Trong luận văn này, chúng tôi muốn nghiên cứu một trường hợp cụ thể đó là tìm hiểu về vấn đề họ tên của cộng đồng người Chăm Islam1 ở Nam bộ để thấy được những thay đổi trong cách đặt tê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
********
ĐINH THỊ HÒA
HỌ VÀ TÊN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
CHĂM ISLAM Ở NAM BỘ
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 5.03.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 13
6 Những đóng góp mới của luận văn 15
7 Bố cục luận văn 16
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 17
1.1 Các cơ sở lý thuyết về tên người 17
1.1.1 Tư duy của người nguyên thủy về tên người 17
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản làm cơ sở nghiên cứu 18
1.1.2.1 Khái niệm và phân loại tên người: 18
1.1.2.2 Chức năng của tên người 21
1.1.3 Cơ sở định danh tên họ theo quan điểm từ nguyên học 22
1.1.4 Về nguyên tắc phụ tử liên danh của người Arập 27
1.1.5 Những hiểu biết về họ tên của người Chăm ở Trung bộ 31
1.2 Khái quát về cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ 32
1.2.1 Nguồn gốc và quá trình hình thành cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ .32
1.2.2 Phân bố dân cư 35
1.2.3 Tổ chức xã hội truyền thống và gia đình của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ 39
1.2.3.1 Palei (làng) 39
1.2.3.2 Tổ chức gia đình 43
1.2.3.3 Quan hệ dòng họ 44
1.2.3.4 Hệ thống thân tộc 45
1.2.4 Đời sống sinh hoạt tôn giáo 47
1.2.4.1 Tôn giáo Islam 47
1.2.4.2 Việc thực hiện giáo luật 48
1.2.5 Đặc điểm ngôn ngữ của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ 49
1.2.6 So sánh ảnh hưởng của văn hóa Islam giữa bộ phận Chăm Islam ở Nam bộ với bộ phận Chăm Bàni ở Ninh Thuận 51
1.2.7 Tiểu kết chương 1 54
2.1 Lễ cắt tóc đặt tên cho trẻ sơ sinh 55
2.2 Sự chi phối của Islam trong cách đặt tên riêng của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ 56
2.2.1 Tên chính 56
2.2.1.1 Nguyên tắc đặt tên 56
2.2.1.2 Cách đặt tên Ảrập 57
Trang 32.2.1.3 Xu hướng thẩm mỹ trong việc chọn tên 61
2.2.2 Tên tục : 65
2.2.3 Biệt danh: 66
2.2.4 Cách dùng tên trong giao tiếp cộng đồng 68
2.3 So sánh với cách đặt tên thánh của người Chăm Bàni ở Trung bộ 69
2.4 Lý giải về sự biến đổi trong cách đặt tên của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ 70
2.5 Tiểu kết chương 2 73
CHƯƠNG 3: CƠ CẤU TÊN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở NAM BỘ 75
3.1 Hiện trạng tên khai sinh của người Chăm Islam ở Nam bộ 75
3.1.1 Về vấn đề tên họ trên giấy tờ hành chính pháp lý của người Chăm Islam ở Nam bộ 75
3.1.2 Hiện trạng cơ cấu tên khai sinh của người Chăm tỉnh Tây Ninh 76
3.1.3 Hiện trạng cơ cấu tên khai sinh của người Chăm tỉnh An Giang 79
3.1.4 Nhận định về cơ cấu tên khai sinh của người Chăm Islam ở Nam bộ 83
3.2 Hiện trạng tên khắc trên bia mộ 83
3.2.1 Về nội dung khắc trên bia mộ 83
3.2.2 Hiện trạng cơ cấu tên trên bia mộ của người Chăm tỉnh An Giang 91
3.2.3 Hiện trạng cơ cấu tên trên bia mộ của người Chăm tỉnh Tây Ninh 94
3.2.4 Hiện trạng cơ cấu tên trên bia mộ của người Chăm Tp Hồ Chí Minh 96
3.2.5 Nhận định chung về tên khắc trên bia mộ 98
3.3 Cách xác định quan hệ dòng họ của người Chăm Islam ở Nam bộ 99
3.4 So sánh với cách xác định quan hệ dòng họ của người Chăm ở Trung bộ 103
3.4.1 Vài nét về tổ chức dòng họ cổ truyền của người Chăm ở Trung bộ 103
3.4.2 Tên họ truyền thống của người Chăm Bàni 104
3.4.3 Thử giải nghĩa một vài tên dòng họ của người Chăm Bàni 105
3.5 Dấu vết của tàn dư mẫu hệ 106
3.6 Tiểu kết chương 3 109
PHẦN KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 118
Trang 4Mục lục hình
H1.1: Thánh đường Niamah (xã Châu Phong, Tân Châu, An Giang) 40
H1.2: Thánh đường Jamiul Niamah (xã Suối Dây, Tân Châu, Tây Ninh) 41
H1.3: Lễ cắt da qui đầu tại ấp Chăm (Tây Ninh) Error! Bookmark not defined. H2.1 : Khắc tên lên kiến trúc nhà ở 64
H3.1: Cấu tạo tên gồm một tên chính 81
H3.2: Tên con trai được ghép với tên thiên sứ “Mohamad” 81
H3.3 :Tên cha ở vị trí đầu (Tên cha + tên riêng) 82
H3.4 : Tên cha ở vị trí cuối (Tên riêng + tên cha) Error! Bookmark not defined. H3.5: Nghĩa địa trên đồi cát của người Chăm Bàni thôn Thành Tín (Tỉnh Ninh Thuận) .85
H 3.6: Mộ đánh dấu bằng hai hòn đá ở làng Bàu Bắc (Tỉnh Tây Ninh) 85
H3.7: Khu nghĩa địa cổ ở xã Châu Phong, Tân Châu, An Giang 86
(đối diện với Hợp tác xã Dệt Châu Giang) 86
H 3.8: Mộ đánh dấu bằng hai tấm bia ở thánh đường Jamiul Azhar 86
(xã Phú Hiệp, Phú Tân, An Giang) 86
H3.9 : Khu nghĩa địa ấp Chăm xã Suối Dây, Tân Châu, Tây Ninh 87
H3.10 : Khu nghĩa địa người Chăm Islam ở Gò Vấp, TP.HCM 87
H3.11 : Khu mộ trước thánh đường Jamil Azhar (Phú Tân, An Giang) 88
H3.12 : Khu mộ sau thánh đường Niamah (Tân Châu, An Giang) 88
H3.13: Mộ của người Chăm ở An Giang Error! Bookmark not defined. H3.14: Mộ của người Chăm ở Tp Hồ Chí Minh 89
H3.15: Chuỗi phụ tử liên danh 101
H3.16: Nhà anh Mhd.Ali: ký tự MS = Musa (tên cha của Mhd Ali), ký tự SL= Soleh (tên ông cố của Mhd Ali) 101
H3.17: Cụm mộ một dòng họ ở thánh đường NekmahError! Bookmark not defined. H3.18 : Cụm mộ dòng họ ông Mufti Haji Omar Ali ở thánh đường Azhar 102
H3.19 : Khu mộ dòng họ ông Hakem Mhd.Idris 103
H3.20: Tên con kèm theo tên mẹ trên bia mộ người Chăm An Giang 107
H3.21: Tên con kèm theo tên mẹ trên bia mộ người Chăm Tp.HCMError! Bookmark not defined. H3.22: Một buổi đọc kinh cầu nguyện cho người quá cố 109
Trang 5MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Dân số ước tính hiện nay của cộng đồng người Chăm ở Nam bộ 35
Bảng 1.2: Sự phân bố các làng Chăm ở An Giang 38
Bảng 1.3 : Tiếp xúc ngôn ngữ qua nội dung được khắc trên bia mộ 51
Bảng 2.1 : BẢNG TÊN ĐỂ CÁC CHA MẸ CHỌN LỰA 65
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt cơ cấu tên khai sinh của người Chăm ở ấp Chăm, xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh 77
Bảng 3.2 Bảng tóm tắt cơ cấu tên khai sinh của người Chăm ở phường 1, thị xã Tây Ninh 77
Biểu đồ 3.1: So sánh cơ cấu tên khai sinh giữa xóm Chăm thị xã và ấp Chăm xã Suối Dây .78
Bảng 3.3: Bảng tóm tắt cơ cấu tên khai sinh của người Chăm ở ấp Phum Soài, xã Châu Phong, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang 80
Bảng 3.4 : Mô hình phụ tử liên danh 82
Bảng 3.5: Bảng tóm tắt cơ cấu tên trên bia mộ ở ấp Phum Soài và ấp Châu Giang.91 Bảng 3.6 : Bảng liệt kê 27 trường hợp tên khắc trên bia mộ theo mô hình “ tên riêng+bin/binti+ tên cha” ở ấp Phum Soài và ấp Châu Giang (An Giang) 91
Bảng 3.7 : Bảng liệt kê 11 trường hợp tên khắc trên bia mộ theo cơ cấu “ tên riêng+bin/binti+ tên mẹ” ở ấp Phum Soài và ấp Châu Giang (An Giang) 93
Bảng 3.8: Bảng liệt kê 5 trường hợp ngoại lệ 94
Bảng 3.9: Bảng tóm tắt các cơ cấu tên trên bia mộ ở ấp Chăm (Tây Ninh) 94
Bảng 3.10: Bảng liệt kê 27 trường hợp tên trên bia mộ ở ấp Chăm 95
Bảng 3.11: Cơ cấu tên trên bia mộ ở Gò Vấp 96
Bảng 3.12: Bảng tóm tắt các trường hợp tên riêng không kèm tên cha mẹ 98
Biểu đồ 3.2: So sánh các cơ cấu tên trên bia mộ giữa các địa phương 99
Bảng 3.13: Phân loại các mô hình cấu tạo tên trên bia mộ 99
Bảng 3.14: Danh sách tên dòng họ truyền thống của người Chăm Bàni 104
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Họ tên là một hiện tượng xã hội, hiện tượng ngôn ngữ gắn với các đặc trưng văn hóa- xã hội của một tộc người được hình thành cùng với lịch sử phát triển của mỗi dân tộc Do đó, tùy theo đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, xã hội mà mỗi dân tộc có phong tục đặt tên khác nhau Tuy nhiên, quá trình phân ly (di dân) của một bộ phận trong một dân tộc hay một tộc người có thể dẫn đến sự tiếp nhận một hệ thống tên riêng khác với phong tục đặt tên truyền thống Ví dụ như một bộ phận người Việt định cư ở các nước phương Tây được khoảng 30-50 năm thôi nhưng khi đổi quốc tịch đã có xu hướng đổi tên hoặc đặt thêm tên gọi bằng tiếng bản xứ Điều này xuất phát từ nhu cầu hội nhập với hoàn cảnh mới, cộng đồng mới, tuy thuận tiện cho người bản xứ nhưng lại gây khó khăn cho người đồng hương, đồng tộc Mỗi cộng đồng người muốn tồn tại và phát triển bền vững thì trong những hoàn cảnh đầy thách thức chắc chắn sẽ phải có những quyết định lịch sử để lựa chọn cách giải quyết những thách thức đó
Trong luận văn này, chúng tôi muốn nghiên cứu một trường hợp cụ thể đó là tìm hiểu về vấn đề họ tên của cộng đồng người Chăm Islam1 ở Nam bộ để thấy được những thay đổi trong cách đặt tên của người Chăm ở Nam bộ so với người Chăm ở Trung bộ sau khoảng 300 năm, kể từ khi có những đoàn người Chăm đầu tiên đã phân ly khỏi vùng đất quê hương đi lưu lạc nhiều nơi trên bán đảo Đông Nam Á để sau đó một bộ phận đã đến định cư ở Nam bộ và hình thành cộng đồng người Chăm Islam như hiện nay
Người Chăm là một trong số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được các nhà khoa học trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu khá sớm, trong đó cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ cũng được nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau Đây là một thuận lợi để chúng tôi có thể tiếp cận vấn đề họ tên của người Chăm Islam ở Nam
bộ Người Chăm ở Nam bộ hiện nay là một cộng đồng thống nhất về tôn giáo, đó là đạo Islam Giáo luật Islam đã chi phối một cách sâu sắc và toàn diện đến mọi mặt đời sống
1
Người Việt lâu nay vẫn quen dùng thuật ngữ Hồi giáo
Trang 7của người Chăm ở Nam bộ và làm thay đổi căn bản những nét văn hóa cổ truyền của bộ phận này Trong quá trình tìm hiểu những tư liệu về họ tên của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ, chúng tôi quan tâm đến hai vấn đề: đó là tục đặt tên theo đạo Islam làm tên chính và không có tục đặt tên họ – nghĩa là không có tên gọi chung giữa những người cùng một dòng họ Tục đặt tên theo đạo Islam của người Chăm ở Nam bộ có những đặc điểm gì giống và khác so với cộng đồng người Islam trong khu vực Đông Nam Á và thế giới? có gì thay đổi so với người Chăm ở Trung bộ ? Nếu không đặt tên họ thì dựa vào cách đặt tên theo đạo Islam có thể phân biệt được huyết thống dòng họ trên tên người Chăm ở Nam bộ hay không?
Chính những câu hỏi này đã thôi thúc chúng tôi đến với đề tài “Họ và tên của
cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Đôi nét về tình hình nghiên cứu tên người của các dân tộc ở Việt Nam
Tên người là đối tượng nghiên cứu giao thoa giữa dân tộc học và ngôn ngữ học Trong nghiên cứu tộc người, một số nhà dân tộc học Việt Nam quan tâm nhiều đến các nghi lễ đặt tên và vấn đề dòng họ của các dân tộc
-Trong công trình Từ dân tộc học đến bảo tàng dân tộc học con đường học tập và
nghiên cứu tập I của Nguyễn Văn Huy tập hợp 20 bài nghiên cứu về các dân tộc Cờ Lao,
Pu Péo, La Chí, Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Cống, Sila, Lô Lô, Xinh Mun, Ha-lăng, ngao, Tác giả khảo tả nhiều về các phong tục liên quan đến tên gọi cũng như những đặc điểm về dòng họ của các dân tộc này Ông giải thích hiện tượng giữa các dân tộc có nhiều tên họ chung là do đã có sự giao lưu tiếp xúc văn hóa lâu đời giữa các dân tộc thuộc các
Rơ-hệ ngôn ngữ khác nhau ở nước ta Ông cũng giải thích về hiện tượng nhiều dòng họ của nhiều dân tộc thuộc các hệ ngôn ngữ khác nhau đều có tục thờ vật tổ của dòng họ mà các huyền thoại về vật tổ lại có chung một mô-típ Từ đó ông đưa ra một giả thuyết là các dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau ở nước ta có một mối quan hệ lịch sử rất sâu xa, mật thiết, và có thể có một cơ tầng văn hóa chung nào đó trong thời cổ đại
-Công trình nghiên cứu Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam của Cầm Trọng cho biết
rằng: khi đến Việt Nam người Thái có các họ Lò, Lường, Cà, Vi, Mè, Lềm trong đó họ
Trang 8Lường được tôn làm “mo”2, họ Lò làm “tạo” (chủ bản) Về sau, một ngành của họ Lò là
họ Lò Cầm (tức Lò Vàng) đã tiến lên chiếm địa vị thống trị và đã tách ra khỏi họ Lò nói chung trở thành tầng lớp quý tộc Lớp quý tộc họ Lò Cầm đã lấy các họ công khai là: Cầm (hay Khằm), Bạc Cầm, Hoàng, Đèo (Điêu Khằm), Tạo (hay Đèo, Đào), Xa Tuy nhiên những tên ghi trong gia phả quý tộc vẫn ghi họ Lò Cầm Theo quy định của luật tục Thái chỉ có họ Lò Cầm mới được giữ chức vụ chủ bản chủ mường Các họ khác muốn giữ chức vụ này buộc phải nhập họ quý tộc Phần lớn những người được đổi họ để giữ chức vụ này là con rể của các chủ mường không có con trai nối dõi nên buộc phải truyền chức vụ cho con rể Như vậy, xã hội người Thái ở Tây Bắc Việt Nam trước năm 1945 đã
có sự phân tầng sâu sắc và qua tên họ của một người có thể biết họ thuộc dòng họ quý tộc hay bình dân Qua công trình của Cầm Trọng cho thấy hướng nghiên cứu tên họ có thể giúp hiểu thêm về mối liên hệ giữa vai trò chức năng của các dòng họ trong hệ thống phân tầng xã hội
Tên người còn là đối tượng nghiên cứu của phân ngành nhân danh học, một phân ngành nhỏ trong phân ngành danh xưng học (Onomastics) thuộc ngành từ vựng học của
bộ môn ngôn ngữ học [6, tr.8], [20, tr.7] Theo Nguyễn Công Đức, nhân danh học là môn học chuyên nghiên cứu các qui tắc, các phương thức đặt tên người như tên, bí danh, bút danh, hiệu, [6, tr 68]
Khi nghiên cứu tên người theo nội dung và yêu cầu của một khoa học chuyên biệt
về tên người thì phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của khoa học đó Tuy nhiên tên người thường được nghiên cứu theo quan điểm khoa học liên ngành Theo đó các chuyên gia nghiên cứu thuộc từng khoa học thường tiếp cận tên người theo góc độ khoa học cụ thể của mình Theo Trần Ngọc Thêm (1976), “Nhân danh học là một bộ môn có liên quan đến hầu hết các ngành khoa học xã hội: dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, xã hội học, văn học, địa lý, song ở nước ta, cho đến nay, nó ít được mọi người quan tâm tới” [40, tr.11] Còn theo Hoàng Tuệ (1983),
“nếu kể tới những khoa học đã xưa nay có quan tâm nhiều đến vấn đề tên riêng thì ở hàng
2
ông mo là người hiểu biết tường tận nội dung của các tập tục cúng bản cúng mường nên sẽ là người chủ trì việc thực hiện các lễ nghi đã quy định trong luật tục Thái Ong còn là người chuyên trách ghi chép lịch sử của dòng quý tộc
Trang 9đầu không phải là ngôn ngữ học, mà là lôgich học, triết học, nhân học Sự thật là cho tới gần đây, đối với ngôn ngữ học, tên riêng như một người bà con xa” [42,tr.229] Theo Lê Trung Hoa, hướng nghiên cứu về tên người Việt bắt đầu xuất hiện từ bài “Tên người Việt Nam” của Nguyễn Bạt Tụy vào năm 1954, trong đó tác giả liệt kê 308 họ và khảo cứu về cách đặt tên đệm, tên chính [20, tr.10]
Lịch sử nghiên cứu vấn đề họ tên người Chăm
Về tên họ và dòng họ của người Chăm ở miền Trung có các bài viết tiêu biểu sau:
- Năm 1964, P B Lafont trong báo cáo “Contribution à l’étude des structures
sociales des Cham du Viêt-nam” trang 160 có nhận định về vấn đề tên họ của người
Chăm như sau: xưa kia vào năm Minh Mạng thứ 14, triều đình Huế bắt người Chăm phải theo phong tục Việt Nam Họ phải chọn lấy những tên họ đọc theo ngôn ngữ Việt Nam, gồm có: Bá, Đằng, Hán, Hứa, Lưu, Lựa, Lộ, Mã, Nguyễn, Châu, Ngụy, Từ, Tạ, Thiên,
Ức, Vạn, Ưng, Lâm, Hải, Báo, Cây, Dương, Quảng, Quan, Trương, Tưởng, Lư, còn những họ khác nhất là Ông, Ma, Trà, Chế (dành cho vua Chăm) thì dân chúng không được mang Nhưng đối với người Chăm những họ ấy không có ý nghĩa gì nên nhiều người khai sinh cho con mang họ khác hẳn họ cha3
- Năm 1989, Phan Xuân Biên trong bài “Góp phần tìm hiểu các loại hình tổ chức
xã hội cổ truyền của người Chăm ở Thuận Hải” trong quyển Người Chăm ở Thuận Hải
đã xác định việc tìm hiểu về bản chất của thiết chế “dòng họ” là cơ sở để có thể phân biệt được sự khác nhau giữa dòng họ với những tên họ của người Chăm hiện nay Kết quả nghiên cứu của ông là “dòng họ ở người Chăm là một cộng đồng bao gồm những người
có quan hệ huyết thống với nhau tính theo hệ mẹ, có sự thống nhất về kinh tế, xã hội, tư tưởng được biểu hiện trong cả ý thức và trong hoạt động thực tế của đời sống Tổ chức này hoàn toàn khác với những tên họ của người Chăm được nói đến trong thư tịch cũng như tồn tại trong xã hội Chăm hiện nay như Cri, Jaya, Indra hay Ôn, Ma, Trà, Chế và Nguyễn, Quảng, Bá, Đăng, Lâm, Thiết, v.v ” Theo Phan Xuân Biên, “những người có cùng một tên họ hiện nay ở trong một làng chưa hẳn đã thuộc một dòng họ cổ truyền tính theo hệ mẹ và ngược lại những người có tên họ khác nhau lại có cùng một dòng họ mẹ,
3
Dẫn lại theo Nguyễn Văn Luận (1974), tr.116
Trang 10vẫn là bà con dòng họ, thậm chí đa số là chị em ruột của nhau, bởi vì hiện tượng con trai thường lấy họ cha, con gái mang họ mẹ là phổ biến” Theo ông, trường hợp một người Chăm muốn khai sinh cho con theo tên dòng họ cổ truyền là việc bình thường và rất chính đáng [1, tr.157]
- Năm 2004, Nguyễn Văn Tỷ4 có bài viết “Tìm hiểu về Họ của người Chăm” trong
đó lý giải vấn đề này rằng: “Người Chăm phân biệt rất rõ ràng rằng họ ghi trong giấy khai sinh là họ có tính cách hành chính, còn tộc họ thì theo nhánh bên mẹ (mẫu hệ) Bản thân tôi, với họ tên khai sinh là Nguyễn Văn Tỷ, nhưng không phải thuộc tộc họ Nguyễn như người Kinh mà lại thuộc tộc họ Po Dăm nghĩa là tộc họ theo phía mẹ Tất cả người cùng tộc họ Po Dăm dù trải qua hàng chục thế hệ cũng không được lấy nhau- hiểu như họ nội bên người Kinh Vì thế, khi dựng vợ gả chồng với những người làng xa, người Chăm thường tìm hiểu trước tiên là “bên đó” thuộc họ tộc nào Những tộc họ này thường mang tên một vị thần đích thực cai quản tộc họ và ban phước lành cho tất cả mọi người trong tộc họ” [45, tr.109-110]
- Năm 2006, Inrasara Phú Trạm có bài viết “Bàn thêm về họ người Chăm” đăng
trên tạp chí Tia Sáng số 19, trong đó cũng nêu rằng: người Chăm có họ theo dòng tộc, đó
là dòng họ được đặt theo tên vua như họ Po Rome, họ Po Gihluw, hoặc đặt theo tên loài cây trụ trong Kut chính như họ Gađak, họ Mil Pui (tức Amil Apwei/ cây me lửa), nhưng không dùng họ này đặt họ tên trong giấy đăng ký khai sanh [43]
Về dòng họ và tên họ của người Chăm Islam ở Nam bộ có các nghiên cứu cứu sau:
- Năm 1962, vấn đề tên người Chăm Islam được đề cập đến lần đầu tiên trong bài
“Người Chàm Châu Đốc” của Dohamide Sau mục giới thiệu nghi lễ cắt tóc đặt tên của người Chăm Châu Đốc, Dohamide còn trình bày một bảng tên cho biết đứa trẻ là trai hay gái, sinh vào ngày nào trong tuần và sinh vào ban ngày hay ban đêm thì nên chọn những tên nào Ngoài ra, Dohamide còn cho biết có sự sai khác giữa tên trên thực tế và tên trên thẻ căn cước của người Chăm [11]
4
Tự Jaya Kanămcam, Bút danh là Chế Vỷ Tân
Trang 11- Năm 1973, Huỳnh Minh trong công trình Tây Ninh xưa và nay có viết “con cháu
dòng họ người Chàm Tây Ninh chỉ có lẩn quẩn 12 tên giống nhau, trai thường đặt tên Số, Ló, gái thì Aphe, Tisá ” [31, tr.148]
- Năm 1974, trong công trình Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt
Nam, Nguyễn Văn Luận đã trình bày một cách toàn diện về người Chăm ở Nam bộ, trong
đó lễ cắt tóc đặt tên trẻ sơ sinh được đề cập đến như một tập tục gia đình Khác với Dohamide viết về cách đặt tên dựa vào bảng tên, Nguyễn Văn Luận cho rằng: “Trừ khi người cha tự đặt tên con theo ý riêng, thường thường do sự chiêm đoán tương lai của nó
mà chọn tên của một trong số 25 vị thánh Hồi giáo”, và “Vì phải chọn loanh quanh trong
số 25 tên các vị thánh Hồi giáo nên nhiều tín đồ trùng tên nhau” Nguyễn Văn Luận nhấn mạnh vào ý nghĩa của việc dùng tên thánh của người Chăm về các phương diện tôn giáo,
xã hội và tâm lý Những tên họ mà người Chăm mang trên các giấy tờ pháp lý chỉ là vấn
đề hình thức, còn thực tế người Chăm coi tên thánh mới là tên chính thức [30]
- Năm 1993, Lâm Tâm trong xuất bản Một số tập tục người Chăm An Giang có
viết: “người Chăm có ba cách đặt tên: đặt tên theo các vị thánh, đặt tên theo trí thức và đặt tên thường” [35, tr.71] “Thời Gia Long, bắt buộc người Chăm phải có họ như dân tộc khác để dễ theo dõi, do đó người Chăm có họ Châu Thời Pháp thuộc trở về trước, nam giới đều mang họ Châu, nữ giới là Châu thị thực tế nghe xưng cùng họ, nhưng không có
bà con gì cả” Điểm đặc biệt là Lâm Tâm có viết về tục cúng kiếng của một số dòng họ gồm có dòng Chay là dòng của vua chúa, dòng Parê là dòng họ của người bình dân, dòng Bai khel là dòng họ mà khi gia đình nào có người ốm lâu ngày không chữa khỏi thì làm cơm cúng tổ tiên dòng họ này, và dòng họ có nguồn gốc Minăng Kabau (ở Châu Giang) [35, tr.56]
- Năm 1991, Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh cho xuất bản công
trình Văn hóa Chăm trong đó có nhận định rằng: “Đối với người Chăm Hồi giáo ở Châu
Đốc thì tên trên giấy tờ như khai sinh, chứng minh nhân dân chỉ là hình thức, còn tên thánh mới là tên thường dùng, và là tên chính thức Do tiếp xúc với xã hội bên ngoài càng tăng, quan niệm về tầm quan trọng của tên thánh trong giới thanh niên có đổi thay, nhưng tất cả mọi người vẫn còn mang tên thánh” [2, tr.198-200]
Trang 12- Năm 1991, Phan Văn Dốp và Nguyễn Việt Cường trong bài “Người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long” có nhận định “người Chăm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và ở Nam bộ xác định dòng họ trên cơ sở dòng máu cha Bà con về phía mẹ chỉ có cha mẹ anh em và chị em của mẹ trong khi bà con về phía cha gồm ông nội hoặc cả ông
cố nội, nếu còn sống và tất cả con cháu sinh ra từ những người đàn ông, những người trong cùng dòng họ không được xác định bằng tên họ và cũng không được xác định bằng một khu nghĩa địa chung như người Chăm ở Thuận Hải, mà cố kết thông qua các nghi lễ trong gia đình” [14, tr.294]
- Năm 1999, Chu Xuân Diên trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam đã nhận
định về người Chăm vùng văn hóa đồng bằng Nam bộ như sau: “Khác với bộ phận người Chăm ở Trung bộ, bộ phận người Chăm ở đây đã chuyển sang hình thức gia đình phụ hệ Tuy nhiên những tập quán mẫu hệ vẫn còn tồn tại đậm nét như tục lệ ở rễ, tục con gái vẫn được hưởng quyền thừa kế, tục đặt tên cho con gái kèm theo tên mẹ ” [8, tr.314]
Trên đây, chúng tôi vừa điểm qua những nghiên cứu đi trước liên quan đến vấn đề
họ tên của người Chăm ở Việt Nam, có chú ý đến vấn đề dòng họ của người Chăm, nhằm phác thảo tình hình nghiên cứu về họ tên trên cả hai phương diện ngôn ngữ và văn hóa tộc người
Từ các kết quả nghiên cứu trước nay về riêng vấn đề họ tên người Chăm Islam ở Nam bộ, chúng tôi rút ra ba nhận xét sau:
- Về tên riêng của người Chăm Islam ở Nam bộ: đa số các tài liệu không thống nhất về số lượng tên, có tác giả cho là 12, có tác giả cho là 25, bảng tên của Dohamide lập cho thấy có khoảng 55 tên dành cho nam, 36 tên dành cho nữ Có thể thấy, theo hầu hết các tác giả thì số lượng tên để chọn đặt là hạn chế và khép kín Đây là vấn đề sẽ được làm rõ trong luận văn này
- Về tên họ của người Chăm Islam ở Nam bộ: các tài liệu đều thống nhất rằng người Chăm Islam không có tục đặt tên họ Còn tên họ tiếng Việt chịu ảnh hưởng từ thời nhà Nguyễn, thời Pháp thuộc thì được khảo sát trong giai đoạn trước 1975 Chưa có tài liệu nào khảo sát trong giai đoạn gần đây kể từ sau năm 1975
Trang 13-Về dòng họ thì các tài liệu đều nhận định rằng người Chăm Islam ở Nam bộ theo chế độ phụ hệ, xác định dòng họ trên cơ sở dòng máu cha và cũng có nhận định rằng những tập quán mẫu hệ còn tồn tại đậm nét Tuy nhiên, tục đặt tên con gái kèm theo tên
mẹ có hay không và có phải là biểu hiện của tập quán mẫu hệ hay không là vấn đề cần tiếp tục xem xét Đồng thời, cũng cần tìm hiểu xem yếu tố phụ hệ có được phản ánh trong cách đặt tên của người Chăm Islam hay không?
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là :
- Nhằm tìm hiểu nguồn gốc và đặc điểm của cách đặt tên của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ, qua đó lý giải cơ chế tác động đến sự thay đổi trong cách đặt tên của người Chăm ở Nam bộ trong sự so sánh với cộng đồng người Chăm ở Trung bộ
- Tìm hiểu hiện trạng họ tên trên giấy khai sinh và tên khắc trên bia mộ, qua đó thấy được tính thích nghi và hội nhập của người Chăm Nam bộ trong hoàn cảnh vừa chịu ảnh hưởng của giao lưu tiếp xúc văn hóa với người Việt vừa chịu tác động của văn hóa tôn giáo
- Góp phần làm rõ những dấu hiệu phụ hệ hay mẫu hệ nếu có và vấn đề không đặt tên họ trong tục đặt tên của người Chăm ở Nam bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là họ tên của người Chăm Islam Nam bộ trên
cơ sở nghiên cứu đối chiếu với tên họ của tộc người Chăm và ảnh hưởng của tôn giáo Islam Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong cộng đồng người Chăm islam ở Nam bộ, họ tên người Chăm Islam ở Ninh Thuận chưa được đề cập đến
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
a Cơ sở lý luận:
Nội dung của luận văn được phân tích dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết giao lưu
và tiếp biến văn hóa, lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và vận dụng các khái niệm cơ bản về tên người như tên họ, tên riêng, tên đệm, phụ tử liên danh
Trang 14- Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (acculturation): theo Hà Văn Tấn, các
nhà khoa học Mỹ đã định nghĩa khái niệm này như sau: “Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm”5 Theo Trần Quốc Vượng, những hoạt động trao đổi kinh tế, quan hệ hôn nhân, quan hệ ngoại giao, các cuộc di cư lớn nhỏ làm cho các tập đoàn người có văn hóa khác nhau đã sống xen kẽ vào nhau đó là những yếu tố quan trọng tạo ra sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa Nói cách khác, giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa ngoại lai bởi dân tộc chủ thể Sự tiếp nhận này có hai mức độ khác nhau: tiếp nhận đơn thuần và tiếp nhận sáng tạo Đây chính là cách xử lí mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh của mỗi tộc người tiếp nhận [46, tr.51-52]
- Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ:
Theo GS.TS Bùi Khánh Thế (1973), vấn đề nhân danh học cần được đặt trong bối cảnh của tình hình tiếp xúc ngôn ngữ Nghiên cứu nhân danh học trong điều kiện có sự tiếp xúc ngôn ngữ rõ ràng là một vấn đề phức tạp, nhưng do tính chất hệ thống và bền vững của các phương diện ngôn ngữ này chắc chắn sẽ có ý nghĩa lớn đối với các nhiệm
vụ nghiên cứu dân tộc học khác nhau [39,tr 112]
Sự tiếp xúc ngôn ngữ, theo cách định nghĩa của ngôn ngữ học, là hiện tượng “các ngôn ngữ tiếp xúc nhau do có những điều kiện địa lý, lịch sử và xã hội đặc biệt dẫn tới sự cần thiết của các tập thể người nói những thứ tiếng khác nhau sử dụng ngôn ngữ giao tiếp lẫn nhau, hoặc thậm chí còn là một hiện tượng sử dụng lần lượt hai hay nhiều ngôn ngữ cùng chính những con người ấy” “Sự tiếp xúc ngôn ngữ có thể là trực tiếp, tức do tình hình cộng cư của những tập thể người nói các thứ tiếng khác nhau trên cùng khu vực địa
lý (như các vùng nhiều dân tộc ở nước ta), cũng có thể là gián tiếp, tức là qua con đường văn tự ; nó có thể diễn ra giữa các ngôn ngữ có quan hệ dòng họ, cũng như giữa các ngôn ngữ khác dòng họ, v.v…” [39,tr 95]
5
Dẫn theo Trần Quốc Vượng (1998), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.50
Trang 15Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa được vận dụng vào nghiên cứu đề tài này nhằm phân tích trong cơ cấu và đặc điểm của tên người Chăm Islam ở Nam bộ xem yếu tố nào là yếu tố văn hóa cổ truyền, yếu tố nào là yếu tố văn hóa truyền thống Islam và yếu tố nào là ảnh hưởng từ văn hóa Việt hoặc văn hóa các dân tộc khác nếu có
b Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp chính được vận dụng trong luận văn này :
- Tiến hành điền dã dân tộc học tại các địa điểm sau:
+ Ap Phum Soài, xã Châu Phong, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang
+ Ap Châu Giang, xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
+ Ap Chăm, xã Suối Dây huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh
+ Nghĩa trang người Chăm Islam quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh
+Thôn Mỹ Nghiệp, Thôn Thành Tín, Thôn Phước Nhơn (tỉnh Ninh Thuận)
- Phương pháp so sánh: so sánh cách đặt tên giữa người Chăm Nam bộ với người Chăm Bàni ở Trung bộ, so sánh tên khai sinh với tên trên bia mộ, v.v…
- Phương pháp phân tích thành tố: nghiên cứu các thành tố có trong tên người như tên riêng, tên họ, tên đệm, phụ tử liên danh , qua đó xác định các mô hình kết cấu tên người của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp miêu tả, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích định lượng, phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản, và khai thác các tư liệu trên nguồn internet,
6 Những đóng góp mới của luận văn
Ý nghĩa khoa học:
Trong bối cảnh một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, tên người là một yếu tố quan trọng có thể góp phần xác định và phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, đồng thời giúp nhận biết những tác động xã hội qua các giai đoạn lịch sử của một dân tộc Những kết quả nghiên cứu tên người sẽ góp phần làm tăng thêm những hiểu biết về nguồn gốc
và văn hóa tộc người Hy vọng rằng luận văn “Họ và tên của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ” có thể góp thêm một phần nào đó mới mẻ vào việc tìm hiểu ngôn ngữ
Trang 16và văn hóa của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ nói riêng và dân tộc Chăm nói chung
Ý nghĩa thực tiễn:
- Hiện nay, vấn đề đổi mới cách quản lý công dân đang là một vấn đề thời sự ở
nước ta Vì vậy, họ tên của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ là một đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu một cách hệ thống để giúp cho các cơ quan hữu trách tham khảo nhằm tìm ra những giải pháp tối ưu trong việc chuẩn hóa tên người trên các
giấy tờ hành chính pháp lý
- Luận văn cung cấp một số tư liệu tham khảo cho những người quan tâm về vấn
đề khôi phục nét đẹp trong văn hóa tên gọi của dân tộc Chăm nói riêng cũng như vấn đề tên gọi và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương, trong đó:
Chương 1 đề cập tổng quan về các cơ sở lý thuyết về tên người và khái quát về cộng
đong người Chăm Islam ở Nam bộ
Chương 2 đề cập đến cách đặt tên của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ dưới ảnh hưởng của văn hóa Islam
Chương 3 đề cập đến cơ cấu tên của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ
Trang 17CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1.1 Các cơ sở lý thuyết về tên người
1.1.1 Tư duy của người nguyên thủy về tên người
James George Frazer trong bộ sách kinh điển Cành Vàng đã dành trọn chương 22
để trình bày về các từ ngữ bị cấm kỵ trong xã hội nguyên thủy bao gồm tên người, tên gọi các thứ bậc họ hàng, tên người chết, tên các ông vua, các vị thủ lĩnh và tên các thần thánh
6
Đó là vấn đề liên quan đến tư duy và tín ngưỡng
Tại sao có tục lệ cấm kỵ tên người trong xã hội nguyên thủy? tại sao những người bản địa của Australie thường giữ kín tên gọi của mình và luôn luôn ghê sợ việc phải nói
ra tên thật của mình?
Tại sao trong các bộ lạc ở vùng trung tâm Australie, mọi người ngoài cái tên riêng thường dùng, còn có một tên gọi bí mật hoặc linh thiêng chỉ được nhắc đến sau khi đã có những biện pháp phòng ngừa phức tạp nhất để cho chỉ có những người trong nhóm được tin cậy nghe được? Tương tự, mọi người Ai Cập đều nhận được hai tên gọi, một được công khai và một được giữ kín rất cẩn thận? Một đứa trẻ đạo Bàlamôn cũng nhận được hai tên gọi, một để dùng thường ngày, một được giữ kín chỉ có cha mẹ đứa trẻ được biết Vậy tại sao phải có hai tên gọi như vậy? Tại sao những ngư dân ở Nias thường tránh gọi trẻ con bằng tên ở những địa điểm ma ám như trong những khu rừng tối tăm, trên đôi bờ sông, ở gần dòng suối sôi sục? Tại sao các cư dân trên những hòn đảo Chiloe không bằng lòng khi người ta gọi to những tên gọi của họ? Tại sao nếu một du khách lạ hỏi tên một người Araucan thì anh ta sẽ đáp lại “tôi không có tên”? và nếu cũng câu hỏi ấy đề ra với một người Ojebway thì anh ta sẽ yêu cầu một người có mặt ở đó trả lời dùm cho mình, chứ người ta không thích nhắc tới tên mình
Tóm lại, theo Frazer, điều không còn nghi ngờ gì nữa đó là đông đảo những người man dã vô cùng ghê sợ phải nói ra tên gọi của chính mình, trong lúc họ không sợ hãi khi tên gọi của họ được những người khác nhắc đến
6
James George Frazer, Cành Vàng, Bách khoa thư về văn hóa nguyên thủy, (Ngô Bình Lâm dịch ), Nxb Văn hóa
Thông tin & Tạp chí Văn hoá-Nghệ thuật xuất bản, Hà Nội, 2007, tr 395-422
Trang 18Vấn đề này liên quan đến tín ngưỡng ma thuật trong tư tưởng của người nguyên thủy được Frazer mô tả và giải thích trong tác phẩm “Cành Vàng” Frazer giải thích nguồn gốc những cấm kỵ đối với tên người là do con người nguyên thủy nhìn nhận tên gọi của mình như một bộ phận thiết yếu của bản thân và anh ta tin rằng một sự đối xử xấu bụng đối với tên gọi của anh ta sẽ làm anh ta bị tổn thương Tín điều này là phổ biến ở nhiều bộ lạc khác nhau, cư trú trong những xứ sở khác nhau, từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương, và là nguồn gốc một số lớn các nguyên tắc rất kỳ lạ liên quan đến điều bí mật về những cái tên gọi và những việc thay đổi tên gọi [16, tr.395]
Đối với người đạo Bàlamôn, tục lệ giữ bí mật tên thật nhằm để bảo vệ người đó chống lại pháp thuật, bởi lẽ một bùa phép trở nên có hiệu lực nếu như nó gắn liền với tên thật [16, tr.397] Những người Tolampoos trên đảo Célèbes tin rằng khi viết tên một con người, người ta có thể bắt đi linh hồn của người đó cùng với tên gọi [16, tr.395] Người bản địa ở Autralie luôn ghê sợ vì tin rằng các thầy phù thủy khi biết tên của anh ta có thể làm hại anh ta [16, tr.396] Chuyện mê tín này cũng gặp ở một số thổ dân Châu Mỹ, ở các
bộ lạc thổ dân trong xứ Colombie thuộc Anh, ở nhiều bộ lạc ở miền Nam châu Phi và trên toàn bộ quần đảo vùng Đông An Độ [16, tr.399] Những người da đen ở Gippsland
sợ rằng nếu để đám kẻ thù của họ biết được tên thật của họ sẽ sử dụng nó như một phương tiện để đọc thần chú, cướp lấy mạng sống của họ bằng các bùa phép [16, tr 400] Ngày nay, rất nhiều những người man dã vẫn còn nhìn nhận tên gọi của họ như là một bộ phận thiết yếu của chính bản thân họ và do đó hết sức nhọc lòng tìm cách che dấu tên thật của họ, sợ rằng tên gọi đó có thể cung cấp cho những người có ác ý một phương tiện làm hại cho người mang tên ấy [16, tr.396]
Những tư tưởng của người nguyên thủy liên quan đến tên người mà Frazer miêu tả
và phân tích trong tác phẩm Cành Vàng là vốn tư liệu phong phú về xã hội nguyên thủy giúp cho các nhà nhân học giải thích được những tàn dư của tín ngưỡng nguyên thủy tồn tại trong các xã hội hiện đại, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu khoa học về tên người trong nhân học nhận thức
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản làm cơ sở nghiên cứu
1.1.2.1 Khái niệm và phân loại tên người:
Trang 19Theo định nghĩa của TS Đặng Ngọc Lệ, tên người thực chất là một tổ hợp từ có kết cấu lỏng, trong đó mỗi thành phần đều có thể làm thành một yếu tố định danh biệt lập trong sử dụng
Về thuật ngữ liên quan đến tên người bằng tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Anh có các tên gọi khác nhau như sau:
Tên, Tên riêng, tên cá nhân Danh First name, Christian name, given
name
Tên kèm theo tên cha Phụ tử liên danh Patronym/ patronymic
Tên kèm theo tên mẹ Mẫu tử liên danh Matronym
+ Tên riêng là từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ một cá nhân, cá thể, phân biệt với những cá nhân, cá thể khác cùng loại, ví dụ: Hòa, Bình Theo Hán tự, chữ danh ( ) gồm
có chữ dạ (đêm) ở trên chữ khẩu (miệng) nghĩa là trong đêm tối nếu tình cờ chạm phải một người không biết là ai thì lên tiếng hỏi “ai đó?” “Tên” chính là từ xuất hiện dùng để trả lời cho câu hỏi “ai đó?” Theo đó, tên không chỉ là một quy ước, một biểu trưng, một dấu hiệu cơ bản để nhận diện mỗi người, phân biệt được giữa cá nhân này với cá nhân khác, mà còn là phương tiện để xưng hô trong giao tiếp Tên riêng là thành tố hạt nhân của các loại kết cấu tên người Một số dân tộc ở Việt Nam và Đông Nam á hiện chỉ có một tên riêng trong tên gọi đầy đủ, ví dụ người Miến Điện, người Java ở Inđônêxia
- Phụ tử liên danh ( patronymic/ patronym) là một thành tố trong kết cấu tên
người được đặt theo tên cha, nói cách khác đây là một hình thức lấy tên cha làm tên đệm cho tên con
Theo từ điển báck khoa toàn thư7, “phụ tử liên danh là một tập tục đặt tên con ở một số dân tộc trên thế giới, điển hình là các cư dân sử dụng ngôn ngữ Tạng-Miến Tên của mỗi thành viên trong xã hội bao gồm hai yếu tố: yếu tố đầu là tên cha, yếu tố thứ hai mới thật là tên mình Tập tục này khẳng định việc tính huyết tộc theo dòng cha, và có thể
7
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=13E7aWQ9MTg3MDgmZ3JvdXBpZD01JmtpbmQ9 JmtleXdvcmQ9&page=5
Trang 20giúp trở ngược lại rất xa, có khi 20-30 đời người để tìm hiểu lịch sử của từng dòng họ Ơ miền Bắc Việt Nam, dân tộc Hà Nhì có tập tục này“
ở người Do Thái, người ảrập thì tên cha đứng ở vị trí sau tên con Ví dụ, một người Do Thái tên là David ben Joseph nghĩa là David con trai của Joseph, hay Mariam bat Joseph nghĩa là Mariam con gái của Joseph (trong tiếng Do Thái, từ “ben” có nghĩa là
“con trai của”, và “bat” có nghĩa là “con gái của”)
ở nhiều vùng thuộc Châu Au, loại hình phụ tử liên danh là tiền thân của cách dùng tên họ Riêng ở Nga, hình thức phụ tử liên danh luôn được đặt ở vị trí tên đệm (middle name) giữa tên riêng và tên họ trong kết cấu tên người và được dùng để xưng hô thân mật
- Tên họ (surname): là một thành tố trong kết cấu tên người để chỉ ra rằng người
đó thuộc về dòng họ nào ở các dân tộc theo chế độ phụ hệ, con cái sinh ra đều mang tên
họ của cha ở các dân tộc theo chế độ mẫu hệ, con cái sinh ra đều mang tên họ của mẹ Theo từ điển Anh –Việt, surname là tên chung mà tất cả thành viên trong gia đình đều mang Bởi vì, trong gia đình người phương Tây thì không những con cái mang tên họ của người cha, mà vợ cũng mang tên họ của chồng Nhìn chung, tên họ là tên cố định chung của các thành viên trong cùng một dòng họ hay một gia tộc và được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác
- Phân biệt tên họ và dòng họ:
Để nghiên cứu tên người, chúng ta cần lưu ý từ “họ” trong tiếng Việt vừa có nét nghĩa là dòng họ vừa có nét nghĩa là tên gọi của dòng họ Do đó, các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu kết cấu họ tên thường dùng từ “tên họ- tên riêng” ở xã hội Việt Nam và các nước Đông á thì tên họ đặt trước tên riêng, nhưng ở xã hội phương Tây thì tên họ đặt sau tên riêng Vì vậy, định nghĩa của Từ điển tiếng Việt rằng “họ là tiếng đặt trước tên riêng” chỉ giới hạn ở xã hội Việt Nam, vì người Việt sống ở các nước phương Tây thì phải viết tên họ sau tên riêng theo luật định
Cách cấu tạo tên người trong tất cả ngôn ngữ về cơ bản có thể phân thành 3 loại : + Loại kết cấu chỉ có tên riêng
+ Loại kết cấu gồm có tên riêng kèm theo tên cha (phụ tử liên danh)
Trang 21+ Loại kết cấu gồm có tên họ và tên riêng
Trong mỗi loại trên đều có thể xuất hiện hoặc vắng mặt yếu tố chữ đệm (tên đệm)
Đó là yếu tố xen giữa tên riêng và tên họ, hoặc đứng cạnh bên tên riêng, có tác dụng biệt giới hoặc phân biệt ngành họ, hoặc tạo nét thẩm mỹ Ví dụ, tên đệm trong tên người Việt trước đây thường gặp nhất là chữ “thị” dùng cho nữ giới, và “văn” dùng cho nam giới
Có thể nói, nghiên cứu tên người nghĩa là chúng ta tìm hiểu kết cấu tên người bao gồm các bộ phận nào, được sắp xếp theo trật tự nào và được dùng trong xưng hô như thế nào, đồng thời giải mã những hằng số văn hóa ẩn bên trong lớp vỏ ngôn từ của kết cấu
đó
1.1.2.2 Chức năng của tên người
Theo Trần Ngọc Thêm8, họ và tên người Việt cần có năm chức năng là: chức năng phân biệt, chức năng biệt giới, chức năng thẩm mỹ, chức năng bảo vệ (sức khỏe và an toàn), chức năng xã hội (phân biệt sang hèn) [40]
Theo Hoàng Tuệ thì khi nghiên cứu tên người-một loại tên riêng- cần chú ý đến hai chức năng của tên riêng là chức năng ngữ nghĩa và chức năng xã hội Trong sự chuẩn hóa tên người, cần chú ý đến chức năng ngữ nghĩa của nó và phải coi trọng yêu cầu chính xác, đặc biệt là chính xác trên chữ viết Chỉ với cái tên riêng của mình thôi, mỗi người đã
có đủ điều kiện để làm thành viên của xã hội Chức năng xã hội của tên người thể hiện cụ thể ở cách cấu tạo và cách xưng hô [42]
Dù khác nhau về ngôn ngữ, về văn hóa nhưng mỗi dân tộc đều có cách cấu tạo tên cho thấy một nguyên tắc phân loại có ý nghĩa xã hội rất quan trọng, đó là: tên riêng là để
8
- Năm 1976, Trần Ngọc Thêm có bài “Về lịch sử, hiện tại và tương lai của tên riêng trong người Việt” [Tạp chí dân tộc học số 3-1976, tr.11-20] nêu chức năng của tên người, lịch sử tên người Việt và nguyên tắc đặt tên chính Tác giả đã giới thiệu phương pháp áp dụng nghiên cứu thời kỳ xa xưa của tên người là xác định những nguyên tắc chi phối mọi biến đổi trong đời sống của tên người, theo tác giả đó là các chức năng mà tên người phải thực hiện, và trên cơ sở đó, tập trung lý giải quá trình phát triển của tên người Việt Điểm nổi bật của công trình này là tác giả đã xác lập những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của tên họ, đây là một giả thuyết nhằm giúp lý giải nghi vấn “trước khi tiếp xúc với văn hóa Hán, người Việt có tên họ không?”
Trang 22phân biệt cá nhân này với cá nhân khác, còn tên họ hoặc tên cha là để xác định những người có cùng quan hệ huyết thống, cũng như để phân biệt nhiều người trùng tên
Điều đáng chú ý là xã hội nào cũng đều có chuẩn mực trong cách xưng hô Ơ những xã hội Anh, Pháp, Mỹ cách xưng hô lịch sự dùng công thức : danh hiệu + tên họ, như Mr Buss (ông Buss) Ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng gọi người khác bằng tên họ với công thức : tên họ + danh hiệu, như Mao xiansheng (ông Mao), Kuroda sensei (thầy Kuroda) Nhưng ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á thì chuẩn mực xưng hô là: danh hiệu + tên riêng Điều đáng lưu ý là xã hội nào cũng phải đúng mực khi xưng hô, vì
có thể có tác dụng phản cảm nếu dùng không đúng quan hệ và hoàn cảnh Trong xưng hô thân mật với người trong gia đình và bạn bè thân thì người phương Tây thường dùng tên riêng, trong khi người phương Đông thường dùng các danh từ thân tộc như anh, em, chú, bác, cô, dì, cậu, v.v
Theo Nguyễn Văn Huy9, “Tên riêng của mỗi người phản ánh những dấu hiệu xã hội nhất định, nhưng cách biểu hiện nó lại là sản phẩm sáng tạo của mỗi tộc người Tên không chỉ có chức năng phân biệt mà còn có cả chức năng thống nhất Tên gọi gắn liền người này với người kia mang cùng một tên và với nhóm xã hội mà nó thừa nhận, hoàn toàn độc lập với ý nghĩa từ nguyên xuất phát của nó Các nhóm xã hội như vậy ở vị trí trước tiên là gia đình, dòng họ, sau đó là làng xóm và các mối quan hệ xã hội khác” [23, tr.188] Mỗi dân tộc có phong tục đặt tên khác nhau mang nét văn hóa truyền thống của dân tộc đó Vì thế, tên của một người có thể nói cho mọi người xung quanh biết người đó thuộc về dân tộc nào, quốc gia nào, ngôn ngữ nào, tôn giáo nào, hoặc ít nhất là có thể cho biết người đó có thuộc cùng một cộng đồng văn hóa với chúng ta hay thuộc về một cộng đồng văn hóa xa lạ nào khác
1.1.3 Cơ sở định danh tên họ theo quan điểm từ nguyên học
Nếu nhìn ở góc độ đồng đại thì “ tên họ” giờ đây đã có sẵn trước và được truyền lại từ ông cha cho con cháu, còn “tên riêng” thì được đặt mới sau Nhưng nếu nhìn ở góc
độ lịch đại thì trong lịch sử loài người, tên họ xuất hiện sau tên riêng
9
Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam từ năm 1995, Chủ tịch Hội Dân tộc học Việt Nam từ năm 2001
Trang 23Từ nguyên học10 về cơ sở định danh tên họ có thể làm sáng tỏ vấn đề tên họ xuất hiện sau tên riêng
Ở phương Đông, người Hán từ thời cổ đại đã có hai từ khác nhau có nghĩa là tên
họ, đó là tính và thị Mỗi người không chỉ có cái tên chỉ cá nhân mà còn có tính Vào thời
xã hội còn trong chế độ thị tộc mẫu hệ thì một người sinh ra chỉ biết mẹ, chứ không biết cha là ai Người mẹ và đứa con của bà hình thành nên một gia tộc Chữ “tính” gồm chữ
“nữ” và chữ “sinh” viết hợp lại mà thành Tính chính là tên gọi của gia tộc, dòng dõi cùng một tổ tiên Rất nhiều họ xưa đều viết có bộ “nữ” như họ Cơ, Khương, Lâu, Anh [17] Như vậy, tính xuất hiện từ xã hội mẫu hệ, biểu thị gia tộc của phụ nữ, là tên chung của những người cùng dòng họ phía mẹ Sự xuất hiện của tính có thể là để phân biệt huyết thống, tránh nội hôn trong cùng dòng họ
Mỗi người đều có tính, nhưng không phải ai cũng có thị Sách Bạch hổ thông cho biết: đặt ra thị để “quý công đức, tiện kỹ lực” bằng cách lấy chức quan làm thị hoặc lấy nghề nghiệp làm thị Phát triển đến đời Thương, đời Chu, quan đại thần có ấp phong thì lấy tên ấp phong đó làm thị, con cháu thì hoặc lấy tên đất ở làm thị, hoặc lấy tên thụy của cha làm thị Có thể nói, trước thời Tiên Tần chỉ trong nội bộ giai cấp quý tộc phong kiến
là có thị, người bình dân không có thị mà chỉ có tính, còn nô lệ và gia nô thì chỉ có danh (tên) mà thôi Sách vở gọi đó là “tính biệt hôn nhân, thị biệt quý tiện” nghĩa là tính thì phân biệt huyết thống hôn nhân, thị phân biệt địa vị sang hèn Do đó, trùng thị không trùng tính thì được lấy nhau, trùng tính không trùng thị thì không được lấy nhau Năm
1134 TCN, sau khi thống nhất thiên hạ về một mối, vua Vũ nhà Chu để giữ vững nền quân chủ phong kiến và lưu truyền sự nghiệp của mình đã đặt ra các luật lệ chi phối các đại gia đình gọi là chế độ tông pháp Theo đó, mỗi đại gia đình hay các thân thuộc đều mang chung một họ (tính) và cùng thờ một ông tổ Tên họ được truyền từ đời này sang đời khác như một dấu hiệu nhận biết huyết thống dòng họ Từ đó về sau, tính và thị hợp làm một, tính lúc này đã trở thành dấu hiệu của phụ hệ [36,tr.73]
10
Từ nguyên học nghiên cứu nguồn gốc lịch sử và cả quá trình phát triển lịch sử của từ , xuất phát từ vấn đề quan hệ giữa từ là tên gọi với sự vật được gọi tên
Trang 24Nguồn gốc tên họ của người Trung Quốc được hình thành từ các nguồn : địa danh quê quán, tên nghề nghiệp, tên thụy của cha, tên gọi biệt tài chuyên môn
-Địa danh quê quán bao gồm tên đất, tên sông, tên núi từng giữ một vai trò quan trọng trong việc dùng làm cơ sở đặt tên dòng tộc Một gia đình đi lập nghiệp ở đất Kỳ thì
tự gắn cho mình cái họ là Kỳ Nhiều người đều làm vậy rồi sau nhà vua công nhận và bắt chước dân trong việc kiến phong Vua phong cho một bề tôi ở đất Sài thì bề tôi ấy được
và phải lấy họ Sài mặc dù trước đó ông ấy đã có họ rồi [29,tr.690] Điều này cũng có thể
lý giải được, vì khi mang tên họ vốn là tên đất được vua phong, điều đó thể hiện quyền sử dụng và làm chủ vùng đất đó được công nhận thông qua cái họ, như vậy cái họ vua ban thể hiện địa vị, quyền lợi của một người trong xã hội Những dòng họ lấy tên đất phong thì cái tên họ được viết đều có bộ “ấp”, như Uất, Dung, Đặng, Vân, Tuấn, Chí, Trịnh, Chu, Viêm, Ngạc, Trâu, Hác, Ô, Thiệu, Hi, Bính, Quách, Phân, Thai, Hậu, Sâm, Cáo, Vận, Lang, Dĩnh, Quyên, Giáp, v.v [3] Có những dòng họ lấy tên nơi cư trú làm tên
họ, chẳng hạn như người xưa làm nhà trên bờ sông tựa lưng vào vách núi thì tên họ viết
có bộ “thủy”: Tất, Tào, Kì, Phù, Hoài, Cam, Trạm, Phan, Bộc, Tế, Tri, Cấp, Tự Vua Đế Thuấn, dòng dõi vua Xuyên Húc, bà mẹ cảm cái hình cầu vồng mà sinh ra nơi đất Diêu, nên lấy họ Diêu Như vậy, thời cổ xưa, qua một số tên họ có thể biết được nơi xuất xứ (nơi sinh) của một người
- Tên họ bắt nguồn từ chức quan hoặc nghề nghiệp của tổ tiên: [3], [29]
Họ Vương khởi nguồn từ các bậc vương giả Thời Tiên Tần con cháu vua thường xưng là vương tử, vương tôn, con cháu đời sau của họ thường tự gọi là Vương thị (người
Trang 25- Tên họ bắt nguồn từ tên thụy của cha
Trường hợp thế hệ con cháu nếu lấy tên thụy của cha làm họ thì cái tên họ được viết đều có bộ “phụ”, như Trần, Đào, Nguyễn, Hiệp, Lục, Thấp, Hình, Ngỗi, Lăng, Am, v.v [3]
- Tên họ được hình thành từ tên gọi biệt tài của một người
Chư hầu Tần vì giỏi dinh điền và có công dinh điền nên được chúa nước Tần ban cho họ Dinh Một người giỏi tài nuôi bò cho nhà vua và được ban cho họ Ngưu Triệu Xa vốn là một người nước Triệu rất giỏi tài trị những con ngựa bất kham của quân đội, nên được phong chức là Mã Phục Quân Từ đó con cháu ông lại lấy chữ Mã để làm họ, vì dòng họ ấy được hiển vinh nhờ biệt tài về trị ngựa [29, tr.690]
Tóm lại, cơ sở định danh tên họ của người Hán có nguồn gốc từ địa danh nơi cư trú, tên nghề nghiệp gia truyền, tên riêng của người cha, tên gọi biệt tài của một người Ngoài cách đặt tên họ cố định chung cho người cùng một gia tộc, ở Trung Quốc thời xưa cũng có hiện tượng phụ tử liên danh [29,tr.691-693]
Ở phương Tây, tên họ bắt đầu được dùng tại Châu Âu vào khoảng thế kỷ 12, ban đầu chỉ có ở giới quý tộc và các thi sĩ, nhưng phải mất vài thế kỷ sau mới trở nên phổ biến khắp mọi người Vào thế kỷ 13, hiện tượng trùng tên bùng nổ với khoảng 1/3 nam dân số có tên là William, Richard,…Để có thể phân biệt nhau, người ta bắt đầu gắn vào những cái tên William khác nhau thành William con của Andrew (William the son of Andrew) dẫn đến sự xuất hiện họ Anderson, hay William đầu bếp (William the cook) dẫn đến sự xuất hiện họ Cook, hay William tóc nâu (William the brown-haired) dẫn đến sự xuất hiện họ Brown, v.v… cuối cùng, những tên họ này được lưu truyền từ thế hệ cha mẹ sang thế hệ con cái Mục đích cơ bản của tên họ là để phân biệt người này với người khác, để phân biệt hai hay nhiều cá nhân có trùng một tên gọi
Nguồn gốc tên họ của người phương Tây được hình thành từ một trong bốn nguồn sau:
Tên của người cha ( patronymic- phụ tử liên danh) Địa danh nơi cư trú, quê quán
Nghề nghiệp, công việc
Trang 26Biệt danh mô tả đặc điểm bề ngoài cơ thể Tên cha là tiền thân của một dạng tên họ Theo nhà dân tộc học Xô-Viết M.O.Kosven: Trong nhiều ngôn ngữ, họ của một tông tộc là một tên chuyên dùng của tổ tiên thêm một phụ tố có ý nghĩa là “con cái”, “vai dưới”, “con trai” của người nào đó Phụ tố này trong ngữ tộc Sla-vơ là “itchi” hoặc “ovitchi”; trong tiếng Hy Lạp là “ides”; trong tiếng La-tinh là “ani”; trong ngữ chi Anh-Đức là “ing”, “ung”, chuyển thành
“ingen”, “ungen”; trong ngữ chi Scăng-đi-na-vi-a là “son”, hoặc “sen”; trong tiếng Gruzia là “chvili”, “dze”, “ani”, v.v ; trong tiếng Ac-mê-ni-a là “iants”; trong tiếng Tuyếc (Turc) là “oglu”, “ogly”; trong tiếng Ap-kha-di-a là “ipa” v.v Phụ tố “malk” trong tiếng Scốt-lan (Scotland) cũng có ý nghĩa như vậy [24, tr 205-206]
Những tên họ bắt nguồn từ hình thức phụ tử liên danh phổ biến ngày nay như Anderson, Johnson, Robinson, Jackson, Peterson, Wilson, Edison, Jefferson, Richardson, Thompson, Ericson….ở xã hội phụ hệ, con trai và con gái sinh ra đều mang họ cha, ví dụ như nam danh ca Michael Jackson và nữ danh ca Janet Jackson là hai anh em thuộc dòng
họ Jackson
Địa danh cũng là cơ sở đặt tên họ Chúng bắt nguồn từ tên của nơi cư trú hoặc từ một sự mô tả về nơi cư trú Các quý tộc hay lấy tên lãnh địa làm tên dòng họ Nhiều người Anh hiện nay có tên họ bắt nguồn từ hình thức này như Churchill, Hamilton, Hill, Woods, v v…
Nghề nghiệp cũng giúp phân biệt người này với người kia Trong cùng một thị
trấn có hai người tên John thì người làm nghề lò rèn được gọi là John Smith, còn người làm chủ một nhà xưởng được gọi là John Miller Có rất nhiều tên họ cho biết tổ nghề của một dòng họ nào đó như Baker (thợ làm bánh), Carpenter (thợ mộc), Taylor (thợ may), Wright (thợ đóng tàu), Shepherd (người chăn cừu), Smith (thợ rèn), Miller (chủ xưởng) v.v…
Biệt danh cũng là một trong những cơ sở để đặt tên họ Loại tên họ này vốn được
dùng để mô tả một điều gì đặc biệt, khác lạ về cơ thể, hình dáng, năng lực của một ông tổ trong dòng họ như tên họ White (da trắng), Brown (tóc nâu), Armstrong (cánh tay khỏe)
Trang 27Quá trình hình thành tên các họ ở Châu Au tuy muộn hơn so với ở Trung Hoa, nhưng cơ sở để đặt tên họ đều tương tự nhau Để đáp ứng được nhu cầu phân biệt cá nhân này với cá nhân khác, những tên họ đã được hình thành bằng cách trả lời một trong những câu hỏi như: cha của người này là ai? người này từ đâu đến hay cư trú ở nơi nào? người này làm gì để sống? Đặc điểm nổi trội về nhân cách hoặc về nhân dạng của người này là gì? Đây chính là những thông tin cơ bản có giá trị khu biệt người này với người kia, vì vậy đây là những đặc trưng được lựa chọn làm cơ sở cho tên họ Có thể thấy từ vựng trong ngôn ngữ của các dân tộc ở Trung Hoa và Châu Au tuy khác nhau nhưng tư duy về cách đặt tên họ có sự tương đồng nhau Tên họ mọi người không chỉ có thể tiết lộ lai lịch nguồn gốc của người đó, mà còn phần nào phản ánh được hoàn cảnh và đặc điểm
xã hội mà các tên họ xuất hiện
1.1.4 Về nguyên tắc phụ tử liên danh của người Arập
a Trước khi Islam đến với bán đảo Arập, người Arập có phong tục đặt tên con kèm theo tên cha, kèm theo tên cha của cha tạo thành một chuỗi tên được mắc xích với nhau bằng từ “bin” (có khi viết là “ibn”) nghĩa là “con trai của” hoặc “bint” nghĩa là “con gái của” Theo đó, người Ảrập có tên nhưng không có tên họ, và để xác định một người thì tên người đó phải có phần tham chiếu tên của người cha Cách đặt tên con kèm theo tên cha như người Arập là một hình thức của nguyên tắc phụ tử liên danh Hình thức này ảnh hưởng đến cách đặt tên của nhiều dân tộc theo đạo Islam trên thế giới và khu vực Đông Nam Á
Cấu tạo tên người Ảrập gồm có các bộ phận là ISM, KUNYA, NASAB, LAQAB
VÀ NISBA11
- ISM (personal name): tên chính của một người Arập gọi là “ism” Hầu hết các tên tiếng Arập đều có nguồn gốc từ những từ ngữ có nghĩa trong tiếng Arập, thường là dấu hiệu chỉ đức tính tốt đẹp của con người Ví dụ như Karim trong tiếng Arập có nghĩa
là “rộng lượng”, Mahmud có nghĩa là “đáng tôn kính” Osama có nghĩa là “sư tử” Sau khi theo Islam, người Arập có thêm một nguồn đặt tên rất thông dụng là sự kết nối của từ
11
Daud ibn Auda (2003),” Period Arabic names and naming practices”,
http://www.sca.org/heraldry/laurel/names/arabic-naming2.htm
Trang 28“abd”(nghĩa là” bề tôi của” hoặc “nô lệ của”) theo sau bởi một trong 99 tên gọi của Thượng đế Ví dụ như Abdul Karim nghĩa là “bề tôi của Đấng rộng lượng” Những người xa lạ với nền văn hóa Islam thường hiểu lầm Abdul là tên dòng họ còn Karim là tên nhưng sự thật Abdul chỉ là một tiền tố để tạo thành một hình thức tên , chứ chưa phải
là một cái tên hoàn chỉnh
- KUNYA : tên gọi theo tên con trai trưởng Tên này được dùng thay cho tên chính “ism” khi một người đã lập gia đình và có con, đây là một cách gọi thân mật Nguyên tắc chung để gọi bằng tên “kunya” :
ABU (CHA CỦA) hoặc UMM (MẸ CỦA) + TÊN CỦA ĐỨA CON TRAI ĐẦU TIÊN
Abu Karim = cha của Karim
Umm Karim = mẹ của Karim
Khi dùng tên đầy đủ thì tên “kunya” được gọi trước tên chính “ism”:
Abu Karim Musa = Musa, cha của Karim
Umm Karim Hawa = Hawa, mẹ của Karim
- NASAB : là tên gọi theo tên cha (một dạng phụ tử liên danh) bằng liên từ “bin” (ibn) hay “bint” nghĩa là con trai hay con gái của một người nào đó Ví dụ như: ibn Musa nghĩa là con trai của Musa, bint Musa nghĩa là con gái của Musa Tên “nasab” thường được dùng theo sau tên chính “ism”, như là:
Karim bin Musa = Karim con trai của Musa
Karimah bint Musa = Karimah con gái của Musa
Nếu tên người cha trong cấu trúc “nasab” được thay bằng tên kunya (tức là gọi theo tên con trai đầu lòng của ông ấy) thì từ “abu” được chuyển thành “abi” Ví dụ như con rể của Thiên sứ Muhamad có tên là “Ali ibn Abi Talib” được hiểu là Ali con trai của cha của Talib
Các tên “nasab” có thể kéo dài vài thế hệ và mắc xích vào nhau thành một chuỗi tên để dễ dàng nhận biết được dòng dõi, phả hệ của một người
Ví dụ :
Trang 29- “Daud bin Yusuf bin Harun bin Ahmah” nghĩa là “Daud con trai của Yusuf -con trai của Harun -con trai của Ahmah”
- “Maryam bint Yusuf bin Harun bin Ahmah” nghĩa là “Maryam con gái của Yusuf -con trai của Harun- con trai của Ahmah”
- LAQAB : là những từ ghép thành tên tả đặc tính, phẩm giá đáng kính của một người, có thể hiểu như là biệt hiệu hoặc biệt danh Tên “laqab” thường theo sau tên chính
“ism” : Musa al-Tayyib : Musa người tốt bụng
- NISBA : là tên chỉ nghề nghiệp, hoặc tên quê quán, nơi cư trú hoặc tên bộ tộc của một người, cũng có thể gọi là biệt danh nhưng được dùng như tên họ của người phương Tây Ví dụ :
Musa al- Haddah : Musa thợ lò rèn Musa al- Najjar : Musa thợ mộc Musa al- Makki: Musa quê quán Mecca Musa al- Hijazi: Musa vùng Hijar bán đảo Arập Musa al- Hindi: Musa người An Độ
Musa al- Misri:Musa người Ai cập Musa al – Ayyubi: Musa dòng họ Ayyub Một người nổi tiếng trong lịch sử Islam thường được biết đến bằng tên “nisba “ như nhà sưu tầm hadith nổi danh Imâm al- Bukhari có chuỗi tên đầy đủ là Abu Abdullah
Muhamad ibn Ismael ibn Ibrahim ibn al- Mughira al- Bukhari (810-870) Mọi người
thường gọi ông là al- Bukhari nghĩa là người quê quán ở Bukhara- một thành phố cổ ở Uzbekistan ngày nay
Trong chuỗi tên của người Arập thường có một hoặc hai tên “nisba”, theo nguyên tắc thì tên “nisba” là địa danh thì đứng cuối cùng, trước đó có thể là tên “nisba” chỉ nghề nghiệp hoặc là chỉ dòng họ, bộ tộc
Có thể hình dung mô hình truyền thống tên của người Arập như sau:
Mô hình đơn giản nhất là : Ism + nasab= ism + bin/bint + ism
Trang 30Có thể nói, tên của người Ảrập được đặt theo một hệ thống cấu trúc tên chặt chẽ
Đó là một chuỗi tên đầy đủ mắc xích vào nhau theo nguyên tắc phụ tử liên danh Hệ thống đặt tên này rất phổ biến ở bán đảo Arập Cách đặt tên con kèm theo tên cha như người Arập là một hình thức của nguyên tắc phụ tử liên danh Nguyên tắc phụ tử liên danh xác định người đó là con của ai và thông qua đó hàm ý rằng xã hội đó, gia đình đó được tổ chức theo phụ hệ, con cái được tính huyết tộc theo dòng cha Vào thời Trung cổ, một đứa con không rõ cha mẹ là ai thì được gọi là “ibn Abini” ( nghĩa là “con của cha nó”) Trong kinh Qur’an có một trường hợp ngoại lệ được chấp nhận là Jêsus con của Đức mẹ đồng trinh Maria được gọi bằng tên Arập là Isa ibn Maryam, một hình thức mẫu
tử liên danh, vì người Islam tin rằng Chúa Jêsu không có người cha sinh học Nguyên tắc phụ tử liên danh hiện vẫn được dùng rất chuẩn mực ở khắp nơi trên bán đảo Arập
b Không phải các dân tộc theo Islam đều đặt tên bằng tiếng Arập, một số cộng đồng dân tộc sau khi theo Islam vẫn bảo lưu văn hóa đặt tên bằng tiếng mẹ đẻ, ví dụ như các dân tộc theo Islam ở Trung Quốc, ở Thái Lan, ở Inđônêsia Tuy nhiên, do tầm quan trọng của ngôn ngữ và văn hóa Arập trong Islam mà phần đông cộng đồng Islam trên thế giới thường đặt tên chính bằng tiếng Arập - ngôn ngữ của thiên kinh Qur’an Tuy nhiên, trong cơ cấu tên gọi của một số dân tộc theo Islam ngoài người Arập chỉ có một liên kết phụ tử liên danh chứ không mở rộng thành một chuỗi tên liên danh như người Ảrập
Ở Pakistan và một số quốc gia Islam khác các từ “bin” và “bint” được lược bỏ, chỉ cần tên của người con kèm theo tên người cha là thành một cơ cấu tên Ví dụ như : Salim bin Musa = Salim Musa
Salimah bint Musa = Salimah Musa
Truyền thống phụ tử liên danh của người Arập được người Mã Lai Islam áp dụng theo với cấu trúc dùng “bin” cho con trai và “binti” cho con gái như tiếng đệm giữa tên con và tên cha Điều đặc biệt là tên của các nam tín đồ Islam ở Malaysia và Singapore thường bắt đầu bằng Mohammed hay Muhammed (viết tắt là Mohd.), kế đến là tên chính, rồi đến “bin” rồi đến tên của người cha
c Hiện nay, ngoại trừ các tộc người tiếp thu nguyên tắc phụ tử liên danh của văn hóa Islam như người Mã Lai, người Brunei, thì còn có không ít các dân tộc ở khu vực
Trang 31Đông Nam Á sống trong xã hội không có tên họ, mỗi cá nhân chỉ có tên riêng, ví dụ như người Inđônêxia, người Miến Điện, các cộng đồng tộc người ở vùng Trường Sơn-Tây Nguyên của Việt Nam, v.v Nếu nhìn ở góc độ rộng hơn thì ngay cả những dân tộc đã có tên họ như người Việt, người Thái, thì cách xưng hô bằng tên riêng đã là chuẩn mực xã hội Người Đông Nam Á không xưng hô bằng tên họ như người Đông Á và người Tây
Au Nếu như trong giao tiếp thân mật giữa cá nhân với cá nhân người Đông Á và người phương Tây ưa chuộng cách xưng hô bằng tên riêng thì người Đông Nam Á lại ưa chuộng cách xưng hô bằng các danh từ thân tộc (ví dụ như các từ: anh, chị, cô, chú, bác ) cho dù giữa những cá nhân đó không có mối quan hệ họ hàng nào
1.1.5 Những hiểu biết về họ tên của người Chăm ở Trung bộ
Ngày nay, người Chăm ở Trung bộ ( Ninh Thuận, Bình Thuận) không còn nhớ những tên ngày xưa của thời vương quốc Chămpa nữa Những tên này có thể bắt gặp dưới hình thức tên những nhân vật trong những truyện cổ dân gian như Eh Wa, Mơ Nai,
Ja Mưtui, Bila Lak, Halamưh, Chareh Batih, Matalah, Ja Lihik, Ja Plằng Mư, Ja PaNrang,
Ja Paok (thằng Xoài), Ja Ribah (thằng Khổ), 12
Theo Dohamide, các cụ già có kể rằng trước đây có một thời người ta đặt tên cho con bằng những cái tên rất xấu như “Djuk”, “Knao”, “Eh Măk”, “Eh Oông”, “Căk Măk”,
“Căk Oông” vì sợ nếu đặt tên tốt, các thần linh sẽ ghen tị và khiến đau ốm13
Có thể nói, vấn đề họ tên không bất biến mà biến động theo thời gian và không gian Hệ thống tên riêng của người Chăm thời vương quốc Chămpa sang thời Minh Mạng đã bị thay thế bằng hệ thống họ tên tiếng Hán Việt Theo Bình Nguyên Lộc, đến thời Tự Đức mới có chiếu bãi bỏ lệnh bắt người Chăm lấy họ Việt [29, tr.701] Theo Lâm Gia Tịnh14, thời Pháp thuộc, người Chăm ở Trung bộ vẫn được đặt tên bằng tiếng Chăm, nhưng đến thời Ngô Đình Diệm thì hoàn toàn bị cấm, phải chuyển sang đặt họ tên tiếng Việt Từ đó đến nay, hệ thống tên tiếng Chăm mai một hẳn
Người Chăm ở miền Trung ngày nay không có lễ thức nào dành riêng cho việc đặt tên trẻ sơ sinh Thông thường, cha mẹ chọn tên riêng bằng tiếng Việt cho con mình để
Trang 32làm giấy khai sinh Họ tên khai sinh thường gồm hai hoặc ba yếu tố, yếu tố đầu là họ, yếu
tố cuối là tên, yếu tố ở giữa nếu có là tên đệm Ví dụ Thành Biện là tên hai yếu tố, Lâm Gia Tịnh là tên ba yếu tố
Nhưng khác với quy tắc trong tiếng Việt, cách truyền tên họ khi đặt tên trong tiếng Chăm có tự do hơn Thông thường là người con trai giữ theo họ cha và người con gái giữ
họ mẹ Nếu muốn người ta cũng có thể chọn một họ nào người ta thấy thích hợp và họ tên đó được dùng suốt đời, nhưng không coi là họ tên truyền thống, vì hoàn toàn không phản ánh mối quan hệ dòng họ và cũng không có ý nghĩa gì liên quan đến đời sống tinh thần của người Chăm
Bên cạnh những tên họ tiếng Việt mang tính hành chính pháp lý, người Chăm ở Trung bộ còn bảo lưu tên dòng họ truyền thống theo chế độ mẫu hệ Thông thường người Chăm Bàlamôn lấy tên của nghĩa địa (kut) làm cơ sở để nhìn nhận bà con dòng họ Tên kut được đặt dựa vào đất đai, cây cối , đặc điểm địa danh mà kut đó tọa lạc như kut Minh pui (cây me lửa), kut Poh dan (cây mun), kut Jar (cây sung), kut Gadak (cây cóc), kut Bồng-bồng15 (cổ bồng), kut Phọ 16 Còn lại hầu hết đều mang tên tục danh của người đàn
bà đứng đầu tộc họ, ví dụ như Kut Gep Muk Biya Pabhum (nghĩa địa dòng họ Bà Biya Pabhum)
1.2 Khái quát về cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ
1.2.1 Nguồn gốc và quá trình hình thành cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ
Cộng đồng người Chăm ở Nam bộ vốn có cùng nguồn gốc với cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, đều là con cháu của cư dân vương quốc Chămpa cổ Trong suốt thời gian tồn tại của mình, từ thế kỷ II đến thế kỷ XV, vương quốc Chămpa đã được sử sách ghi chép lại với nhiều tên gọi như Lâm Ap, Hoàn Vương, Champapura hay Chiêm Thành Lãnh thổ của cư dân Chămpa cổ sinh sống trải dài từ dãy Hoành Sơn xuống tới Biên Hòa [9]
Từ thế kỷ XI trở đi, trước áp lực của Đại Việt, nước láng giềng phía bắc, lịch sử Chămpa chỉ còn là lịch sử của sự lùi bước của một xứ sở chịu ảnh hưởng của nền văn
Trang 33minh An Độ trước một quốc gia vừa chịu sức ép bành trướng vừa chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa cổ đại Những giáo sĩ đạo Islam xuất hiện ở Chămpa đầu tiên vào những năm 1044-1074, nhưng mãi đến thế kỷ XIV Islam mới thịnh hành17 Đa số cư dân Chămpa theo đạo Bàlamôn, nhưng trong giai đoạn này, đạo Islam được một số người Chăm tiếp thu và biến đổi thành một tôn giáo mang màu sắc địa phương gọi là đạo Bàni
Sau sự kiện năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông nước Đại Việt tiến vào thành Trà Bàn (Vijaya) bắt được Chiêm Vương Trà Toàn và chia cắt phần đất từ Phú Yên vào thành
ba phần nhỏ: Chiêm Thành, Hóa Anh, Nam Phan, lãnh thổ vương quốc Chămpa thu hẹp dần rồi hòa nhập chung vào và trở thành một phần của đất nước Việt Nam từ năm 1697 [9,tr.74] Trong khoảng thời gian đó, lần lượt có nhiều đoàn người Chăm đã rời quê hương mình sang Chân Lạp (Campuchia ngày nay), Java và Hải Nam sinh sống Nhóm Chăm di cư này là nhóm Chăm theo đạo Bàni Nhóm còn lại sinh sống trên quê hương đất tổ là nhóm Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay, một phần ba là tín đồ Bàni, số còn lại là tín đồ Bàlamôn
Nhóm người Chăm di cư đến Campuchia từ thế kỷ XV trở đi đã sống cộng cư với người Mã Lai Sự gần gũi về mặt dân tộc của người Chăm và người Mã Lai biểu hiện trong sự giống nhau của tiếng nói, cùng nhiều yếu tố văn hóa khác là cơ sở đầu tiên cho
sự cộng cư của họ Trong giai đoạn sống cộng cư với người Mã Lai ở Campuchia, người Chăm đã tiếp nhận đạo Islam chính thống từ người Mã Lai cũng như chịu một số ảnh hưởng văn hoá và ngôn ngữ của người Mã Lai Một sự kiện lịch sử phản ánh cụ thể hiện tượng này, đó là vào năm 1642, Nặc Ong Chan nhờ sự giúp sức của một nhóm người Chăm và người Mã Lai đã tiến hành đảo chính và lên làm vua nước Chân Lạp đến năm
1659 Để đáp lòng nhóm Chăm Mã Lai đã giúp mình lên ngôi, vị vua này đã cưới một cô gái Mã Lai lập làm Hoàng hậu và cải đạo theo Islam, mang tên thánh là Ibrahim [13] Sau
đó, năm 1693, có khoảng 5.000 người Chăm rời vương quốc Chămpa chạy sang Chân Lạp xin cư trú, và được vua Nặc Thu cho họ ở gần Lovek [26,tr.321]
17
Mah Mod (1975), Bước đầu tìm hiểu về tôn giáo tín ngưỡng của người Chàm ở Việt Nam,Tạp chí dân tộc học số
4, tr 52-68
Trang 34Bộ phận người Chăm Islam đến định cư ở Nam bộ bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII do những biến động ở Chân Lạp Đời vua Nặc Nguyên (1749-1755), những người Chăm nhập cư thường bị quân đội Chân Lạp đánh đuổi và tàn sát Chúa Nguyễn Võ Vương lấy
cớ dẹp loạn để đem quân sang can thiệp Đến tháng 6 năm 1754, sau khi đánh lui được quân Chân Lạp, Nguyễn Cư Trinh sai biệt tướng là Chấn Long Hầu đến phủ Tầm Phong Tiêm (Kampong Cham) chiêu dụ người Chăm Đầu năm 1755, người Chăm được lệnh rời Kha Tung đem bộ lạc và xe cộ xuống đóng đồn ở Bình Thạnh, nhưng khi đến Vô Tà
Ơn thì bị quân Chân Lạp hơn vạn người đuổi theo đánh úp buộc họ phải xếp xe cộ lại làm lũy để chống cự và xin cứu ứng Nguyễn Cư Trinh đem binh đến cứu và hộ vệ hơn 5000 người Chăm về đóng ở chân núi Bà Đen [13], [26] Năm 1756, nhân việc Nặc Nguyên xin dâng đất hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (Gò Công và Tân An ngày nay) cho chúa Nguyễn để chuộc tội, Nguyễn Cư Trinh đã trình lên chúa Nguyễn kế sách “tằm ăn lá dâu”
để mở mang đất đai đồng thời dùng người Chăm vốn giỏi bộ chiến để chế ngự người Chân Lạp Đến năm 1757, Nặc Nguyên mất, Chân Lạp gặp nội biến khiến con trai của vua là Nặc Tôn phải chạy sang Hà Tiên cầu cứu, và nhờ sự giúp đỡ đó mà Chúa Nguyễn lại có thêm đất Tầm Phong Long (thời Minh Mạng đổi tên là tỉnh An Giang) Năm 1759, Nguyễn Cư Trinh cho cất đồn ải tại Tây Ninh, Hồng Ngự, Châu Đốc rồi cắt dân Chăm làm quân trấn thủ Họ có bổn phận ngoài công việc ngăn ngừa giặc loạn là lo khai khẩn ruộng vườn ở miền biên cương xa xôi đó [22, tr.43-45] Đây có thể chính là điều kiện để cộng đồng người Chăm định cư lâu dài ở Nam bộ
Bên cạnh lớp người đó còn có những lớp người di cư đến sau vào các thời kỳ lịch
sử khác nhau Trong các giai đoạn lãnh thổ Campuchia được đặt dưới sự bảo hộ bền bỉ của Nhà Nguyễn (giai đoạn 1813-1819 và 1821-1840), người Chăm và người Mã Lai ở đất Chân Lạp cũng được chiêu dụng làm thân binh đóng tại dinh Bảo hộ đặt ở Nam Vang Có thể Châu Đốc vào thời chỉ mới là đạo bảo thì dân chúng còn thưa thới, chỉ có vài xóm Chăm xen kẽ các sóc Khmer, nhưng đến năm 1822 khi Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại tái nhiệm chức bảo hộ Cao Miên kiêm chức An thủ Châu Đốc đồn dời dinh Bảo hộ về Châu Đốc thì nơi đây ngày càng trở nên trù phú Đến năm 1840, chế độ bảo hộ
bị bãi bỏ, quân Việt Nam rút về Châu Đốc, các đội quân người Chăm cũng rút về theo và
Trang 35được định cư trên tả ngạn sông Hậu và cù lao Kotampong18 Dưới thời vua Tự Đức, người Chăm được tổ chức thành 9 đội đồn điền ở Châu Giang Châu Đốc-An Giang trở thành vùng cư trú tập trung đông nhất của người Chăm theo đạo Islam tồn tại từ thế kỷ XVIII cho đến ngày nay [14,tr.33]
An Giang và Tây Ninh là hai địa bàn có điều kiện khí hậu và đất đai rất khác nhau, một nơi là vùng sông nước kênh rạch chi chít, phù sa màu mỡ, một nơi là vùng rừng núi đất đai khô cằn nắng cháy, tuy nhiên lại có một đặc điểm chung lý giải cho sự định cư lâu đời của những người Chăm ở đây là vị trí giáp biên giới, là nơi mà những đạo quân người Chăm địa phương đã từng đóng giữ để chế ngự người Chân Lạp
1.2.2 Phân bố dân cư
Hiện nay, người Chăm đang sinh sống tại Việt Nam có số dân trên 132.873 người, phân bố rải rác khắp các tỉnh như Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Đồng Nai, An Giang, Tây Ninh, và TP Hồ Chí Minh Trong số đó, người Chăm ở Ninh Thuận
có số dân đông nhất (trên 57.137 người), chiếm gần 50% người Chăm ở Việt Nam [32] Còn người Chăm ở Nam bộ có khoảng 23.000 người Mặc dù với số dân rất ít so với người Chăm ở Trung bộ, nhưng địa bàn cư trú của người Chăm ở Nam bộ lại khá rộng Ngoài hai địa bàn cư trú lâu đời gần biên giới Việt Nam- Campuchia là An Giang và Tây Ninh, người Chăm còn cư trú tại các quận ở TP Hồ Chí Minh, ở Đồng Nai, Bình Dương
và Bình Phước
Bảng 1.1: Dân số ước tính hiện nay của cộng đồng người Chăm ở Nam bộ
Địa bàn cư trú An Giang Tây Ninh Đồng Nai TP.HCM Tổng cộng
Trang 37(Nguồn: Địa lý Tây Ninh Giảng dạy trong trường phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12, NXB Giáo Dục, 2001).
Trang 38Người Chăm ở An Giang hiện có 2.147 hộ với 12.535 người19 cư trú thành 9 ấp riêng xen
kẽ trong các xã của người Việt và tập trung ở 5 huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, và Châu Thành, được nêu trong Bảng 1.2
Bảng 1.2: Sự phân bố các làng Chăm ở An Giang
1 Mot Chruk (ấp Châu Giang) Mubarak
Jamiul Azhar
Phú Hiệp Phú Tân
2 Puk Paok (ấp Phum Soài) Niamah Châu Phong Tân Châu
3 Katambong (ấp Khánh An 1) Aman Khánh Hòa Châu Phú
4 PulaoBa (ấp LaMa) Ar- Rohmah Vĩnh Trường An Phú
6 Kok Kakia (ấp Đồng Cô Ki) Moslimen Quốc Thái An Phú
7 Kok Kapoa (ấp Hà Bào 2) Al-Ehsan
Jamiaus Sunna
Đa Phước An Phú
8 Parek Sabau (ấp 3) Mukaramak Khánh Bình An Phú
9 Vĩnh Hanh Jamia Al Mukminin Vĩnh Hanh Châu Thành
(Nguồn: Mạc Đường (1993), “Hệ thống cấu trúc làng Chăm ở Việt Nam”, Tạp chí
Dân tộc học số 1-1993, tr.3-6.)
Cộng đồng người Chăm ở Tây Ninh có khoảng 3.000 người20, chiếm 0.3% dân số tỉnh Tây Ninh, tổ chức thành 6 làng phân bố ở thị xã Tây Ninh, huyện Tân Châu và Tân Biên, đông nhất là làng Chăm Suối Dây có 1353 người (260 hộ), chiếm 42% tổng số dân Chăm toàn tỉnh, làng Chăm thị xã có 317 người (65 hộ, chia thành 3 tổ)21
Người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 5.000 người22, hầu hết là từ Châu Đốc (An Giang) đến trong nhiều năm, liên tục nhất từ năm 1945 đến năm 1970, sinh sống trong từng khu phố nhỏ tại quận 1, quận 3, quận 5, quận 6, quận 8, quận Phú Nhuận
Trang 39Người Chăm ở Đồng Nai hiện nay có khoảng 2.375 người23, đa số có nguồn gốc
từ Campuchia, An Giang, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh đến cư trú tại xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc từ năm 1972 Một số khác đến cư trú ở xã Bình Sơn, huyện Long Thành từ sau năm 197524
Khoảng từ năm 1990 đến nay, một số người Chăm từ Tây Ninh và An Giang di cư đến hai tỉnh Bình Dương, Bình Phước lập nghiệp và dần dần cũng hình thành ở đây hai làng Chăm với hai ngôi thánh đường ở làng Phú Riềng thuộc tỉnh Bình Phước và làng Minh Hòa thuộc tỉnh Bình Dương (không rõ dân số khoảng bao nhiêu)
Tuy nhiên, cho đến nay, An Giang vẫn là vùng cư trú tập trung đông nhất của người Chăm Islam ở Nam bộ ( xem Bảng 1.2 )
Để đảm bảo đời sống kinh tế gia đình, người Chăm ở An Giang chủ yếu sống bằng nghề buôn bán, đánh cá nước ngọt và dệt thủ công; trong khi người Chăm ở Tây Ninh chủ yếu làm ruộng trồng lúa, trồng mì, mía, nuôi bò, gà Một số thanh niên có xu hướng
đi hợp tác lao động ở Ảrập và Malayxia
1.2.3 Tổ chức xã hội truyền thống và gia đình của cộng đồng người Chăm Islam ở Nam bộ
Trang 40đường và thánh đường thường nằm ở vị trí trung tâm của làng Những làng lớn có thể có thêm một thánh đường, hoặc thêm một tiểu thánh đường (surao) trong xóm (puk)
Mỗi một palei Chăm ở Nam bộ là một cộng đồng xã hội tự quản, vận hành theo giáo luật Islam thông qua một ban quản trị được gọi là Ban giáo cả (hoặc Ban cả chùa) Đứng đầu là ông Hakim (ông giáo cả / ông cả chùa) do dân làng bầu chọn và trao cho toàn quyền quyết định mọi việc lớn, nhỏ trong làng Ông Hakim có quyền chỉ định một người trong làng làm phụ tá giúp việc cho mình, gọi là ông Naep (Phó cả chùa) Trong phạm vi một xóm (puk) có tiểu thánh đường (surao) thì trách nhiệm quản lý thuộc về chức vị Ahly do dân trong xóm bầu chọn Ở những làng không có tiểu thánh đường thì một vị Hakim chỉ định hai vị Naep làm phụ tá Cả ba ông liên kết tạo thành Ban giáo cả Hakim – Na ếp- Ahly là một cấu trúc quản lý xã hội để giải quyết các tranh chấp xung đột của người Chăm trong palei dựa theo giáo luật Islam [15,6] Các vị già làng, các vị Hadji, các Tuan đóng vai trò cố vấn khi cần thiết
H1.1: Thánh đường Niamah (xã Châu Phong, Tân Châu, An Giang)
Nguồn: Đinh Thị Hòa, chụp năm 2006