1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh đặc điểm của lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp trong tiếng việt và tiếng anh

123 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận công lao cũng như thành quả nghiên cứu của các công trình trước đây mà ngược lại chúng tôi hết sức trân trọng và mong muốn được kế thừa,

Trang 1

HOÀNG VĂN PHONG

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CỦA LỜI DẪN TRỰC TIẾP VÀ LỜI DẪN GIÁN TIẾP TRONG

TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 2

HOÀNG VĂN PHONG

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CỦA LỜI DẪN TRỰC TIẾP VÀ LỜI DẪN GIÁN TIẾP TRONG

TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS LÊ TRUNG HOA

TP HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 3

Tôi xin gởi lời cám ơn sâu sắc nhất đến ba mẹ đã sinh thành và dưỡng dục; anh, chị, em trong gia đình luôn dành những tình cảm tốt đẹp và những lời động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin gởi lời cám ơn đến bạn bè và các anh chị trong lớp Ngôn ngữ 2005-2008 đã đưa ra những lời khuyên, lời động viên cũng như những ý kiến đóng góp xác đáng để hoàn thành luận văn này

Tôi xin gởi lời cám ơn đến các Thầy Cô đã dạy dỗ và các Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian đọc, nhận xét và đóng góp ý kiến cho luận văn

Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Lê

Trung Hoa đã đưa ra những gợi ý ngay từ khi viết đề cương cũng như

đã bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình tôi viết luận văn này

Tôi xin được gởi lời cám ơn chân thành và chúc sức khỏe, hạnh phúc đến tất cả

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29 tháng 7 năm 2008

Tác giả Hoàng Văn Phong

Trang 4

MỤC LỤC DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài 1

1.1 Về mặt lý luận 1

1.2 Về mặt thực tiễn 2

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5

3.1 Mục đích nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

3.3 Đối tượng nghiên cứu 6

4 Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu 6

4.1 Phương pháp nghiên cứu 6

4.2 Ngữ liệu nghiên cứu 7

5 Bố cục luận văn 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 1.1 Lời dẫn trực tiếp 10

1.2 Lời dẫn gián tiếp 11

1.3 Phân biệt LDGT với hành vi ngôn ngữ gián tiếp 13

1.4 Các kiểu câu thể hiện LDTT và LDGT 15

1.4.1 Định nghĩa về câu 15

1.4.2 Các kiểu câu thể hiện LDTT và LDGT theo mục đích phát ngôn 18

Trang 5

1.4.2.1 Câu trần thuật 18

1.4.2.2 Câu nghi vấn 19

1.4.2.3 Câu cầu khiến 20

1.4.2.4 Câu cảm thán 20

1.5 Nghĩa của câu 21

1.6 Các phương diện nghĩa của câu 24

1.6.1 Nghĩa miêu tả 24

1.6.2 Nghĩa tình thái 27

1.6.3 Nghĩa chủ đề 28

1.6.4 Nghĩa mục đích phát ngôn 28

1.7 Tiểu kết 29

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM LDTT VÀ LDGT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 2.1 Đặc điểm LDTT và LDGT trong tiếng Việt 30

2.1.1 Đặc điểm LDTT và LDGT trong tiếng Việt trên bình diện cấu trúc 30

2.1.1.1 Câu trần thuật 30

2.1.1.2 Câu nghi vấn 38

2.1.1.3 Câu cầu khiến 43

2.1.1.4 Câu cảm thán 44

2.1.2 Đặc điểm LDTT và LDGT trong tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa 47

2.1.2.1 Nghĩa của câu trần thuật 47

Trang 6

2.1.2.2 Nghĩa của câu nghi vấn 49

2.1.2.3 Nghĩa của câu cầu khiến 52

2.1.2.4 Nghĩa của câu cảm thán 53

2.1.2.5 Tiểu kết 53

2.2 Đặc điểm LDTT và LDGT trong tiếng Anh 55

2.2.1 Đặc điểm LDTT và LDGT trong tiếng Anh trên bình diện cấu trúc 55

2.2.1.1 Câu trần thuật 55

2.2.1.2 Câu nghi vấn 63

2.2.1.3 Câu cầu khiến 70

2.2.1.4 Câu cảm thán 74

2.2.2 Những điểm cần lưu ý khi chuyển từ LDTT sang LDGT trong tiếng Anh 75

2.2.2.1 Thay đổi thì 75

2.2.2.2 Thay đổi trợ động từ 78

2.2.2.3 Thay đổi đại từ 79

2.2.2.4 Thay đổi những từ chỉ không gian và thời gian 80

2.2.3 Đặc điểm LDTT và LDGT trong tiếng Anh trên bình diện ngữ nghĩa 81

2.2.3.1 Nghĩa của câu trần thuật 81

2.2.3.2 Nghĩa của câu nghi vấn 82

2.2.3.3 Nghĩa của câu cầu khiến 83

2.2.3.4 Nghĩa của câu cảm thán 84

2.2.3.5 Tiểu kết 85

Trang 7

CHƯƠNG 3

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM LDTT VÀ LDGT TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

3.1 Sự giống nhau về đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của

LDTT và LDGT trong tiếng Việt và tiếng Anh 87

3.1.1 Về mặt cấu trúc 87

3.1.1.1 Câu trần thuật 87

3.1.1.2 Câu nghi vấn 89

3.1.1.3 Câu cầu khiến 90

3.1.1.4 Câu cảm thán 91

3.1.2 Về mặt ngữ nghĩa 92

3.1.2.1 Câu trần thuật 92

3.1.2.2 Câu nghi vấn 92

3.1.2.3 Câu cầu khiến 94

3.1.2.4 Câu cảm thán 94

3.1.2.5 Tiểu kết 95

3.2 Sự khác nhau về đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của LDTT và LDGT trong tiếng Việt và tiếng Anh 96

3.2.1 Về mặt cấu trúc 96

3.2.1.1 Câu trần thuật 96

3.2.1.2 Câu nghi vấn 97

3.2.1.3 Câu cầu khiến 99

3.2.1.4 Câu cảm thán 100

3.2.2 Về mặt ngữ nghĩa 101

Trang 8

3.2.3 Tiểu kết 101

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 10

và toàn diện về LDTT và LDGT trong cả tiếng Việt và tiếng Anh, đặc biệt là chưa có công trình nào so sánh LDTT và LDGT giữa tiếng Việt

và tiếng Anh Hầu hết các công trình, các sách chỉ dành một phần rất nhỏ, khiêm tốn để nói về LDTT và LDGT Các kiểu câu thể hiện LDTT

và LDGT trong tiếng Anh đều được đề cập ở hầu hết các sách ngữ pháp căn bản nhưng chỉ dừng lại ở mức độ là nêu lên cách chuyển từ LDTT sang LDGT và ngược lại Nhìn chung, tất cả đều mang nặng tính thực

hành

Nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận công lao cũng như thành quả nghiên cứu của các công trình trước đây mà ngược lại chúng tôi hết sức trân trọng và mong muốn được kế thừa, phát huy những thành quả đó để phục vụ cho đề tài nói riêng và nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung, đặc biệt là phục vụ cho việc so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ

Đề tài dựa vào lý luận đại cương về LDTT và LDGT để phân biệt, nhận diện và miêu tả LDTT và LDGT trong tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 11

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các lý luận về ngữ nghĩa học để phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của LDTT và LDGT trong cả tiếng Việt và tiếng Anh

1.2 Về mặt thực tiễn

Trước hết, đề tài có ý nghĩa hết sức thiết thực trong công tác dạy

và học ngôn ngữ, đặc biệt là ngoại ngữ Hiện nay phong trào học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, đang phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu hội nhập của Việt Nam không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và kĩ thuật Tuy nhiên, người học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, hiện gặp rất nhiều khó khăn khi đặt câu và viết câu, do vậy chúng tôi muốn tìm hiểu và nghiên cứu đặc điểm LDTT và LDGT trong tiếng Việt và so sánh với đặc điểm của LDTT và LDGT trong tiếng Anh Qua đó có thể khái quát những tương đồng và dị biệt của LDTT và LDGT trong tiếng Việt, và LDTT và LDGT trong tiếng Anh để phần nào có thể giúp người học tiếng Anh so sánh với tiếng Việt

và ngược lại, người học tiếng Việt so sánh với tiếng Anh nhằm tìm ra

những giải pháp tối ưu khi học để đạt kết quả như mong muốn

Ý nghĩa thực tiễn rõ ràng tiếp theo của đề tài là trong lĩnh vực dịch thuật Nó giúp người làm công tác dịch thuật có thể xác định cấu trúc và ngữ nghĩa của LDTT và LDGT trong tiếng Việt và tiếng Anh để

có thể chuyển tải ý nghĩa một cách trọn vẹn, chính xác giữa một ngôn

ngữ này sang một ngôn ngữ khác và ngược lại

Trang 12

2 Lịch sử vấn đề

LDTT và LDGT đã được một số tác giả trong và ngoài nước

nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau

Hầu hết các sách ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Anh đều đề cập đến LDTT và LDGT như một phần nhỏ trong phạm vi nghiên cứu cấu trúc

câu

Diệp Quang Ban [ 7 , 8 ] dành một phần khá khiêm tốn trong các công trình của mình để đề cập đến hành động nói trực tiếp và hành động nói gián tiếp được thể hiện qua bốn kiểu câu: trình bày, nghi vấn, cầu khiến và cảm thán

Nguyễn Thị Lương [ 35 ] đề cập đến hành động nói trực tiếp, hành động nói gián tiếp và các kiểu câu thể hiện chúng như: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán và câu phủ định

Ngoài ra, mặc dù không đề cập trực tiếp đến LDTT và LDGT nhưng có nhiều tác giả phân loại câu tiếng Việt dựa theo mục đích phát ngôn liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Bùi Đức Tịnh [ 1 ] dành chương D để nói về “các thể câu”: câu xác định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu khuyến lệnh, câu tỏ sự mong ước hay hối tiếc

Đỗ Thị Kim Liên [ 12 ] dành trọn chương IV trong công trình của mình để đề cập đến câu phân loại theo mục đích phát ngôn gồm: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh - cầu khiến, câu cảm thán Tác giả tiếp tục phân loại khá chi tiết về các tiểu loại của các kiểu câu ở trên với những dẫn chứng khá phong phú

Trang 13

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [ 24 ] nêu ngắn gọn việc phân loại câu theo mục đích nói trong chương XXIII Theo nhóm tác giả này, câu phân loại theo mục đích nói gồm có bốn kiểu câu: câu tường thuật (câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu mệnh lệnh (câu cầu khiến), câu cảm thán (câu cảm)

Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia [ 40 ] đề cập đến câu khẳng định và phủ định, tường thuật, nghi vấn, cầu khiến và biểu cảm nhưng dưới góc độ phân loại cấu tạo theo câu đơn

Mak Halliday [ 14 ] trình bày LDTT và LDGT trong tiếng Anh theo quan điểm Ngữ pháp chức năng Phân loại LDTT và LDGT thuộc loại cú phức Nêu lên mối quan hệ giữa các cú trong LDTT và LDGT qua các kiểu câu: nhận định, câu hỏi, đề nghị

Collins Cobuild [ 43 ] trình bày khá chi tiết về LDTT và LDGT trong tiếng Anh Tuy nhiên, tác giả chỉ nêu chi tiết những trường hợp và dẫn chứng một số ví dụ cho từng trường hợp sử dụng LDGT mà rất ít khái quát hoá về mặt lý luận

Frank Marcella [ 47 ] trình bày khá ngắn gọn về định nghĩa câu, cách phân loại câu dựa vào các kiểu câu (type) và dựa vào số lượng kết cấu chủ vị đầy đủ (full predication)

Ngọc Lam [ 25 ] trình bày một cách ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, mang nặng tính thực hành về LDGT trong tiếng Anh

Lê Dũng [ 17 ] giới thiệu khái quát về LDTT và LDGT trong tiếng Anh, nêu lên những thay đổi khi chuyển từ LDTT sang LDGT

Trang 14

Ngoài ra, hầu hết các sách, giáo trình ngữ pháp tiếng Anh đều đề cập đến LDTT và LDGT nhưng ở phạm vi thực hành, tức là trình bày hết sức ngắn gọn, dễ hiểu và đưa ra một loạt các bài tập ứng dụng để người học dễ dàng tiếp thu những điều cơ bản về LDTT và LDGT cũng như cách chuyển từ LDTT sang LDGT

3 Mục đích, phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm liên quan đến LDTT và LDGT tiếng Việt và tiếng Anh về mặt cấu trúc và

ngữ nghĩa

Trước hết, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, miêu tả những đặc

điểm về mặt cấu trúc của LDTT và LDGT tiếng Việt và tiếng Anh

Sau đó, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu ngữ nghĩa của LDTT và LDGT trong cả hai ngôn ngữ này

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về LDTT và LDGT trong văn bản nghệ thuật, cụ thể là các tác phẩm văn học của những nhà văn nổi tiếng Việt Nam, Anh và Mỹ Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu LDTT và LDGT tiếng Việt và tiếng Anh dựa vào phân loại câu theo mục đích phát ngôn, tức là, chúng tôi nghiên cứu LDTT và LDGT được thể hiện qua các kiểu câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán Đề tài không nghiên cứu LDTT và LDGT dựa vào phân loại theo cấu trúc câu đơn, câu ghép và câu phức Trong phần nghĩa của câu, theo các tác giả John Lyons, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Ly Kha, v.v thì nghĩa của

Trang 15

câu có nhiều loại: nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề và nghĩa mục đích phát ngôn Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi tập trung xem xét, nghiên cứu nghĩa của mục đích phát ngôn bao gồm nghĩa của câu trần thuật, nghĩa của câu nghi vấn và nghĩa của câu cầu khiến và

cuối cùng là nghĩa của câu cảm thán trong cả tiếng Việt và tiếng Anh 3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là LDTT và LDGT tiếng Việt và tiếng Anh Chúng tôi xét LDTT và LDGT trên bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa

4 Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích đặc điểm LDTT và LDGT tiếng Việt và tiếng Anh trong các tác phẩm văn học mà tác giả dùng làm ngữ liệu trên bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa Sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa LDTT

và LDGT sẽ giúp chúng tôi xác định một cách cụ thể, chi tiết những đặc điểm nổi bật và những trường hợp ngoại lệ khi thể hiện LDTT và LDGT Sau đó chúng tôi sẽ tiến hành khái quát hoá những cấu trúc thường gặp của LDTT và LDGT thông qua các mô hình Đây là cơ sở để giúp chúng tôi dễ dàng hơn trong việc sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu giữa

Trang 16

chiếu sẽ giúp chúng tôi tìm ra những tương đồng và dị biệt về những đặc điểm của LDTT và LDGT trong tiếng Việt và tiếng Anh Tuy nhiên, trước khi tiến hành so sánh và đối chiếu, chúng tôi phải khảo sát những đặc thù của từng ngôn ngữ để có cái nhìn toàn diện, khái quát đặc trưng của từng ngôn ngữ Sau khi tiến hành so sánh và đối chiếu, chúng tôi tiếp tục sử dụng phương pháp diễn dịch để diễn giải những kết quả đạt

được về những vấn đề đặt ra trong đề tài

4.2 Ngữ liệu nghiên cứu

Chúng tôi khảo sát một số tác phẩm văn học của các tác giả nổi

tiếng để làm cơ sở, chứng minh cho các luận điểm của mình

Về tiếng Anh, chúng tôi sử dụng tác phẩm: White Fang (1905), (Nanh trắng), The Call of the Wild (1903), (Tiếng gọi nơi hoang dã) của

Jack London (1876-1916), và nhiều tác phẩm tiêu biểu, nổi tiếng của văn học Mỹ được Lê Huy Lộc và Nguyễn Hoàng Linh biên soạn [ 1 ] Chúng tôi chọn hai tác phẩm của Jack London bởi vì đây là những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn nổi tiếng người Mỹ Còn những tác phẩm được Lê Huy Lộc và Nguyễn Hoàng Linh biên soạn, đây là những tác phẩm tiêu biểu cho từng thời kỳ khác nhau của nền văn học Mỹ, mỗi tác phẩm có độ dài vừa phải, tiêu biểu cho phong cách của từng giai đoạn trong lịch sử văn học Mỹ

Về tiếng Việt, chúng tôi sử dụng tác phẩm Mùa gió chướng (1975) của Nguyễn Quang Sáng và tác phẩm Xóm bàu láng(1968) của

tác giả Sơn Nam Đây là những tác giả nổi tiếng người miền Nam nói

Trang 17

riêng và Việt Nam nói chung Hai tác phẩm này có độ dài vừa phải:

Mùa gió chướng (438 trang) và Xóm bàu láng (395 trang)

Ngoài ra, để có cơ sở vững chắc cho những luận điểm được nêu trong đề tài, chúng tôi còn sử dụng những ví dụ phổ biến trong đời sống hàng ngày để bổ sung, cũng cố cho những đặc điểm, vấn đề cụ thể, những luận điểm được nêu ra trong luận văn

Nguồn ngữ liệu tuy không phải là nhiều nhưng nó đáp ứng được những nhiệm vụ đặt ra trong luận văn

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần dẫn luận, luận văn gồm nội dung chính với ba chương:

Chương 1: nêu lên các vấn đề mang tính lý thuyết về LDTT và

LDGT; phân biệt LDGT với hành vi ngôn ngữ gián tiếp, các kiểu câu thể hiện LDTT và LDGT theo mục đích phát ngôn Ngoài ra, chúng tôi cũng nêu những đặc điểm cơ bản về nghĩa của câu, các bình diện nghĩa của câu Đây là chương đầu tiên trong nội dung của luận văn, do vậy chúng tôi nêu lên những đặc điểm mang tính khái quát, làm tiền đề, lý luận cho những vấn đề được đặt ra trong luận văn

Chương 2: nêu lên những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của

LDTT và LDGT tiếng Việt và những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của LDTT và LDGT tiếng Anh Đây là chương trọng tâm và là chương

có nội dung phong phú nhất của luận văn Trong chương này chúng tôi

đã cụ thể hoá những gì được nêu ra trong chương một Chúng tôi khái quát hoá các mô hình về các kiểu câu thể hiện LDTT và LDGT trong

Trang 18

tiếng Việt, sau đó sẽ giải thích và đưa ra những minh chứng cụ thể thông qua nhiều ví dụ trích dẫn trong các tác phẩm mà chúng tôi sử dụng làm ngữ liệu Bên cạnh đó, chúng tôi còn đưa ra những ví dụ thường được sử dụng hàng ngày để củng cố thêm những luận điểm đã nêu trong luận văn Cuối mỗi phần chúng tôi đều diễn giải về các mô hình đó

Chương 3: dựa trên những nội dung đã được trình bày trong

chương 2, chúng tôi tiến hành so sánh để tìm ra sự tương đồng và dị biệt về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa của LDTT và LDGT trong tiếng Việt

và tiếng Anh Trong phần đầu của chương ba, chúng tôi nêu lên những điểm tương đồng giữa LDTT và LDGT trong tiếng Việt và tiếng Anh, sau đó chúng tôi tiếp tục nêu lên những điểm dị biệt về LDTT và LDGT giữa hai ngôn ngữ này

Với tên đề tài “So sánh đặc điểm của LDTT và LDGT trong tiếng Việt và tiếng Anh”, chúng tôi cho rằng bố cục và dung lượng của luận văn gồm ba chương như vừa trình bày ở trên là hợp lý

Ngoài ra, luận văn còn có phần kết luận Trong phần này chúng tôi nêu lên kết quả đạt được của đề tài và đưa ra những kiến nghị cho những công trình nghiên cứu sau liên quan đến LDTT và LDGT trong cả hai ngôn ngữ

Bên cạnh đó luận văn còn bao gồm phần phụ lục, tài liệu trích dẫn, tài liệu tham khảo

Trang 19

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

1.1 Lời dẫn trực tiếp

‘Lời dẫn trực tiếp (direct speech) là sự trích dẫn chính xác những

từ mà người phát ngôn nói ra, thường được biểu thị bằng dấu ngoặc kép.’ [Asher Ronald E., 41 ]

LDTT dùng để chuyển tải những gì một người đã nói, thường để nhấn mạnh, nhằm tạo ra ý nghĩa ngay lập tức hoặc nêu bật tầm quan trọng của những từ được sử dụng

Tiêu chí quan trọng nhất để phân biệt LDTT với LDGT đó là LDTT trích dẫn chính xác những gì mà người phát ngôn đã nói Còn LDGT chỉ nêu lại những gì người phát ngôn đã nói ra, trong đó có thể thêm hoặc bớt một số từ và thay đổi đại từ cho phù hợp với ngữ cảnh

Ví dụ:

- Hai Lành gượng gạo đứng dậy: ‘Thế là bọn hải tặc đã bắt sống

ông cai tổng Biện cho ăn uống tử tế rồi đem cái áo bành tô về

để làm tin, tống tiền gia đình cậu Hai’

[Nguyễn Quang Sáng, 4 ]

- ‘That’s nothing,’ said Thornton ‘Buck can pull three hundred

and fifty’ [Jack London, 1 ]

Về mặt hình thức thì LDTT được đặt trong dấu ngoặc kép (“…”), (‘…’) sau động từ chính hoặc mệnh đề chính

Trang 20

Ví dụ:

- “Look here, Henry,” Bill said [Jack London, 3 ] (1)

- “Yes I feel sorry for any man who hits you when Buck’s

near,” Said Pete [Jack London, 1 ]

- Cha của chú hay nói: “Trước sau gì chú Năm Bờ cũng trở

về Đồng khởi tới nơi!” [Nguyễn Quang Sáng, 4 ]

1.2 Lời dẫn gián tiếp

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta rất thường dùng LDGT không phải vì con người thích phức tạp, dài dòng mà là vì chúng ta không thể biết và không thể nhớ một cách chính xác lời của người khác

đã nói Vì vậy, chúng ta thường dùng LDGT để trình bày lại những gì người khác đã nói cho người thứ ba nghe

‘Lời dẫn gián tiếp (indirect speech, reported speech) là phát ngôn

có liên quan trong một mệnh đề phụ thuộc.’ [Asher, Ronald E., 41 ]

LDGT là lời nói được một người thứ hai chuyển tải lại lời của người thứ nhất với một số thay đổi trong cách dùng từ Điều chúng ta quan tâm nhất trong LDGT đó là nội dung của thông điệp được chuyển tải chứ không phải là từ ngữ mà người phát ngôn thứ nhất (người phát ngôn ra lời nói đó) sử dụng Thường thì người chuyển tải nội dụng thông điệp, lời nói đó sử dụng nhiều từ khác với từ mà người phát ngôn nói ra thông điệp đó sử dụng nhưng vẫn bảo đảm được nội dung của thông điệp

Với đặc điểm là người chuyển tải lời nói hoặc thông điệp có thể

sử dụng từ ngữ khác với người phát ngôn ra thông điệp cho nên đặc

Trang 21

điểm cơ bản trong LDGT là có sự thay đổi từ loại (đại từ) và những đặc điểm ngữ pháp cho phù hợp tình huống, hoàn cảnh tại thời điểm mà người chịu trách nhiệm chuyển tải nội dung của thông điệp đó thực hiện

Ví dụ:

Ví dụ (1) có thể được chuyển thành câu LDGT như sau:

- Bill asked Henry to look there

Chúng ta tiếp tục xem xét ví dụ sau:

- I hear you’re giving Irene Scherer a violent rush

Qua hai ví dụ trên, chúng ta thấy rằng mỗi câu đều có hai mệnh đề được liên kết với nhau bằng một động từ tường thuật «asked»; «hear»

và mệnh đề được tường thuật (-Henry to look there; - you’re giving Irene Scherer a violent rush) không thể tồn tại (hoặc nếu có thì người nghe không hiểu nội dung của mệnh đề tường thuật) nếu không có mệnh

đề tường thuật (Bill asked -; I hear-)

Ví dụ:

- Elisa saw that he was a very big man

[John Steinbeck, 1 , tr.169] Ngày nay, với một lượng thông tin khổng lồ mà hàng ngày mỗi người tiếp nhận thông qua tiếp xúc trực tiếp với người khác, qua báo đài, sách vở, Internet…chúng ta không thể nhớ một cách chính xác và trọn vẹn những phát biểu, những cuộc đối thoại giữa mọi người xung quanh, do vậy, mọi người thường dùng LDGT để thuật lại những gì mà mình thấy, nghe được cho người thứ ba

Trang 22

Ví dụ 1

(Hai nam sinh viên gặp nhau trên giảng đường)

Sinh viên 1: Ủa, hôm qua tao nghe nhỏ Hà nói là mày bị bệnh mà?

Sinh viên 2: Bệnh cái đầu mày, mày mà nghe nhỏ Hà thì có nước bán

nhà

Hoặc:

Nữ sinh viên 1: Ê, Lan, hôm qua tao thấy con nhỏ đó đi cặp với thằng

Hùng lớp Báo chí 3 đó!

Nữ sinh viên 2: Chuyện đó xưa như trái đất rồi

Qua hai ví dụ nêu trên cũng như từ kinh nghiệm của mỗi người, chúng ta thấy rằng LDGT được sử dụng rất phổ biến trong đời sống hàng ngày, với nhiều mục đích khác nhau

1.3 Phân biệt LDGT với hành vi ngôn ngữ gián tiếp

Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, khảo sát LDTT và LDGT chứ không nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp

Ở đây cần phân biệt LDGT với hành vi ngôn ngữ gián tiếp

(indirect speech act) Trong lý thuyết hành động ngôn từ thì hành động gián tiếp là một phát ngôn mà mục đích thông tin không được phản ánh trong hình thức ngôn ngữ đã sử dụng Searle định nghĩa về hành vi ngôn ngữ gián tiếp như sau: ‘Một hành vi tại lời được thực hiện gián tiếp qua một hành vi tại lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp’ [Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, 30 ]

Trang 23

Ví dụ 1

- It is very cold (Trời lạnh quá.)

Khi một người ngồi trong nhà nói lên câu này thì người nói với mong muốn yêu cầu chủ nhà đóng cửa sổ lại

Ví dụ 2 (trong phòng nữ ở ký túc xá sinh viên, đã 22h mà các bạn trai

vẫn chưa về)

Lan 1 (Một cô gái trong phòng hỏi một cô bạn):

- Mấy giờ rồi ấy nhỉ?

Duyệt 1 (Bạn trai):

- Thôi bọn này về nhé

Hồng (Cô gái khác trong phòng):

- Sao vội thế, ngồi chơi đã

Trong ví dụ này, rõ ràng Lan đã dùng hành vi ngôn ngữ gián tiếp

là hỏi một người bạn trong phòng nhằm làm cho các bạn trai hiểu được

hành vi trực tiếp đó là “đã trễ rồi, mời mọi người về cho” Tất nhiên,

với thông điệp thông thường này thì các bạn trai đang ngồi ở đó nhanh

chóng hiểu ra là: Có người đuổi rồi

Như vậy, hành vi ngôn ngữ gián tiếp là hành vi mà người phát ngôn thực hiện một hành vi ở lời nói này nhưng lại nhằm làm cho người

Trang 24

nghe dựa vào khả năng hiểu biết ngôn ngữ cũng như mối quan hệ, môi trường, hoàn cảnh xung quanh giữa hai người để suy diễn, hiểu được lời nói ở một hành vi khác Còn LDGT là thay vì lập lại chính xác lời nói của người khác, chúng ta sử dụng những lời lẽ của riêng mình với một

số thay đổi so với LDTT nhưng vẫn bảo đảm nội dung của thông điệp

1.4 Các kiểu câu thể hiện LDTT và LDGT

47 , tr.220] Qua hai định nghĩa về câu của Sapir và Frank Marcella, chúng ta nhận thấy cả hai định nghĩa trên đều có một điểm chung, đó là một câu trọn vẹn thì bao giờ cũng gồm có chủ ngữ và vị ngữ Frank Marcella đã đi sâu hơn khi cho rằng trong thành phần vị ngữ gồm có một động từ biến ngôi (finite verb) Đây là một đặc điểm tiêu biểu của các ngôn ngữ biến hình như Anh, Pháp, Nga, v.v mà trong trường hợp này, tác giả muốn đề cập đến thứ tiếng mà tác giả đang nghiên cứu – đó

là tiếng Anh

Theo Nguyễn Hiến Lê, câu là ‘phạm trù ngữ pháp cơ bản của cú pháp học Nó là đơn vị độc lập nhỏ nhất của lời nói, đơn vị hiện thực của giao tiếp được cấu tạo từ và ngữ theo quy luật ngữ pháp và ngữ điệu của một ngôn ngữ, là phương tiện cơ bản để hình thành, thể hiện và

Trang 25

thông báo ý nghĩ, cảm xúc về thực tại và mối quan hệ của chúng với người phát ngôn Câu là một số tiếng diễn đạt một ý độc nhất hoặc một

ý chính với nhiều ý phụ để thêm nghĩa cho ý chính đó như chỉ trường hợp, nguyên nhân, kết quả…của ý chính đó’ [Dẫn theo Nguyễn Như Ý,

34 , tr.32]

Theo Hoàng Trọng Phiến, ‘câu là đơn vị lời nói có tổ chức riêng

và mang thông tin nhất định Đơn vị này được xây dựng trên vật liệu từ

và các kết cấu, chủ yếu là kết cấu chủ vị Ở kết cấu này thể hiện đầy đủ tính vị ngữ và vị ngữ Tính vị ngữ làm thành điều kiện đặc thù của câu Tất cả các tính chất khác đều thứ yếu.’ [Dẫn theo Nguyễn Như Ý, 34 , tr.32]

Còn theo Hữu Quỳnh, ‘câu là đơn vị ngôn ngữ dùng để thông báo,

có tính giao tiếp, tính hình thái và tính vị ngữ’ [Dẫn theo Nguyễn Như

Ý, 34 , tr.32]

Qua các định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng về mặt cấu trúc, các tác giả đều đồng ý là câu gồm có một kết cấu đặc trưng trong đó chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần nòng cốt, còn về mặt chức năng thì câu dùng để trình bày, thông báo một sự kiện, một tình huống hay diễn tả một nội dung trong một văn cảnh nhất định

Theo nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [ 24 , tr.285], hiện nay có ba căn cứ để phân loại câu: thứ nhất là căn cứ theo mục đích nói gồm bốn kiểu câu: câu tường thuật (câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu mệnh lệnh (câu cầu khiến), câu cảm thán (câu cảm); thứ hai là căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực (hoặc điều

Trang 26

tưởng tượng của tư duy) có hai kiểu câu: câu khẳng định và câu phủ định; thứ ba là căn cứ theo cấu tạo có hai kiểu câu lớn: câu đơn và câu ghép Như đã trình bày trong phần Dẫn luận (3.2: phạm vi nghiên cứu), chúng tôi tiến hành nghiên cứu LDTT và LDGT trong tiếng Việt và tiếng Anh dựa vào các kiểu câu phân loại theo mục đích phát ngôn Tuy nhiên, về cách gọi tên các kiểu câu này thì vẫn chưa có sự thống nhất giữa các tác giả, nhóm tác giả

1 Diệp Quang Ban [ 7 , tr.307]; [ 8 tr.237] sử dụng tên gọi là câu trình bày, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán

2 Đỗ Thị Kim Liên [ 12 , tr.131] gọi tên: câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh-cầu khiến, câu cảm thán

3 Nhóm tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [ 24 , tr.285] phân loại câu theo mục đích nói gồm có bốn loại: câu tường thuật (câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu mệnh lệnh (câu cầu khiến), câu cảm thán (câu cảm)

4 Nguyễn Thị Lương [ 35 , tr.191] gọi là: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán và câu phủ định

5 Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia [ 40 , tr.249] gọi là câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu biểu cảm

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thống nhất sử dụng tên gọi là câu trần thuật (declarative sentences), câu nghi vấn (interrogative sentences), câu cầu khiến (imperative sentences) và câu cảm thán (exclamaroty sentences) xuất phát từ một số lý do sau Trước

Trang 27

hết là về mặt ngữ nguyên, tất cả đều là những cụm từ Hán Việt (trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán) Ngoài ra, còn có sự thống nhất về

số lượng âm tiết Đây đều là những cụm từ gồm ba âm tiết: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán Sở dĩ có cách gọi không thống nhất đó là do một số tác giả nhầm lẫn giữa mục đích và tên gọi khi gọi tên các kiểu câu Mục đích của câu trần thuật đó là trình bày hay nêu lên (kể lại), tường thuật một sự kiện hoặc một tình huống nào đó; mục đích của câu nghi vấn là để hỏi; mục đích của câu cầu khiến là để yêu cầu hoặc sai khiến (ra lệnh) nên có tác giả gọi là câu mệnh lệnh và cuối cùng, mục đích của câu cảm thán đó là biểu lộ cảm xúc

1.4.2 Các kiểu câu thể hiện LDTT và LDGT theo mục đích phát

Trang 28

Theo Diệp Quang Ban, ‘ngữ điệu của câu trần thuật1 có đường nét đặc thù là bằng phẳng và có xu hướng hạ giọng ở phần cuối câu’

Ví dụ:

- Ông lão đặt cái ống đựng viết xuống mặt đá [Sơn Nam, 5 ]

- The two men at counter read the menu

[E Hemingway, 1 , tr.139]

1.4.2.2 Câu nghi vấn

‘Câu biểu thị sự hỏi và khi viết được kết thúc bằng dấu chấm hỏi

(?) Các phương tiện ngôn ngữ thể hiện câu nghi vấn là: ngữ điệu hỏi (nhấn cao giọng ở từ muốn hỏi), từ nghi vấn (nào, đâu, gì, sao…), trật

tự từ’ [Nguyễn Như Ý, 34 , tr.39]

Câu nghi vấn dùng để thể hiện sự hoài nghi của người phát ngôn

về một sự vật, hiện tượng, một vấn đề gì đó mà người phát ngôn mong muốn người nghe trả lời

Dấu hiệu nhận diện câu nghi vấn đó là thường có dấu chấm hỏi đặt ở cuối câu (?)

Ví dụ:

- ‘Cái gì?’, ông lão hỏi to [Sơn Nam, 5 ]

- ‘Say, Henry,’ he asked suddenly, ‘how many dogs did

you say we had?’ [Jack London, 3 ]

- ‘What the hell do you put it on the card for?’

[E Hemingway, 1 , tr.139]

1 Tác giả sử dụng câu trình bày (tường thuật) [Sđd, 8, tr.209, 212] nhưng về bản chất thì tên gọi này giống với câu trần thuật được chúng tôi sử dụng trong luận văn

Trang 29

1.4.2.3 Câu cầu khiến

‘Câu biểu đạt yêu cầu, nguyện vọng, khuyên bảo, sai khiến, xin

xỏ, thúc giục hành động (Ở các ngôn ngữ biến hình vị ngữ của câu cầu khiến thường được biểu hiện bằng động từ ở thức mệnh lệnh) Khi nói,

có ngữ điệu mệnh lệnh (thường nhấn mạnh vào những từ ngữ mang nội dung lệnh) Khi viết ngữ điệu mệnh lệnh có thể được thể hiện bằng dấu chấm than (!) đặt ở cuối câu.’ (Dẫn theo Nguyễn Như Ý, 34 , tr.39)

Câu cầu khiến được dùng để yêu cầu người nghe thực hiện một hành động nào đó và được thể hiện bằng dấu chấm than (kèm theo ngữ điệu mạnh hoặc dấu chấm (đi liền với ngữ điệu nhẹ) đặt ở cuối câu

Ví dụ: Giơ tay lên!

1.4.2.4 Câu cảm thán

Theo Nguyễn Kim Thản, câu cảm thán là: ‘Câu trong đó ngoài sự biểu thị nội dung cơ bản, có kèm theo sự thể hiện cảm xúc của người phát ngôn có liên quan với nội dung cơ bản đó (hoặc chỉ thể hiện cảm xúc thôi) Sự thể hiện cảm xúc được truyền đạt bằng những phương tiện đặc biệt: từ, cụm từ, ngữ điệu Khi nói, có ngữ điệu cảm (thường là kéo dài ở những từ làm chỗ dựa cho ý bộc lộ cảm xúc) và khi viết, ngữ điệu cảm được thể hiện bằng dấu chấm than (!) đặt ở cuối câu (Dẫn theo Nguyễn Như Ý, 34 , tr.33)

Theo Diệp Quang Ban, ‘câu cảm thán thường được dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ của người phát ngôn đối với một vật hay một sự kiện nào đó mà câu nói trực tiếp đề cập đến hoặc ám chỉ’ (Dẫn theo Nguyễn Như Ý, 34 , tr.33)

Trang 30

Cả hai định nghĩa trên đều có điểm chung đó là câu cảm thán được dùng để biểu lộ cảm xúc của người phát ngôn

Câu cảm thán dùng để biểu thị mức độ tình cảm, thái độ đánh giá của người phát ngôn Dấu hiệu nhận biết câu cảm thán đó là có dấu cảm (!) đặt ở cuối câu

Ví dụ: Lạnh quá! [Sơn Nam, 5 ]

1.5 Nghĩa của câu

Để hiểu nghĩa của câu trước hết chúng ta hãy xem xét nghĩa là gì? Cũng giống như định nghĩa về câu, việc xác định nghĩa là gì là một vấn

đề hết sức phức tạp và khó khăn Có nhiều định nghĩa khác nhau về

nghĩa

Theo John Lyons, có một số lí thuyết triết học khác nhau về nghĩa

[Sđd, 21 , tr.57]

a) Thuyết quy chiếu hay sở thị (denotational) (“nghĩa của

một biểu thức là đối tượng mà biểu thức đó chỉ ra (hay biểu thị) hoặc đại diện; ‘Fido’ có nghĩa là Fido, còn

‘chó’ thì có nghĩa hoặc là một tập hợp khái quát các con chó, hoặc là cái đặc trưng bản chất chung của chúng”); b) Thuyết ý niệm (ideational) hay tâm lí (mentalistic)

(“nghĩa của một biểu thức là cái ý niệm, hay quan niệm, gắn với nó trong tư duy của những ai biết và hiểu được biểu thức đó”);

c) Thuyết hành vi (behaviourist) (“nghĩa của một biểu thức

hoặc là cái kích thích gợi ra nó hay cái phản ứng mà nó

Trang 31

gợi ra, hoặc là sự kết hợp của cả hai thứ này trong một tình huống phát ngôn cụ thể”);

d) Thuyết nghĩa là cách dùng (meaning is use) (“nghĩa của

một biểu thức được xác định bởi, nếu không nói là đồng nhất với, cách dùng nó trong ngôn ngữ”);

e) Thuyết thẩm định (verificationist) (“nếu một biểu thức

có nghĩa thì cái nghĩa này được xác định bởi chứng cứ lấy từ câu hay mệnh đề chứa biểu thức đó”);

f) Thuyết điều kiện chân trị (truth-conditional) (“nghĩa của

một biểu thức là sự đóng góp của nó vào điều kiện chân trị của câu chứa nó”)

Tuy nhiên, Lyons cho rằng “không có thuyết nào trong số kể trên

tự mình làm thành một lí thuyết ngữ nghĩa học toàn diện và giàu sức giải thích thực tiễn”

Theo Nguyễn Như Ý, nghĩa là [1] “sự phản ánh đối tượng của hiện thực (các hiện tượng, các quan hệ, phẩm chất, quá trình) vào trong nhận thức, trở thành một yếu tố của ngôn ngữ nhờ việc tạo nên mối liên

hệ thường trực, liên tục với một chuỗi âm thanh nhất định nhờ đó sự phản ánh hiện thực này tham gia trong cấu trúc của từ như là mặt bên trong, mặt nội dung trong quan hệ với mặt âm thanh như là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa và thông báo nó cho người khác,

mà còn cần thiết cho chính sự hình thành, nảy sinh, tồn tại và phát triển của nó; [2] toàn bộ các chức năng của các đơn vị ngôn ngữ; tất cả những điều được các đơn vị ngôn ngữ này biểu hiện, phản ánh là mặt

Trang 32

nội dung của chúng Ví dụ: nghĩa chuyển, nghĩa số lượng; nghĩa nguyên

nhân [Sđd, 34 , tr.143]

Từ những khái niệm và định nghĩa về nghĩa là gì, các tác giả đưa

ra khái niệm và định nghĩa về nghĩa của câu như sau:

John Lyons cho rằng “nghĩa của câu được xác định không phải chỉ bởi nghĩa của các từ trong câu mà còn bởi cấu trúc ngữ pháp của câu” [Sđd, 21 , tr.50] và “nghĩa của câu độc lập với ngữ cảnh cụ thể mà câu

đó được sử dụng” [Sđd, 21 , tr.56]

John Lyons đã đưa ra ví dụ trong hai câu sau:

- It was raining yesterday (1)

- Was it raining yesterday? (2)

Hai câu này có số lượng từ vựng bằng nhau (bốn từ) nhưng lại khác nhau về nghĩa Câu (1) là câu trần thuật (Hôm qua trời mưa) còn câu (2) là câu nghi vấn (Hôm qua mưa à?)2 Sự khác biệt về mặt ngữ pháp dẫn đến sự khác biệt về mặt nghĩa

Theo Hurdford và Heasley, “nghĩa của câu là nghĩa nằm trong nội dung câu đó, không quan tâm đến ngữ cảnh và tình huống mà câu đó xuất hiện.” [Sđd, 50 , tr.269]

Theo Nguyễn Thị Ly Kha, “nghĩa của câu thường được hiểu là sự phản ánh đối tượng của hiện thực vào nhận thức của con người thông qua vỏ ngữ âm của câu, là toàn bộ chức năng của câu, là tất cả những nội dung được câu phản ánh Phản ánh là chức năng, đồng thời là mặt nội dung của câu Sự phản ánh đó có thể là một nhận định, là sự miêu tả

2 Nguyễn Văn Hiệp dịch [Sđd, 37, tr.50]

Trang 33

về một sự tình, là một dự đoán, một lời cảm ơn, v.v.” [Nguyễn Thị Ly Kha, 36 , tr.113)

Ví dụ:

- Cà Mau là đất mưa dông (a)

- Một buổi sáng, đôi bạn dạo chơi trên cánh đồng (b)

- Ngày mai thế nào cũng nắng to (c)

- Anh cám ơn em (d)

Trong những ví dụ trên, (a) là một nhận định, (b) là sự miêu tả về một sự tình, (c) là một dự đoán và (d) là một lời cảm ơn

[Dẫn theo Nguyễn Thị Ly Kha, Sđd, 36 , tr.113]

Qua những khái niệm và định nghĩa về câu như đã được đề cập ở trên, chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng nghĩa của câu là nghĩa của toàn bộ những từ trong câu kết hợp với cấu trúc ngữ pháp chứa trong câu đó

1.6 Các phương diện nghĩa của câu

Khi đề cập đến các phương diện (hoặc nét nghĩa) của câu thì các tác giả như John Lyons, Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Thị Ly Kha đều cho rằng câu có nhiều nét nghĩa khác nhau

1.6.1 Nghĩa miêu tả

Theo Nguyễn Văn Hiệp, “nghĩa miêu tả (còn được gọi là nghĩa biểu hiện, nghĩa trình bày, nghĩa kinh nghiệm) phản ánh sự tri nhận và kinh nghiệm của chúng ta về thế giới, theo đó mỗi câu nói có một vị từ làm cốt lõi và quây quần xung quanh là những tham thể, biểu thị những vai nghĩa nào đó” [Nguyễn Văn Hiệp, 37 , tr.36] Có những vai nghĩa

Trang 34

mang tính bắt buộc vì chúng bị quy định bởi bản chất từ vựng – ngữ pháp của vị từ trung tâm và cũng có những vai nghĩa mang tính tùy nghi

Có những vai nghĩa sau đây:

- Vai tác thể (Agent – Ag) biểu thị người gây ra hành động

- Vai nghiệm thể (Experiencer – Exp) biểu thị chủ thể trải nghiệm

- Vai lực tự nhiên (Force – Fo) chỉ tác nhân tự nhiên gây ra một

biến cố, thay đổi nào đó

- Vai bị thể (Patient – Pa) chỉ vật, người chịu sự tác động, dẫn đến

một thay đổi nào đó Sự thay đổi này có thể là thay đổi về vật lí, tâm lí…

- Vai công cụ (Instrument – Instr) chỉ công cụ được dùng để thực

hiện hành động

- Vai vật thực hiện tác động (Effector) chỉ vật trực tiếp tác động

đến đối tượng nào đó, vai này gần gũi với vai công cụ (trong tiếng Anh, cả hai đều có thể được đánh dấu bởi giới từ with)

- Vai địa điểm, vị trí (Location hoặc Locative – Lo) chỉ nơi chốn

của sự tình, vị trí tồn tại của sự vật

- Vai điểm xuất phát hay nguồn của trạng thái (Source – So) chỉ

điểm xuất phát của hành động, hay nguồn của trạng thái

Trang 35

- Vai điểm đến (Goal – Go): chỉ đích đến của một chuyển động

- Vai kẻ tham chiếu (Reference – Ref) chỉ người hay vật được dùng

để tham chiếu trong một trạng thái, quan hệ …

- Vai kẻ cùng hành động (Comcomitant – Com) chỉ người cùng

hành động trong một hành động

- Vai hướng chuyển động (Direction – Sir) hay lối đi (Path) chỉ

hướng của chuyển động

- Vai thời điểm (Temporal – Temp) chỉ thời điểm của sự tình

- Vai chủ sở hữu (Possessor – Poss) chỉ chủ sở hữu của sự vật

- Vai thời lượng (Duration – Dur) chỉ thời gian kéo dài của hành

động, trạng thái…

- Vai nội dung (Content) chỉ nội dung của sự hiểu biết

- Vai thực thể chuyển động (Theme) chỉ một thực thể tồn tại ở một

vị trí nào đó hoặc thực thể chuyển động, chịu một sự thay đổi về

vị trí do một tác nhân nào đó Vai này dùng để chỉ thực thể được

sở hữu hay chịu sự thay đổi về sở hữu

Ngoài ra, còn có một số vai nghĩa khác như vai nguyên nhân (Reason), vai mục đích (Purpose), vai cách thức (Manner) [Nguyễn Văn Hiệp, 37 , tr.42-45)

Sau khi phân loại các vai nghĩa thì điều quan trọng là làm sao phải phân biệt cho được các vai nghĩa trong thực tế Theo Parsons,

có ba phương thức để xác định vai nghĩa như sau:

- Dùng trật tự từ: thay đổi trật tự từ là thay đổi hình thức của

cái biểu đạt và trật tự từ được dùng để biểu đạt những quan hệ

Trang 36

ngữ pháp và ngữ nghĩa Đây là phuơng thức được sử dụng cho những ngôn ngữ không biến hình

- Dùng biến tố: đây là phương thức chỉ được sử dụng ở các ngôn

ngữ biến hình

- Dùng giới từ: đây là phương thức phổ biến dùng để đánh dấu

vai nghĩa [dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 37 , tr.42-45]

1.6.2 Nghĩa tình thái

Nghĩa tình thái là nghĩa xuất hiện khi chúng ta xem xét thái độ và

sự đánh giá của người nói, người viết đối với những gì mình nói ra, viết

ra

Những phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Anh (trong luận văn này, chúng tôi không xét đến phương tiện ngữ điệu) là động từ tình thái (modal verbs – auxiliary verbs) – đây là phương tiện biểu thị tình thái phổ biến trong các ngôn ngữ biến hình Trong tiếng Anh, những

động từ tình thái có số lượng không nhiều: have, has, had, may, might,

will, would, shall, should, can, could, must, do, does, did

Bên cạnh đó, thức (mood) cũng là một phạm trù ngữ pháp của động từ dùng để biểu thị giá trị tình thái của câu Tiếng Anh có thức trần thuật (indicative mood), thức giả định (subjunctive mood) và thức mệnh lệnh (imperative mood)

Ngoài ra, trạng từ và tính từ tình thái cũng tham gia vào việc biểu thị ý nghĩa tình thái Trong tiếng Anh, chúng ta thường gặp những trạng

từ tình thái quen thuộc như: maybe, possibly, probably, necessarily, v.v

Đây là những trạng từ mang ý nghĩa tình thái nhận thức

Trang 37

Còn trong tiếng Việt, chúng ta cũng có những phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái mang đặc trưng của một ngôn ngữ đơn lập xét trên phương tiện từ vựng (cũng giống như tiếng Anh, chúng tôi không xét đến khía cạnh ngữ điệu): các tiểu từ, nhóm tiểu từ tình thái đặt ở cuối

câu: à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, v.v.; các thán từ: ôi, eo ôi, chao ôi, ồ, v.v.; các trợ từ: đến, mỗi, những, nào, ngay, cả, đích thị, đã, mới, chỉ, vừa,

v.v

1.6.3 Nghĩa chủ đề (thematic meaning)

Theo Nguyễn Thị Ly Kha, “nghĩa chủ đề là loại nghĩa cho ta biết đối tượng mà người nói đề cập đến trong câu là đối tượng nào.” [Nguyễn Thị Ly Kha, 36 , tr.155]

Lyons cho rằng “loại nghĩa này được gọi là nghĩa chủ đề bởi nó được xác định bởi cách mà người nói chọn để trình bày điều đang được

đề cập đến (tức cái chủ đề của phát ngôn) trong mỗi quan hệ với những tiền giả định cụ thể, gắn với ngữ cảnh” [Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 37 , tr.188)

Rõ ràng khi nói ra một câu, điều đầu tiên là người nói nêu lên đối tượng (chủ đề) rồi sau đó mới nêu lên nội dung của đối tượng

1.6.4 Nghĩa mục đích phát ngôn

Trong câu, ngoài nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái và nghĩa chủ đề, còn có nghĩa mục đích phát ngôn bởi vì mục đích phát ngôn cũng là một phần trong phượng diện nội dung của câu Nghĩa mục đích phát ngôn gồm có mục đích trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán và tương

Trang 38

đương với các kiểu câu như câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến

ý nghĩa của câu Trong phần này, chúng tôi nghiên cứu nghĩa mục đích phát ngôn thông qua nghĩa của bốn kiểu câu: nghĩa của câu trần thuật, nghĩa của câu nghi vấn, nghĩa của câu cầu khiến và nghĩa của câu cảm thán

Trang 39

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta dùng lời nói để trao đổi thông tin, giao tiếp với nhau và lời nói được thể hiện qua nhiều kiểu câu khác nhau Như đã trình bày trong phần [3.2 phạm vi nghiên cứu], chúng tôi chỉ xem xét LDTT và LDGT dựa vào mục đích phát ngôn, tức

là LDTT VÀ LDGT được thể hiện qua các kiểu câu: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán

- “Lão ta trung thành với gia chủ quá lâu và đã nhận ra sự ngu

dại khờ khạo của mình” [Sơn Nam, 5 ]

Khi thuật lại LDTT bằng câu trần thuật, chúng ta thường sử dụng

từ “là”, “rằng” đứng trước LDTT, bỏ dấu ngoặc đơn hoặc ngoặc kép

trong LDGT và thay đổi đại từ trong LDGT cho phù hợp

Trang 40

Ví dụ 1 ở trên có thể chuyển sang LDGT như sau: Hai Lành nói

rằng lão Nhị trung thành với gia chủ quá lâu và lão ta đã nhận ra sự ngu

dại khờ khạo của mình

Ví dụ 2

- Tên đao phủ tuyên bố: “…Hôm nay, hai anh chị được tự do,

được trở về làm đám cưới.” [Nguyễn Quang Sáng, 4 , tr.413]

Ví dụ 2 có thể được chuyển sang LDGT như sau:

Tên đao phủ tuyên bố rằng hôm nay hai anh chị3 được tự do, được trở về làm đám cưới

Như vậy, chúng ta có thể mô hình hoá LDGT trong câu trần thuật:

Với mô hình 1 này, chủ ngữ trong mệnh đề chính khác với chủ ngữ trong mệnh đề bổ ngữ Thường thì chủ ngữ trong mệnh đề chính đó thể hiện người thuật lại nội dung của mệnh đề bổ ngữ

3 “anh chị” là hai nhân vật – hai người chiến sĩ yêu nước bị bọn giặc tra tấn dã man được nhà văn Trần Hoài Sơn (một nhân vật trong truyện) kể lại Trong trường hợp này, tác giả không nêu tên của nhân vật nên khi chuyển sang LDGT, chúng tôi vẫn giữ nguyên cách xưng hô ‘anh chị’

Ngày đăng: 29/08/2021, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w