đó, nó đã vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và tư duy Nó là chìa khóa giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật không những là nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo của chính đảng cách mạng

Phép biện chứng duy vật vừa là lý luận, vừa là phương pháp tư duy khoa học Lý luận của phép biện chứng duy vật là lý luận toàn diện nhất, đầy đủ và hoàn thiện nhất về sự phát triển Phương pháp tư duy khoa học mà phép biện chứng yêu cầu là phương pháp tư duy biện chứng- phương pháp tư duy thực sự khoa học và cách mạng, đối lập với phương pháp tư duy siêu hình Tính khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật được

Trang 7

C Mác và Ph Ăngghen xây dựng dựa trên nền tảng của những phát minh khoa học vĩ đại ở thế kỷ XIX Trong lời nói đầu cho lần xuất bản thứ hai tập I của bộ Tư bản, C Mác đã chỉ rõ rằng: “ Dưới dạng hợp lý của nó, phép biện chứng chỉ đem lại sự giận giữ và kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giáo điều của chúng mà thôi, vì trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng cũng bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện thời đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó,

vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả ở mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính phê phán và cách mạng” [8,t.23,tr.35-36] Với câu nói này của C Mác đã khẳng định rằng phép biện chứng luôn mang tính cách mạng Phép biện chứng duy vật đã khẳng định rằng trong thế giới này không có cái gì là tồn tại vĩnh viễn, mà tất cả mọi cái đều nằm trong quá trình sinh ra, phát triển và bị thay thế bởi cái khác Vì vậy, phép biện chứng duy vật về cơ bản là một học thuyết cách mạng

Người đã kế tục và phát triển những tư tưởng triết học của C Mác và

Ph Ăngghen nói chung, trong đó có phép biện chứng duy vật nói riêng, không ai khác đó là V.I Lênin Ông đã phát triển phép biện chứng duy vật trong một thời đại lịch sử mới- thời đại của chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản V.I Lênin không những đưa chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới về lý luận mà còn làm cho chủ nghĩa Mác trong đó có phép biện chứng duy vật có sức sống sinh động trong thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở nước Nga Vì vậy, triết học Mác- Lênin đòi hỏi chúng ta không bao giờ

Trang 8

thỏa mãn với những nguyên tắc sẵn có mà phải luôn luôn bổ sung, phát triển cho phù hợp với sự vận động và biến đổi của thế giới khách quan Bởi vậy, V.I Lênin đã từng nói rằng: Chúng ta không hề coi lý luận của chủ nghĩa Mác như là một cái gì xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phát triển hơn nữa về mọi mặt nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống Có nghĩa là ngay bây giờ tại thời điểm lịch sử còn đầy cam go về lý luận trong triết học Mác- Lênin, chúng

ta cần sáng suốt vận dụng câu nói này của V.I Lênin để tìm ra chân lý qua phép biện chứng duy vật

Lịch sử tư tưởng và thực tiễn cách mạng cho ta thấy, khi nào chúng ta nắm vững lý luận phép biện chứng, biết vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, biết lấy “ cái bất biến” ứng vào “ cái vạn biến” như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, thì khi đó vai trò, hiệu lực cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội sẽ được tăng cường Ngược lại, nếu bị rơi vào cách nghĩ, cách làm chủ quan duy ý chí, siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, gây tổn thất cho cách mạng và quá trình phát triển xã hội nói chung Vì vậy, học tập nghiên cứu sự hình thành và phát triển phép biện chứng trong lịch sử là một nhu cầu hết sức cần thiết Nắm vững được phép biện chứng duy vật, sẽ thấu suốt được những nguyên tắc phương pháp luận của nó, nắm được bức tranh toàn cảnh, hiểu được nguồn gốc ra đời, sự hình thành phát triển quá trình đấu tranh gay gắt với những tư tưởng của phép siêu hình, cũng như phép

Trang 9

biện chứng duy tâm để khẳng định vị trí to lớn của nó trong nhận thức và cải tạo thế giới

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh những điều mà chủ nghĩa Mác- Lênin đã đề cập Trước thời kỳ đổi mới đất nước, chúng ta đã mắc phải một số các sai lầm, khuyết điểm về thế giới quan cũng như phương pháp luận, đã không có cách nhìn nhận biện chứng trong cách giải quyết vấn đề Chính những sai lầm, khuyết điểm đã làm cho cuộc sống nhân dân vô cùng khó khăn Nguyên nhân của những khuyết điểm, sai lầm ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế đã thể hiện rõ ràng bệnh chủ quan duy ý chí nôn nóng, vội vàng muốn xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong khi trình độ của lực lượng sản xuất còn lạc hậu thấp kém Bên cạnh đó, chúng ta còn thể hiện rõ lối tư duy siêu hình trong việc giải quyết các vấn đề như: không nắm được biện chứng của quá trình phát triển nên không xác định ngay từ đầu phải chia thời kỳ quá độ ra thành nhiều chặng đường và mỗi chặng đường phải đề ra chính sách kinh tế- xã hội cho phù hợp; không nắm được biện chứng của quá trình phát triển nên đã xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên hai thành phần kinh tế là chủ yếu, đó là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Như vậy, nguyên nhân sâu xa của lối tư duy này có cả yếu tố chủ quan và khách quan Về mặt chủ quan một phần quan trọng do chính lối nghiên cứu phép biện chứng duy vật nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung của chúng ta còn mang tính rập khuôn, giáo điều Về mặt khách quan do chịu ảnh hưởng của lối tư duy của người sản xuất nhỏ, manh mún, vụt vặt; làm đi làm lại; thiếu tầm nhìn xa trông rộng; thói quen làm việc không có kế hoạch của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Trang 10

Do vậy, từ thực tiễn như trên cần phải xây dựng phương pháp tư duy biện chứng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là những người giữ vị trí lãnh đạo cao trong cơ quan nhà nước là yêu cầu vô cùng quan trọng

Từ sau đổi mới ( 1986 ) cho đến nay, chúng ta đang khắc phục dần căn bệnh chủ quan duy ý chí và lối tư duy siêu hình Vì vậy, trong những năm qua chúng ta gặt hái được những thành tựu nhất định Hiện nay, nước

ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc nghiên cứu lịch sử phép biện chứng một cách có hệ thống, nhất là nắm vững bản chất phép biện chứng mác- xít càng là một nhu cầu bức thiết để đổi mới tư duy Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam đang là định hướng tư tưởng và là công cụ tư duy sắc bén để đưa cách mạng nước ta tiến lên giành thắng lợi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, chúng ta càng khẳng định rằng chủ nghĩa Mác- Lênin là một học thuyết cách mạng chân chính, là hệ thống tư duy lý luận đúng đắn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Do vậy, đây cũng chính là lý do mà tác giả đã chọn: “ V I Lênin phát triển phép biện chứng duy

vật trong tác phẩm “ Bút ký triết học”” để làm đề tài luận văn của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề về phép biện chứng duy vật rất phong phú và đa dạng, vì vậy đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu và tìm hiểu

- Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của phép biện chứng có công trình đồ sộ của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô- Viện triết

Trang 11

học, đó là “Lịch sử phép biện chứng” gồm 6 tập, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1998 đã nghiên cứu tỉ mỉ và rõ ràng về các giai đoạn hình thành phép biện chứng từ phép biện chứng cổ đại cho đến phép biện chứng duy tâm thế kỷ XX

- Nghiên cứu về các vấn đề triết học của C Mác- Ph Ăngghen-

V.I Lênin có cuốn “ Lịch sử phép biện chứng Mác- xít ( từ khi xuất hiện chủ

nghĩa Mác đến giai đoạn Lênin )”, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1986; “Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác - Ph.Ăngghen - V.I.Lênin”, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2003 của PGS TS Doãn Chính - PGS TS Đinh Ngọc Thạch đã đưa ra và làm rõ các vấn đề triết học trong đó có phép biện chứng duy vật do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập và sau này V.I Lênin phát

triển trong tác phẩm “ Bút ký triết học”

- Nghiên cứu về phép biện chứng duy vật trong thời đại mới- thời

đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản có cuốn “ Lịch sử phép biện

chứng Mác- xít ( giai đoạn V.I Lênin)”, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1987;

“V.I.Lênin toàn tập”, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981; “Bút ký triết học”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 và “ Lịch sử chủ nghĩa Mác”,

tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 đã nghiên cứu rất cụ thể và sâu sắc vấn đề về phép biện chứng duy vật ở giai đoạn V.I Lênin

- Nghiên cứu về phép biện chứng duy vật một cách khái quát và

cơ bản có cuốn “ Phép biện chứng duy vật và công cuộc đổi mới ở Việt

Nam”, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2007 của GS Ngô Thành Dương đã

làm rõ phép biện chứng một cách khái quát từ C Mác- Ph Ăngghen- V.I

Trang 12

Lênin đến Hồ Chí Minh và vận dụng phép biện chứng duy vật vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã kế thừa những công trình trên làm tài liệu cho việc tìm hiểu về những tiền đề, những nội dung hình thành phép biện chứng duy vật và đặc biệt luận văn đã làm rõ được sự phát triển phép biện chứng duy vật bởi V.I Lênin trong tác phẩm “ Bút ký

triết học”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của đề tài là làm rõ những tư tưởng của V.I Lênin trong sự

phát triển phép biện chứng duy vật trong tác phẩm “ Bút ký triết học” Trên

cơ sở đó nói lên được những đóng góp của V.I Lênin đối với việc phát triển

tư duy khoa học của nhân loại Để đạt được mục đích nói trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu như sau:

Một là, trình bày phép biện chứng duy vật của triết học Mác

Hai là, làm rõ về sự phát triển phép biện chứng duy vật bởi V.I

Lênin trong tác phẩm “Bút ký triết học”

Ba là, chỉ ra được sự đóng góp của V.I Lênin vào việc phát triển tư duy khoa học của nhân loại

4 Cơ sở và phương pháp luận nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ đã nêu của đề tài, tác giả đã dựa trên thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu, trình bày đề tài của mình Đồng thời trong quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài, tác giả còn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: lôgích và lịch sử, tổng hợp và phân tích, diễn

Trang 13

dịch và quy nạp và cách tiếp cận của luận văn là cách tiếp cận dưới góc độ lý luận

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn đã làm sáng tỏ vấn đề về phép biện chứng duy vật của C Mác- Ph Ăngghen- V.I Lênin Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành triết học và một số ngành khoa học xã hội nhân văn khác Sự phát triển phép biện chứng duy vật của V.I Lênin đã đóng góp vào sự phát triển tư duy nhân loại nói chung và tư duy lý luận của Việt Nam nói riêng

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm

2 chương, 5 tiết

Chương 1 Phép biện chứng duy vật của triết học Mác

Chương 2 V.I Lênin phát triển phép biện chứng duy vật trong tác

phẩm “ Bút ký triết học”

Chương 1

Trang 14

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA TRIẾT HỌC MÁC

1.1 PHÉP BIỆN CHỨNG TRƯỚC MÁC

Thuật ngữ phép biện chứng xuất hiện từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ

V TCN Những quan niệm và tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng kể trong thế giới quan triết học của người Hy Lạp cổ đại Về thực chất, những quan niệm và tư tưởng biện chứng đã xuất hiện cùng với triết học Xét trên nhiều phương diện, có thể đánh giá phép biện chứng là một hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như triết học V.I Lênin đã định nghĩa phép biện chứng là “ học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng” [40,t.29,tr.240] Trước khi triết học Mác- Lênin ra đời, phép biện chứng đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau:

- Phép biện chứng chất phác thời kỳ cổ đại

Phép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại tồn tại dưới hai

hình thức: 1) Phép biện chứng khẳng định, tức là khẳng định và phân tích

các quy luật biện chứng khác nhau trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy,

được thể hiện rõ nét nhất ở Hêraclít; 2) Phép biện chứng phủ định, tức là

phủ định tính chân lý của cái mà trong đó, tính mâu thuẫn nội tại bộc lộ ra, được thể hiện ở trường phái Êlê Nhưng hầu như các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã gọi phép biện chứng theo nghĩa thứ hai Họ hiểu đó là nghệ thuật tiến hành đàm thoại, tranh luận triết học để sao cho có thể thông qua sự xung đột giữa các ý kiến trái ngược nhau mà phát hiện ra chân lý; hay có thể nói, đó là nghệ thuật phát hiện và chứng minh chân lý Với quan niệm

Trang 15

như vậy, thì phép biện chứng đã hình thành ở Dênôn Tuy nhiên, sau này phép biện chứng được thể hiện một cách hoàn toàn rõ nét hơn ở Xôcrát, Platôn Mặc dù, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại tồn tại theo hai nghĩa nhưng nó không tuyệt đối biệt lập Ngay từ khi bắt đầu tồn tại và càng về sau chúng đã liên hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Vả chăng nghệ thuật tiến hành tranh luận nhằm phát hiện ra chân lý ngày càng thể hiện khả năng nhận thức đối tượng trong những tính quy định đối lập nhau vốn có ở nó, khả năng quy những tính quy định đó về một cái thống nhất, khả năng phát hiện ra sự thống nhất của các mặt đối lập, tức là ngày càng trở thành phương pháp nhận thức biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy Tư tưởng xuyên suốt và đồng thời là một trong những đặc trưng tiêu biểu của triết học Hy Lạp, theo Ph Ăngghen là tính biện chứng trong việc giải thích giới tự nhiên và nhận thức mà người đầu tiên khởi xướng cách tiếp cận ấy là Hêraclít Ph Ăngghen viết: “ Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclít trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong

” [6,t.20,tr.35] Hêraclít là người giữ vị trí trung tâm trong lịch sử phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin đã đánh giá cao học thuyết của ông, đặc biệt là phép biện chứng V.I Lênin coi ông là “ một trong những người sáng lập ra phép biện chứng” [40,t.29,tr.368] V.I Lênin cũng thừa nhận phép biện chứng của Hêraclít có tính chất khách quan trong các luận điểm biện chứng cơ bản của ông đặc biệt quan trọng là

Trang 16

tư tưởng về sự thống nhất ( hài hòa ) và đấu tranh của các mặt đối lập Với Hêraclít quan niệm về tính phổ biến của vận động, thay đổi được thể hiện trong diễn đạt đầy ấn tượng: “ Mọi thứ đều trôi chảy” Hêraclít còn giải thích thêm: thế giới như một dòng sông không ngừng trôi, không ai có thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông, vì mỗi lần xuống đó đều tiếp nhận dòng nước mới Sự vật biến đổi không hỗn độn mà tuân theo quy luật, tức là

Logos Quy luật thứ nhất chỉ rõ mọi sự vật đều nằm trong sự sinh thành, phát triển và diệt vong không cưỡng lại được Quy luật thứ hai nhấn mạnh

tính thống nhất và đa dạng của thế giới Thế giới thống nhất nhưng không phải là thống nhất trừu tượng mà là hoạt động, sự tự triển khai ra các mặt đối lập Theo Hêraclít, các mặt đối lập vừa giả định lẫn nhau và không thể có được nếu thiếu nhau Chẳng hạn, không thể quý sức khỏe nếu không biết mặt đối lập của nó là bệnh tật: “ Bệnh tật làm cho sức khỏe trở nên quý giá và ngọt ngào, đói- no, mệt mỏi- nghỉ ngơi” [20,t.1,tr.114] Như vậy, các sự vật- hiện tượng tồn tại trong vũ trụ này muôn hình muôn vẻ vừa thống nhất, vừa đa dạng, trong đó sự tác động qua lại và chuyển hóa của các mặt đối lập làm nên bản chất của sinh thành, phát triển Theo Heraclít, sự thống nhất biến đổi của các mặt đối lập thể hiện ở chỗ mỗi sự vật và hiện tượng trong quá trình biến đổi đều trải qua các trạng thái đối lập, đều chuyển thành các mặt đối lập của mình Chẳng hạn, sống trở thành chết, thức- ngủ, trẻ- già Nhưng cũng có thể nói điều ngược lại: chết đã thành sống, ngủ- thức, già- trẻ Hêraclít từng nói: “ Cùng một thứ ở trong ta như sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già, vì sau khi biến đổi, cái này trở thành cái kia, và ngược lại” [20,t.1,tr.119] Khi phá hủy sự hài hòa cũ, cuộc đấu

Trang 17

tranh lại tạo ra sự hài hòa mới Cuộc đấu tranh làm một số sự vật tiêu vong và một số khác xuất hiện Sự xuất hiện cái mới cũng có nghĩa là sự ra đời của một sự hài hòa mới, một sự thống nhất mới, do vậy một cuộc đấu tranh mới giữa các mặt đối lập “ bất đồng” lại xuất hiện Đấu tranh là tính quy luật cơ bản của tự nhiên và xã hội loài người, là “ cha của tất cả”, “ ông hoàng của tất cả” Trong đấu tranh cái mới xuất hiện, tạo nên sự thống nhất mới, quá trình chuyển hóa không bao giờ ngừng Theo Hêraclít, đấu tranh là vốn có ở bản chất của các sự vật, là quy luật phổ biến của sự tồn tại của

chúng Nó là nguồn gốc của sự sống, là chân lý và lẽ phải của sự sống Quy luật thứ ba, xuất phát từ quy luật thứ nhất và thứ hai, có thể gọi là quy luật

tương quan: sự vật đặt trong những tương quan khác nhau “ biểu lộ” ra một cách khác nhau trước chủ thể Ông đưa ra hàng loạt dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm này, chẳng hạn mật ngọt đối với người bình thường, nhưng đắng với người bệnh; nước biển đối với một số sinh thể là môi trường sống, nhưng đối với một số khác lại tỏ ra độc hại; vàng là qúy với người, nhưng vô giá trị đối với loài vật; con khỉ đẹp nhất trong loài khỉ cũng không thể so sánh với người, nhưng người toàn năng nhất cũng không thể so sánh với các

vị thần Hêraclít đưa ra ý tưởng này nhằm nhấn mạnh sự đồng nhất cụ thể, hoặc tính tương đối của thực thể và điều này thật là “táo bạo, khác thường” [34,tr.39] Ngoài ra, Hêraclít còn xem vận động và đứng im là sự thống nhất của các mặt đối lập, giống như đấu tranh và hài hòa Chúng không tồn tại thiếu nhau và thể hiện ra thông qua nhau Như vậy, Hêraclít là người đã nói về cái hài hòa trong đấu tranh, thống nhất trong phân đôi, bất biến trong biến đổi, đồng nhất trong khác biệt, vĩnh cửu trong nhất thời, hiện hữu trong

Trang 18

sinh thành Hình ảnh dòng sông của Hêraclít gắn liền với một nội dung triết học trừu tượng, “ hình ảnh nghĩa” đó là một ý niệm triết học, là cái cũng được ông suy ra từ đoạn trích khi ông so sánh dòng sông với cuộc sống con người: “ Chúng ta lội xuống và không lội xuống cùng một dòng sông; chúng

ta tồn tại và không tồn tại” Nói cách khác, nếu trong ta mọi cái đều là biến đổi và không có gì là ổn định và bất biến, nếu mỗi lần chúng ta lại khác, tức là hoàn toàn khác với chính mình, thì liệu có thể nói tới sự tồn tại hiện thực nào của chúng ta không? Cũng hệt như vậy có thể hỏi: “ cái chết” của chúng ta sinh ra từ đâu, nếu sự sống của chúng ta là bất biến, ổn định và không chịu sự biến đổi nào? Như vậy, đóng góp cơ bản của Hêraclít trong lịch sử phép biện chứng là cách trình bày đầu tiên về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Ông đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong logos chủ quan và chỉ ra sự thống nhất giữa biện chứng của nhận thức và biện chứng của thế giới

Người tiếp theo làm rõ phép biện chứng theo cách hiểu mới ( phép biện chứng phủ định ) đó là Dênôn thuộc trường phái Êlê Trường phái này hoạt động ở cuối thế kỷ thứ VI và tồn tại đến giữa thế kỷ thứ V TCN đã góp phần phát triển đáng kể sự phát triển tư duy biện chứng Phép biện chứng của Dênôn đã đối lập với phép biện chứng khách quan và phép biện chứng nhận thức của Hêraclít Trong phép biện chứng của họ đã đề cập đến không gian, thời gian và vận động Nhưng học thuyết của phái Êlê về thời gian, không gian và vận động là phép biện chứng phủ định theo nghĩa là học thuyết theo đuổi các mục đích siêu hình học nhưng một cách khách quan lại kích thích các quan điểm biện chứng V.I Lênin đã từng ghi chép riêng tư

Trang 19

tưởng của Hêghen về vấn đề này: “ Khi nói về trường phái Êlê, Hêghen nói về phép biện chứng: “ chúng ta thấy ở đây” “ khởi đầu của phép biện chứng, tức chính là sự vận động thuần túy của tư duy trong các khái niệm; và đồng thời, sự đối lập giữa tư tưởng và hiện tượng hay là tồn tại cảm tính ” [40,t.29,tr.267] Hêghen đã chỉ ra phép biện chứng phủ định của phái Êlê, phép biện chứng được thể hiện thông qua việc đối lập tư duy duy lý với nhận thức cảm tính Việc đối lập tư duy về các sự vật với trực quan cảm tính về chúng và với các ý kiến dựa vào trực quan, đó cũng là động cơ nghiên cứu cơ bản của phái Êlê Tính chất luận chiến trong quan điểm của phái Êlê đã đặt ra cho phái này nhiệm vụ phải đưa ra được một sự luận chứng tỷ mỷ Họ phải phân tích sâu rộng các phạm trù về tồn tại và không tồn tại, thống nhất và đa dạng, đứng im và vận động, đứt đoạn và liên tục, hữu hạn và vô hạn Thực ra khái niệm về triết học và trình độ tư duy toán học còn rất kém phát triển ở thời kỳ này và vì vậy sẽ không có một kết quả quan trọng ở sự phân tích đó Nhưng thành quả đạt được là ở phương diện khác: tính không thể phủ nhận được của ý thức hàng ngày cũng như tính hiển nhiên của trực quan cảm tính về cơ bản đã bị lung lay, vấn đề là phải có sự chứng minh duy lý đối với điều hiển nhiên và điều được mọi người thừa nhận Điều này sẽ làm sáng tỏ vấn đề biện chứng sâu sắc về vận động, không gian, thời gian Luận chứng mang tính luận chiến cơ bản của phái Êlê được phát triển trong các chứng cứ nổi tiếng ( logos ) hay “ các nghịch lý” của Dênôn Dênôn đưa ra hàng loạt các nghịch lý có tên gọi là apôria ( theo tiếng Hy Lạp cổ là khó lý giải, tình trạng không có lối thoát ) Thông qua các nghịch lý, ông muốn chứng minh rằng tồn tại là duy nhất và bất

Trang 20

biến, còn tính đa dạng và vận động của thế giới là không có thực bởi vì chúng có nhiều mâu thuẫn Dênôn đã đưa ra các apôria như sau:

- Apôria thứ nhất là “ phân đôi” Ông lập luận như sau : để đi qua một đường thẳng nào đó, trước hết chúng ta phải đi qua được một nửa đoạn thẳng đó Và để đi qua một nửa đoạn thẳng này, ta phải đi qua phần tư của nó , cứ mãi thế đến vô tận Rốt cuộc thì chúng ta chỉ đứng nguyên ở vị trí ban đầu Và như vậy là không có vận động

- Apôria thứ hai “ Asin và con rùa” cũng gần tương tự như vậy Asin mặc dù chạy nhanh nhưng không thể đuổi kịp con rùa vì khi anh ta vượt qua được khoảng cách giữa anh ta và con rùa lúc ban đầu thì con rùa đã đi được một đoạn đường nữa rồi và cứ thế đến vô hạn Cho nên, cuối cùng Asin vẫn không đuổi kịp con rùa mặc dù khoảng cách giữa anh ta và con rùa ngày càng ngắn lại Đó là một điều nữa chứng tỏ không có vận động

- Tiếp đến, apôria “ Mũi tên bay”, Dênôn lập luận rằng mặc dù chúng ta quan sát thấy mũi tên đang bay nhưng thực ra là nó không bay, bởi

vì trong thời gian bay bất kỳ lúc nào chúng ta cũng có thể xác định được tọa độ- tức vị trí cụ thể của mũi tên Như thế nghĩa là mũi tên đứng im và như vậy là không có vận động

Như vậy, ẩn náu trong các nghịch lý của Dênôn là một nội dung phong phú Trước hết, chúng đã chỉ ra các mâu thuẫn biện chứng trong việc phản ánh bằng khái niệm các quá trình diễn ra một cách khách quan và tính ước chừng của các quan niệm cảm tính và toán học trừu tượng của chúng ta về vận động hiện thực, về thời gian và không gian Từ sự phân tích các nghịch lý trên đã làm xuất hiện trong chúng không những có bản chất

Trang 21

lôgích hình thức mà cả bản chất đích thực biện chứng Không nên tách rời cái này ra khỏi cái kia

Ở giữa và nửa sau thế kỷ V TCN, khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại đã bước vào một giai đoạn mới, cao hơn trong lịch sử của chúng Các nhà triết học và khoa học tự nhiên đã có đóng góp lớn nhất cho lịch sử của chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại trong đó có thể nói đến nhà triết học Đêmôcrít Theo C Mác, Đêmôcrít là một bộ óc bách khoa đầu tiên của người Hy Lạp Phép biện chứng mà ở Hêraclít đã có được một tính chất khách quan rõ nét, thì tiếp tục được phát triển ở Đêmôcrít Nếu học thuyết của Hêraclít về cơ bản là sự lý giải biện chứng về vũ trụ, thì phép biện chứng của Đêmôcrít đã dành cho thế giới quan duy vật một lĩnh vực mới mẻ khi đó chưa được nghiên cứu đó là lý luận nhận thức Phép biện chứng của ông bao hàm việc thừa nhận mối liên hệ qua lại sâu sắc giữa hiện thực và chân lý, giữa cảm tính và lý tính, giữa cảm giác và tư duy lý luận Như vậy, nhà duy vật cổ đại vĩ đại về cơ bản đã góp phần phát triển phương thức

tư duy biện chứng Có thể nói rằng biện chứng của nhận thức “ trong sáng” ( tư duy lý luận ) và nhận thức “ đen tối” ( cảm giác ) là đóng góp cơ bản của ông vào sự phát triển tư tưởng biện chứng Nhưng bên cạnh đó, Đêmôcrít vẫn là người theo chủ nghĩa khắc kỷ rất xa lạ với phép biện chứng trong lý luận về vận động của nguyên tử

Ngoài ra, người Hy Lạp cổ đại còn xem phép biện chứng là nghệ thuật tranh luận Đó là các nhà triết học Xôcrát, Platôn Họ cho phép biện chứng là nghệ thuật phát hiện ra mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và là nghệ thuật bảo vệ lý luận của mình Ở Xôcrát phép biện chứng thể

Trang 22

hiện dưới dạng mỉa mai Tài hùng biện kết hợp với sự mỉa mai sâu cay- đó là công cụ chính trong các cuộc diễn thuyết, tranh luận dùng để chỉ ra mâu thuẫn của đối phương Kế tục và phát triển phép biện chứng của Xôcrát, Platôn đặc biệt coi trọng và phát triển quan niệm của Xôcrát về phép biện chứng như một nghệ thuật tranh luận Ông hiểu phép biện chứng theo hai khía cạnh :

- Thứ nhất, phép biện chứng được coi là kỹ năng phân tích, phân loại các dạng khái niệm mà không được làm tổn hại đến chúng Theo Platôn, phép biện chứng là kỹ năng đặt ra câu hỏi và trả lời câu hỏi Vấn đề cơ bản trong phép biện chứng của ông là vấn đề xác định vai trò của các khái niệm chung trong việc nhận thức chân lý

- Thứ hai, phép biện chứng được coi là sự tổng hợp những quan điểm khác nhau để đi đến ý tưởng thống nhất Đặc biệt đề cao quan niệm của Xôcrát cho rằng muốn hiểu được bản chất của sự vật phải định nghĩa được chúng, hiểu được chúng ở mức độ khái niệm Vì vậy, Platôn cho rằng phép biện chứng phải là sự thống nhất của hai khía cạnh trên

Như vậy, nhìn chung, phép biện chứng của Hêraclít chủ yếu bị hạn chế ở lĩnh vực vũ trụ và chỉ có các phỏng đoán triết học tự nhiên riêng biệt của nó là có liên quan với lĩnh vực nhận thức; còn phép biện chứng của Đêmôcrít chủ yếu có liên quan tới quan hệ qua lại giữa các phạm trù cảm tính và lý tính; đến phép biện chứng của Platôn coi đối tượng cơ bản của mình là các khái niệm

Tóm lại, phép biện chứng cổ đại là một trang sử sáng chói trong sự phát triển của tư tưởng biện chứng thế giới Phép biện chứng khách quan

Trang 23

của người Hy Lạp cổ đại đã sớm đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là trong học thuyết của Hêraclít đã vạch ra sự đấu tranh phổ biến và sự thống nhất của các mặt đối lập trong thế giới Bên cạnh, phép biện chứng khách quan còn có sự hình thành của phép biện chứng phủ định mà người đại diện đó là Dênôn Phép biện chứng phủ định là tổng thể những lập luận có chủ ý chống lại bản thân sự thực về tính số nhiều và tính đa dạng, sự vận động và biến đổi, sự phát triển và sự chuyển biến thành các trạng thái mới Tiếp theo, phép biện chứng được phát triển theo một kiểu tư duy biện chứng mới đó là biện chứng của các khái niệm được thực thể hóa đã trở thành thành tựu lớn nhất trong tư tưởng biện chứng cổ đại Sau đó, phép biện chứng được hình thành là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý bằng con đường đối lập các quan điểm và các ý kiến đối lập mà được bắt đầu từ Xôcrát đến Platôn Vì vậy, phép biện chứng cổ đại đã đạt được những thành tựu rực rỡ

và chúng đã đặt nền tảng cho sự nghiên cứu biện chứng về thế giới ở các thời kỳ tiếp theo

- Phép biện chứng trong thời kỳ thống trị của hệ thống siêu hình học thế kỷ XVII- XVIII

Thế kỷ XVII- XVIII là thời đại của khám phá và phát minh khoa học, thời đại tôn vinh con người lý trí, đồng thời giải phóng từng bước triết học

ra khỏi thần học Vào thời kỳ đó tri thức khoa học đã trở thành một thiết chế xã hội đặc trưng và bằng hoạt động nghiên cứu độc lập, nó đã tạo được những biến đổi trong tư duy con người Quá trình chuyên biệt hóa, cụ thể hóa diễn ra từ nữa cuối thế kỷ XV trở đi, đã đưa đến sự ra đời một số môn khoa học chuyên biệt với hệ thống lý luận riêng của mình Trong triết học

Trang 24

tư sản thế kỷ XVII- XVIII các nhà triết học đã đưa ra những tư tưởng biện chứng thiên tài như Đềcáctơ, Xpinôda, Lepnít, Rútxô, Điđơrô, Tuy nhiên, nhìn chung học thuyết của các nhà tư tưởng này không hoàn toàn mang tính chất biện chứng mà về cơ bản được đặc trưng bởi sự thống trị của phương pháp siêu hình Siêu hình học thế kỷ XVII- XVIII đã thu được nhiều kết quả quan trọng nhờ bám sát vào khoa học tự nhiên đương đại, song phương pháp tiếp cận ấy lại tạo ra thói quen xem xét các sự vật tự nhiên và quá trình tự nhiên trong trạng thái biệt lập của chúng, ở bên ngoài mối liên hệ chung và do đó không xem chúng trong trạng thái vận động mà xem chúng trong trạng thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản là biến đổi, mà coi chúng là vĩnh viễn không biến đổi Theo Ph Ăngghen, phương pháp tư duy siêu hình phản ánh các sự vật- hiện tượng trong sự riêng biệt, cố định, cái này độc lập với cái kia Sự đối lập đúng- sai, trắng- đen, tồn tại- không tồn tại, đồng nhất- khác biệt theo phương pháp này đã tỏ ra không còn thích hợp trước những đòi hỏi mới của nhận thức: “ Phương pháp nhận thức siêu hình, dù được coi là chính đáng và thậm chí là cần thiết trong những lĩnh vực nhất định ít nhiều rộng lớn tùy theo tính chất của đối tượng nghiên cứu, nhưng chóng hay chầy nó cũng sẽ gặp phải một ranh giới mà nếu vượt quá thì nó trở thành phiến diện, hạn chế, trừu tượng và sa vào những mâu thuẫn không thể nào giải quyết được” [6,t.20,tr.37]

Tư tưởng khai sáng Pháp thế kỷ XVII- XVIII được Ph Ăngghen xem như ngọn cờ lý luận của đại Cách mạng Pháp năm 1789, là thắng lợi của một chế độ xã hội mới, thắng lợi của chế độ sở hữu tư sản đối với chế độ sở hữu phong kiến Đối với các nhà khai sáng Pháp nói riêng cũng như các

Trang 25

nhà triết học thế kỷ XVII- XVIII nói chung đều coi lý tính là thước đo duy nhất để đánh giá mọi cái đang tồn tại Những người sáng lập ra khoa học cận đại không chỉ là các nhà khoa học thiên tài, những người đầu tiên mở ra các lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản, mà họ còn là những nhà cách mạng bác bỏ thế giới quan truyền thống và sự phân cấp tri thức được thiết định trong xã hội phong kiến Một chế độ mà ở đó thần học giữ vị trí cao nhất, triết học ở giữa và khoa học là thấp nhất Từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời gắn liền với sự phát triển của khoa học tự nhiên và khi đó cần phải nghiên cứu các sự vật cụ thể trước khi nghiên cứu các quá trình Trước hết cần phải biết sự vật đó là gì, rồi mới có thể nghiên cứu những sự biến đổi diễn ra trong sự vật đó Vì vậy, phương pháp tư duy siêu hình gắn liền với sự phát triển của khoa học tự nhiên Khi so sánh phương pháp tư duy siêu hình của các nhà khoa học tự nhiên với phép biện chứng Hy lạp cổ đại, Ph Ăngghen đã nhận xét: phép biện chứng về cơ bản nắm bắt chính xác tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, tuy nhiên nó không đưa ra được quan niệm về các nguyên tố, các phương diện, các bộ phận mà thiếu những chi tiết này thì bức tranh chung sẽ không thể được làm sáng tỏ Trong khi đó nhiệm vụ của khoa học tự nhiên cận đại là nghiên cứu các chi tiết đó mà lần đầu tiên nó được hiểu như là những bộ phận tất yếu của chỉnh thể tự nhiên

Như vậy, phương pháp tư duy siêu hình đã hình thành trong khoa học tự nhiên từ thế kỷ XVII- XVIII và các nhà triết học Đềcáctơ, Xpinôda, Lepnít, là những người có vị trí quan trọng trong lịch sử phép biện chứng, là những người tạo ra hệ thống triết học siêu hình Nhiệm vụ của các

Trang 26

hệ thống này là chứng minh tính khả năng của tri thức siêu cảm tính mà cần phải có đối tượng là thực tại siêu cảm tính Do vậy, các hệ thống siêu hình học đã không thoát khỏi những giả định mang tính thần học Nhưng bên cạnh đó, nội dung cơ bản của các hệ thống siêu hình học thế kỷ XVII- XVIII là ở sự phân tích sâu sắc khác biệt về chất của tri thức lý luận so với tri thức kinh nghiệm Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà Đềcáctơ đã đưa ra

tư tưởng biện chứng trong nguồn gốc vũ trụ luận và trong hình học giải tích Các tư tưởng biện chứng của Xpinôda đã gắn liền với nhận thức về thực thể với tư cách là nguyên nhân của chính mình

- Phép biện chứng duy tâm của Hêghen

Nói đến phép biện chứng duy vật của C Mác không thể nào không kể đến công lao to lớn của nhà triết học duy tâm vĩ đại người Đức mà chính

C Mác sau này đã kế thừa cái hạt nhân hợp lý ấy và biến nó thành phép biện chứng duy vật đó chính là nhà triết học duy tâm khách quan G.V.Ph Hêghen

Hêghen là người đã đem đến cách hiểu mới về khái niệm phép biện chứng, vượt qua giới hạn chủ quan ban đầu, tức nghệ thuật đối thoại mà người Hy Lạp cổ đại từng nêu ra, để đạt tới ý nghĩa phổ quát của một phương pháp triết học, một học thuyết xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ, tác động, chuyển hóa, thâm nhập và chế ước lẫn nhau Bên cạnh đó, Hêghen còn là người có công phát triển phép biện chứng dưới một hình thức chung nhất và là người xây dựng học thuyết về sự phát triển Hêghen cho rằng mâu thuẫn thực tế là cách thúc đẩy thế giới phát triển Hơn nữa, ông còn xem mâu thuẫn là cội nguồn của tất cả của sự vận động

Trang 27

và sự sống Vì vậy, ông là người đầu tiên trình bày phép biện chứng một cách có hệ thống nhưng rất tiếc phép biện chứng của ông là phép biện chứng duy tâm C Mác cho rằng: “ Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó” [6,t.20,tr.494] C Mác- Ph Ăgghen-V.I Lênin đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng biện chứng đó và đặc biệt đi sâu vào phân tích, luận chứng và phê phán những nhược điểm của phép biện chứng Hêghen để xây dựng phép biện chứng ấy trên cơ sở thế giới quan duy vật Mặc dù đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm khách quan, quy mọi cái vào tinh thần tuyệt đối là điểm xuất phát, là nền tảng thế giới quan triết học của ông, là tinh thần tuyệt đối được hiểu như đấng tối cao sáng tạo ra thế giới tự nhiên và con người nhưng Hêghen đã khẳng định: vận động và phát triển là tuyệt đối; nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn bên trong; phát triển nằm ngay trong những biến đổi tiệm tiến về lượng thành những biến đổi về chất, những biến đổi nhảy vọt trong đó cái mới ra đời thay thế cái cũ V.I Lênin đã nhận xét rằng: “ Hêghen đã đoán được một cách tài tình biện chứng của sự vật ( của những hiện tượng, của thế giới, của giới tự nhiên) trong biện chứng của khái niệm ” [40,t.29,tr.209] Hêghen coi tư duy khái niệm, nhận thức khái niệm là dạng nhận thức cao nhất của con nggười Theo ông, khái niệm là bản chất cao nhất, đích thực của sự vật, là linh hồn của nó Hêghen đặc biệt đề cao vai

Trang 28

trò của tư duy lôgích khái niệm Hêghen là một trong những nhà triết học trước Mác đã thể hiện một cách sâu sắc nguyên lý phát triển Hêghen coi sự phát triển không phải là sự tăng giảm đơn thuần về số lượng hay sự dịch chuyển vị trí của sự vật về không gian Ông hiểu sự phát triển là một quá trình phủ định biện chứng, trong đó tiếp diễn ra cái mới thay thế cái cũ nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố của cái cũ mà vẫn có khả năng thúc đẩy sự phát triển Xuất phát từ quan niệm coi sự phát triển như một quá trình vận động liên tục theo quy luật phủ định của phủ định, Hêghen coi một trong những nguyên tắc xây dựng hệ thống triết học của mình nhằm thể hiện sự phát triển của tinh thần tuyệt đối là tam đoạn thức: chính đề - phản đề - hợp đề, trong đó giữa các yếu tố đều có mối liên hệ hữu cơ chuyển hóa lẫn nhau Sự phát triển của ý niệm tuyệt đối thông qua quy luật phủ định của phủ định có thể được diễn đạt như sau: ý niệm tuyệt đối ( giai đoạn sơ khai ) - tự nhiên ( phủ định ) - xã hội ( phủ định của phủ định ) Đây là ba giai đoạn cơ bản trong quá trình phát triển của tinh thần tuyệt đối, đồng thời cũng là quá trình nảy sinh và giải quyết những mâu thuẫn giữa các mặt đối lập đó là : vật chất và tinh thần, khách thể và chủ thể trong bản thân tinh thần tuyệt đối Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết bằng sức mạnh của lý trí và hoạt động cải tạo giới tự nhiên của con người Bằng hoạt động của mình, con người biến giới tự nhiên là cái đối lập với mình thành cái cho mình, tức là làm chủ giới tự nhiên Như vậy, hoạt động của con người là quá trình thống nhất giữa cái tinh thần và cái vật chất Như chúng ta đã biết, ngày hôm nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão đã làm cho cuộc sống của con người ngày một phát triển và đa dạng hơn Nhưng bên cạnh

Trang 29

đó, môi trường sống của con người không còn được trong lành và đang trong tình trạng bị đe dọa ngày một nghiêm trọng hơn Nhưng ở vào thời đại của Hêghen - ông đã có một quan điểm có ý nghĩa hết sức to lớn trong thời đại ngày nay Ông cho rằng nếu con người không đối xử một cách có lý tính với giới tự nhiên thì nguy cơ là sẽ phá vỡ môi trường, hủy hoại tự nhiên tức là hủy hoại chính cái nôi sống của con người Do đó vấn đề cơ bản là ở chỗ cần phải kiểm soát kỹ thuật - công nghệ bằng lý tính, có như vậy mới có sự phát triển bền vững và sự tồn tại của thế giới phụ thuộc vào lý tính của con người

Toàn bộ nội dung triết học của Hêghen được thể hiện cụ thể trong “ Khoa học lôgích”, ông đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của phép biện

chứng với tính cách là một khoa học và đã lý giải nội dung của nó trên lập

trường duy tâm, tức là phép biện chứng của khái niệm và “ Khoa học lôgích” của ông bao gồm ba phần: học thuyết về tồn tại, học thuyết về bản

chất và học thuyết về khái niệm Khoa học lôgích là bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống triết học Hêghen Tư tưởng biện chứng của Hêghen

trong “ Khoa học lôgích” đã chỉ ra những điểm cơ bản sau:

- Một là, mỗi khái niệm đều nằm trong mối liên hệ với các khái niện khác, mỗi khái niệm đều là “ trung giới ” cho nhau

- Hai là, mỗi khái niệm đều có mối liên hệ nội tại, đều chứa đựng mâu thuẫn nội tại và bao gồm khả năng thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau

- Ba là, mỗi khái niệm đều trải qua một quá trình phát triển được thực hiện trên cơ sở của ba nguyên tắc:

Trang 30

+ Nguyên tắc thứ nhất: chất và lượng quy định lẫn nhau, những chuyển hóa về lượng sẽ dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại

+ Nguyên tắc thứ hai: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển

+ Nguyên tắc thứ ba: phủ định của phủ định với tính cách là sự phát triển diễn ra theo vòng tròn xoắn trôn ốc - đây là con đường phát triển của khái niệm Trong khi lý giải những nguyên tắc này, ông đã giải quyết một cách biện chứng mối quan hệ giữa các cặp phạm trù: chung - riêng, tất nhiên - ngẫu nhiên, lôgích - lịch sử

Nói tóm lại, phép biện chứng duy tâm của Hêghen là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ triết học Hêghen Khi đánh giá về thành tựu của triết học Hêghen, tất cả các nhà triết học tuy đứng trên nhiều quan điểm triết học khác nhau, nhưng họ đều thống nhất ở quan điểm cho rằng, giá trị đích thực của triết học Hêghen chính là phép biện chứng, mặc dù nó chỉ là phép biện chứng khái niệm hay biện chứng duy tâm Với tư cách là đỉnh cao của phép biện chứng trước Mác, phép biện chứng của Hêghen có những giá trị tích cực sau:

- Heghen đã đánh giá cao vai trò của phép biện chứng, vận dụng nó không chỉ nghiên cứu giới tự nhiên mà cả trong lĩnh vực nghiên cứu đời sống xã hội Bởi vậy, ông đã có quan niệm đúng về mối quan hệ giữa tự do và tất yếu, về sự tha hóa trong lao động và trong giáo dục, về sự biến chất đạo đức trong đời sống con người, về sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, về sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn Về vấn đề này, GS Phan Ngọc đã viết: “ Triết học trước Hêghen là siêu hình vì nó xem cái tôi

Trang 31

chủ quan và thế giới thực tiễn là đối lập nhau, trong cái thế giới bên ngoài không có tôi và trong tôi không có thế giới bên ngoài Do đó ta có nhị nguyên luận duy tâm hay duy vật máy móc Triết học Heghen là biện chứng: thế giới bên ngoài chuyển hóa thành cái tôi ( ý niệm ) và ngược lại, cái tôi ( ý niệm ) thông qua thực tiễn chuyển hóa thành thế giới bên ngoài ” [33,tr.209-210]

- Hêghen là người đầu tiên xây dựng những lý luận cơ bản cho ba quy luật, cho các cặp phạm trù của phép biện chứng, ông đã vận dụng chúng vào việc giải thích các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội Ông đánh giá cao vai trò của mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc của sự phát triển

- Một trong những thành tựu đáng kể của Hêghen trong phép biện chứng đó là việc ông vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lôgích và lịch sử, nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong quá trình khảo sát sự phát triển của lịch sử triết học Nhờ vậy mà ông đã đưa ra hai luận điểm có tính chân lý: 1) “ Cái bắt đầu của khoa học cũng là cái bắt đầu của lịch sử”; 2) “ Cái gì tồn tại thì cái đó hợp lý và cái gì hợp lý thì cái đó tồn tại” Quan điểm này có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của C.Mác khi ông chọn phạm trù “ hàng hóa” làm điểm khởi đầu cho bộ “ Tư bản” Thông qua việc phân tích lôgích của các bước chuyển hóa: hàng hóa đến tiền tệ đến hàng hóa ( sức lao động ) C.Mác đã phát hiện ra giá trị thặng dư và bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Hêghen là người có công lớn trong việc hoàn thiện: 1) khái niệm bộ ba: tiền đề - phản đề - hợp đề; 2) khái niệm phủ định biện chứng và tổng

Trang 32

hợp biện chứng Bản thân Hêghen rất nhất quán trong việc xây dựng hệ thống triết học của mình trên nguyên tắc nhịp ba, điển hình là tác phẩm

“Khoa học lôgích” V.I Lênin đã đánh giá về tác phẩm này như sau: “

Tiếng nói cuối cùng và bản chất của lôgích học của Hêghen, đó là phương pháp biện chứng, cái này thật là tuyệt diệu Và còn cái này nữa: trong tác phẩm duy tâm nhất này của Hêghen, có ít chủ nghĩa duy tâm nhất, nhiều chủ nghĩa duy vật nhất “ đó là một mâu thuẫn” nhưng đó cũng là một sự thực” [40,t.29,tr.254]

Đằng sau mặt tích cực ấy, phép biện chứng của Hêghen cũng thể hiện sự hạn chế nhất định đó là duy tâm và không triệt để:

- Hêghen đã gượng ép lịch sử hiện thực khách quan theo một sơ đồ chủ quan, từ đó đi đến việc đánh giá sai về lịch sử triết học Ông cho rằng lịch sử tư tưởng phương Đông thuộc về quá khứ, nhân dân phương Đông chỉ là những bậc thang để các dân tộc phương Tây bước qua đó mà tiến về phía trước

- Hêghen coi lịch sử triết học thuần túy như là lịch sử của chủ nghĩa duy tâm mà ít để ý đến lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật Ông không nhìn thấy rằng, chính chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là hai mặt đối lập tạo nên một hệ thống hoàn thiện, một chỉnh thể triết học thống nhất và cũng chính cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là động lực tinh thần thúc đẩy lịch sử triết học phát triển Cũng chính vì vậy mà C Mác đã ví: phép biện chứng của Hêghen như một cái cây gốc ở trên trời, ngọn ở dưới đất, nên cần phải dựng ngược nó lại là sẽ phát hiện được

Trang 33

cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ thần bí Và điều này đã được C Mác khắc phục trong phép biện chứng duy vật khoa học

Song, nhìn chung, những thành tựu lớn lao mà Hêghen đạt được không phải là nội dung triết học của ông, mà chính là phép biện chứng được ông vận dụng trong quá trình luận giải các vấn đề triết học Phép biện chứng đó được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc nhận thức luận, các nguyên lý, các quy luật và hệ thống phạm trù triết học Những thành công trong triết học Hêghen chứng tỏ rằng, ông hoàn toàn xứng đáng được nhận danh hiệu là “ một thần Dớt trên núi Olympe” trong lĩnh vực triết học, mặc dầu hệ thống triết học của ông “ cả về phương pháp lẫn nội dung chỉ là một thứ chủ nghĩa duy vật lộn ngược đầu xuống dưới một cách duy tâm chủ nghĩa ” [7,t.21,tr.407]

Lôgích học và phép biện chứng của Hêghen có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự hình thành phương pháp luận của phái Hêghen trẻ nói chung, của Phoiơbắc nói riêng Mặc dù, Phoiơbắc là một học trò trực tiếp của Hêghen nhưng ông đã sớm nhận thức được rằng, hệ thống triết học của thầy mình là duy tâm là sai lầm về phương diện thế giới quan Do vậy, ông đã tiến hành phê phán và sớm khắc phục những sai lầm trong triết học của Hêghen Trên cơ sở khắc phục những sai lầm trong triết học của thầy, Phoiơbắc đã xây dựng nên một hệ thống triết học mới - triết học tương lai mà nền tảng của nó là chủ nghĩa duy vật nhân bản và chủ nghĩa vô thần

Phoiơbắc là nhà triết học duy vật nhân bản, là người kế tục nền triết học cổ điển Đức Cùng với triết học của Cantơ, Phíchtơ, Sêlinh, Hêghen, triết học của Phoiơbắc là tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học

Trang 34

Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung Ông đã có công lớn trong việc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, cũng như chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung, khôi phục vị trí xứng đáng cho chủ nghĩa duy vật Theo Phoiơbắc, giới tự nhiên là một thực thể có tính đa dạng mà người ta có thể dùng các giác quan để lĩnh hội, giới tự nhiên có trước con người, nó là tổng hợp của tất cả những yếu tố vật chất, là cái tồn tại hiện thực Phoiơbắc cho rằng vạn vật trong tự nhiên vận động và phát triển theo quy luật tất yếu khách quan dựa trên nguyên lý nhân quả và mối liên hệ phổ biến Ông cho rằng mọi vật đều nằm trong sự tác động lẫn nhau, đều tương đối, đều đồng thời là kết quả, đồng thời lại là nguyên nhân, mọi vật trong tự nhiên đều có mặt tác động, đều có sự ràng buộc lẫn nhau Đứng trên quan điểm thừa nhận sự tồn tại lâu đời của giới tự nhiên, thừa nhận con người là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, Phoiơbắc đã có cơ sở khoa học để giải quyết đúng đắn vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy Ông cho rằng ý thức là thuộc tính đặc biệt của vật chất, tư duy là sản phẩm của bộ óc con người

Phoiơbắc là người theo cảm giác luận duy vật, ông chứng minh rằng đối tượng nhận thức của con người là thế giới, thế giới tồn tại một cách độc lập khách quan bên ngoài con người Các sự vật- hiện tượng trong thế giới vật chất tác động lên giác quan nhận biết của con người làm phát sinh ra cảm giác Như vậy, theo ông, cảm giác về bản chất là chủ quan, nhưng cơ sở hay nguyên nhân của nó là tồn tại khách quan Mặc dù, ông là người theo cảm giác luận duy vật nhưng ông không hiểu được bước chuyển biện chứng từ cảm giác đến tư tưởng, từ cái riêng đến cái chung và không thấy

Trang 35

được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Ông không xem nhận thức là quá trình biện chứng mà chỉ là quá trình phản ánh giản đơn, có tính máy móc siêu hình Đây cũng chính là điểm hạn chế trong triết học Phoiơbắc mà sau này đã được khắc phục trong triết học Mác Như vậy, tuy Phoiơbắc đứng trên lập trường cảm giác luận duy vật để giải quyết vấn đề nhận thức,

song nhận thức của Phoiơbắc vẫn còn nhiều hạn chế Trong Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã nêu ra những hạn chế của Phoiơbắc: “Khuyết điểm

chủ yếu từ trước đến nay của mọi chủ nghĩa duy vật ( kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc ) là sự vật, hiện thực, cái có thể cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức về mặt chủ quan Vì vậy, mặt năng động được chủ nghĩa duy tâm phát triển một cách trừu tượng Phoiơbắc muốn có những khách thể cảm giác được thực sự tách biệt với những khách thể của tư tưởng, nhưng ông không xem xét bản thân hoạt động của con người như là hoạt động khách quan vì vậy, ông không hiểu được ý nghĩa của hoạt động cách mạng của hoạt động thực tiễn… Phoiơbắc không hài lòng với tư duy trừu tượng, đã nhờ đến trực quan của cảm giác, nhưng ông không coi tính cảm giác là hoạt động thực tiễn” [5,t.3,tr.9-11]

Như vậy, chủ nghĩa duy vật trước C Mác nói chung và kể cả Phoiơbắc nói riêng đã xem xét cảm giác như trạng thái thụ động, chịu tác động từ bên ngoài con người Họ đã tách rời hoạt động nhận thức của con người về thế giới khỏi hoạt động thực tiễn đã minh chứng cho tính phiến diện của cách tiếp cận trực quan, giản đơn Thực ra, C Mác cho rằng, hoạt động cảm giác tự nó đã là hoạt động thực tiễn cụ thể của con người Con

Trang 36

người không chỉ chịu sự tác động của hoàn cảnh, mà còn là chủ thể tích cực cải tạo hoàn cảnh Những điều mà C Mác đề cập về vấn đề thực tiễn thì chủ nghĩa duy vật cũ chưa làm sáng tỏ được ý nghĩa nhận thức khi con người tác động vào thế giới Mà họ cần phải hiểu rằng con người nhận thức thế giới là suy cho cùng để cải tạo thế giới là nhằm mục đích cải tạo cuộc sống của con người

Nhìn chung, bức tranh triết học của cả chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII lẫn Phoiơbắc mang tính không triệt để Bởi vì, tất cả những tên tuổi lớn trong lịch sử triết học trước C Mác hầu như duy vật về tự nhiên nhưng lại duy tâm về xã hội Chính yếu tố này đã làm nên đặc trưng của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII và cả Phoiơbắc

Trước thời đại của C Mác có một số nhà duy vật đã đề xuất những tư tưởng biện chứng Song, nhìn chung, chủ nghĩa duy vật trước C Mác còn mang tính chất siêu hình Các nhà duy vật trước C Mác đã có quan điểm,

tư tưởng đúng đắn khi cho rằng vật chất, tự nhiên là tồn tại vĩnh viễn, khách quan, không do ai sáng tạo ra và cũng sẽ không bị tiêu diệt đi Nhưng đồng thời, họ mắc phải hạn chế và sai lầm khi giải thích sự vận động của vật chất trong thế giới chỉ đơn thuần là vận động cơ học trong không gian, nghĩa là sự đổi chỗ giản đơn, chỉ là quá trình bên ngoài, quá trình vận động này không do những mâu thuẫn bên trong tạo ra và từ đó không dẫn đến những biến đổi nhất định bên trong Tính chất máy móc thể hiện không chỉ ở sự giải thích vật chất và sự vận động của vật chất, mà còn ở sự mô tả con người qua hình ảnh “ con người – cỗ máy” Tính chất máy móc gắn với tính chất siêu hình của các nhà duy vật trước C Mác đã không xem thế giới là

Trang 37

một quá trình, không luận chứng thực sự thỏa đáng về nguyên nhân, động lực của sự phát triển Vì vậy, những nhà duy vật trước C Mác không nhìn thấy được sự vận động là mang tính phổ biến, tất yếu của sự biến đổi, sự phát triển nói chung của các sự vật - hiện tượng Mặt khác, những nhà duy vật trước Mác đã có quan niệm duy tâm khi giải thích về lịch sử, xã hội Vì vậy, cả chủ nghĩa duy vật máy móc - siêu hình lẫn chủ nghĩa duy vật tầm thường đều không còn phù hợp trong điều kiện hiện tại, cần phải được thay thế bằng một hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật.Và chủ nghĩa duy vật siêu hình - máy móc đã được thay thế bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào những năm 40 của thế kỷ XIX do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập

Như vậy, C Mác và Ph Ănghen đã kế thừa có chọn lọc những thành quả của các nhà triết học tiền bối, mà trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen và quan điểm duy vật của Phoiơbắc đã trở thành một trong những tiền đề lý luận quan trọng cho sự hình thành triết học duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác và về sau được Lênin phát triển Bởi vậy, trong phép biện chứng của triết học Mác luôn luôn có sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật Do đó, phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động và phát triển chung nhất của thế giới Nhờ vậy, C Mác và Ph Ăngghen đã khắc phục những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát thời cổ đại và chỉ tiếp nhận những hạt nhân hợp lý, những nhân tố duy vật trong hệ thống triết học của hai nhà tiền bối Hêghen và Phoiơbắc Bên cạnh đó, hai ông còn phê phán những hạn chế, lọc bỏ tất

Trang 38

cả những yếu tố bất hợp lý của họ như tính duy tâm khách quan, tính bảo thủ của Hêghen và phương pháp nhìn nhận siêu hình về xã hội của Phoiơbắc làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học thực sự mang tính vượt thời đại

1.2 PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT CỦA MÁC

Triết học Mác ra đời là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của tư tưởng triết học từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là một cuộc cách mạng thực sự trong triết học C Mác và Ph Ăngghen đã thực hiện xuất sắc nhu cầu lý luận mà lịch sử đã đặt ra Đối với hai ông, nghiên cứu triết học không phải là mục đích của riêng mình mà nhằm giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn của nhân loại đặt ra Mục đích cao nhất của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng là đề ra và luận chứng về lý luận việc giải phóng nhân loại đang bị áp bức C Mác khẳng định rằng:

“ các nhà triết học trước đây chỉ biết giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau Song vần đề cơ bản là ở chỗ cải tạo thế giới ” [5,t.3,tr.12]

C Mác là người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học C Mác là nhà lý luận, nhà chính trị, người thầy và người lãnh đạo phong trào công nhân thế giới Triết học Mác chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho giai cấp công nhân nói riêng và phong trào công nhân trên thế giới nói chung C Mác đã sinh ra trong một thời kỳ chuyển tiếp vĩ đại của lịch sử, đó là từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp, sự chuyển biến đó tạo nên một sự đảo lộn lớn về thế giới quan của ông từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật

Trang 39

Cùng với C Mác, Ph Ăngghen là người sáng lập ra hệ tư tưởng vô

sản, người sáng tạo thực sự khoa học của chủ nghĩa xã hội Tác phẩm “ Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” do C Mác và Ph Ăngghen biên soạn từ

tháng 12 năm 1847 đến tháng 1 năm 1848, là một văn kiện có tính chất cương lĩnh của thế giới quan mác- xít, hoàn thành quá trình hình thành chủ nghĩa Mác và cơ sở triết học của nó đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Tác phẩm này đã trình bày hết sức rõ ràng về thế giới quan mới, về chủ nghĩa duy vật triệt để bao trùm cả lĩnh vực đời sống xã hội, về phép biện chứng như là học thuyết về sự phát triển, về lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng có tính lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản Sự xuất hiện một thế giới quan triết học mới của hai ông đã dẫn tới sự sụp đổ của toàn bộ quan niệm sai lầm về lịch sử cũng như phương thức tư duy chính trị cổ truyền và thế giới quan mới này đã gặp phải sự phản kháng quyết liệt của các đại biểu theo thế giới quan cũ Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một thành quả vĩ đại của tư tưởng khoa học mà chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô sản mới có thể đạt tới được, nó đã đưa tới một kết luận có tính chất cách mạng tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản Thế giới quan mới của C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, là lý luận tiên tiến soi đường cho giai cấp vô sản Thế giới quan mới của hai ông còn chỉ ra sự khác nhau căn bản về chất giữa triết học của chủ nghĩa Mác và tất cả các học thuyết trước kia, đó là đã làm biến đổi một cách căn bản tính chất và vai trò xã hội của triết học Điều đó cũng có nghĩa rằng, triết học của chủ nghĩa Mác không chỉ thiên về mặt lý luận mà còn tham gia cải

Trang 40

tạo thực tiễn, chấm dứt tình trạng đối lập giữa triết học và thực tiễn, đối lập triết học và các khoa học cụ thể Thế giới quan mà hai ông đề cập ở đây là thế giới quan duy vật biện chứng Chính C Mác và Ph.Ăngghen đã giải phóng chủ nghĩa duy vật cũ khỏi phép siêu hình và giải phóng phép biện chứng khỏi sự thần bí duy tâm Hai ông còn vạch ra sự khác nhau không chỉ giữa phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm, mà cả giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật siêu hình, là cách đơn giản nhất và cũng rõ ràng nhất để làm sáng tỏ bước ngoặt cách mạng trong triết học Vì vậy, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học Mác được nâng lên một trình độ cao hơn, thống nhất thành một chỉnh thể thống nhất như là thế giới quan khoa học hoàn chỉnh về thế giới nói chung, về tự nhiên, về xã hội và về tư duy Chính vì vậy, triết học Mác ra đời thực sự được xem là một bước ngoặt vĩ đại trong lĩnh vực triết học nói riêng và khoa học xã hội nói chung

C Mác đã xây dựng triết học trở thành một khoa học thực sự, có đối tượng, có nhiệm vụ, mục đích và những vấn đề cơ bản của triết học C Mác đã từng phê phán các nhà triết học thời kỳ cổ đại đã không xác định đúng đối tượng của triết học, thậm chí còn bao sân cả các khoa học khác và tôn sùng triết học như “ khoa học của các khoa học” Chính vì tư tưởng bao sân của triết học mà các nhà triết học thời cổ đã không thấy được mục đích và nhiệm vụ mà mình cần phải làm C Mác khẳng định đặc trưng của triết học là sự khái quát hóa những lý luận chung nhất, phổ biến nhất, xác định triết học cũng chỉ là một khoa học cụ thể như các khoa học khác Vì vậy, mỗi khoa học đều có đối tượng nghiên cứu của riêng mình Triết học cũng vậy,

Ngày đăng: 29/08/2021, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w