1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những đóng góp của nguyễn chánh sắt trong tiến trình văn học nam bộ nửa đầu thế kỷ xx

228 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 3,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, những tác phẩm của họ đều ở bước đầu thử nghiệm nên nhanh chóng bị che lấp bởi làn sóng trào của văn học giai đoạn 1932-1945, khi mà các nhà văn lớp sau đã có một khoảng thời

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Lịch sử nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Những đóng góp của luận văn 14

7 Cấu trúc của luận văn 15

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VĂN HỌC NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ CUỘC ĐỜI SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN CHÁNH SẮT 17

1.1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa 17

1.1.1 Tình hình kinh tế, chính trị 17

1.1.2 Tình hình xã hội 22

1.1.3 Tình hình văn hóa 24

1.2 Tình hình văn học 31

1.2.1 Tình hình chung 31

1.2.2 Phong trào phiên âm – dịch thuật 35

1.2.3 Tiểu thuyết Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX 38

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Chánh Sắt 40

1.3.1 Cuộc đời 40

1.3.2 Sự nghiệp văn học 44

1.3.3 Nguyễn Chánh Sắt và Tô Chẩn – là một hay hai người 47

CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN CHÁNH SẮT 50

2.1 Tiểu thuyết tâm lý – xã hội 51

Trang 4

2.1.1.2 Đề cao đạo lý, tình nghĩa và xu hướng tự do trong

tình yêu 60

2.1.1.3 Tư tưởng yêu nước 68

2.1.2 Bước thử nghiệm đổi mới về nghệ thuật 70

2.1.2.1 Kết cấu 71

2.1.2.2 Bước đột phá trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 73

2.1.2.3 Những chuyển biến về ngôn ngữ 80

2.2 Tiểu thuyết nghĩa hiệp 85

2.2.1 Dung chứa thực trạng xã hội thực dân phong kiến 85

2.2.2 Kết cấu theo lối truyền thống 90

2.2.3 Nhân vật anh hùng nghĩa hiệp mang đậm tính cách con người Nam bộ 91

2.3 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam Lê Thái Tổ 97

2.3.1 Khơi dậy lòng yêu nước từ khí thế hào hùng của một thời đại oanh liệt 100

2.3.2 Dấu ấn đậm nét của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và những đổi mới trong nghệ thuật viết tiểu thuyết hiện đại 108

CHƯƠNG 3: VĂN NGHỊ LUẬN BÁO CHÍ VÀ VĂN HỌC DỊCH CỦA NGUYỄN CHÁNH SẮT 118

3.1 Văn nghị luận báo chí 118

3.1.1 Nhận thức xã hội sâu sắc 118

3.1.1.1 Kêu gọi việc xây dựng và phát triển nghề nông, công, thương 119

3.1.1.2 Khẳng định tầm quan trọng của giáo dục và chủ trương đưa giáo dục lên hàng đầu 123

Trang 5

3.1.1.4 Chống lại những hủ tục lạc hậu, thói hư tật xấu 128

3.1.2 Ý thức về vai trò của báo chí và người làm báo 129

3.2 Văn học dịch 130

3.2.1 Loại sách dịch: tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc 132

3.2.2 Cách dịch điêu luyện 149

KẾT LUẬN 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

Phụ lục 1: Bảng thống kê các tác phẩm dịch thuật của Tô Chẩn 172

Phụ lục 2: Danh sách một số bài báo của Nguyễn Chánh Sắt trên Nông cổ mín đàm 173

Một số hình ảnh về Nguyễn Chánh Sắt và tác phẩm 175

Nội dung một số bài báo của Nguyễn Chánh Sắt 191

Trang 6

NGUYỄN CHÁNH SẮT

(1869-1946)

Trang 7

NGUYỄN CHÁNH SẮT

(1869-1946)

Trang 8

NGUYỄN CHÁNH SẮT

(1869-1946)

Trang 9

Sau một thời gian tiến hành nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp

“Những đóng góp của Nguyễn Chánh Sắt trong tiến trình văn học Nam

bộ nửa đầu thế kỉ XX” đã hoàn thành

Tại vị trí trang trọng này, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối với:

• Thầy hướng dẫn PGS.TS Đoàn Lê Giang – người đã giúp đỡ tận tình trong việc sưu tầm tài liệu, trực tiếp hướng dẫn, góp ý

và đôn đốc, nhắc nhở chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

• Quý thầy cô trong khoa Ngữ văn và Báo chí trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã tận tâm giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi nghiên cứu tài liệu

• Các nhân viên phòng thông tin, phòng hạn chế của Thư viện Tổng hợp TP.HCM và Thư viện Khoa học xã hội đã phục vụ chu đáo, hết mình với tinh thần trách nhiệm cao

• Cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ trong lúc khó khăn để chúng tôi hoàn tất luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 10

9 Ví dụ: [3] : Tài liệu số 3 ở mục Tài liệu tham khảo

10 Ví dụ: [3, tr 18] : Tài liệu số 3 ở mục Tài liệu tham khảo,

trang 18

11 Ví dụ: [3, số 9, 1998] : Tài liệu số 3 ở mục Tài liệu tham khảo, số báo

9,

năm 1998

12 Ví dụ: [67, số 36, 18.9.2003] : Tài liệu số 67 ở mục Tài liệu tham

khảo, số báo 36, ngày 18 tháng 9 năm 2003

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX là giai đoạn phôi thai và bắt đầu trưởng thành của nền văn học mới Biết bao nhiêu công việc bộn bề với nhiều khó khăn, phức tạp cần phải làm trong công cuộc hiện đại hoá nền văn học dân tộc Các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỉ XX đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng đi tiên phong, phá bỏ thành trì kiên cố của một nền văn học chịu nhiều ảnh hưởng của văn học phương Đông, đặc biệt là của văn học Trung Quốc, để mở rộng tầm nhìn ra văn học thế giới

Trong khoảng thời gian đó, các tác phẩm của các nhà văn Nam

Bộ được độc giả đón nhận một cách nồng nhiệt, tạo nên được một làn sóng mới khá mạnh mẽ cho đời sống văn học Công lao của những nhà văn Nam Bộ như: Bửu Đình, Phạm Minh Kiên, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Phong Sắc,… là đã đặt những hòn đá đầu tiên làm nền tảng cho văn học Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, những tác phẩm của họ đều ở bước đầu thử nghiệm nên nhanh chóng bị che lấp bởi làn sóng trào của văn học giai đoạn 1932-1945, khi mà các nhà văn lớp sau đã có một khoảng thời gian nhất định để tích lũy kinh nghiệm đồng thời với những bước tiến dài của nền văn học dân tộc trên tiến trình hiện đại hóa Chính vì thế theo Bùi Đức Tịnh: “Trong suốt giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển sang văn chương hiện kim và giai đoạn hình thành của nền quốc văn mới, nghĩa là từ 1865 đến 1932, hầu hết các tác phẩm xuất hiện ở miền Nam đều bị coi như không có trong lịch sử văn học Việt Nam” [131, tr.7]

Trang 12

Những năm tháng tiếp theo, do nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước vô cùng cấp bách nên việc định lại giá trị của dòng văn học hiện đại tiên phong ở vùng đất Nam Bộ gặp nhiều khó khăn thậm chí kéo dài Mười năm sau giải phóng (1975 -1985), tình hình nghiên cứu về văn học Nam Bộ cũng chưa tiến thêm được bao nhiêu Mãi cho đến khoảng hơn năm năm trở lại đây mới có nhiều nhà nghiên cứu chú trọng thu thập, khảo sát tư liệu nhằm tái tạo lại diện mạo của văn học Việt Nam trong thời kỳ chuyển tiếp từ một nền văn học mang tính trung đại sang nền văn học mang tính chất hiện đại, khơi lại dòng chảy cho văn học Quốc ngữ Nam Bộ Tuy nhiên, đã hơn một thế kỉ trôi qua, văn học Nam Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX vẫn

là một mảng chưa được khai phá nhiều, dù trong nó còn ẩn chứa nhiều điều thú vị Phần lớn các đề tài nghiên cứu này chỉ mang tính chất khái quát hoặc chỉ tập trung nghiên cứu kỹ lưỡng về các nhà văn tiêu biểu, nổi tiếng như Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh… mà quên đi những gương mặt tuy không thật nổi trội nhưng lại có ý nghĩa như là

“bước đệm” để văn học giai đoạn sau bước những bước tiến dài, họ tuy là những viên gạch “lót đường” nhưng cũng đã góp phần tạo nên

sự “bề thế” của văn đàn trong những thập niên đầu thế kỉ XX Hơn nữa, lớp bụi thời gian ngày càng phủ dày lên các tác phẩm, việc tìm

và định lại giá trị của chúng ngày càng khó khăn hơn

Do vậy, nghiên cứu về tiến trình văn học Nam Bộ cũng như công cuộc hiện đại hoá của nền văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX ta không thể bỏ qua những đóng góp của những nhà văn này Một trong

số đó có sự đóng góp khá quan trọng của nhà báo, nhà văn, nhà dịch thuật Nguyễn Chánh Sắt Tuy không thật sự nổi trội như Hồ Biểu Chánh nhưng Nguyễn Chánh Sắt là một trong số những cây bút tiên

Trang 13

phong trên địa hạt tiểu thuyết và dịch thuật ở Nam Bộ Ông đã góp một dòng chảy vào dòng sông lớn văn học Quốc ngữ chở nặng phù

sa - với những tác phẩm có giá trị - để có thể hòa mình vào biển lớn văn học thế giới

3 Lịch sử nghiên cứu

Ngay từ khi mới xuất hiện, các cuốn sách của Nguyễn Chánh Sắt đã được độc giả đương thời đón nhận khá nồng nhiệt, tên tuổi của ông được người trong giới thừa nhận Phạm Minh Kiên nhận xét trên tờ Đông Pháp thời báo, số 481, năm 1926: “Về việc văn chương của ông không cần nhắc đến bởi bấy lâu nay ông hươi bút giữa trường văn trận báo(…) Ngòi bút câu văn của ông đã sắp đặt nhiều bộ sách có thịnh giá còn ở các nhà hâm mộ quốc văn” Hay cuốn tiểu thuyết Tài mạng tương đố đã được Tân Dân Tử hết lời khen ngợi trên Đông Pháp thời báo, số 496, 13 Octobre1926: “Bộ tiểu thuyết tuy chưa được làm một quan chức hướng đạo cho dân tộc tiền đồ, và làm một cây kim chỉ nam

Trang 14

cho nước nhà hậu vận, song cũng được làm một tiếng chuông cảnh tỉnh cho bọn háo sắc tham tài và cũng làm được một lá bùa chiêu hồn cho đám nhơn tình mê mộng”

Phan Khôi cũng đã nhắc đến Nguyễn Chánh Sắt với tình cảm

ưu ái với bài viết Từ Trương Vĩnh Ký đến Huỳnh Tịnh Trai cho đến Nguyễn Chánh Sắt, Đặng Thúc Liêng đăng trên Phụ nữ tân văn số 28

đã khẳng định vai trò của ông như là một cột mốc khá quan trọng trong bước tiến hiện đại của văn học miền Nam Về khả năng dịch

thuật của Nguyễn Chánh Sắt, trong dân gian còn có thơ ca ngợi

Tên tuổi và tiếng tăm của Nguyễn Chánh Sắt buổi ấy đâu phải

là nhỏ Vậy mà chỉ ít năm sau đó, không chỉ ông mà rất nhiều các nhà văn cùng thời với ông cũng bị người ta mau chóng lãng quên Năm

1942, nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan cho ra mắt độc giả cuốn Nhà văn hiện đại – cuốn sách được xem là viết rất sắc sảo và có tiếng vang Trong đó, ông chia các nhà văn hiện đại thành hai nhóm: các nhà văn lớp đầu và các nhà văn lớp sau Đối với các nhà văn lớp đầu ông cho rằng đó là “các nhà văn mà tác phẩm chưa có tính chất gì rõ rệt, vì những bài họ viết phần nhiều ở những món học ngoại lai” Tuy vậy, ông tuyệt nhiên không hề nhắc đến đóng góp của các nhà văn Nam Bộ như: Nguyễn Chánh Sắt, Phú Đức, Trần Chánh Chiếu, Tân Dân Tử… Cùng năm đó, nhà sách Khánh Đàm ở Sài Gòn, có mở một cuộc triển lãm sách báo Việt Nam trong một tuần lễ (từ 11 đến 18 tháng 7) Do thấy thiếu vắng tác phẩm của một số tác giả trong Nam, một ký giả trong bài tường thuật Cuộc triển làm sách báo Việt Nam của mình có đặt vấn đề: “Các ông Đặng Phúc Liêng, Nguyễn Viên Kiều, Lê Hoằng Mưu, Lê Sum, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Kim Đính, Trương Duy Toản, Nguyễn Háo Vĩnh… chẳng đáng gọi là văn sĩ ư?”

Trang 15

[65, tr.23] Như vậy việc thiếu vắng một số tác giả trong cuộc triển lãm sách đã cho thấy ngay tại thời điểm không cách xa thời của họ, thậm chí ngay khi mà các nhà văn đó còn sống, tên tuổi cùng tác phẩm của

họ đã bị “bỏ quên”, trong đó có Nguyễn Chánh Sắt

Tình trạng trên vẫn còn kéo dài thêm mấy chục năm nữa, vẫn có nhiều người đồng tình với ý kiến cho rằng: Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế

kỉ XIX đầu thế kỉ XX tuy tồn tại nhưng không tồn danh Ý nghĩa của những tác phẩm này, nếu có thì cũng giống như những viên gạch lót đường Người ta tập trung chú ý nhiều đến “ngôi nhà” văn học đang hoàn thiện rất đẹp, rất mới, rất hiện đại (văn học giai đoạn 1932-1945

và các giai đoạn văn học tiếp sau) mà quên đi những “viên gạch lót đường” đi vào ngôi nhà ấy

Năm 1965, Phạm Thế Ngũõ cho xuất bản cuốn Việt Nam văn học

sử giản ước tân biên, ở tập III, phần văn học hiện đại từ 1862 đến 1945, tác giả tập trung khảo cứu những nhà văn tiên phong ở miền Bắc Đến mảnh đất miền Nam, Phạm Thế Ngũ chỉ nhắc đến tên tuổi một nhà văn duy nhất: Hồ Biểu Chánh Ôâng cho rằng các nhà văn Nam Bộ viết văn với một “trình độ ấu trĩ” để phục vụ cho “một công chúng hạ lưu và dễ dãi” [112, tr.375] Như vậy đến thời điểm này, tình trạng không thừa nhận vai trò đóng góp của các nhà văn Nam Bộ buổi đầu ấy vẫn còn tiếp diễn

Tuy nhiên không phải là quá muộn khi đã có nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy được vai trò quan trọng của văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX Trong cuốn sách Khi những lưu dân trở lại xuất bản năm

1969, Nguyễn Văn Xuân đặt lại vấn đề: “Tại sao nhắc đến tiểu thuyết phôi thai lại không để tâm nghiên cứu những tác giả miền Nam vào

Trang 16

khoảng đầu thế kỉ XX?” [140, tr.11] Năm 1974, Bùi Đức Tịnh trong bài: Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và Thơ Mới (1865-1932) cho thấy cái nhìn của các nhà nghiên cứu đã hoàn toàn thay đổi Ông lại một lần nữa cảnh báo về tình trạng những “hòn máu bỏ rơi” và cho rằng: “Sự bỏ rơi những đứa con tinh thần – cho dẫu là vô tình hay vì không hay không biết, cho dẫu là những đứa con

ấy vì bị nhìn vội mà bị cho là không khôi ngô tuấn tú – vẫn là một điều hoang phí” Tác giả khẳng định thêm: “Một sự hoang phí như thế không nên để xảy ra nhất là khi xem xét lại, mọi người sẽ nhìn nhận rằng những đứa con ấy còn giữ nguyên đặc tính của giống nòi và đã can đảm góp công vào cuộc tranh đấu dai dẳng chống xâm lăng” [131, tr.28] Nhà nghiên cứu đã đưa ra những ý kiến đánh giá khá sắc sảo

về tác phẩm Nguyễn Chánh Sắt và ghi nhận đóng góp của nhà văn này: “…tiêu biểu cho những nhà văn xuất thân từ báo chí (hay trở thành nhà văn trong khi làm báo) có Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu” [131,tr.36] Quả thật như vậy, khi nghiên cứu về Nguyễn Chánh Sắt ta sẽ đồng tình với Bùi Đức Tịnh Với cả hai vai trò, Nguyễn Chánh Sắt đã góp phần nhỏ bé của mình để thực hành sứ mạng giúp đồng bào “văn minh tiến bộ” hơn, ngoài việc “mở rộng minh tân” ông còn góp công xây dựng một nền quốc văn mới trong giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển sang văn chương hiện đại Và tác giả đã tóm tắt tác phẩm Nghĩa hiệp kỳ duyên và đưa ra nhận định như sau:

“…Nghiã hiệp kỳ duyên của Nguyễn Chánh Sắt là tác phẩm tiêu biểu của bộ môn tiểu thuyết được hình thành bằng cách kết hợp những truyền thống về truyện có sẵn của văn học Việt Nam với những đặc

tính của văn loại tiểu thuyết phương Tây” [131, tr.253]

Trang 17

Kể từ đó, những bài nghiên cứu về các nhà văn Nam Bộ nói chung và Nguyễn Chánh Sắt nói riêng xuất hiện nhiều hơn Các bài viết Danh nhân Tân Châu: ông Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947) - một nhà văn tiền phong của miền Nam của Việt Long Giang được đăng in trên báo Phổ thông số 142, 1 -1965 [69], Tân Châu (1870 – 1964) của Nguyễn Văn Kiềm (1966) [84], Lược truyện các tác gia Việt Nam (tập 2) do Trần Văn Giáp (chủ biên), Nguyễn Tường Phượng, Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú (1972) [70]… tuy đã có lưu tâm đến Nguyễn Chánh Sắt nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc viết về thân thế, một số sự kiện ảnh hưởng đến văn nghiệp, những hoạt động văn hóa ông đã từng tham gia, những tác phẩm đã được xuất bản, và cả hậu duệ của ông nữa mà chưa tiến thêm được bao nhiêu

Khoảng 20 năm trở lại đây, vấn đề nghiên cứu về văn học Nam

Bộ được giới phê bình, nghiên cứu đặt ra một cách nghiêm túc và có

hệ thống hơn Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp cũng tán đồng quan điểm với ý kiến của Bùi Đức Tịnh trong việc ghi nhận những đóng góp của các nhà văn Nam Bộ buổi đầu: “Những danh sĩ miền Nam dù đóng góp nhiều hay ít, những công lao thành tích còn tồn tại một số hạn chế nhất định nhưng nói chung đều là những con người yêu nước, thương nòi, có nhiệt tâm với tiền đồ của đất nước và nền văn hóa dân tộc” [37, tr.12] Trong những danh sĩ miền Nam buổi ấy, tác giả có nhắc đến tên tuổi của Nguyễn Chánh Sắt và tóm tắt truyện tiêu biểu nhất của ông là Nghĩa hiệp kỳ duyên và sau đó đưa ra nhận định: “… đặc biệt những tác phẩm của Nguyễn Chánh Sắt và Biến Ngũ Nhy đã viết theo lề lối phương Tây và dùng lời văn xuôi bình thường, đánh dấu bước chuyển mình của thể loại tiêu thuyết trong văn học Nam Bộ” [36, tr.38]

Trang 18

Các bài viết Tiểu thuyết Nam Bộ trong chặng đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam của GS.Trần Hữu Tá [121], Tiến trình văn nghệ miền Nam [124], Mấy vấn đề học thuật Việt Nam [125] của Nguyễn Q Thắng, và ngay cả Văn học Quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-

1930 [65] của Bằng Giang - công trình nghiên cứu viết khá đầy đủ và toàn diện về mảng văn học Nam Bộ cũng mới dừng lại ở mức độ trên Luận án tiến sĩ Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến năm 1932 của Tôn Thất Dụng cũng đưa ra một khẳng định khá đơn giản: Nguyễn Chánh Sắt như là một nhà văn có góp công vào sự thình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết Việt Nam buổi sơ khai [56]

Nhân kỷ niệm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh 300 năm tuổi, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh do Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên) được hiệu chỉnh và giới thiệu với công chúng Một phần tập 2 của bộ sách này được dành cho Văn học Quốc ngữ ở Sài Gòn – Gia Định cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ

XX, các tác giả Tầm Vu, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Y có ghi nhận công lao của Nguyễn Chánh Sắt trong quá trình dịch thuật: “Đếm

sơ thì có gần 30 dịch giả có sách in: từ 1901 đến 1932 họ dịch trên 70 quyển khác nhau(…) Trong số các dịch giả kể trên, nổi tiếng nhất là Trần Phong Sắc và Nguyễn Chánh Sắt, mỗi người dịch khoảng 20 bộ truyện, có mấy bộ dài trên dưới ngàn trang [71, tr.270] Trong phần điểm qua một số tác giả và tác phẩm thời kì này, họ cũng mới nói một cách rất sơ lược về cuộc đời và cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là Nghĩa hiệp kỳ duyên Tuy nhiên, Nguyễn Chánh Sắt là một trong số nhà văn được các học giả gợi ý nên tìm hiểu khi nghiên cứu

về quá trình phát triển của văn học Quốc ngữ ở Sài Gòn Điều này

Trang 19

cũng đã phần nào nhấn mạnh vai trò của Nguyễn Chánh Sắt đối với diện mạo văn học Quốc ngữ đầu thế kỉ XX

Luận án tiến sĩ Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX của Cao Xuân Mỹ [104], Từ điển văn học (bộ mới) do nhóm tác giả Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên, Từ điển tác gia văn học Việt Nam thế

kỉ XX [130] do Trần Mạnh Thường biên soạn, Những người dịch văn học Việt Nam do Hoàng Thuý Toàn - Đoàn Tử Huyến (chủ biên) [133] giới thiệu cũng chỉ dừng lại ở việc nêu những nét về cuộc đời, kể tên những tiểu thuyết, những tác phẩm dịch thuật Song có thể nhận thấy tất cả bài viết đều khẳng định đóng góp của nhà văn Nam Bộ này “Về tiểu thuyết, các tiểu thuyết cuả Nguyễn Chánh Sắt, Bửu Đình vẫn tiếp tục truyền thống truyện chương hồi trong cách dựng chuyện nhưng nội dung đã lồng vào những cung cách của một đời sống khá hiện đại” [103, tr.7]

Công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX do nhóm tác giả Nguyễn Kim Anh (chủ biên), Nguyễn Thị Trúc Bạch, Hà Thanh Vân, Vũ Văn Ngọc, Hoàng Tùng, Huỳnh Vĩnh Phúc biên soạn, xuất bản năm 2004 có thể nói là công trình nghiên cứu công phu và đầy đủ nhất về địa hạt tiểu thuyết Nam Bộ So với các công trình nghiên cứu trước đó, đây là cuốn sách nói về Nguyễn Chánh Sắt nhiều hơn cả Ngoài những chi tiết về cuộc đời, tên của 22 tác phẩm đã xuất bản của Nguyễn Chánh Sắt, tác giả đã tóm tắt nội dung bốn tác phẩm: Nghĩa hiệp kỳ duyên, Tài mạng tương đố, Một đôi hiệp khách, Việt Nam Lê Thái Tổ, sau đó đưa ra những nhận định tuy ngắn gọn nhưng rất sắc sảo về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của

Trang 20

mỗi tác phẩm này, cũng như những đóng góp của nhà văn đối với tiểu thuyết hiện đại.[38, tr.489-522]

Không chỉ được giới nghiên cứu trong nước quan tâm, văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX còn nhận được sự chú ý của một số nhà nghiên cứu nước ngoài Trong bài nghiên cứu Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam, Nhan Bảo - một nhà nghiên cứu Trung Quốc – đã có nhắc đến đóng góp của Nguyễn Chánh Sắt: “Chúng tôi đã tìm thấy 9 dịch giả của những năm sau đó, trong số họ đáng chú ý nhất có Trần Phong Sắc, giáo sư chữ Hán của trường Tân An (ở Đông Dương) và Nguyễn Chánh Sắt (1869-?), chủ bút của tờ Nông cổ mín đàm” [41, tr.37]

Gần đây nhất là một luận văn tốt nghiệp đại học Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Nguyễn Chánh Sắt của Nguyễn Thị Huyền Nga, người viết đã cố công tìm kiếm các tài liệu viết về Nguyễn Chánh Sắt cũng như những tác phẩm của ông để có một sự khảo sát khá kĩ lưỡng Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng người viết vẫn còn bỏ sót một số đóng góp quan trọng về tư tưởng của Nguyễn Chánh Sắt đối với tiểu thuyết

Nam Bộ

Nhìn chung, phần lớn các công trình nghiên cứu về Nguyễn Chánh Sắt mới chỉ dừng lại một góc độ nào đó để đánh giá về những đóng góp của ông, hầu hết đều chưa thật đầy đủ và toàn diện Về mảng tiểu thuyết, trừ khóa luận Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Nguyễn Chánh Sắt, còn phần lớn các công trình nghiên cứu và bài viết đều mới chỉ tập trung vào một số tác phẩm như: Nghĩa hiệp kỳ duyên, Tài mạng tương đố, Một đôi hiệp khách, Việt Nam Lê Thái Tổ Về mảng dịch thuật, tuy cũng đã được nhắc đến song mới chỉ lướt qua, dường

Trang 21

như vẫn còn bị bỏ ngỏ, chưa được quan tâm nghiên cứu thật sự Về mảng báo chí, đóng góp của Nguyễn Chánh Sắt cho lĩnh vực này khá nhiều, và đó cũng là một phần công sức của ông trong việc tạo nên một giai đoạn báo chí sôi nổi đầu thế kỉ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Như trong phần lịch sử vấn đề chúng tôi đã trình bày, đã có khá nhiều công trình viết về nhà văn Nguyễn Chánh Sắt, nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở việc điểm qua về thân thế, sự nghiệp văn chương của ông, hay cũng chỉ khảo sát một cách sơ lược một số tác phẩm tiêu biểu, nhiều nhất là cuốn “Nghĩa hiệp kỳ duyên”, của ông mà chưa có một cái nhìn đầy đủ và toàn diện về nhà văn tiền phong của Nam Bộ này Vì vậy, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này là: Những đóng góp của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt trên các mặt: tiểu thuyết, dịch thuật và văn nghị luận báo chí đối với tiến trình hiện đại của văn học Nam bộ nửa đầu thế kỉ XX

Về tiểu thuyết, chúng tôi sẽ nghiên cứu những tác phẩm: Trinh hiệp lưỡng mỹ (1916), Nghĩa hiệp kỳ duyên (1920), Tài mạng tương đố (1925), Lòng người nham hiểm (1925), Một đôi hiệp khách (1929), Việt Nam Lê Thái Tổ (1929) Bởi vì các sáng tác này của ông đều có thể xem là những cột mốc đánh dấu sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam trên con đường hiện đại hóa

Về báo chí, phần lớn quan điểm tư tưởng của ông chủ yếu được thể hiện ở những bài nghị luận Do vậy đối tượng nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung vào những bài báo này để đánh giá những ảnh hưởng quan trọng của báo chí đối với sự nghiệp sáng tác của ông cả về tư tưởng lẫn văn phong

Trang 22

Về dịch thuật, luận văn này sẽ tập trung đến những tiểu thuyết cổ điển lớn, đánh giá cách dịch của ông Từ đó khẳng định vai trò của dịch thuật là một điều kiện tiên quyết trong phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt không chỉ giới hạn trong những thể loại nêu trên mà còn được mở rộng sang một số thể loại khác như thơ, truyện, ký… Song luận văn không đi sâu nghiên cứu vì chúng không có giá trị gì mới mẻ, nổi bật

Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu thêm một vài tác phẩm tiêu biểu khác của các nhà văn cùng thời để chỉ rõ sự tiến bộ, đóng góp mới mẻ của ông Từ những đối tượng nghiên cứu nêu trên, luận văn chỉ rõ những đóng góp to lớn của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt trong tiến trình văn học Nam Bộ trên con đường hiện đại hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu một vấn đề cho thấu đáo và có hiệu quả, thì phương pháp luận là điều rất quan trọng Chọn được phương pháp nghiên cứu đúng đắn sẽ quyết định đến sự thành công của đề tài Do

đó trong quá trình nghiên cứu đề tài này, để có được sự nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách thấu đáo, khách quan, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu lịch sử – xã hội: Đây là một phương pháp rất quan trọng để nhìn nhận đúng vai trò của nhà văn cũng như đánh giá đúng ý nghĩa của tác phẩm trong một giai đoạn văn học nhất định Vì vậy, khi nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu về bối cảnh Nam Bộ đầu thế kỉ XX, để từ đó lí giải vì sao lại xuất hiện một Nguyễn Chánh

Trang 23

Sắt với vai trò là kí giả, nhà dịch thuật, nhà văn tiên phong; và tại sao tác phẩm của ông tuy vẫn còn nhiều điểm non yếu nhưng vẫn được xem là bước ngoặt của văn xuôi hiện đại

Phương pháp phân tích - tổng hợp: Để tìm hiểu và khái quát chiều sâu tư tưởng và sự tiến bộ, mới mẻ của nhà văn ngoài, ngoài việc xem xét hoàn cảnh xuất thân, thời đại, bối cảnh lịch sử… mà nhà văn đó sinh sống, một yếu tố có thể được xem là quan trọng và cần thiết hơn cả đó chính là tác phẩm Do vậy khi nghiên cứu đề tại này, chúng tôi không thể không đi sâu vào phân tích tác phẩm của Nguyễn Chánh Sắt trên các bình diện đề tài, kết cấu, ngôn ngữ,… để từ đó đưa ra những kết luận quan trọng về ông

Bên cạnh những phương pháp chính nêu trên, chúng tôi còn sử dụng kết hợp thêm một số phương pháp khác như so sánh, thống kê,

phân loại… để việc đánh giá được đầy đủ và chính xác

6 Những đóng góp của luận văn

Với mục đích, yêu cầu của đề tài, luận văn này đi vào phát hiện

và làm rõ những đóng góp của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt đối với báo chí, tiểu thuyết nói riêng, và bước hiện đại hóa của văn học nói chung Để thực hiện được những điều trên, chúng tôi gặp không ít khó khăn, nhất là quá trình tìm kiếm và sưu tầm tài liệu có liên quan đến Nguyễn Chánh Sắt Vì nguồn tư liệu này có “tuổi đời” ngót nghét một thế kỉ, lại phải đi qua hai cuộc chiến tranh dài nên việc tìm lại mất rất nhiều thời gian và công sức Tuy nhiên, bên cạnh cái khó khăn cũng

có sự may mắn (() và cuối cùng chúng tôi đã có trong tay một “bộ sưu tập” khá đầy đủ về các tác phẩm dịch thuật, tiểu thuyết, các bài báo của Nguyễn Chánh Sắt

Trang 24

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy việc xếp loại tác phẩm Nguyễn Chánh Sắt ở các nguồn tư liệu có sự khác nhau Có một

số tác phẩm bị nhầm lẫn giữa dịch thuật và sáng tác như: Gái trả thù cha, Man hoang kiếm hiệp, Trinh hiệp lưỡng mỹ… Do vậy, từ nguồn tài liệu có được, chúng tôi hệ thống hóa, phân loại, sắp xếp và xác định lại đâu là tác phẩm dịch thuật, đâu là sáng tác Tổng số tư liệu chúng tôi tìm được gồm gần 30 tác phẩm dịch thuật với tổng số trang lên đến hàng ngàn trang, bảy trong số tám tiểu thuyết, hàng chục bài báo nghị luận, thơ, ký, truyện cười…

Luận văn đã bước đầu đánh giá các giá trị của các sáng tác, dịch thuật, các bài báo của Nguyễn Chánh Sắt, những đóng góp của ông trong tiến trình văn học Nam Bộ nửa đầu thể kỉ XX

Để tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của một con người đã khó, lại càng khó hơn khi con người ấy sống cách xa chúng ta khá xa Chắc chắn rằng, những đóng góp nêu trên vẫn là chưa thật đầy đủ về nhà văn Nguyễn Chánh Sắt, việc định lại giá trị tác phẩm còn nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ Nhưng chúng tôi tin rằng luận văn này đặt nền móng cho việc tìm hiểu đúng và sâu hơn về Nguyễn Chánh Sắt Những ai quan tâm đến văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX nói chung và nhà văn này nói riêng có thể tìm thấy một số tư liệu cần thiết

để có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về văn học Việt Nam hiện đại trong những bước đi đầu tiên

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 160 trang Ngoài phần quy định chung, trong đó phần Mở đầu 16 trang, Kết luận 5 trang, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,

thì nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương:

Trang 25

Chương I: Bối cảnh văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX và cuộc đời, sự nghiệp văn chương của Nguyễn Chánh Sắt

Chương này có nhiệm vụ làm rõ tình hình chính trị – xã hội, tình hình văn hóa Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX, một số đặc điểm cơ bản của nền văn học Quốc ngữ buổi sơ khai, khái quát cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Chánh Sắt – một trí thức tân học, một nhà Minh tân, nhà báo, nhà dịch thuật truyện Tàu, và nhà văn Quốc ngữ tiên phong của vùng đất phương Nam

Chương II: Tiểu thuyết Nguyễn Chánh Sắt

Ở chương này, chúng tôi chia các sáng tác của Nguyễn Chánh Sắt thành từng loại căn cứ theo nội dung, đề tài, từ đó làm rõ những đóng góp quan trọng của Nguyễn Chánh Sắt ở mỗi loại đối với sự phát triển của tiểu thuyết Quốc ngữ về đề tài, ngôn ngữ, kết cấu…

Chương III: Văn nghị luận báo chí và hoạt động dịch thuật của Nguyễn Chánh Sắt

Nhắc đến Nguyễn Chánh Sắt, mọi người thường biết đến ông trước tiên với vai trò là một nhà báo, nhà dịch thuật tiên phong của vùng đất Nam Bộ Do vậy, làm rõ những đóng góp của nhà văn này chúng ta không thể không nghiên cứu ông với hai vai trò quan trọng này Đây cũng là yêu cầu mà chương III phải làm sáng tỏ

Trang 26

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH VĂN HỌC NAM BỘ NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX

VÀ CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

ở thuộc địa này chỉ được thu gọn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không

có Công nghiệp nếu cần được khuyến khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc, không làm hại gì đến công nghiệp chính quốc

Ban đầu Pháp phá bỏ chính sách “bế quan toả cảng” của nhà Nguyễn, cho xây dựng cảng Sài Gòn, mở đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho, xây cầu trên sông Vàm Cỏ… Nhằm nắm nguồn lợi lúa gạo dần biến nước ta thành nơi cung cấp nguyên liệu, hàng xuất khẩu với giá

rẻ mạt cho thương nghiệp Pháp, Pháp đẩy Nam kỳ vào thế độc canh, canh tác nhằm để xuất cảng Hàng loạt các nhà máy xay lúa, cùng với nhà máy làm đường, xưởng sửa tàu đóng thuyền, xưởng in quan trọng… đua nhau mọc lên và phát triển nhanh chóng Mặt khác, Pháp bán đắt sản phẩm nông nghiệp cho nhân dân, đặc biệt độc quyền ngoại thương Chúng lập nhiều công xưởng như đóng thuyền, vận tải

Trang 27

đường sông, nhà máy xay lúa… làm cho kinh tế Nam kỳ lúc bấy giờ phát triển khá mạnh mẽ Song đời sống của người dân thì không những chẳng khá hơn Bọn cường hào, địa chủ đã kết hợp với bọn thực dân lợi dụng quyền thống trị để đặt ra ngày càng nhiều những luật lệ, chính sách sưu thuế vừa tinh vi vừa nặng nề để bóc lột về tô thuế, sưu dịch… Kết quả của chính sách đó là nền kinh tế tự nhiên phong kiến bị phân giải, sự lưu thông hàng hóa phát triển, tỷ trọng kinh tế tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, nước ta bị kéo vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, nhưng không được công nghiệp hóa mà lại biến thành thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu, hàng xuất khẩu cho thương nghiệp Pháp Lợi nhuận vào túi tư sản Pháp còn nhân dân ta

bị bần cùng hóa, phá sản, phải từ giã ruộng vườn lên thành thị kiếm

kế sinh nhai, đồng thời cũng làm xuất hiện thêm nhiều tầng lớp mới: công chức, thợ thủ công, trí thức tiểu tư sản… ở thành thị

Đến đầu những năm 30, do ảnh hưởng của của cuộc tổng khủng hoảng của hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới, Pháp đã trút toàn bộ gánh nặng của khủng hoảng kinh tế lên vai giai cấp công nhân, nhân dân lao động Nền kinh tế Đông dương ngày càng kiệt quệ hơn do chính sách bóc lột thậm tệ của thực dân Pháp Các tầng lớp khác như thợ thủ công, viên chức, trí trức… mất việc Tất cả đã đẩy mâu thuẫn của dân tộc ta với đế quốc Pháp lên đến đỉnh điểm

Tóm lại, chính sách kinh tế của thực dân Pháp đã tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp xúc với thế giới nhưng thực chất vẫn phải phụ thuộc vào Pháp, thành cái đuôi của tư bản Pháp Sự phát triển buôn bán làm mọc lên nhiều thành thị song đó cũng chỉ là những trung tâm thương nghiệp và tiêu thụ, không có tác dụng tích cực đẩy mạnh kinh tế nước

ta theo hướng tư sản hóa do chính sách kìm hãm công nghiệp và duy

Trang 28

trì kinh tế phong kiến của Pháp Pháp ngoài cách vơ vét sưu thuế, cưỡng bức bằng vũ lực còn có cách tranh cướp nguồn lợi, cưỡng bức bằng kinh tế, cũng như sự nguy hiểm của chính sách thực dân không chỉ đàn áp, nô dịch về chính trị, mà còn vét kiệt về kinh tế

Về chính trị: Xã hội Việt Nam, trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến phương Đông Đến đầu thế kỉ XX, Pháp đã

cơ bản thực hiện xong công cuộc bình định trên đất nước ta và chuyển sang khai thác thuộc địa, xây dựng trật tự mới Bên cạnh việc thiết lập bộ máy cai trị thực dân của mình, thực dân Pháp còn duy trì chế độ phong kiến Nam triều Nhà nước phong kiến từ triều đình đến tỉnh, huyện, làng, xã đều trở thành tay sai cho bọn xâm lược Cả bộ máy thống trị của Pháp được tổ chức lại theo lối hiện đại hơn, chặt chẽ hơn, có quyền lực hơn Xã hội Việt Nam trở thành chế độ thực dân nửa phong kiến

Từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp, các giai cấp

bị phân hóa mạnh, bọn tư sản địa chủ ngày càng giàu lớn, trong khi người dân lao động đi đến chỗ bần cùng phá sản nên mâu thuẫn giai cấp ngày càng nổ ra gay gắt Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân Nam kỳ nổ ra nhưng đều bị thực dân Pháp đàn áp Khi phong trào Cần Vương tan rã, những năm đầu thế kỉ XX, dường như cách mạng Việt Nam rơi vào một giai đoạn bế tắc, không có một giai cấp nào lãnh đạo

Trong bối cảnh chính trị phức tạp và đen tối như thế, thanh niên Việt Nam cảm thấy bi quan tuyệt vọng vô cùng Họ quyết định bỏ lối học từ chương, tìm đến với những tri thức hiện đại mà họ học được qua sách vở và báo chí nước ngoài đưa vào Việt Nam lúc này Trong

Trang 29

số đó tiêu biểu là tân thư, tân văn Cũng từ sách vở nước ngoài, các luồng tư tưởng, học thuyết mới, những lý luận chính trị, tư tưởng triết học và quan điểm đạo đức tiến bộ đã ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp đến một bộ phận tiến bộ nhất – trí thức tân học Cả một lớp nhà nho

đã tỉnh giấc Họ tập hợp nhau lại, bắt liên lạc với mọi lực lượng chống Pháp ở trong nước Tất cả chí hướng của thế hệ yêu nước đều nhắm vào một mục tiêu vĩ đại: khôi phục nước nhà Cũng từ đó, hàng loạt các phong trào như: Duy tân, Đông du, Việt Nam Quang Phục hội, Hội Minh tân, Hội kín… xuất hiện Nhóm thì trù tính việc võ trang, chờ cơ hội hành động, nhóm “ôn hòa” thì bắt tay vào việc truyền bá tư tưởng

ái quốc bằng lời nói, bằng văn chương, hoặc gây dựng cơ sở tài chính trong những hiệu buôn, những trại cày

Ở miền Nam, từ 1905, một vài tổ chức kinh tế bắt đầu hoạt động với vốn liếng của các nhà có thế mạnh kinh tế và có ưu tư với tiền đồ dân tộc Một số hội buôn là chỗ tập hợp của những phần tử yêu nước, lợi dụng hình thức hợp pháp để trù tính công việc vận động cách mạng Đáng kể nhất có hội Minh tân gắn liền với tên tuổi của Trần Chánh Chiếu, Lê Quang Chiểu, Nguyễn An Khương, Nguyễn Thành Hiến, Nguyễn Chánh Sắt…, một mặt họ lập Nam kỳ kỹ nghệ công ty sản xuất xà bông, lập khách sạn, tiệm cơm để đoạt lợi về kinh

tế, đồng thời là nơi tụ họp đồng chí, bí mật ủng hộ rất nhiều cho phong trào Đông du, mặt khác dùng những tờ báo như Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn làm phương tiện để cổ động, tuyên truyền cho tư tưởng yêu nước Về sau Minh tân tuy không được nhắc đến trực tiếp nhưng nó đã ngấm sâu vào tâm hồn của không ít thanh niên Nam Bộ

có nhiệt huyết với tiền đồ dân tộc

Trang 30

Nhân dân Nam kỳ đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp

Dù đều bị thất bại vì chưa có đường lối kháng chiến đúng đắn nhưng các cuộc nổi dậy vẫn gây được tiếng vang, tạo ảnh hưởng sâu rộng đến phong trào đấu tranh cả nước Từ sau vụ Hà thành đầu độc tháng 6-1908, bị thực dân Pháp đàn áp, phong trào Duy Tân tan rã nhưng những người chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Cường Để vẫn tiếp tục hoạt động Việc tuyên truyền cổ động cho tư tưởng yêu nước phải tiến hành một cách khéo léo để đánh lạc hướng sự theo dõi của kẻ thù Các truyện dã sử bắt đầu ra đời gián tiếp cổ động cho phong trào chống Pháp, đánh thức lòng yêu nước của dân tộc

Tóm lại, dù dưới hình thức vũ trang hay ôn hòa thì các phong trào đều nhằm cổ động tuyên truyền cho tư tưởng yêu nước, công kích chế độ thuộc địa, kêu gọi đồng bào canh tân đất nước, giành quyền lợi về tay mình và tạo ảnh hưởng sâu rộng đến phong trào đấu tranh cả nước

1.1.2 Tình hình xã hội

Từ đầu thế kỉ XX, đất nước Việt Nam đã tồn tại và phát triển trong một hoàn cảnh xã hội văn hóa mới khác với thời trung đại Hàng loạt những biến động cơ bản và sâu sắc đã diễn ra trong lòng xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Xã hội Việt Nam, trước khi thực dân Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến phương Đông với bốn tầng lớp nhân dân cơ bản: sĩ, nông, công, thương Đến đầu thế kỉ XX, chính sách thực dân khua đuổi hàng ngàn, hàng vạn nông dân vào các đồn điền, các xưởng máy để làm cu li, làm thợ Kinh tế hàng hóa kích thích sự phát triển của công thương nghiệp, làm cho thành thị

Trang 31

phát triển, làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới, nhiều nghề mới Sài Gòn, Chợ Lớn là hai trung tâm lúc bấy giờ diễn ra quá trình đô thị hoá nhanh chóng nhất Dân số ngày càng tăng, đủ mọi thành phần, tầng lớp từ nhiều nơi tụ họp về đây Những đổi thay về chính trị, kinh tế, xã hội ngày càng củng cố vị trí của thực dân Pháp, khẳng định, bình thường những cái xấu xa, những cái trái tai gai mắt của xã hội tư sản

mà thực dân mang vào cuộc sống Việt Nam Người ta đua nhau đi học tiếng Tây để tìm được cái chức thông phán và hãnh diện với nó

Mặt dù, Pháp xác định thế mạnh của vùng đất Nam Bộ là sản xuất lúa gạo và đầu tư rất nhiều tiền của để biến vùng đất này thành nơi sinh lợi từ nguồn lương thực này Song cuộc sống của người nông dân không những được cải thiện mà còn bị cướp trắng ruộng đất, bị bóc lột nặng nề hơn trước Cùng với đó là sự xuất hiện các đô thị đổi chiều hướng lưu tán của người nông dân, xô đẩy họ ùa ra thành thị để kiếm kế sinh nhai, hình thành nên nhiều giai tầng mới: công nhân, con buôn, thông ngôn, ký lục, thầu khoán, học trò và không ít người trở thành anh bồi, anh xe, vú em, thậm chí thành gái điếm, lưu manh…

Chính sách cai trị về kinh tế, chính trị… của bọn thực dân bên cạnh mặt tiêu cực, không thể phủ nhận mặt tích cực của công cuộc khai thác thuộc địa Sự thay đổi đặt ra vấn đề duy tân để theo kịp với văn minh thời đại Thành thị mọc lên ngày càng nhiều thì vấn đề tiếp xúc với văn hóa phương Tây là điều dễ dàng Các trào lưu tư tưởng mới, các thành tựu khoa học và kĩ thuật, văn hóa và nghệ thuật từ phương Tây thông qua sách báo nước ngoài đã ồ ạt tràn vào trong nước, thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Á – Aâu và Đông – Tây ở Việt Nam Tất nhiên quá trình đổi thay

đó không diễn ra một sớm một chiều mà cũng có sự đấu tranh quyết

Trang 32

liệt giữa cái mới và cái cũ, và theo xu thế tất yếu thì cái mới vẫn cứ thâm nhập, bất chấp mọi sự lựa chọn và chi phối sự suy nghĩ, tác động đến tâm lý xã hội của con người Việt Nam

Cũng vì thế xuất hiện nhiều con người khác trước, nhiều quan

hệ khác trước, nhiều vấn đề khác trước Trong đó, lớp công chức, trí thức tuy đời sống vật chất so với các tầng lớp khác có phần khá hơn đôi chút, nhưng họ cũng bị chèn ép rất nhiều về mặt chuyên môn lẫn chính trị Và hơn ai hết họ ý thức sâu sắc nỗi nhục của người dân mất nước, trở thành lực lượng tiên phong hoặc trong các phong trào đấu tranh đòi giải phóng dân tộc hoặc đi theo khuynh hướng chấn hưng kinh tế, canh tân đất nước như Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh…

Tóm lại, nửa đầu thế kỉ XX là một khoảng thời gian không dài

so với lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam Nhưng trong khoảng thời gian đó đã diễn ra những biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ: từ một nước phong kiến phương Đông, Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới: xã hội thực dân nửa phong kiến Đó là bước đệm cho quá trình tiến lên con đường hiện đại hoá ở giai đoạn sau này của đất nước, đặt

ra những vấn đề thành đề tài văn học với những nhân vật, cảm xúc, nghĩ suy… khác với văn học trung đại

1.1.3 Tình hình văn hóa

Bên cạnh những hoạt động về chính trị và kinh tế, thực dân Pháp ra sức sử dụng vũ khí văn hóa phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa, tuyên truyền chính sách hợp tác Pháp – Việt Cùng với sự chuyển mình của xã hội, một nền văn hóa mới đang trên đường hình thành và phát triển, tạo tiền đề cho các giai đoạn phát triển tiếp sau

Trang 33

cho văn học Việt Nam hiện đại Từ đầu thế kỉ XX, do những cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có sự thay đổi sâu sắc Khắp nơi mọc lên những đô thị, thị trấn với những tầng lớp xã hội mới, con đẻ của chế độ thực dân Nhân vật trung tâm của đời sống văn hóa là tầng lớp trí thức Tây học Qua tầng lớp này, văn học vốn chỉ quẩn quanh trong vòng ảnh hưởng của khu vực văn hóa cổ Trung Hoa, được tiếp xúc ngày một rộng rãi, sâu sắc với tư tưởng, văn hóa, văn học phương Tây hiện đại chủ yếu là của Pháp “Cả một chế độ cũ vừa sụp đổ Bao nhiêu tín điều thiêng liêng của kinh viện học phương Đông cũng lung lay tàn tạ theo Cái mà hàng ngàn năm nay các nhà nho vẫn gọi là “thiên kinh, địa nghĩa, thánh đạo, nho phong”, nhìn qua bao biến cố vừa rồi, sao mà hoang đường, mỉa mai đến thế” [99, tr.21] Thực dân Pháp du nhập văn hóa Pháp để đẩy lùi, chiếm chỗ, và thay thế văn hóa cổ truyền của ta Một mặt, ta phản kháng lại sự xâm nhập, nô dịch đó để bảo vệ văn hóa dân tộc Mặt khác, ta cũng bắt chước, chọn lọc, tiếp thu cái mới, dần hướng theo cái mới mà không thể cưỡng lại được Ta bắt đầu làm quen với “lối học mới, lối văn mới”

Trong những nhân tố cơ bản thúc đẩy sự tiến bộ vượt bậc của nền văn hóa nói chung và văn học nói riêng ở thế kỉ XX, chữ Quốc ngữ và sự phát triển của báo chí được xem là những nhân tố đóng vai trò quan trọng hàng đầu

1.1.3.1 Vai trò của chữ Quốc ngữ

Ở đây chúng tôi không dám lạm bàn nhiều về quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ mà chỉ đề cập đến vai trò của chữ Quốc ngữ trong mấy chục năm đầu thế kỉ XX, những tác động lớn

Trang 34

lao của nó đối với nền văn hóa, văn học dân tộc Sự giao thoa ngôn ngữ trên ba loại chữ viết: Hán, Nôm, Quốc ngữ (cùng với chữ Pháp) là hiện tượng nổi bật vào đầu thế kỉ XX – ghi một dấu ấn đặc trưng của lịch sử và lịch sử văn học dân tộc trước yêu cầu hiện đại hóa

Như trên đã đề cập, bên cạnh những hoạt động về kinh tế và chính trị, thực dân Pháp đặc biệt chú ý đến việc truyền bá văn hoá Pháp, hạn chế ảnh hưởng của văn hoá Nho giáo vào trong đời sống người Việt Không chỉ là cách đưa hàng hoá Châu Aâu vào trong cuộc sống người Việt, một cách sâu rộng và quy mô hơn, chúng đã chú trọng đến vấn đề giáo dục Trước hết chúng lo đào tạo thông ngôn, thư kí làm tay sai cho chúng Kỳ thi hương bị xoá bỏ ở Nam Kỳ sớm nhất và năm 1919 chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán, cơ bản chữ Hán bị giải thể về chức năng và dẫn đến sự sa sút của chữ Nôm Lúc này, chữ Quốc ngữ được Pháp xem như là một phương tiện hữu hiệu làm cho dân chúng nắm được luật lệ của chính quyền thuộc địa, cách

ly người Việt khỏi nền văn hóa bản xứ, làm cho uy thế của sĩ phu điêu tàn đi và chặt đứt ảnh hưởng của giới sĩ phu với nhân dân để thuận lợi cho việc cai trị Do vậy, ban đầu người Pháp phải dùng biện pháp cưỡng chế bắt dân ta học chữ Quốc ngữ, đồng thời thay chữ Hán trong công văn, giấy tờ bằng chữ Quốc ngữ

Nhưng điều mà Pháp không ngờ tới, nằm ngoài lá bài chính trị

mà thực dân đưa ra đó là tiếng nói dân tộc đã khơi lòng yêu nước, thức tỉnh nhân dân về sự thống nhất, gắn bó dân tộc Nó như một đòn gián tiếp đánh vào chính sách chia để trị của thực dân Pháp mà càng về sau càng thấm Nó là phương tiện hữu hiệu để truyền bá những văn minh, học thuật mới trong quốc dân, làm cho dân ta nhanh chóng tiến

bộ Nhà báo, nhà yêu nước tiến bộ Nguyễn An Ninh trong bài Tiếng mẹ

Trang 35

đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức, đăng trên báo Tiếng chuông rè, năm 1925 đã khẳng định:

Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phong các dân tộc

bị thống trị Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến các học thuyết đạo đức và khoa học của Châu Aâu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian(…) từ chối tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự

do của mình [Ngữ văn 11, tập 2]

Tuy nhiên, cuộc chiến giữa bút lông và bút sắt, giữa cái cũ và cái mới đã diễn ra thật sự quyết liệt Chữ Quốc ngữ đã gặp phải không ít lao đao khi phải đối đầu với các nhà Nho Sau một thời gian

bị phủ nhận mạnh mẽ thì uy thế của chữ Quốc ngữ đã lớn mạnh và giành được phần thắng Đến lúc này người ta không còn bàn nên hay không nên học chữ quốc ngữ nữa, mà chữ Quốc ngữ được khẳng định là “hồn trong nước”, “chữ ta” và được chính các bậc thâm Nho trong nền Hán học cổ động tích cực nhất như Trần Quý Cáp, Nguyễn Phan Lãng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng…

“Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước Phải đem ra tính trước dân ta Sách Aâu Mỹ, sách China Chữ kia nghĩa nọ dịch ra tỏ tường”

(Trần Quý Cáp)

Trang 36

Chính nhờ có chữ Quốc ngữ dễ học, dễ đọc, dễ viết mà chỉ trong một thời gian ngắn, khoảng ba thập niên đầu thế kỉ XX, gần như một phần không nhỏ của nền văn chương, học thuật cũ trong kho tàng dân gian và cổ điển của dân tộc đã được sưu tập, phiên âm, biên dịch

và ấn hành Nó làm cho người dân Nam của nước Việt như “phát hiện lại” nền văn hóa phong phú, cao đẹp, củng cố lại đức tính thảo ngay

cổ truyền của dân tộc mình

Nhờ có chữ Quốc ngữ mà dịch thuật đã vươn tầm xa khỏi nền văn học Á Đông cổ điển với niêm luật hà khắc mở ra những chân trời văn học mới lạ cho độc giả Lần đầu tiên người đọc được biết đến : Truyện ngụ ngôn của La Fontaine, Truyện ba người ngự lâm pháo thủ của Alexandre Dumas, Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo, Truyện miếng da lừa của H Balzac, Nhờ có chữ Quốc ngữ mà một nền báo chí và thơ văn hiện đại đã hoàn toàn chiếm lĩnh văn đàn và vươn lên những đỉnh cao, đạt được giá trị ổn định cho suốt cả thế kỉ Đúng như nhà nghiên cứu Phong Lê đã nhận định : “Rõ ràng chữ Quốc ngữ, từ khi cả dân tộc có ý thức sử dụng, đã thực hiện một khối công việc rất lớn, vừa có ý nghĩa “phục hưng” các giá trị của truyền thống, vừa vươn tới những giá trị mới, trong từng bước hội nhập với nhân loại, với thời đại” Chữ Quốc ngữ trở thành công cụ hữu hiệu thực hiện nhiều nhiệm vụ lịch sử trong công cuộc canh tân đất nước, hiện đại hóa văn học dân tộc và hội nhập với văn hóa phương Tây

1.1.3.2 Báo chí – Đóng góp quan trọng trong việc hình thành văn học Quốc ngữ

Thế kỉ XX chứng kiến sự phát triển rầm rộ của báo chí Đây là một hiện tượng cực kì mới mẻ trong đời sống văn hóa ở Việt Nam

Trang 37

Báo chí ở nước ta nảy sinh vốn là do thực dân xâm lược cần một thứ

vũ khí tinh thần cốt cổ động tuyên truyền cho “tân trào” cho sự thống trị của nó, cho cái gọi là “sứ mạng khai hóa” của Pháp Nhưng dân ta lại dùng chính cái vũ khí của thực dân để đánh lại thực dân Một điều

mà bọn thực dân không lường trước được là ngay từ khởi nguyên, văn học Nam kỳ đã có xu hướng đấu tranh cho tư tưởng chống phong kiến và tư tưởng yêu nước Trong điều kiện chính trị hồi đó, một nhóm người trí thức đã nghĩ đến việc lợi dụng quy chế pháp lý cũng như phương tiện truyền bá tư tưởng của bọn thống trị để phát triển lên báo chí, dùng báo chí để truyền bá tư tưởng, kiến thức mới, để mở mang văn hóa dân tộc Và hầu hết trên các tờ báo đều thường xuyên dành một khoảng lớn cho các bài liên quan đến văn học thuộc các thể loại : dịch thuật, tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ… in dưới dạng đăng nhiều kỳ, kéo theo sự phát triển của văn chương Khi nhận định về vai trò của báo chí ở Nam Bộ, Địa chí thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định :

“Hầu hết các tờ báo dù vô tình hay hữu ý có góp vào sự phát triển của văn học Quốc ngữ, ít thấy có tờ báo tiếng Việt nào mà không đăng tải thi ca, truyện, tiểu thuyết…” [71, tr.481] Báo chí được xem là những “bà đỡ” mát tay của văn học hiện đại Bởi các tờ báo lúc ấy đều thiên về văn chương, ngay báo hàng ngày cũng có những mục văn dịch Pháp văn, Hán văn, dịch tiểu thuyết Tàu và Pháp; thậm chí nhiều

tờ xuất bản riêng một phụ trương về văn chương Chính nhờ sự phát triển rầm rộ của báo chí mà chữ Quốc ngữ được phổ biến rộng rãi thêm, và văn học có được mảnh đất màu mỡ để “canh tác”, nhiều tiểu thuyết gia xuất hiện đem tài năng nhằm thỏa mãn nhu cầu đổi mới của độc giả, tạo nên đời sống văn học vô cùng phong phú và sôi động Ngoài những tờ báo ra đời từ cuối thế kỉ XIX như Gia Định báo (1865),

Trang 38

Nhật Trình Nam kỳ (1883), Thông loại khóa trình (1888), Bảm hộ Nam dân (1888), Phan Yên báo (1898), đến đầu thế kỉ XX, số báo phát hành ở Sài Gòn đã là 50 tờ, trong đó có một số tờ báo Quốc ngữ đáng chú ý nhất lúc này là Nông cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh tân văn(1907), Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong tạp chí (1917)…

Năm 1901, một nhà tư bản Pháp cho ra đời tờ báo Nông cổ mín đàm, cổ động việc kinh doanh nông nghiệp và thương nghiệp ở Nam kỳ Chủ trương về mặt kinh tế là một tư tưởng tiến bộ đã có tác động không nhỏ đến tư tưởng của những người lãnh đạo phong trào Duy tân ở Bắc và Trung kỳ Song bên cạnh đó, Nông cổ mín đàm thường dành tới ba, bốn trang để đăng tải chuyện dịch, truyện dài và truyện ngắn và mục Thi phổ (đăng thơ, sáng tác mới, văn học dân gian sưu tầm…) Chính Nông cổ mín đàm là tờ báo đầu tiên tổ chức cuộc thi truyện ngắn trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Tuy cuộc thi này không đạt được thành công nhưng ít nhiều đã cổ động và tạo điều kiện văn xuôi Quốc ngữ buổi đầu phát triển [80, tr.30]

Hay tờ Lục tỉnh tân văn được xem là tờ báo đáng chú ý nhất của những năm đầu thế kỉ XX ở Nam Bộ, do Trần Chánh Chiếu làm chủ bút Tờ báo này có hoạt động rất mạnh trên lĩnh vực văn chương

và chính trị Bài vở của Lục tỉnh tân văn công khai cổ động cho phong trào Minh tân, kêu gọi đồng bào tự trách mình, bỏ những thói ăn nết ở không hợp, thẳng thắn lên tiếng công kích chế độ thuộc địa Cũng từ đây, nhiều tên tuổi trong làng văn trình làng và khẳng định được tên tuổi như Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, Nguyễn Chánh Sắt…

Có thể nói Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn là những tờ báo đầu tiên “biểu lộ khá rõ rệt về ý thức, về sứ mạng văn hóa của cơ quan ngôn luận” [131, tr.33],

Trang 39

Rõ ràng báo chí ở Nam Bộ chính là nền tảng làm nảy sinh văn học Quốc ngữ hiện đại Báo chí phát triển hình thành nên một đội ngũ những nhà báo kiêm nhà viết văn chuyên nghiệp Báo chí ra đời đã hình thành một lớp công chúng có nhu cầu và thị hiếu văn học mới Đồng thời nơi đây cũng là nơi đào luyện, bồi dưỡng tay nghề của các nhà văn Ngôn ngữ báo chí Nam Bộ những thập niên đầu thế kỉ XX đã tạo cơ sở cho tiếng Việt hiện đại phát triển, góp công xây dựng một nền quốc văn mới, tạo nên diện mạo mới cho văn học dân tộc

Bên cạnh đó, hoạt động xuất bản, in và phát hành phát triển đa dạng Phương tiện in ấn hiện đại thay thế cho việc chép tay và in khắc

gỗ đã tạo điều kiện cho báo chí và văn học phát triển hơn bao giờ hết Món ăn tinh thần của công chúng trở thành ngành kinh doanh béo bở Nhiều nhà in, nhà xuất bản được thành lập

1.2 TÌNH HÌNH VĂN HỌC

1.2.1 Tình hình chung

Những tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nêu trên đã để lại dấu ấn rất mới, một bước ngoặt có thể coi là đột biến trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân, thúc đẩy nhanh sinh hoạt văn học từ phạm trù trung đại sang hiện đại

Trước hết cần phải khẳng định rằng giai đoạn nửa đầu thế kỉ

XX đang là giai đoạn đầu tiên của lịch sử văn học chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ đã có kế thừa chữ Nôm, song không phải một sớm một chiều là có thể kế thừa, nhất là về văn học nghệ thuật Song song đó

là một cuộc cạnh tranh Aâu – Á trong văn học đã diễn ra Có nhiều sự kiện văn học, nhiều tác giả, tác phẩm đánh dấu từng bước của quá

Trang 40

trình đấu tranh, phát triển, tranh chấp giữa hai nền văn học cũ và mới trong một giai đoạn có tính chất giao thời Mà ở đó tồn tại song song hai lực lượng sáng tác, hai công chúng, với hai quan niệm văn học, hai loại ngôn từ văn học Không chỉ thế ở bản thân mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm cũng thấy có sự pha trộn giữa cái cũ và cái mới Đây chính

là giai đoạn bản lề trong công cuộc chuyển giao những cái tích cực, tinh hoa của nền văn học cũ cho sự phát triển của nền văn học mới có nhiều biến chuyển lớn lao Văn học giai đoạn này đang ở thời kỳ thử thách, nó không phong phú ở đỉnh cao mà phong phú ở khả năng phát triển, ở tính đa dạng Đó chính là “cái lượng” cần có cho tiến trình hiện đại hóa văn học ở bước đầu để dần dần về sau sẽ biến thành “chất”

để tạo nên những thành tựu rực rỡ cho văn học vào giai đoạn 1930

-1945 Có thể nói, ở đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam có một sự thay đổi lớn: thay đổi quan niệm văn học, thay đổi nội dung tư tưởng, thay đổi tư tưởng thẩm mĩ

Cần phải nhận thấy sự thay đổi đầu tiên trong văn học đó là về quan niệm sáng tác Ở văn học trung đại, coi đạo đức là cái gốc có tính chất quyết định giá trị tác phẩm, nhấn mạnh ý nghĩa giáo hóa của văn chương Sáng tác văn học lúc này không chỉ để “nói chí”, “chở đạo” mà nó đã thực sự trở thành một “nghề” trong xã hội Đối tượng thưởng thức văn chương không chỉ là tầng lớp trí thức mà có xu hướng “xã hội hóa” Các nhà văn, nhà báo muốn thực sự tồn tại phải nâng cao, đào luyện năng lực Khi sản phẩm văn chương trở thành hàng hóa và khi văn chương nhằm vào nhu cầu số đông thì chức năng, hình thức của văn chương sẽ không thể nào giữ được hình dáng cũ, diện mạo cũ, nó buộc phải tự thay đổi để phù hợp với yêu cầu mới

Ngày đăng: 29/08/2021, 09:49

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w