1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ hội truyền thống tái hiện lịch sử ở kyoto nhật bản trường hợp lễ hội jidai

118 222 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nét văn hóa truyền thống đó tồn tại hàng nghìn năm nay và trở thành những nét chấm phá không thể thiếu trong bức tranh sống động của một xã hội Nhật Bản hiện đại và phát triển như

Trang 1

- oOo -

LÊ THỊ KIM OANH

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TÁI HIỆN LỊCH SỬ Ở

KYOTO-NHẬT BẢN (TRƯỜNG HỢP LỄ HỘI JIDAI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH : CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ : 60.31.50

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN TIỆP

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 01 NĂM 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được đề tài luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ chân thành từ phía Thầy Cô, Gia đình và Bạn bè Đầu tiên, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã động viên khích lệ tinh thần tôi trong suốt quá trình học tập

Kế đến, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS TS Nguyễn Văn Tiệp, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Đồng thời, xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô Khoa Đông Phương học đã tận tình truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cũng như góp ý cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các bạn học viên cùng niên khóa đã hỗ trợ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn tất cả

Trang 3

Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

MUÏC LUÏC

Trang 5

DẪN LUẬN 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Mục đích và phương pháp nghiên cứu 8

6 Nội dung nghiên cứu 9

7 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1 11

KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG NHẬT BẢN 11 1.1 Môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa của lễ hội truyền thống Nhật Bản 11

1.1.1 Môi trường tự nhiên và xã hội 11

1.1.2 Môi trường văn hóa 15

1.2 Cơ sở lý luận của lễ hội – lễ hội truyền thống Nhật Bản 16

1.2.1 Khái niệm lễ hội – lễ hội truyền thống 16

1.2.2 Cấu trúc và chức năng của lễ hội 18

1.2.3 Lễ và hội trong lễ hội truyền thống Nhật Bản 21

1.3 Phân loại lễ hội truyền thống Nhật Bản 24

1.3.1 Lễ hội nghề nghiệp 28

1.3.2 Lễ hội tôn giáo 29

1.3.3 Lễ hội lịch sử 30

1.4 Vai trò của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội Nhật Bản 32

1.4.1 Giáo dục tính cộng đồng, tình yêu quê hương đất nướ c 32 1.4.2 Bảo tồn văn hóa truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc 34

1.4.3 Phục vụ các nhu cầu vui chơi giải trí của người dân 35

1.4.4 Thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước 37

CHƯƠNG 2 xxxix

LỄ HỘI JIDAI – LỄ HỘI LỊCH SỬ TIÊU BIỂU Ở KYOTO

xxxix 2.1 Kyoto trong quá khứ, hiện tại và tương lai xxxix

2.1.1 Kyoto trong quá khứ xxxix

2.1.2 Kyoto hiện nay xlii

2025) xliii

2.2 Những đặc trưng của lễ hội truyền thống ở Kyoto xlv

Trang 6

2.2.2 Trình diễn các phong tục và tập quán xa xưa xlvii

2.3 Lễ hội Jidai (時代祭り) li

2.3.1 Nguồn gốc và ý nghĩa của lễ hội lii

2.3.2 Các hoạt động chính của lễ hội lv

2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc tổ chức lễ hội Jidai lxxvi

lxxvii

2.4.2 Phát huy vai trò và nhận thức của quần chúng tham gia lễ hội lxxix 2.4.3 Nâng cao vai trò của các cấp chính quyền trong công tác tổ chức lễ

hội lxxxii

loại hình du lịch lễ hội lxxxiv

KẾT LUẬN lxxxviii TÀI LIỆU THAM KHẢO xci PHỤ LỤC xcviii

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Phân kỳ lịch sử Nhật Bản 14 Bảng 2 Sự gia tăng số lượng đoàn diễu hành trong lễ hội Jidai qua các thời kỳ 54

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Đền Heian–Heian Jingu( ) 52

Hình 2.2 Cung điện Kyoto –Kyoto Gosho( ) 52

Hình 2.3 Đoàn diễu hành quân đội Hoàng gia 56

Hình 2.4 Công chúa Kazu Nomiya cùng đoàn tùy tùng 58

Hình 2.5 Oda Nobugana cùng đoàn tùy tùng 61

Hình 2.6 Ashikaga Takauji cùng đoàn tùy tùng 62

Hình 2.7 Kusunoki Masashige và binh lính 64

Hình 2.8 Đoàn thiện xạ Yabusame 66

Hình 2.9 Dòng họ Fujiwara 67

Hình 2.10 Seishonagon và Murasaki Shikubu 69

Hình 2.11 Đoàn rước kiệu Horen 71

Trang 9

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng Ở Việt Nam, xu hướng muốn tìm hiểu nhiều hơn, cụ thể hơn về đất nước và con người Nhật Bản ngày càng tăng Nói đến Nhật Bản là nói đến trà đạo, hoa đạo, kiếm đạo, võ sĩ đạo v.v Những nét văn hóa truyền thống đó tồn tại hàng nghìn năm nay và trở thành những nét chấm phá không thể thiếu trong bức tranh sống động của một xã hội Nhật Bản hiện đại và phát triển như ngày nay Có thể nói, trong đó, lễ hội truyền thống được xem như một trong những nét văn hóa đặc trưng nhất, một món ăn tinh thần không thể thiếu và là đại diện cho sự tồn tại mãnh liệt của văn hóa truyền thống Nhật Bản Nó đóng một vai trò rất quan trọng, có tác động mạnh mẽ, sâu sắc trong việc khuôn đúc một tâm hồn, một tính cách Nhật Bản trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai

Không chỉ riêng ở Nhật Bản mà ở mỗi quốc gia, lễ hội truyền thống đóng vai trò như là một nhân tố mấu chốt nối kết quá khứ và hiện tại, cũng như các giá trị truyền thống và giá trị hiện đại với nhau Nếu Nhật Bản đã thành công khi xây dựng cho mình hình ảnh của một đất nước có nền văn hóa kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại thì có thể nói việc bảo tồn của lễ hội truyền thống là một yếu tố không thể thiếu trong công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc

Trong các thành phố nổi tiếng của Nhật Bản, Kyoto được biết đến như một thành phố có bề dày lịch sử hơn 1000 năm với nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Trong đó, lễ hội truyền thống là một trong những di sản

Trang 10

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Lễ hội truyền thống tái hiện lịch sử ở

Kyoto - Nhật Bản (Trường hợp lễ hội Jidai) ” làm luận văn của mình

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Thông qua việc tổng hợp, phân tích khái quát hệ thống lễ hội truyền thống Nhật Bản và đi sâu phân tích, đánh giá loại hình lễ hội tái hiện lịch sử, tiêu biểu là lễ hội Jidai, luận văn ngoài việc góp phần làm rõ một số tiêu chí phân loại lễ hội truyền thống Nhật Bản, đồng thời cung cấp một nguồn tư liệu mới và cụ thể về hoạt động lễ hội đang diễn ra tại quốc gia này

- Ý nghĩa thực tiễn: Việc nghiên cứu lễ hội Jidai, một lễ hội truyền thống tái hiện điển hình tại thành phố Kyoto Nhật Bản được thực hiện dựa trên quá trình tìm hiểu các nguồn tư liệu lịch sử cũng như tham gia thực tế của tác giả để giới thiệu một cách trung thực, khách quan các hoạt động diễn ra của lễ hội này, góp phần bổ sung các thông tin bổ ích về văn hóa của đất nước Nhật Bản Trong thời đại giao lưu hội nhập ngày càng sâu, rộng của đất nước với thế giới hiện nay, đặc biệt trong quan hệ hợp tác toàn diện với Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu về Nhật Bản nói chung và văn hóa

Trang 11

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Theo đánh giá của các nhà văn hóa học, lễ hội truyền thống là một đề tài thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu tại Nhật Bản nói riêng và trên thế giới nói chung Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam, các tài liệu liên quan đến đề tài này vẫn còn ít; nếu có cũng chỉ giới thiệu sơ lược về một số lễ hội truyền thống tiêu biểu chứ không đi sâu phân tích cơ sở lý thuyết của lễ hội đó

Trong các tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt, điển hình là tác phẩm “Lễ hội cổ truyền” của Viện Văn hóa dân gian xuất bản năm 1992, tác phẩm

cung cấp một cơ sở căn bản trong bước đầu tìm hiểu và phân tích lễ hội Bên

cạnh đó, tác phẩm “Văn hóa dân gian và những thành tố” của tác giả Lê

Ngọc Canh đã đưa ra khái niệm căn bản về lễ hội cũng như các cơ sở chuẩn mực để phân loại lễ hội

Cho đến thời điểm hiện nay, trong số các ấn bản chuyên nghiên cứu về Nhật Bản, tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á là một trong những tạp chí cung cấp khá nhiều bài viết về lễ hội truyền thống Nhật Bản Tiêu biểu như “Vài nét về lễ hội ở Nhật Bản” của Trần Mạnh Cát, số 1/1997;

“Nghi lễ thần đạo Nhật Bản” của Hoàng Minh Lợi, số 1/1997; “Vai trò của các giá trị truyền thống trong quá trình hiện đại hóa xã hội” của Nhật Vương, số 3/ 2003; “Tín ngưỡng truyền thống của người Nhật qua một vài nghi lễ

phổ biến, số 5/2003 v.v… Các bài nghiên cứu trên, tiêu biểu là bài nghiên cứu

của tác giả Trần Mạnh Cát đã bước đầu đề cập đến nguồn gốc, khái niệm và

Trang 12

Ngoài ra, bên cạnh các tạp chí nghiên cứu chuyên sâu, hiện nay ở Việt Nam cũng xuất hiện một số tác phẩm giới thiệu về phong tục lễ tết, hội hè ở Nhật Bản như “Nhật Bản tăng cường và hiểu biết” của Nhà xuất bản liên hiệp Nhật Bản; Tạp chí “Hướng dẫn đến Nhật Bản” của Tổ chức du lịch quốc gia Nhật Bản; hay “Phong tục tập quán Việt Nam và Thế giới” của Nhà xuất bản Văn hóa-thông tin, v.v Các lễ hội xuất hiện trong các ấn phẩm này đều được trình bày ngắn gọn, súc tích, minh họa bằng hình ảnh có tính chất liệt kê

Nhìn chung, các đề tài nói trên chỉ đề cập một số điểm nổi bật của lễ hội truyền thống ở cách nhìn tổng thế của hoạt động văn hóa này tại Nhật Bản mà chưa đánh giá cụ thể về chức năng, cơ cấu cũng như vai trò của lễ hội trong sự phát triển của xã hội Nhật Bản ngày nay Nếu khẳng định việc nghiên cứu và tìm hiểu lễ hội truyền thống là một trong những chìa khóa để mở cánh cửa văn hóa Nhật Bản thì thiết nghĩ cần phải xem xét nó dưới một góc nhìn chuyên biệt và sâu sắc hơn

Trong các tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài, với đối tượng nghiên cứu là một yếu tố văn hóa tồn tại tại Nhật Bản, do đó các tài liệu và sách nghiên cứu lễ hội bằng tiếng Nhật trở thành nguồn tư liệu chính trong việc tìm hiểu và đánh giá chi tiết hoạt động của lễ hội tại quốc gia này

Trang 13

Về sách nghiên cứu, đa số các ấn phẩm này đều ít nhiều đề cập đến các nguồn gốc, khái niệm và cách phân loại lễ hội truyền thống ở Nhật Bản

Tiêu biểu là các tác phẩm “Nihon no Matsuri Shireba suruhodo”

nhà dân tộc học Sugata Masaaki (菅田正明) Dựa trên quan điểm của ngành dân tộc học, tác giả Sugata Masaaki đã đề cập kỹ đến nguồn gốc và sự ra đời của lễ hội Đồng thời, ngay từ giai đoạn đặt vấn đề, tác giả đã đánh giá cao sự tồn tại của yếu tố thần linh trong các hoạt động của lễ hội Nhật Bản Từ đó, ông cho rằng lễ hội chính là sự giao lưu giữa Thần và Người Xuất phát từ quan điểm đó, Sugata Masaaki cũng đã phân loại lễ hội truyền thống ở Nhật Bản theo các nghi lễ Thần đạo, trong đó yếu tố đền thờ Jinja đóng vai trò quan trọng Theo đó, các lễ hội truyền thống được đánh giá và giới thiệu theo các tiêu chí của Thần đạo Đó là các lễ hội xuất hiện trong hình ảnh của kiệu rước thần Mikoshi(神輿) và Dashi (山車) hay các lễ hội ra đời với mục đích trừ tà, giải các điều xấu nhằm đảm bảo yếu tố thanh sạch của Thần đạo Ngoài ra còn có các lễ hội đề cao sự cạnh tranh, thi đua sản xuất thể hiện qua các hoạt động thi đấu, múa hát trong lễ hội Có thể nói, thông qua tác phẩm này, tác giả Sugata Masaaki đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan và sâu sắc về bức tranh lễ hội Nhật Bản dưới góc độ của ngành dân tộc học

Bên cạnh đó, tác phẩm “Nihon no Matsuri wo Yomitoku”

( ) “Tìm hiểu lễ hội của Nhật Bản” của tác giả Shinno

Toshikazu ( ) cũng dẫn dắt người đọc đến với thế giới lễ hội Nhật Bản dưới sự đánh giá của một nhà xã hội học Tác giả phân tích và đánh giá lễ

Trang 14

Ngoài các tác phẩm chuyên nghiên cứu về lý thuyết lễ hội, còn có khá nhiều tác phẩm giới thiệu chi tiết về các hoạt động lễ hội truyền thống diễn

ra hàng năm ở Nhật Bản Tiêu biểu là Tạp chí Autoroute, một tạp chí chuyên san về lễ hội đã cung cấp cho người đọc bức tranh lễ hội Nhật Bản với nhiều hình ảnh và chú thích cụ thể Đồng thời, các tác phẩm chuyên nghiên cứu về hoạt động lễ hội của Kyoto cũng là nguồn cung cấp tư liệu quan trọng trong việc chọn lọc và tổng hợp để đưa ra nhận xét khách quan về hoạt động lễ hội tại thành phố này Tiêu biểu là tác phẩm “Kyo no matsuri Saijiki” ( ) “Lễ hội trong năm ở Kyoto” của tác giả Yokoyama Kenzo

( ) Không giống như các tác giả chuyên về lý thuyết lễ hội, Yokoyama Kenzo chủ yếu giới thiệu hoạt động lễ hội truyền thống của Kyoto theo chủ đề thời gian Các lễ hội lớn, nhỏ, không phân biệt mục đích lễ hội được tác giả trình bày lần lượt theo phương pháp liệt kê

Do đối tượng nghiên cứu cụ thể của luận văn là lễ hội Jidai, một lễ hội tái hiện lịch sử tiêu biểu ở Kyoto, vì vậy, ngoài những bài giới thiệu về lễ hội này trong các sách có liên quan, luận văn đã tham khảo một số báo và tạp chí mạng của Nhật Bản có đề cập chi tiết và cụ thể các sự kiện liên quan đến lễ hội Jidai Tiêu biểu như chuyên mục văn hóa của Báo Kyoto - Kyoto Shinbun ( ), một tờ báo chuyên san của thành phố Kyoto đăng tải 4 kỳ liên tiếp xung quanh ý kiến của người dân về các hoạt động của lễ hội Jidai, hay chuyên mục cuộc sống của báo Asahi - Asahi Shinbun ( ), số

Trang 15

ra ngày 19 tháng 10 năm 2008, có đề cập đến việc tìm và tuyển chọn lực lượng tham gia trong lễ hội Jidai

Song song với việc nghiên cứu các tác phẩm bằng tiếng Nhật, việc tham khảo các bài viết, tạp chí, sách báo của các tác giả nước ngoài khác có quan tâm đến lễ hội Nhật Bản cũng là một hướng tìm hiểu cần thiết để có cái nhìn toàn diện hơn về bức tranh lễ hội ở quốc gia này Do đó, luận văn đã tham

khảo tác phẩm “Japanese Festival” (Lễ hội Nhật Bản) của hai tác giả Helen

Bauer và Sherwin Carlquist Với con mắt của một du khách, hai tác giả trên đã tìm hiểu khá chi tiết về một số lễ hội tiêu biểu trong hàng trăm lễ hội truyền thống ở Nhật Bản Đơn cử như lễ hội Tenjin ( ) ở Osaka, các lễ hội tiêu biểu của Kyoto là Aoi ( ), Jidai ( ) và Gion ( ) Sau đó, tác phẩm cũng giới thiệu một số lễ hội nằm trong hệ thống sự kiện trong năm gọi là Nenchugyoji của Nhật Bản như lễ hội Búp bê Hina Matsuri (

), lễ hội thất tịch Tanabata Matsuri ( ), Tết Nguyên Đán Oshogatsu ( ) v.v

Có thể khẳng định, lễ hội truyền thống đã, đang và sẽ là một đề tài hấp dẫn đối với những người Nhật Bản yêu văn hóa truyền thống nói riêng cũng như đối với những người quan tâm đến văn hóa Nhật Bản nói chung Các nhà nghiên cứu đã đánh giá, phân tích và trình bày lễ hội theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, các qui chuẩn nghiên cứu vẫn không nằm ngoài hai yếu tố chủ đạo là yếu tố thần linh và yếu tố lịch sử Đây là một mảng đề tài mà nội hàm của nó vẫn còn nhiều điều cần được nghiên cứu và khám phá

Trang 16

Luận văn tập trung nghiên cứu lễ hội truyền thống có tính chất tái hiện lịch sử tiêu biểu nhất tại Kyoto, Nhật Bản Đó là lễ hội Jidai ( ) Bên cạnh đó, mở rộng tìm hiểu và nghiên cứu một số lễ hội khác có liên quan nhưng chỉ ở mức độ tham khảo

5 Mục đích và phương pháp nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về lễ hội truyền thống ở Nhật Bản, qua đó nghiên cứu các lễ hội có tính chất tái hiện lịch sử ở thành phố Kyoto, cụ thể là lễ hội Jidai, để xác định vai trò của nó trong việc bảo tồn nền văn hóa truyền thống của địa phương nói riêng và Nhật Bản nói chung; đồng thời, rút ra một số nguyên tắc cơ bản trong vấn đề tổ chức lễ hội Jidai Đó cũng chính là cơ sở để đưa ra một số nhận định và kiến nghị phù hợp góp phần bảo tồn và phát triển hoạt động lễ hội tại Việt Nam

Để đạt được những mục đích đã đặt ra, luận văn đã chủ yếu sử dụng các phương pháp sau :

- Phương pháp phân tích, thu thập và tổng hợp có chọn lọc các nguồn tư liệu sẵn có liên quan đến đề tài về lễ hội Quá trình thu thập tài liệu theo hai hướng chính sau: tham khảo các cơ sở lý luận và khái niệm căn bản về lễ hội và lễ hội truyền thống từ các tác phẩm về lễ hội dân gian Việt Nam và Nhật Bản; sử dụng các tài liệu bằng tiếng Nhật và tiếng Anh, các trang web trên Internet trong việc cung cấp các cơ sở và hình ảnh về đề tài nghiên cứu

Trang 17

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: phân loại lễ hội truyền thống theo không gian, thời gian cũng như theo từng thành tố và chức năng của lễ hội

- Phương pháp khảo sát thực tế : tham gia và khảo sát thực tế một số hoạt động lễ hội tại Nhật Bản, cụ thể là lễ hội Jidai ở thành phố Kyoto bằng quan sát tham dự và phỏng vấn một số khách tham dự lễ hội này vào tháng 10 năm 2007

- Phương pháp lịch sử: đánh giá và xem xét các hoạt động diễn ra trong lễ hội Jidai, cụ thể là sự tái hiện phong tục tập quán và các nhân vật lịch sử của các đoàn diễu hành qua các giai đoạn lịch sử cụ thể mà nó thể hiện

6 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đặt ra, nội dung nghiên cứu gồm:

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về lễ hội, lễ hội truyền thống

- Xây dựng các tiêu chí phân loại lễ hội truyền thống

- Nghiên cứu hoạt động lễ hội truyền thống ở Nhật Bản, từ những đánh giá toàn diện về bức tranh lễ hội đó, tiếp tục đi sâu nghiên cứu hoạt động lễ hội lịch sử tiêu biểu của Kyoto, lễ hội Jidai

- Nghiên cứu và đánh giá vai trò của lễ hội trong đời sống sinh hoạt của người dân địa phương nói riêng và người Nhật nói chung

- Nghiên cứu rút ra những bài học kinh nghiệm phù hợp góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của hoạt động lễ hội truyền thống ở Việt Nam

Trang 18

Ngoài phần Dẫn luận, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được trình bày thành 2 chương chính:

Chương 1: Giới thiệu tổng quát bức tranh lễ hội truyền thống Nhật Bản Với định hướng đi sâu nghiên cứu nội dung thể hiện của lễ hội truyền thống, luận văn đã phân loại lễ hội truyền thống Nhật Bản theo ba loại chính là: lễ hội nghề nghiệp (bao gồm lễ hội nông nghiệp và lễ hội ngư nghiệp), lễ hội tôn giáo và lễ hội lịch sử Từ đó, đưa ra những nhận định khái quát về vai trò của lễ hội truyền thống trong đời sống văn hóa của người Nhật hiện nay Chương 2: Chương này tập trung đi sâu nghiên cứu nguồn gốc, ý nghĩa và các hoạt động chính của lễ hội Jidai Từ đó rút ra một số kinh nghiệm từ việc tổ chức hoạt động lễ hội Jidai, góp phần nâng cao chất lượng và công tác tổ chức lễ hội ở Việt Nam hiện nay

Trang 19

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG NHẬT BẢN

1.1 Môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa của lễ hội truyền thống Nhật Bản

1.1.1 Môi trường tự nhiên và xã hội

Nhật Bản là một quần đảo được tạo thành do sự giao nhau giữa 4 tầng kiến tạo: tầng kiến tạo Thái Bình Dương nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, tầng kiến tạo American bên dưới tầng đất Euraarian và biển Nhật Bản, tầng kiến tạo Okhotsk ở phía Bắc và tầng kiến tạo Philipines ở phía Nam [Trung tâm KHXH& NV quốc gia, 2003: 310] Do nằm trên hai vùng địa chất thường xuyên tương tác là vành đai núi lửa Thái Bình Dương và khu vực địa chấn vành đai Thái Bình Dương nên Nhật Bản là một quần đảo đặc biệt, là nơi thường xuyên xảy ra động đất và núi lửa nhiều nhất trên thế giới Theo ước tính, hiện nay tại quốc gia này có khoảng 80 núi lửa đang hoạt động Hàng năm, trung bình có khoảng 7500 cơn chấn động địa chấn, 40 đến 50 trận động đất nhỏ và vừa trong khi cứ hai đến ba năm lại xảy ra một trận động đất mạnh gây tổn thất lớn

Toàn bộ diện tích của Nhật Bản là 377, 892 km 2 [Thống kê Nhật Bản, 2008: 5] trong đó các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku chiếm phần lớn diện tích của cả nước Địa hình của cả nước chủ yếu là đồi núi Đất đai không màu mỡ và trù phú Tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn Bờ biển đa dạng với vô số vịnh và bán đảo Các dòng biển lạnh chạy xuống phía Bắc gặp các dòng biển nóng chạy ngược lên từ phía Nam tạo thành vùng nước hòa trộn giữa các dòng biển Biển cũng là một trong những yếu tố khiến

Trang 20

Khí hậu ở đây tương đối ôn hòa với bốn mùa rõ rệt Mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng nhưng mùa xuân là mùa có thời tiết đẹp nhất trong năm, kéo dài từ tháng 3 đến tháng 5 với nhiệt độ trung bình khoảng từ 120C đến 190C Các lễ hội lớn ở Nhật Bản thường diễn ra vào mùa xuân Tiêu biểu như Hội hoa anh đào O-hanami ( ) diễn ra vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 hàng năm Mùa hè bắt đầu với những cơn mưa có tên là Tsuyu ( ) kéo dài khoảng hai đến

ba tuần lễ Vào những ngày hè oi bức, người Nhật có xu hướng tìm đến với không khí mát mẻ ở các vùng núi phía Bắc Honshu và Hokkaido, đồng thời cũng để tham gia các lễ hội vui nhộn diễn ra ở đó Một trong những lễ hội tiêu biểu tiêu biểu của mùa hè là Hội đốt pháo hoa Hanbi ( )

Những cơn bão nhiệt đới đến từ Thái Bình Dương đổ vào Nhật Bản báo hiệu sự giao mùa của mùa hè và mùa thu Bước vào tháng 10, khí hậu trở nên mát mẻ và dễ chịu Tháng 11 là thời điểm người Nhật rủ nhau đi ngắm lá phong đỏ Momiji ( ) ở các công viên, đền thờ hay chùa chiền Mùa đông kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2, có nơi nhiệt độ xuống đến -100 C Vào mùa đông, lễ hội Tuyết Yukimatsuri ( ) ở Sapporo đã thu hút hàng ngàn khách du lịch đến với thành phố này

Dù có chung hình thái khí hậu nhưng do đặc điểm địa hình đồi núi kéo dài từ Bắc tới Nam nên khí hậu từng mùa cũng khác nhau ở mỗi vùng Một số vùng tương đối ẩm ngay cả trong mùa đông Mặt khác, do nằm trên đường

di chuyển của vùng khí áp thấp nên mưa bão thường xuyên xảy ra Tỉ lệ thiên tai của Nhật Bản cao hơn so với hầu hết các quốc gia Châu Á khác

Trang 21

Có thể nhận thấy, điều kiện tự nhiên của Nhật Bản được tóm gọn qua hai đặc điểm: sự biệt lập và sự khắc nghiệt Hai đặc điểm này đã tạo nên nét độc đáo của đời sống văn hóa Nhật Bản, thể hiện qua các lễ hội mang đậm nét đặc trưng của từng vùng, từng địa phương Lễ hội truyền thống của Nhật Bản không chỉ bao gồm các lễ hội mang tính quốc gia mà còn là những lễ hội riêng của từng vùng miền khác nhau trong cả nước

Có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của người Nhật Trong các văn tự cổ như Kojiki ( -Cổ Sự Ký) và Nihonshiki ( -Nhật Bản thư kỷ), các câu chuyện thần thoại kể lại rằng tổ tiên của người Nhật là nữ thần mặt trời Amaterasu Nền văn hóa lâu đời nhất là nền văn hóa Jomon, bắt đầu từ khoảng 7000 năm trước công nguyên và kéo dài đến năm 250 trước công nguyên Tiếp theo là nền văn hóa Yayoi, của những người nhập cư đi từ Triều Tiên sang miền Bắc Kyushu Đồng thời, có ý kiến cho rằng còn có một bộ phận đi từ Đông Xibiri sang phía bắc Nhật Bản bằng con đường từ quần đảo Shakhalin, Kuril tới Hokkaido Nền văn hóa này có tên là Satsumon với chủ thể là tộc người Ainu Hiện nay, tộc người Ainu chủ yếu sinh sống ở Hokkaido với số dân khoảng 18.000 người

Ngoài ra, ở Nhật Bản còn có khoảng hơn 700.000 người Triều Tiên, ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Nhật Bản trong suốt gần 5 thế kỷ (thế kỷ III-thế kỷ VIII) Họ cũng tạo nên trong lịch sử một nền văn hóa mang tên Kofun với đặc trưng là những ngôi mộ được xây dựng để chôn cất các tộc trưởng hoặc những người đứng đầu nhà nước Tiêu biểu là ngôi mộ của Thiên hoàng Nintoku ở Osaka với chiều dài hơn 468 mét

Từ những bộ tộc rời rạc, các bộ phận dân cư có nguồn gốc khác nhau đến từ những xứ sở khác nhau, dân tộc Nhật Bản đã liên kết thành một dân tộc

Trang 22

Bảng 1 Phân kỳ lịch sử Nhật Bản

Nguồn: Japan, lonely planet travel survival kit, Chris Taylor, 6 th Editon, tr 13

Trang 23

Dân số Nhật Bản hiện nay khoảng 127,770,000 người, mật độ dân số là 342,7 người / km2 [Thống kê Nhật Bản, 2008 : 2] Hầu hết dân cư Nhật Bản sống ở những vùng đồng bằng nhỏ ven biển Mật độ dân cư cao nhất tại các vùng đồng bằng duyên hải phía Thái Bình Dương Hầu hết các thành phố thuộc khu vực này đều được công nghiệp hóa cao và hình thành các chuỗi đô thị lớn Dân số chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, đặc biệt là các vùng đô thị của Tokyo, Osaka, Nagoya, Kobe v.v chiếm 43,6 % dân số toàn quốc Đời sống người Nhật thuộc vào loại cao trên thế giới Chế độ phúc lợi xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục rất được chú trọng Tuổi thọ trung bình của người Nhật ngày càng cao, với tuổi thọ của nam là 78,56 và nữ là 85,52 [Thống kê Nhật Bản, 2008 :21]

1.1.2 Môi trường văn hóa

Từ thế kỷ thứ V, văn hóa Nhật Bản chịu ảnh hưởng không ít từ nền văn hóa Trung Hoa Sau đó, vào thời Minh Trị Duy Tân (1868), một lần nữa, nền văn hóa Nhật Bản lại chịu ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ của văn hóa phương Tây Vào thời điểm lịch sử nào cũng vậy, Nhật Bản đã chọn cho mình cách tiếp nhận văn hóa nước ngoài được thế giới đánh giá là một trong những phương thức tiếp nhận văn hóa hoàn hảo Đó là tiếp thu có chọn lọc văn hóa nước ngoài, đồng thời vẫn bảo tồn nét văn hóa truyền thống của mình

Nếu người Trung Quốc xem việc uống trà hay cắm hoa chỉ là một thú chơi thanh nhã thì người Nhật đã nâng thú tiêu khiển đó của người Trung Quốc thành Trà đạo và Hoa đạo Đạo ở đây không chỉ dừng lại ở mức độ nghệ thuật mà còn đòi hỏi sự đầu tư, nghiên cứu tinh hoa của lĩnh vực văn hóa đó

Trang 24

Vào thế kỷ XIX, trước dòng thác xâm nhập mạnh mẽ của tư bản phương Tây, Nhật Bản đã một mặt tích cực tiếp thu văn hóa nước ngoài để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế quốc gia, mặt khác chủ trương bảo tồn vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc Hai yếu tố truyền thống và hiện đại kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên một nền văn hóa Nhật Bản tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Nét văn hóa đặc sắc này thể hiện rõ trong cách thức tổ chức và cơ cấu của hệ thống lễ hội truyền thống ở quốc gia này Các lễ hội truyền thống Nhật Bản dù được thể hiện với nhiều hình thức đa dạng nhưng vẫn không nằm ngoài tư tưởng chủ đạo tôn thờ Thần linh, tổ tiên; xem trọng văn hóa truyền thống nông nghiệp

Sự phong phú của văn hóa Nhật Bản xuất phát từ “sự kết hợp hài hòa

không phải ở mức liên kết mềm yếu giữa các yếu tố mà là sự liên kết giữa các đỉnh cao và trạng thái cực đoan của các yếu tố Đó là sự kết hợp giữa núi cao, rừng sâu với biển xanh dịu dàng, giữa cơn bão tuyết và từng cánh mong manh, giữa thanh kiếm sắt của các Shogun và hoa anh đào” [Trung tâm KHXH&NV

quốc gia, 2003:340] Đặc biệt đó còn là sự hòa hợp giữa Thần đạo linh thiêng và sự huyền diệu của đạo Phật đã làm khơi dậy sức sống tinh thần, giàu bản sắc của dân tộc Nhật Bản

1.2 Cơ sở lý luận của lễ hội – lễ hội truyền thống Nhật Bản

1.2.1 Khái niệm lễ hội – lễ hội truyền thống

Lễ hội là một loại hình văn hóa và là hoạt động thực tiễn của cộng đồng Lợi ích trước nhất mà lễ hội mang đến cho cộng đồng chính là sự thỏa mãn

Trang 25

Theo một nhà nghiên cứu Việt Nam “lễ hội là bản chất nghệ thuật diễn

xướng, là đại diễn xướng Bởi nó có nhiều thành tố nghệ thuật tham gia có tính chất tổng hợp trong lễ và hội” [Lê Ngọc Canh, 2000: 524] Có ý kiến lại cho

rằng lễ hội là hội lễ, hội hè hay là lễ, tết, hội v.vv

Từ điển Văn hóa dân gian định nghĩa “lễ hội (còn gọi là hội lễ) là hình

thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước” [Từ

điển VHDG, 2000 : 298]

Theo một nhà nghiên cứu nước ngoài, “lễ hội là một hoạt động kỉ niệm định kì

biểu thị thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống” [Alessandro Falasi, 2003 :71]

Trong tiếng Nhật, từ “Matsuri”(祭) có nghĩa là lễ hội Đó là từ dùng để

“chỉ một loạt các nghi lễ tôn giáo đa dạng thậm chí cả lễ hội có liên quan tới các

nghi lễ tôn giáo”[Joseph Kitagawa, 2000:321] Từ này bắt nguồn từ động từ

“Matsu”(待つ) nghĩa là “chờ đợi” hay “mời mọc” và trong một nghĩa rộng hơn là “bị thu phục”

Thuật ngữ Matsuri ịã ra ịời với mục ịích diễn tả và làm tăng thêm mối quan hệ giữa việc thờ cúng tổ tiên, thần linh và những người thực hiện việc thờ cúng

đó Khi thêm kính ngữ o- đằng trước thành o-matsuri thì từ này được dùng để

tất cả các tổ chức có tính lễ hội, không phụ thuộc vào vấn đề thuộc tôn giáo hay không tôn giáo

Ngày nay, cùng với sự phát triển và đa dạng hóa của xã hội, lễ hội cũng phát triển theo nhiều hướng khác nhau Trong đó, có hai xu hướng chính là lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại

Trang 26

của một đất nước, một dân tộc

+ Lễ hội hiện đại thường là các lễ hội mới, phát triển theo hướng hiện

đại hóa, gắn liền với các sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội hiện đại của một quốc gia

Trong thực tế hiện nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh các lễ hội truyền thống, các lễ hội mới không ngừng ra đời Các lễ hội mới này ra đời đã làm thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của con người trong thời đại mới Tuy vậy, các lễ hội truyền thống vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa của quốc gia dân tộc Việc tiến hành các lễ hội truyền thống không chỉ nhằm phục vụ cho đời sống tinh thần của người dân mà còn là một hoạt động quan trọng trong chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc

1.2.2 Cấu trúc và chức năng của lễ hội

Nếu nhìn nhận lễ hội là một yếu tố văn hóa thuộc về tín ngưỡng tâm linh thì có thể nhận thấy rằng con đường chuyển hóa của nó khá đặc biệt Tính đặc biệt này được quy định bởi chức năng và cấu trúc của một lễ hội Đó cũng chính là mối tương quan giữa hai phần chính trong hệ thống cấu trúc cơ bản của một lễ hội: phần lễ và phần hội

Trong cấu trúc của lễ hội, lễ là phần thiêng liêng Các nghi thức, hành vi, động tác, sự kiện trong phần lễ được qui định nghiêm ngặt, chặt chẽ, ổn định và chủ yếu liên quan đến nhu cầu tâm linh Phần lễ được tổ chức nhằm bày tỏ sự tôn kính, tin tưởng, gửi gắm hi vọng của con người đối với thần linh, nhằm cầu mong sự phù hộ của các thần giúp con người ứng phó với thiên nhiên đầy bí hiểm và thách đố Đồng thời, lễ cũng phản ánh nguyện vọng,

Trang 27

Hội là phần tiếp theo của lễ hay nói cách khác là phần kết thúc lễ hội Phần hội được thể hiện bằng đám rước và đám rước được xem là trung tâm của lễ hội Ngoài ra, hội còn là hệ thống trò chơi, trò diễn phong phú và đa dạng Nếu lễ là phần đạo, thuộc về thế giới tâm linh con người thì hội là phần đời, thuộc về cuộc sống đời thường của người dân Do đó, phần hội thường được kéo dài hơn phần lễ và diễn ra sôi động bởi sự tham gia của đông đảo quần chúng Hội thể hiện sự phấn khích, hoan hỉ của người tham gia lễ hội Mọi người đến với hội để được giao lưu với cộng đồng, để vui chơi, để tạm thời quên đi sự vất vả cực nhọc của cuộc sống hàng ngày và hơn thế nữa hội còn hướng người tham gia đến với những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống tương lai

Bên cạnh đó, lễ hội còn là công cụ giao tế giữa Thần Người, Cá nhân Xã hội nên bao giờ cũng hợp với thời đại và dễ thụ cảm Do đó, theo đánh giá của tác giả Đặng Văn Lung trong “Lễ hội và nhân sinh”, một lễ hội thường bao gồm các chức năng chính sau: chức năng trực quan; chức năng phát triển tâm linh; chức năng biểu hiện; chức năng tiếp nhận, thu hút và cải biến; chức năng phân chia, chức năng tái tạo

-Có thể nói, ý nghĩa xã hội và sức hấp dẫn của lễ hội càng lớn thì qui mô của lễ hội đó càng được nhân rộng, đồng thời, thu hút nhiều hoạt động xã hội khác Do đó, yÙ nghĩa của một lễ hội trong thời đại hiện nay không chỉ nằm ở yếu tố bản sắc dân tộc mà còn phải xét đến giá trị thực tiễn, thực dụng thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu về đời sống tinh thần ngày càng cao của con người

Trang 28

cuộc triễn lãm bảo tàng truyền thống vốn có xu hướng trình bày các sự kiện một cách rời rạc, làm giảm bớt sự phức hệ các giác quan về sự kiện mà chúng trưng bày, thì lễ hội, đặc biệt là các lễ hội địa phương, thường là các

sự kiện đa cảm xúc và đa sắc cảnh “Chúng đòi hỏi phải có sự phân tâm một

cách chọn lọc, hay là sự tập trung có quy tắc cao, trong một môi trường hỗn loạn về cảm xúc Tất cả các giác quan đều tham dự vào””[Nhân học du lịch,

Trương Thị Thu Hằng, 2004:30]

Nếu nhìn nhận lễ hội là một yếu tố văn hóa thì theo Franz Boas (1858 – 1942), một nhà nhân học Mỹ, nó cần được nghiên cứu trong bối cảnh xã hội

mà nó đã xuất hiện Ông cũng khẳng định rằng “văn hóa của mỗi một dân tộc

được hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lý cụ thể”” [Nhân học đại cương, 2008:24] Cùng

với luận điểm về sự thống nhất và quy luật chung của phát triển văn hóa nhân loại nói trên, Boas cũng nhấn mạnh không có một nền văn hóa nào cao hơn nền văn hóa nào hay không có sự hơn kém, tốt xấu giữa các nền văn hóa Điều này cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận tính độc lập và giá trị tự

thân của mỗi nền văn hóa

Bên cạnh đó, A Radchiffe Brown (1881-1955), một người tiêu biểu cho trường phái chức năng – cấu trúc ở Anh, cũng chủ trương việc duy trì sự thống trị của các nền văn hóa truyền thống, nghiên cứu văn hóa của một dân tộc từ bên trong, đồng thời có ý thức đối với giá trị của các nền văn hóa khác

“Như vậy, các nhà chức năng luận nhấn mạnh đến phương pháp nghiên cứu hệ thống văn hóa, phương pháp so sánh và đặt vấn đề nghiên cứu các tập tục trong bối cảnh xã hội của nó” [Nhân học đại cương, 2008:25]

Trang 29

Có thể khẳng định, lễ hội truyền thống là một hoạt động văn hóa hết sức phổ biến ở mỗi quốc gia hiện nay Trong đó, giữa lễ và hội tuy có những đặc điểm, tính chất riêng nhưng giữa chúng vẫn có một mối quan hệ mật thiết và đôi khi lại như đan xen hoặc thay thế cho nhau Theo đó, phần đạo của lễ và phần đời của hội hòa vào nhau, duy trì sự tồn tại của con người và phản ánh cuộc sống thực của con người qua thế giới tâm linh của cộng đồng Theo dòng chảy lịch sử qua từng làng, từng vùng, từng địa phương, lễ hội chắc chắn bị biến đổi không ít Nhưng dù có thay đổi đến đâu thì lễ hội của làng ấy, vùng ấy, địa phương ấy vẫn mang một dấu ấn văn hóa đặc trưng và riêng biệt Chính vì vậy, dù được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, lễ hội truyền thống vẫn là một tài sản văn hóa quý giá, cần được giữ gìn cẩn thận Nhất là trong thời đại hiện nay, mỗi quốc gia đều đang hướng đến mục tiêu phát triển đất nước theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa tầm cỡ quốc tế thì vai trò của lễ hội truyền thống trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc quả là không nhỏ và đáng được chú trọng hơn bao giờ hết

1.2.3 Lễ và hội trong lễ hội truyền thống Nhật Bản

Xét về mặt nhân học văn hóa, Nhật Bản là một trong những quốc gia nổi tiếng trong vấn đề duy trì và phát triển lễ hội Lễ hội Nhật Bản là một hoạt động văn hóa vừa mang tính tín ngưỡng, vừa có tính cộng động trong sinh hoạt tinh thần của người dân, đồng thời thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu hài hòa giữa con người và thiên nhiên

1.2.3.1 Phần lễ

Ở Nhật Bản, từ thời xa xưa, lễ hội được hiểu là việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo nhằm suy tôn thần linh hay nói cách khác, đó là một hình thức giao lưu giữa thần linh và con người Lễ hội truyền thống ở Nhật Bản là một thể

Trang 30

け祭り) Trong đó, phần lễ đựơc xem là trung tâm của lễ hội Buổi sơ khai, các nghi lễ tôn giáo này được tổ chức hết sức khắt khe nhưng càng về sau lễ hội có xu hướng trở thành màn trình diễn của hiện thực đời sống, phần nào thoát ra khỏi những quy định nghiêm ngặt của thời xưa Các thầy tu Thần đạo hoặc những người đứng đầu một cộng đồng là người tiến hành các nghi thức lễ hội tại đền thờ Thần đạo trong vùng

Hiện nay ở Nhật Bản, có khoảng 9 vạn đền thờ Thần đạo Jinja ( ) nằm rải rác trên toàn quốc với hơn 10 vạn tu sĩ Không giống với các loại tôn giáo khác, Thần đạo không có người sáng lập và không có giáo lý nên so với các tôn giáo khác, Thần đạo cổ xưa không có nghi thức tế lễ hay nghi lễ chi tiết

của riêng mình “Hầu hết các chức năng tôn giáo, trừ những chức năng tại

gia, đều được tiến hành dưới gốc cây thiêng, gần mỏm đá thiêng, hoặc trên cánh đồng hay trên bờ biển” [Joseph.Kitagawa, 2001:322] Nơi thần linh

viếng thăm phải là một nơi sạch sẽ và thanh khiết Vào thời xa xưa, với niềm tin thần linh hiện diện ở khắp mọi nơi, người ta tiến hành các cuộc tế lễ ngay trong các lùm cây, tảng đá, con sông, con suối Về sau, các cuộc tế lễ được tiến hành ở những nơi cố định hơn Dần dần, các cuộc tế lễ bắt đầu sử dụng các vật linh tượng trưng cho sự hiện diện của thần linh.Trước khi các thầy tế chuyên nghiệp xuất hiện, chức năng thực hiện nghi lễ thuộc về người chủ hộ, chủ bộ tộc hoặc những người cao tuổi nhất trong cộng đồng dân cư Trong buổi lễ, thầy tế sẽ đọc Norito ( ) là những bài kinh cầu nguyện, lời cảm ơn của con người gửi đến thần linh Sau đó, thần linh và các thành viên tham gia lễ hội cùng tham dự một buổi tiệc thánh Naorai (直会)

Trang 31

Trong các lễ hội làng, vùng hay một địa phương, thần linh thường là các vị Thành Hoàng Ujigami ( ) có quan hệ huyết thống với làng, vùng hay địa phương đó hoặc là các vị Thổ công Ubusunagami ( ) có quan hệ với cộng đồng dân cư bằng quan hệ đất đai, làng mạc Các vị thần linh là đại diện cho sự liên kết của các mối quan hệ trong cộng đồng và trở thành linh hồn của cả cộng đồng dân cư đó

Ngày xưa, việc tổ chức một lễ hội thường tốn nhiều kinh phí và đòi hỏi nhiều nhân lực Vì vậy, việc đóng góp kinh phí của mỗi hộ dân trong làng được quy định rõ ràng Ngoài ra, các chức sắc trong làng phải góp thêm tiền hỗ trợ, tùy theo địa vị của mình trong ngôi làng đó

1.2.3.2 Phần hội

Nếu lễ là phần đạo thuộc về thế giới tâm linh thì hội là phần đời, thuộc về đời sống Do đó, phần hội thường được kéo dài hơn và sôi động hơn bởi sự tham gia của đông đảo quần chúng Phần hội được thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú và đa dạng Một số lễ hội thu hút du khách bởi những điệu múa sôi động, tiếng trống taiko nhịp nhàng, các cuộc trình diễn trang phục cổ truyền đặc sắc và các đám rước náo nhiệt trên đường phố

Đám rước được xem là trung tâm của phần hội Ở Nhật Bản hiện nay, phần hội được chú trọng hơn phần lễ Trung tâm của đám rước thường là những chiếc kiệu Mikoshi ( ) hoặc Dashi ( ), Horen ( ) Đây là các phương tiện dùng với mục đích rước thần và tiễn thần Mikoshi là kiệu được mô phỏng theo hình dạng của ngôi đền nhỏ, được trang trí bằng những cái chuông và những sợi dây lụa đủ màu sắc bao bọc xung quanh Một mikoshi cần từ 10 đến 12 người khiêng Người khiêng kiệu mặc quần cộc trắng và áo Happi ( ), trên đầu quấn khăn Hachimaki ( ), luôn miệng

Trang 32

Mặt khác, người Nhật quan niệm rằng thần linh không xuất hiện trong phần lễ mà thực hiện vai trò giao lưu với con người thông qua phần hội Do đó, phần hội càng diễn ra rầm rộ, sôi động bao nhiêu thì thần linh sẽ hài lòng bấy nhiêu Trong thời gian diễn ra lễ hội, các điệu múa ra đời như là một cách thức để con người tập trung tinh thần cho việc thờ cúng Ý tưởng dâng của ngon vật lạ cho thần linh xuất phát từ nguyện vọng mong muốn thần và người xích lại gần nhau hơn Với quan niệm đó, trong phần hội, người Nhật tham gia diễu hành cùng các đám rước, cùng ăn bánh ngọt và uống rượu sake, tạo nên một quang cảnh lễ hội hết sức sôi động và vui tươi Người Nhật xưa cũng có thói quen đi xem lễ hội được tổ chức ở các làng lân cận Vì không phải là thành viên của làng đó nên họ không tham gia phần lễ mà chỉ tham gia vào phần hội Do đó, khi nhắc đến lễ hội, phần hội thường được liên tưởng nhiều hơn phần lễ

1.3 Phân loại lễ hội truyền thống Nhật Bản

Tương tự với nhiều quốc gia khác, vấn đề nghiên cứu và phân loại lễ hội truyền thống ở Nhật Bản cũng đi theo nhiều hướng khác nhau Mỗi định hướng đều dựa trên các cơ sở lý luận khá thuyết phục nhằm đưa ra cách phân loại lễ hội sao cho thỏa đáng nhất, nếu căn cứ về mặt phạm vi diễn ra lễ hội được chia thành lễ hội toàn quốc và lễ hội địa phương; căn cứ theo thời gian mở hội, có lễ hội theo các mùa, xuân, hạ, thu, đông; mặt khác, nếu dựa trên

Trang 33

Cách phân chia nào cũng có mặt đúng nhưng đều không tránh được một số điểm chồng chéo, bất hợp lý Điều này cũng không có gì là khó hiểu Bởi trong số hàng trăm, hàng ngàn lễ hội diễn ra ở Nhật Bản hàng năm, tuy quy mô lớn nhỏ khác nhau, nhưng hầu hết chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tư tưởng Thần đạo, một tín ngưỡng bản địa của Nhật Bản Sự tôn thờ thần linh, ông bà tổ tiên và các lực lượng siêu nhiên là chủ đề chính xuyên suốt trong bộ mặt của lễ hội truyền thống ở quốc gia này

Đồng thời, trong quá trình phát triển của lịch sử, lễ hội thu nhận vào mình những nội dung lịch sử, xã hội, văn hóa mới, tạo nên sự hòa quyện, đan xen giữa cái cũ và cái mới, giữa nét văn hóa bản địa và nét văn hóa du nhập Do đó, ngoài những lễ hội mang đậm dấu ấn của Thần đạo, trong hệ thống lễ hội Nhật Bản cũng xuất hiện không ít các lễ hội phản ánh tư tưởng của Phật Giáo vốn du nhập vào Nhật Bản từ nền văn minh Trung Hoa Ngoài ra, các xu hướng huyền thoại hóa, địa phương hóa hay lịch sử hóa cũng có khả năng chi phối đến hình thức và nội dung của một lễ hội

Theo các nguồn tài liệu tham khảo bằng tiếng Nhật, có thể nhận thấy rằng cách phân loại đơn giản nhất là cách phân loại theo phạm vi không gian Ngoài các lễ hội truyền thống mang tính quốc gia mà người Nhật thường gọi là Nenchu gyoji ( ), ở mỗi khu vực hành chính, mỗi vùng miền đều có lễ hội của riêng mình Đơn cử như tạp chí Autoroute, một tạp chí

uy tín ở Nhật Bản, đã phân loại lễ hội truyền thống phân bố theo 6 đơn vị hành chính như sau: 1 Hokkaido và Tohoku, 2 Kanto, 3 Chubu, 4 Kinki, 5 Chugoku và Shikoku, 6 Kyushu và Okinawa Hay ở một chuyên san lễ hội

Trang 34

Nếu phân loại dựa trên chu kỳ thiên nhiên, lễ hội được chia thành lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa hè, lễ hội mùa thu và lễ hội mùa đông Trong đó, mùa xuân và mùa thu có nhiều lễ hội nhất vì có liên quan đến sản xuất nông nghiệp Nếu các lễ hội mùa xuân được tổ chức nhằm cầu mong thuận lợi trong công việc đồng áng thì các lễ hội mùa thu phần lớn liên quan đến việc tạ ơn thần linh và chúc mừng mùa bội thu Do mùa hè là mùa dễ sinh các bệnh dịch nên đa số các lễ hội mùa hè tiêu biểu ở Nhật Bản liên quan đến việc đuổi tà và phòng chống bệnh tật Lễ hội mùa đôngị thường là các lễ hội đốt lửa, pháo hoa, tuyết, với ý nghĩa đón thần mặt trời trở lại sưởi ấm mặt đất, mang lại sự hồi sinh cho con người và thiên nhiên

Mặt khác, nếu dựa trên quy định về các nghi lễ Thần đạo, lễ hội truyền thống được phân chia thành ba loại lễ hội theo ba cấp lớn, trung bình và nhỏ Đó là Taisai ( - Lễ hội lớn), Chusai ( - Lễ hội trung bình) và Shosai ( - Lễ hội nhỏ) Hệ thống các lễ hội được quy định là Taisai gồm có Reisai ( - Lễ hội thường niên), Kinensai ( - Lễ hội cầu mùa), Niinamesai ( - Lễ hội tạ ơn thần Nơng tức Ngày tạ ơn lao ịộng ngày nay), Shikinensai ( - Lễ giỗ các triều vua), Senzasai ( - Lễ ịĩn thần hồi cung) v.v Nếu là Chusai thì sẽ là Saitansai ( - Lễ cầu an ịầu năm), Kannamesai ( - Lễ

tạ ơn thần Nơng của cung ịình), Tenchosai ( - Lễ mừng sinh nhật Thiên Hồng) Còn các Shosai sẽ là các lễ hội nằm ngoài hệ thống Taisai và Chusai [Sugata Masaaki, 2007:34]

Trang 35

Qua việc tìm hiểu trên, có thể thấy rằng việc phân loại lễ hội truyền thống ở Nhật Bản là một việc khá phức tạp Tùy theo mục đích nghiên cứu mà tiêu chí và định hướng phân loại cũng sẽ khác đi Tuy nhiên, dù được phân loại theo bất kỳ tiêu chí nào, một lễ hội truyền thống ở Nhật Bản cũng

ít khi nằm ngoài ba yếu tố căn bản sau đây:

Thể hiện sự thành kính, biết ơn của thế hệ sau đối với thần linh, tổ tiên

1

Thể hiện nét đặc trưng của địa phương thông qua các hình thức nghi lễ, nghi thức, tập tục truyền thống tái hiện lại cảnh sinh hoạt, các sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, cũng như cách suy nghĩ và thế giới quan của người xưa

Lễ hội nghề nghiệp: gồm lễ hội nông nghiệp và lễ hội ngư nghiệp

Trang 36

Lễ hội nghề nghiệp bao gồm lễ hội nông nghiệp và lễ hội ngư nghiệp Trong đó, lễ hội nông nghiệp gồm các loại hình chính sau:

- Các nghi lễ nông nghiệp : là các nghi lễ nhất định gắn liền với việc trồng lúa như nghi thức tẩy uế và làm sạch cánh đồng trước khi gieo hạt hay nghi thức dâng lên thần linh những bông lúa đầu tiên của mùa gặt để tỏ lòng biết ơn

- Lễ cấy lúa: là lễ hội mô phỏng công việc đồng áng từ giai đoạn chuẩn

bị cho đến lúc bắt đầu gieo mạ xuống đồng Lễ hội này được tổ chức vào ngày 22 tháng 4 ở các đền thờ Thần Đạo ở từng địa phương trên khắp mọi miền đất nước Đền thờ Thần Đạo Fushimi Inari ( ) ở Kyoto được xem là nơi tổ chức lễ hội này một cách qui mô và trang trọng hơn cả

- Lễ đón thần Shinkosai ( ) diễn ra vào mùa xuân và lễ tiễn thần Kankosai ( ) diễn ra vào mùa thu Tiêu biểu cho loại hình lễ hội này là lễ hội Gion ( ) ở Kyoto, lễ hội Kanda ( ) ở Tokyo hay lễ hội Horanenya( ) ở thành phố Matsue

- Lễ hội cầu mùa: là thông điệp cầu mong mùa mùa màng tốt tươi của người nông dân gửi đến thần linh được thể hiện qua các điệu múa, qua những chiếc lồng đèn rực rỡ, và có khi những ngọn lửa trong lễ hội là hình ảnh tượng trưng cho khát vọng được ấm no, sung túc của người dân Tiêu biểu cho loại hình lễ hội này là lễ hội Tottorishanshan( ) ở thành phố Tottori và lễ hội Hanagasa ( ) ở thành phố Yamagata

Trang 37

Lễ hội ngư nghiệp thường được tổ chức dưới hình thức nghi lễ cầu an cho những chiếc thuyền đánh cá ra khơi lần đầu tiên Tiêu biểu cho hình thức lễ hội này là các lễ hội Ura Matsuri ( )và Iso Matsuri ( ) được tổ chức vào tháng 3 hoặc tháng 4 hàng năm

Ngoài ra, lễ hội Kakeyo (掛けよ祭り) ở tỉnh Akita là lễ hội cầu mong việc

đi biển được an toàn, được tổ chức vào ngày 4 tháng 2 Vào ngày lễ, từng con cá lớn của các ngư dân trong làng mang đến được xâu vào từng sợi rơm bện rồi treo lên lần lượt lên các cây tre tươi do hai người khiêng Cuối cùng, cá được treo lên trên một chiếc khung gỗ Vì vậy, lễ hội này được gọi là lễ hội treo cá

1.3.2 Lễ hội tôn giáo

Tôn giáo chính của Nhật Bản là Shinto Shinto thường được dịch là Thần đạo, “Đạo của các thần” và được xem là tín ngưỡng của dân tộc Thần đạo thờ cúng tổ tiên và các vị thần linh trong thiên nhiên Tuy nhiên, cùng với sự

du nhập văn hóa từ Trung Hoa và Triều Tiên, hệ thống đạo lý của Thần đạo cũng chịu không ít sự ảnh hưởng từ tư tưởng của Phật giáo và Khổng giáo Yếu tố đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến lễ hội truyền thống của Nhật Bản Mặc dù vậy, Thần đạo vẫn luôn giữ vai trò là tín ngưỡng đặc trưng nhất và tiêu biểu nhất của dân tộc Nhật Bản, do đó, có thể khẳng định rằng bất kì lễ hội truyền thống nào ở Nhật Bản cũng mang một ý nghĩa tôn giáo nhất định Đó là do phần lễ của lễ hội là phần thuộc về tín ngưỡng, tâm linh mà tín ngưỡng thực chất là một hình thức nguyên thủy của tôn giáo

Trang 38

bên cạnh các lễ hội truyền thống vốn có một ý nghĩa tôn giáo nhất định, là sự tồn tại của các lễ hội mang ý nghĩa tôn giáo thuần túy Sự ra đời của hình thức lễ hội này là một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống của người Nhật xưa Những lời cầu nguyện trong lễ hội chủ yếu xoay quanh ba vấn đề sau:

- Xua đuổi bệnh tật, các bệnh dịch nảy sinh trong năm

- Cầu siêu cho những người đã chết

- Cầu mong sức khỏe, hạnh phúc, sung túc trong cuộc sống

Đơn cử là lễ hội Yasurai (やすらい祭り) và lễ hội Gion( ) của Kyoto,

lễ hội Namahagesedo (なまはがせど祭り), lễ hội Kanto (関東祭) ở tỉnh

Akida

1.3.3 Lễ hội lịch sử

Lễ hội hình thành và biến đổi dưới tác động của nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và lịch sử Mặt khác, lễ hội chính là tấm gương phản chiếu một cách trung thực hoàn cảnh và lối sống của một quốc gia, một dân tộc Do ịĩ, một trong những chức năng quan trọng của lễ hội là tái hiện lại cuộc sống hiện thực của con người trong từng giai đoạn lịch sử và phản ánh một cách chân thực các sự kiện cũng như các nhân vật lịch sử Sự ra đời của lễ hội lịch sử là một điều tất yếu Thông qua lễ hội lịch sử, con người phần nào hiểu được giá trị của cuộc sống hiện tại và có ý thức giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương đất nước mình

Trang 39

Cũng như tất cả các tộc người khác, người Nhật rất tự hào về lịch sử truyền thống của đất nước Lễ hội lịch sử ở Nhật Bản thường được tổ chức dưới hình thức tái hiện cảnh sinh hoạt, chiến đấu cũng như cách phục trang của người xưa Tiêu biểu như lễ hội Aoi ( ) và Jidai ( ) ở Kyoto Hay như lễ hội lịch sử Nagoya ( ) được tổ chức vào tuần thứ 3 của tháng 10 Lễ hội được bắt đầu bằng cuộc diễu hành trang phục của các chiến binh Nhật thời cổ và những chiếc xe kết hoa tươi, những chiếc thuyền hoa được chạm trổ tinh xảo Tiếp theo là đám rước Mikoshi với biểu tượng cá voi Shachihoko( ), tượng trưng cho thành trì Nagoya Tiết mục đặc sắc nhất của lễ hội là sự tái hiện hình ảnh của các vị anh hùng dân tộc như Hideyoshi, Nobugana, Ieyasu và các nhân vật lịch sử khác, với sự góp sức của các tình nguyện viên từ trường học, câu lạc bộ địa phương hay các tổ chức xã hội Hàng năm ước tính có khoảng hơn 2 triệu du khách đến với lễ hội này, tạo thành một cuộc biểu dương văn hóa dài hơn 6 km

Ngoài ra, ở nhiều địa phương khác trên cả nước còn có các lễ hội tái hiện

toàn cảnh trước khi xuất trận của các võ sĩ samurai như Fujinomuri

(富士の武利) ở tỉnh Iwate, lễ hội Akougishisai (赤穂義士祭) ở tỉnh Hyougo

hay lễ hội Shimonosekikaikyou (下関海峡) ở tỉnh Yamaguchi Các hoạt động

chủ yếu của các lễ hội này là tổ chức các cuộc đua ngựa hoặc đua ngựa bắn tên nhằm tái hiện một khía cạnh trong cuộc sống binh nghiệp của các võ sĩ; tổ chức các đoàn người mặc trang phục các vũ sĩ, cỡi ngựa, đeo cung tên, lần lượt diễu hành qua các đường phố

Trang 40

1.4.1 Giáo dục tính cộng đồng, tình yêu quê hương đất nước

Giáo dục tính cộng đồng

Một trong những đặc tính quan trọng nhất của lễ hội chính là xây dựng và củng cố sự đoàn kết cộng đồng Tính cộng đồng của lễ hội thể hiện qua sự tham gia của đông đảo quần chúng hay nói cách khác là sự tham gia của các thành viên trong một tập thể Đó là một môi trường thuận lợi để các thế hệ già, trẻ, lớn, bé, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp có thể giao lưu và tham gia vào công tác chuẩn bị lễ hội Mỗi người đều đảm nhận một công việc và nhiệm vụ riêng Tuy công việc của mỗi người là khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến cái chung lớn nhất “một lễ hội sẽ diễn ra tốt đẹp” Đồng thời qua đó, mọi người có thể cảm nhận được sức mạnh mà sự liên kết cộng đồng đã đem lại Hơn nữa, việc tham gia chuẩn bị lễ hội sẽ là một dịp tốt để giới trẻ gạt bỏ cái tôi cá nhân, hòa mình vào tập thể, từ đó có ý thức gắn kết mạnh mẽ với quê hương mình

Đối với những người không trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị cho lễ hội, ngày lễ hội là dịp khơi dậy ý thức xã hội, ý thức về cộng đồng nơi mình đang sinh sống Ngày đó là ngày mà tất cả mọi người để lại sau lưng mọi ưu

tư, lo toan của cuộc sống thường ngày để hòa vào một niềm vui chung, cùng nhau vui chơi, giải trí Trong cuộc vui tập thể đó, người tham dự có thể cảm nhận được không khí gần gũi thân thiết do cộng đồng đem lại, đồng thời từ sâu thẳm trong tâm hồn nảy sinh một tình cảm gắn kết thiêng liêng với tập thể, với cộng đồng mà bấy lâu nay mình đã gắn bó Hơn nữa, đến với lễ hội là không chỉ đến với những giây phút linh thiêng quí hiếm mà còn để có được những khoảng thời gian dân chủ, bình đẳng cho tất cả mọi người, đến với một

Ngày đăng: 29/08/2021, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Hồ Hoàng Hoa (1998), Lễ hội - một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội - một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
11. Hồ Hoàng Hoa (2001), Văn hóa Nhật- Những chặng đường phát triển, NXB KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Nhật- Những chặng đường phát triển
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: NXB KHXH Hà Nội
Năm: 2001
12. Kim Văn Học (2004) Tìm hiểu văn hóa người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
13. Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên) (2007), Lịch sử Nhật Bản, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007
14. Vũ Ngọc Khánh ( 2003),Văn hóa dân gian, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian
Nhà XB: NXB Nghệ An
15. Vũ Ngọc Khánh (2007), Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
16. Vũ Ngọc Khánh - Phạm Minh Thảo - Nguyên Vũ (2000), Từ điển văn hóa dân gian, NXB Văn hóa thông tin, tr.298 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hóa dân gian
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh - Phạm Minh Thảo - Nguyên Vũ
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
17. Khoa Nhân học, Trường ĐHKHXH&NV TPHCM (2008), Nhân học đại cương, NXB Đại học quốc gia, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học đại cương
Tác giả: Khoa Nhân học, Trường ĐHKHXH&NV TPHCM
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2008
18. Joseph.Kitagawa (2000), Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản, Hoàng Thị Thơ biên dịch, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản
Tác giả: Joseph.Kitagawa
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2000
19. Lê Văn Kỳ (2002), Lễ hội nông nghiệp Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lễ hội nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Kỳ
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
20. Robert Layton (2007), Nhập môn lý thuyết nhân học, NXB Đại học quoác gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lý thuyết nhân học
Tác giả: Robert Layton
Nhà XB: NXB Đại học quoác gia TPHCM
Năm: 2007
21. Hoàng Minh Lợi (1997), Nghi lễ thần đạo Nhật Bản, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ thần đạo Nhật Bản
Tác giả: Hoàng Minh Lợi
Năm: 1997
22. Thu Linh – Đặng Văn Lung (2002), Lễ hội cổ truyền và hiện đại, NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền và hiện đại
Tác giả: Thu Linh – Đặng Văn Lung
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
25. V H u Ngh (d ch) (1991), Tìm hi u Nh t B n, NXB KHXH Hà N i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hi u Nh t B n
Tác giả: V H u Ngh (d ch)
Nhà XB: NXB KHXH Hà N i
Năm: 1991
26. H u Ng c (1998), Chân dung v n hóa t n c m t tr i m c, NXB Th gi i Hà N i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung v n hóa t n c m t tr i m c
Tác giả: H u Ng c
Nhà XB: NXB Th gi i Hà N i
Năm: 1998
27. Phan Đăng Nhật (1992), Lễ hội cổ truyền, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1992
28. Phùng Quý Nhâm (2003), Văn học và văn hóa từ một góc nhìn, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và văn hóa từ một góc nhìn
Tác giả: Phùng Quý Nhâm
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 2003
29. Noritake Tsuda (1990), Sổ tay nghệ thuật Nhật Bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay nghệ thuật Nhật Bản
Tác giả: Noritake Tsuda
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1990
30. Huỳnh Quốc Thắng (2003), Lễ hội dân gian ở Nam Bộ, NXB Văn hóa thoâng tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian ở Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Quốc Thắng
Nhà XB: NXB Văn hóa thoâng tin
Năm: 2003
33. E.D. Reischauer (1994), Nh t B n quá kh và hi n i, NXB Khoa h c xã h i, Hà N i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nh t B n quá kh và hi n i
Tác giả: E.D. Reischauer
Nhà XB: NXB Khoa h c xã h i
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w