Nhìn từ góc độ sử dụng trong giao tiếp, hành vi chất vấn có thể được coi là một trong những hành vi ngôn ngữ cơ bản trong việc tạo mối tương tác cho các nhân vật giao tiếp cũng như sự th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 25 Nguồn tư liệu 8
NỘI DUNG
Chương một: Một số vấn đề lý thuyết chung 10
1.1 Khái quát về hành vi ngôn ngữ 10
1.1.2- Hành vi ngôn ngữ 14
1.1.3- Sơ lược về những khái niệm có tính chất công cụ 15
1.2 Hành vi chất vấn 27
1.2.1 Sơ lược về hành vi chất vấn tiếng Việt 27
1.2.2- Các kiểu loại câu chất vấn tiếng Việt 31
Chương hai: Hành vi chất vấn tiếng Việt 36
2.1 Đặt vấn đề 36
2.2.Một số đặc điểm ngữ nghĩa của HVCV tiếng Việt 37
Tiểu kết 64
Trang 3Chương ba : Hành vi chất vấn tiếng Anh 66
3.1 Đặt vấn đề 66
3.2 Phân loại câu chất vấn tiếng Anh 67
3.3 Một số đặc điểm ngữ nghĩa của hành vi chất vấn tiếng Anh 73 Tiểu kết 93
Chương bốn : Hành vi chất vấn tiếng Việt và tiếng Anh: tương đồng và khác biệt 95 4.1 Đặt vấn đề 95 4.2 Những điểm tương đồng và khác biệt về cấu trúc câu chất vấn tiếng Việt và tiếng Anh 98 4.3 Những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa- ngữ dụng giữa HVCV tiếng Việt và tiếng Anh 106 Tiểu kết 132
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
PHỤ LỤC 142
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
HV – Hành vi
HVCV – Hành vi chất vấn
HVNN – Hành vi ngôn ngữ
TGĐ – Tiền giả định
Trang 4MỞ ĐẦU
1 – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xã hội càng phát triển, xu thế hòa nhập và toàn cầu hóa càng cao, nên con người giao tiếp được với nhau bằng ngôn ngữ nhất định là một trong những yêu cầu căn bản đáp ứng cho xu thế đó Để đạt được hiệu quả trong giao tiếp, việc nắm vững một ngôn ngữ chính là yếu tố hàng đầu và đây cũng là một trong những điều kiện then chốt tạo cơ sở cho việc học các ngôn ngữ khác Do vậy, ngoài việc nghiên cứu ngôn ngữ như một cấu trúc nội tại, việc nghiên cứu các yếu tố ngoài ngôn ngữ là một hướng đi mới đem lại nhiều điều mới mẻ, lý thú cũng như nhiều triển vọng cho ngôn ngữ học lý thuyết và ngôn ngữ học ứng dụng với những hiệu dụng của nó Điều này được cụ thể hơn khi chúng ta đề cập đến hành vi ngôn ngữ – một công cụ đắc lực để hiện thực hóa mọi ý muốn của con người trong giao tiếp Nhìn từ góc độ sử dụng trong giao tiếp, hành vi chất vấn có thể được coi là một trong những hành vi ngôn ngữ cơ bản trong việc tạo mối tương tác cho các nhân vật giao tiếp cũng như sự thể hiện đa dạng về nội dung giao tiếp Từ đặc tính có tính chất tiên quyết trong giao tiếp đối với hành vi chất vấn này đã thúc đẩy chúng tôi có hướng tìm hiểu, nghiên cứu về mặt ngữ dụng của nó
Tìm hiểu về hành vi chất vấn tiếng Việt và sau đó so sánh với tiếng Anh, trong đó có sự kết hợp những hiểu biết về văn hoá xã hội cùng những biến thể đa dạng của hành vi chất vấn khi giao tiếp hội thoại giữa hai ngôn ngữ, là một hướng khám phá mới về những biểu hiện đa dạng phong phú của ngôn ngữ nói chung và của ngôn ngữ về mặt ngữ dụng nói riêng
Việc nghiên cứu này với hy vọng sẽ giúp phần nào về sự hiện thực hóa một hành vi ngôn ngữ nhất định trong giao tiếp hội thoại Hiểu đúng
và vận dụng đúng các hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp cũng là một trong
Trang 5những tiêu chí cơ bản bổ sung năng lực ngoài ngôn ngữ nói chung Chính vậy, khi dạy hoặc học một ngôn ngữ cụ thể, việc trang bị cho người dạy hoặc học một vốn kiến thức nhất định về ngôn ngữ nói chung thì việc nắm vững các kỹ năng sử dụng các hành vi ngôn ngữ giao tiếp, trong đó không thể không nói đến hành vi chất vấn, là một điều hết sức quan trọng và cũng là điều kiện cần thiết để hoàn chỉnh một ngôn ngữ nhất định
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là một số hành vi chất vấn được sử dụng với tần số cao cùng nhiều biến thể sử dụng nhất thông qua giao tiếp hàng ngày Ngoài ra, những hành vi chất vấn còn được thu thập từ các sách báo, truyện, phim, … và từ nguồn ngữ liệu điện tử
Phạm vi nghiên cứu là các đặc điểm ngữ nghĩa thuộc về mặt ngữ dụng của hành vi chất vấn, trong đó có tập trung vào yếu tố tình thái-một nét đặc trưng của tiếng Việt được thể hiện rất thường xuyên trong hành vi chất vấn Qua đó, luận văn sẽ so sánh với tiếng Anh để thấy được những nét tương đồng cùng những khác biệt giữa hai ngôn ngữ
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ngữ nghĩa thuộc mặt ngữ dụng của hành vi chất vấn (HVCV), đề tài còn
sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu những hành vi chất vấn trong giao tiếp của tiếng Việt với tiếng Anh Việc so sánh này lấy trọng tâm là tiếng Việt và ngữ liệu chính được sử dụng để đối chiếu là tập truyện ngắn
“Tình Yêu Sau Chiến Tranh” của hai tác giả Wayne Karlin và Hồ Anh Thái cùng tác phẩm này đã được chuyển dịch sang tiếng Anh “Love after War” Trên cơ sở này đề tài sẽ phát hiện được những nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ
4 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp cơ bản nhất, đặc biệt nhất và không thể thiếu trong cuộc sống con người Nhờ có ngôn ngữ, con người có thể
Trang 6hiểu được nhau, giao tiếp được với nhau, cùng hòa nhập để khám phá, chinh phục mọi sự sống đang tồn tại Với chức năng là công cụ giao tiếp
cơ bản, ngôn ngữ đã không ngừng phát triển, không ngừng thể hiện sự
đa dạng phong phú của mình thông qua tần số sử dụng hàng ngày của con người Trong giao tiếp hội thoại, con người luôn thể hiện những điều mình muốn bằng cách sử dụng các loại câu mà đã được con người đúc kết cùng thống nhất theo một qui tắc nhất định qua quá trình phát triển lâu dài của ngôn ngữ như câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu tường thuật và câu cảm thán
Đối với tiếng Việt của chúng ta, hầu như sách ngữ pháp nào cũng bàn tới bốn loại câu cơ bản này Trong đó, câu nghi vấn (còn gọi là câu hỏi) được nói đến với mức độ khá rõ nét Có thể kể đến các tác giả như:
Lê Văn Lý, Nguyễn Kim Thản, Trương Văn Chình, Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Xét về mục đích, câu hỏi được phân thành hai loại: câu hỏi chính danh – câu hỏi thực sự tìm thông tin (Lê Đông, Cao Xuân Hạo) và câu hỏi không chính danh – câu hỏi không nhằm tìm thông tin mà nhằm những mục đích khác Tác giả Lê Văn Lý trong “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” (1968) cho rằng câu hỏi còn được dùng để chỉ
sự hoài nghi hay mỉa mai Ví dụ như “Thấy chưa?”, dùng câu hỏi để thể hiện hành vi mỉa mai; “Không biết đã trả tiền chưa?”, dùng câu hỏi để thể hiện sự hoài nghi Bên cạnh đó, “Ngữ pháp tiếng Việt” của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật đã nêu, câu nghi vấn có hình thức là câu nghi vấn nhưng về nội dung là khẳng định hoặc phủ định một vấn đề Ví dụ như “Của ngon trờ trờ trước mắt ai mà nhịn được?” (Nam Cao), dùng câu nghi vấn để phủ định “không nhịn được”, hoặc “Ai chẳng biết ?”, dùng câu nghi vấn để khẳng định “Ai cũng biết”,
Từ đây, có thể thấy rằng, có những lời hỏi theo khuôn mẫu của câu hỏi nhưng lại thể hiện là những câu hỏi cho có lệ, hỏi cho có chuyện để nhằm truyền gửi những hàm ý khác nhau: khẳng định, phủ định, hoài
Trang 7nghi, mỉa mai, phê phán, Trong tình huống này, những câu hỏi thường
có sự kết hợp với ngữ điệu tương ứng và được dựa trên những yếu tố có thật trước đó (còn gọi là “tiền giả định”) hay dựa vào các nhân tố giao tiếp (tức ngữ cảnh giao tiếp, nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp) Như vậy, câu hỏi được đề cập ở đây có sự kết hợp với các yếu tố ngoài ngôn ngữ, tức ngôn ngữ gắn liền với ngữ cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp và sự vận dụng tiền giả định thích hợp, nói gọn lại là ngôn ngữ trong “ngữ dụng” Khi xét ngôn ngữ về khía cạnh ngữ dụng thì những câu hỏi ở đây
đã chuyển sang thành những câu chất vấn, bởi những hàm ý trong câu chất vấn là sự bày tỏ ý kiến cá nhân, việc bác bỏ một sự tình khi các nhân vật giao tiếp nghi ngờ hoặc không chấp nhận được sự tình đó Và hành vi chất vấn ở đây được thể hiện thành những câu chất vấn Nếu vậy, trong giao tiếp hàng ngày, có thể nói rằng hành vi chất vấn là một trong những hành vi giao tiếp bằng ngôn ngữ đạt hiệu quả cao trong việc thực hiện ý bác bỏ một sự tình So với lối nói trực tiếp, hành vi chất vấn mang nghĩa gián tiếp thể hiện năng lực ngôn ngữ cao hơn về khía cạnh truyền tải ý kiến con người cũng như sự giảm bớt căng thẳng, bất đồng giữa các đối tượng giao tiếp khi nghi ngờ hay bác bỏ một sự tình
Như chúng ta đã biết, nhu cầu giao tiếp con người càng ngày càng cao, nhất là trong xu thế hòa nhập hiện nay, con người càng không ngừng nghiên cứu sự tồn tại cùng những phát triển của ngôn ngữ Trong những thời kỳ đầu, các nhà ngôn ngữ thường chỉ nghiên cứu ngôn ngữ như một cấu trúc nội tại, tức họ thường chỉ chú ý đến mặt hình thức cấu tạo ngôn ngữ như về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa Khi ngôn ngữ ngày càng chứng tỏ được hiệu lực của nó trong giao tiếp, các nhà ngôn ngữ lại nhìn thấy khía cạnh ngữ dụng của ngôn ngữ, tức ngôn ngữ được nghiên cứu trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và diễn từ; nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với ngữ cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp Lúc này đây, ngôn ngữ trong ngữ dụng không còn là một hệ thống tĩnh tại, mà là một hoạt động
Trang 8mang tính tương tác giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội
Do vậy, ngoài những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ nói chung và về các loại câu, thành phần câu nói riêng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về ngữ dụng học như các hành vi ngôn ngữ Cụ thể đã có những công trình nghiên cứu về hành vi cầu khiến, hành vi từ chối Còn
về hành vi chất vấn, đã có một số tài liệu đề cập đến và hầu như chúng là của tác giả Nguyễn Đức dân Trong “Lôgích-Ngữ nghĩa-Cú pháp” (1987) ông đã đề cập những câu chất vấn khá cụ thể hay trong các tạp chí ngôn ngữ số 9 năm 2005 và số 9,10 năm 2007, tác giả Nguyễn Đức Dân đã nêu một số từ hư làm công cụ cho một số loại câu chất vấn mang hàm ý bác bỏ hay nghi ngờ một sự tình Nhưng cho tới nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và chi tiết về hành vi chất vấn và trên cơ sở đó, đem so sánh với ngôn ngữ khác để phát hiện được tính đa năng của ngôn ngữ đối với hành vi chất vấn này Trong giao tiếp, khi muốn truyền tải một ý kiến hay bác bỏ một sự tình, các đối tượng giao tiếp thường mượn hành vi chất vấn để bày tỏ Đây chính là một trong những hiệu dụng cơ bản ngoài ngôn ngữ đáng được tìm hiểu đối với những ai quan tâm về lĩnh vực ngôn ngữ Từ những mặt tích cực của hành vi chất vấn, chúng tôi quyết định chọn đề tài này với hy vọng sẽ đóng góp phần nào về sự hiện thực hóa một hành vi giao tiếp nhất định Hành vi chất vấn là một hành vi giao tiếp cơ bản và không thể thiếu trong giao tiếp hàng ngày đối với con người, đặc biệt con người đang sống trong thời đại phát triển như hiện nay
5 NGUỒN TƯ LIỆU
-Sách nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Anh liên quan đến việc miêu tả và phân loại câu nghi vấn nói chung
-Đối với tiếng Việt: tác phẩm “Tình Yêu sau Chiến Tranh” của Wayne Karlin và Hồ Anh Thái, sách Ngữ Dụng Học của Nguyễn Đức Dân, Đại cương ngôn ngữ học-Ngữ dụng II của Đỗ Hữu Châu và những câu
Trang 9chất vấn được sưu tầm từ sách báo, được trích từ các cuộc đối thoại hàng ngày mà chúng tôi có dịp tham gia hay quan sát
- Đối với tiếng Anh: dựa chủ yếu trên ba tác phẩm:
+ Love After War của Wayne Karlin và Ho Anh Thai (Curbstone Press)
+ Love Story của Erich Segal (Oxford University Press)
+ Huckleberry Finn của Mark Twain ( Oxford University Press)
Ngoài ra đề tài còn trích dẫn những câu chất vấn trong các tác phẩm văn học, trong các báo, tạp chí bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh và các câu chất vấn đối với các cấp lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta từ nguồn ngữ liệu điện tử
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
- Về lý luận:
Miêu tả một số đặc điểm HVCV tiếng Việt trên cơ sở lý thuyết hành
vi ngôn ngữ là một hướng tiếp cận mới của phân ngành ngữ dụng học mà ngày nay đang được rất nhiều người quan tâm Ngôn ngữ con người vốn
đa dạng phong phú, nên những biến thể trong các hành vi ngôn ngữ càng
đa dạng phong phú hơn khi con người muốn đạt được hiệu quả giao tiếp trong điều kiện cuộc sống con người đang phát triển ở mức độ hiện đại Miêu tả và so sánh những biến thể của HVCV giữa tiếng Việt và tiếng Anh
là cái mới của đề tài về mặt lý thuyết
- Về thực tiễn:
Ngày nay việc dạy và học tiếng chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong xu thế hòa nhập và toàn cầu hóa, bởi có hiểu được nhau, giao tiếp được với nhau con người mới có thể lĩnh hội được mọi tri thức của nhau Nắm vững và vận dụng đúng các HVCV là một trong những điều cơ bản
để đạt được mục đính giao tiếp Chính vậy, khi dạy và học tiếng, việc cung cấp những đặc điểm cơ bản của HVCV chắc chắn sẽ mang lại nhiều
Trang 10lợi ích thiết thực cho người dạy và học tiếng nói chung trong việc cụ thể hóa một hành vi ngôn ngữ nhất định trong giao tiếp
7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có 4 chương sau:
-Chương một: Một số vấn đề lý thuyết chung
-Chương hai: Hành vi chất vấn tiếng Việt
-Chương ba: Hành vi chất vấn tiếng Anh
-Chương bốn: Hành vi chất vấn tiếng Việt và tiếng Anh: tương đồng và
khác biệt
Trang 11CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CHUNG
1.1 – Khái quát về hành vi ngôn ngữ
đó một thập kỷ, ngữ nghĩa học được giao nhiệm vụ giải thích tất cả những cái gì mà ngữ pháp tạo sinh không xử lý nổi, thì từ năm 1983 trở đi, ngữ dụng học đã phát triển mạnh mẽ cả về lý thuyết, cả về nghiên cứu cụ thể Trong lịch sử ngôn ngữ học, chưa từng có một chuyên ngành ngôn ngữ học miêu tả đồng đại nào lại lôi cuốn được nhiều nhà ngôn ngữ học vào vòng xoáy của mình trong một thời gian ngắn như ngữ dụng học.” [Đỗ Hữu Châu, Ngôn ngữ học-tập hai, trang 5,2003]
Như chúng ta đã biết, nhà ngôn ngữ học F De Saussure, người có công lao to lớn về sự khẳng định bản chất hệ thống của ngôn ngữ và sự khẳng định sự tồn tại quy định lẫn nhau của các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ Nhưng bên cạnh đó, các nhà ngôn ngữ cùng thời và sau ông
đã thấy được những cái hạn chế về việc tuyệt đối hóa các cặp lưỡng phân ngôn ngữ-lời nói và mặt nội tại-mặt ngoại tại của ngôn ngữ dẫn đến những luận điểm cực đoan được nói trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” như: “Chúng tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu các hiện tượng ngôn
Trang 12ngữ bên ngoài có thể đạt được kết quả rất mỹ mãn, nhưng không thể nói rằng không có nó thì không hiểu được cơ chế ngôn ngữ bên trong; nói như vậy là sai” hay “đối tượng duy nhất và chân thực của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, xét trong bản thân nó và vì bản thân nó”… Xuất phát từ tính cực đoan của các luận điểm trên mà đã thúc đẩy các nhà ngôn ngữ đi sâu vào việc nghiên cứu lời nói, nghiên cứu ngữ cảnh, nghiên cứu ngữ dụng
Khi đề cập tới ngữ dụng học trong ngôn ngữ học, điều mà hướng
sự quan tâm của các nhà kí hiệu học và các nhà ngôn ngữ học là vào cái
lẽ tồn tại của kí hiệu và ngôn ngữ, tức là vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và xã hội; nói cách khác là vào sự thực hiện chức năng giao tiếp mà ngôn ngữ phải đảm nhiệm trong xã hội Từ cơ sở này, các nhà ngôn ngữ đã nghiên cứu nhiều về cơ chế bên ngoài ngôn ngữ-cái cơ chế hướng ra xã hội của bản thân ngôn ngữ Bởi rất nhiều những cơ chế và quan hệ bên trong của ngôn ngữ sẽ không được phát hiện và không miêu tả được, giải thích được nếu không viện đến cái cơ chế bên ngoài Xuất phát từ sự phong phú của ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ nói chung đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngữ dụng học như:
* Định nghĩa về ngữ dụng học trước năm 1983:
“Ngữ dụng học nghiên cứu những quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh đã được ngữ pháp hóa hoặc được mã hóa trong cấu trúc của một ngôn ngữ” (Levinson)
“Ngữ dụng học nghiên cứu tất cả những phương diện của ngôn ngữ không nằm trong lý thuyết về ngữ nghĩa.”
* Định nghĩa về ngữ dụng học sau năm 1983:
“Ngữ dụng học nghiên cứu ý nghĩa của lời nói, ý nghĩa của ngữ cảnh, nghiên cứu việc người ta có thể thông báo nhiều hơn điều được nói
ra như thế nào, nghiên cứu những biểu hiện của những khoảng cách tương đối” hay “Ngữ dụng học nghiên cứu sự giao tiếp bằng ngôn ngữ, nghiên cứu cách dùng ngôn ngữ thực sự trong ngữ cảnh chuyên biệt” …
Trang 13Ngoài ra, còn có những định nghĩa khác về ngữ dụng học ( được trích từ Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân) như:
“Ngữ dụng học là khoa học nghiên cứu về những điều kiện sử dụng ngôn ngữ tự nhiên như là những yếu tố được chế định bởi ngữ cảnh xã hội” (Mey, 1993:42)
“Ngữ dụng học đề cập tới mọi yếu tố con người trong quá trình giao tiếp, như tâm lý, sinh lý và xã hội” (Fasold,1990:176) …
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng các quan niệm
về ngữ dụng học khác với các cách tiếp cận ngôn ngữ khác ở chỗ nó quan tâm đến việc người nói đã dùng lời nói của mình để thể hiện những hành vi xã hội riêng biệt như thế nào, quan tâm đến việc người nói tạo ra như thế nào, quan tâm đến việc những người tham gia thực hiện sự suy ý như thế nào để tìm ra cái ý nghĩa được truyền đạt thực sự trong những trường hợp cụ thể, quan tâm đến việc cảm nhận về tính thích hợp của người tham gia đã được sử dụng như thế nào để tạo ra những hiệu quả giao tiếp đặc thù … Nói gọn lại, ngữ dụng học tập trung sự chú ý vào việc các thao tác thông điệp thực tiễn bằng ngôn ngữ đã được con người vận dụng như thế nào trong những hoàn cảnh giao tiếp thực
Cho dù mỗi định nghĩa về ngữ dụng học có khác nhau dựa trên quan điểm và cách dùng từ khác nhau của mỗi tác giả, nhưng chúng ta vẫn có thể đúc kết được đối tượng nghiên cứu chính của ngữ dụng học là
“ngữ nghĩa”
Dù nghiên cứu ngữ dụng là nghiên cứu sự tác động lên nhau giữa các nhân vật giao tiếp hay nghiên cứu các cơ chế làm cơ sở cho việc thực hiện mục đích mà người nói định ra cho cuộc giao tiếp do mình tham gia; dù nghiên cứu về các tổ chức hay các đơn vị, các hành động có mặt trong sự giao tiếp thì tất cả những cái đó phải thể hiện thành ngữ nghĩa, phải ngữ nghĩa hóa hoặc tạo điều kiện để hoàn thành ngữ nghĩa của diễn ngôn Tức người tham gia giao tiếp ở đây phải ngữ nghĩa hóa ý định,
Trang 14chiến lược, các hành vi mà mình lựa chọn, phải đem lại cho mỗi đơn vị ngữ dụng (là các đơn vị của diễn ngôn) một nội dung nào đó thì mới gây được tác động vào người nghe Và người nghe chỉ có thể thuyết giải đúng ngữ nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ nghe được, đọc được nhờ những tri thức, kinh nghiệm về ngữ dụng của mình thì mới có thể phản hồi được một cách thích đáng bằng các đơn vị, các cơ chế ngữ dụng tương ứng
Do vậy, ngữ nghĩa ở đây được gọi là ngữ nghĩa ngữ dụng
Ngữ dụng học có thể được chia thành hai giai đoạn: ngữ dụng học đơn thoại (chỉ quan tâm tới người nói và lời nói hay là diễn ngôn của người nói mà không quan tâm tới phản ứng hồi đáp của người nghe) và ngữ dụng học hội thoại hay còn gọi là ngữ dụng học tương tác Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, hoạt động giao tiếp hội thoại mới là hoạt động
cơ bản của ngôn ngữ Mà muốn nói một cách đầy đủ về các khía cạnh của ngôn ngữ để dẫn đến giao tiếp hội thoại thành công là không thể không nói đến các hành vi ngôn ngữ Bởi chúng ta đều biết, trong ngôn ngữ học truyền thống, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là những câu có thể đánh giá được là đúng hay sai về ngữ nghĩa xét theo tiêu chuẩn lôgích Tuy nhiên, có những câu rất giống một câu bình thường như miêu tả, khẳng định, phủ định, … nhưng lại không thể quy cho chúng có giá trị chân lý đúng hay sai Điều này có nghĩa, đối tượng nghiên cứu ngữ pháp của câu chủ yếu là phân tích cấu trúc, hoặc dựa trên những khái niệm về chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, … Chính vậy, người ta có thể xem xét các hiện tượng hoạt động lời nói theo quan điểm của lý thuyết các hành vi ngôn ngữ để phát hiện được bản chất của nhiều hiện tượng ngữ nghĩa và cú pháp Đây là một mảng kiến thức cơ bản của ngữ dụng học
Vậy lý thuyết các hành vi ngôn ngữ là gì ? Chúng ta cùng khảo sát
sơ lược nhưng vẫn bảo đảm được nội dung bao quát của chúng như sau:
1.1.2 - Hành vi ngôn ngữ
Trang 15Người xây dựng nền móng cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ là nhà triết học người Anh, John L Austin Theo ông có ba loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn:
1- Hành vi tạo lời ( locutionary act )
2- Hành vi tại lời ( illocutionary act )
3- Hành vi mượn lời (perlocutionary act)
Hành vi tạo lời là hành động “nói một điều gì đó”, do vậy, mỗi hành
vi tạo lời sẽ tạo ra nội dung mệnh đề và có một ý nghĩa xác định Đó là những kiểu kết hợp ngữ âm, ngữ nghĩa, từ vựng, cú pháp nhất định để xác lập nội dung của câu Xét trên bình diện dụng học, cái cần được lưu ý
là hành vi tại lời và hành vi mượn lời, bởi hai loại hành vi này đều nhất thiết phải có hoạt động tạo lời là cái ngoại biểu cho nội dung tại lời và mượn lời
Khi nói một điều gì đó là thực hiện một hành động gì đó nghĩa là thế nào? Điều này ngụ ý: việc phát biểu ra câu là thiết lập nên một hành vi nhất định – hành vi tại lời Do vậy, trong giao tiếp, có nhiều hành vi tại lời khác nhau như hỏi, ra lệnh, yêu cầu, khuyên nhủ, phê bình, xin lỗi, cám
ơn, chào hỏi, … Còn nếu sự phát ngôn phục vụ cho một mục đích khác
mà người đối thoại có thể chưa hiểu ngay được ý của người nói cho dù
có thông thạo ngôn ngữ đó thì được gọi là hành vi mượn lời Hoặc trong một tình huống cụ thể, qua cung cách nói năng khi thực hiện một hành vi tại lời, người nói có thể nhằm vào một chủ đích nào đó- được gọi là hành
vi mượn lời
Từ các hành vi ngôn ngữ trên, chúng ta thấy tác giả Austin muốn ngụ ý rằng hành vi tại lời không phải là hệ quả, lôgích hoặc tâm lý của nội dung tinh thần được diễn tả trong câu phát biểu ra, mà nó chỉ được thực hiện do sự tồn tại của một nghi thức xã hội khiến cho người phát ngôn phát ra một lời nói nhất định tùy thuộc vào hoàn cảnh và nội dung của vấn
đề thực tại
Trang 16Vì chất vấn thuộc hành vi ngôn ngữ, tức là hành động bằng ngôn ngữ, nên hành vi chất vấn cũng chịu quy tắc chung chi phối hành động nói chung của con người Đặc trưng của các hành động là hành động phải được thực hiện theo một ý định nhất định với công cụ nhất định, nhằm vào đích nhất định, đích có khi là trực tiếp và có khi là gián tiếp, hay là ngầm ẩn Mà thể hiện được đặc trưng của các hành động này người chất vấn thường sử dụng một cách ngẫu nhiên hoặc cố tình do từ kinh nghiệm hay vốn sống của họ những vấn đề làm xúc tác như: TGĐ, tính lịch sự, thể diện , hàm ý, … nhằm đạt được hiệu quả trong giao tiếp
Như vậy, những vấn đề liên quan tới hành vi chất vấn, mà chúng tôi tạm gọi là những chất xúc tác nhằm vào mục đích giao tiếp cần được tìm hiểu rõ thêm, bởi, đây chính là những công cụ hỗ trợ đắc lực cho ngữ nghĩa ngữ dụng thêm đa dạng phong phú của ngôn ngữ nói chung và của hành vi chất vấn nói riêng
1.1.3 – Sơ lược về những khái niệm có tính chất công cụ
“Ngữ dụng học” rằng: “ Tính tế nhị, lịch sự là một yếu tố tác động tới các hiện tượng, quy luật và cấu trúc ngôn ngữ Nó ảnh hưởng rất mạnh tới các phát ngôn trong quá trình giao tiếp.”
Từ những ý kiến trên, chúng ta nhận thấy rằng tính lịch sự có vai trò quan trọng như thế nào trong giao tiếp hội thoại Để hiểu rõ thêm về vấn
đề này chúng ta cùng tham khảo một số định nghĩa về tính lịch sự được
Trang 17rút trích từ “Đại cương ngôn ngữ học – tập 2 – Ngữ dụng học” của Đỗ Hữu Châu:
- “Hiện tượng lịch sự: đó là những chiến lược nhằm duy trì hay thay đổi quan hệ liên cá nhân”
- “ … Trong các công trình này, phép lịch sự được xem như là một (hay một loạt chiến lược) được người nói dùng để hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hòa.”
- “Có thể định nghĩa lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn (…) ; Những chiến lược lịch
sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi.” (Lakoff)
Những định nghĩa trên chỉ đề cập đến mặt tích cực của phép lịch
sự Cũng như mọi phạm trù khác của ngôn ngữ , lịch sự bao gồm cả không lịch sự, như G.M Green viết:
“Những người tham gia hội thoại có thể chọn cách xử sự tùy thích không đếm xỉa đến tình cảm và nguyện vọng của người khác Họ còn có thể dựa vào những hiểu biết của mình về các quy tắc lịch sự để tỏ ra cục cằn, thô lỗ một cách cố ý.”
Như vậy, có nhiều nhân tố tham gia vào sự hình thành nên quan hệ liên cá nhân Đó là những nhân tố đã sẵn có trước cuộc tương tác do chúng nằm ngoài tương tác Chúng liên quan tới cương vị tương đối giữa những người tham gia tương tác theo những giá trị xã hội như tuổi tác và quyền lực Đây chính là nguyên do xuất hiện những biến thể ngôn ngữ theo cách dùng – những biến thể hệ thống … do quan hệ với ngữ cảnh xã hội mà có Khi nói năng người nói không có quyền tự do lựa chọn hay thay đổi những nhân tố liên cá nhân có sẵn, nằm ngoài tương tác đó Mặc dầu những nhân tố này cũng chi phối phép lịch sự nhưng không thuộc phạm trù lịch sự như một phạm trù do những nhân tố liên cá nhân xuất
Trang 18hiện trong và có mặt ngay trong cuộc tương tác Lịch sự được coi là chiến lược chỉ khi nó được hình thành, có mặt và phát huy tác dụng ngay khi có tương tác trong giao tiếp hội thoại
1.1.3.2- Lễ phép
Hành vi và ngôn ngữ mỗi dân tộc thường gắn liền với nền văn hóa của dân tộc đó Và theo ghi nhận từ thực tế, người Việt Nam có quan niệm về lịch sự khác với người Châu Aâu nói chung, người Anh nói riêng Chẳng hạn, trong một buổi tiệc, khi người Anh đưa cho bạn lọ muối thì bạn phải nói ngay “Cảm ơn!” Đó là phép lịch sự được thể hiện rất bình thường đối với người Anh Nhưng với người Việt, việc đưa lọ muối đó có cảm ơn hay không đều được coi là chuyện bình thường Chính quan niệm khác nhau về lịch sự của mỗi dân tộc, nên việc nghiên cứu phạm trù lịch
sự cần phải được đặt trong mối quan hệ với những phạm trù khác liên quan như người Việt chẳng hạn Bởi với quan niệm “Tiên học lễ, hậu học văn” của người Việt mà phạm trù lễ (đạo đức, lễ giáo, lễ độ, lễ phép) được coi trọng hơn phạm trù lịch sự, nếu không muốn nói là lễ bao trùm lịch sự Với người Việt, đánh giá phẩm chất, nguồn gốc một người, trước hết là việc xem người đó có phải là con nhà gia giáo, nền nếp hay không chứ không nhắc đến tính cách đó có lịch sự hay không Có thể chứng tỏ điều này qua những chi tiết về giải thích, định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt, mục từ “lịch sự” hầu như được định nghĩa là “nhã nhặn, lễ phép”, tức thiên về phong cách thanh lịch, tinh tế, lịch lãm Trong khi đó,
từ điển Anh-Việt của Viện Ngôn ngữ học politeness được định nghĩa là
“cử chỉ lịch thiệp, lễ phép”, “phẩm chất lễ độ” chứ không phải là “lịch sự”
Do vậy, phạm trù lịch sự của người Việt phải đặt trong mối quan hệ mật thiết với phạm trù lễ
Mỗi HVNN của một dân tộc bị chi phối bởi nhiều “triết lí”, nhiều quan
hệ khác nhau và được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nào đó Điều này giúp ta giải thích vì sao có những hành vi hình thức giống nhau nhưng HV
Trang 19này được coi là lịch sự (hoặc không lịch sự) còn HV kia thì hoàn toàn không Vì phạm trù lễ quan trọng hơn phạm trù lịch sự, nên “Con cãi (bác bỏ) cha” bị coi là vô lễ, chứ không xếp vào mức thấp hơn là mất lịch sự; còn cha chê/ bác bỏ con, thậm chí mắng chửi con thì hoàn toàn không bị coi là mất lịch sự (Vì đó là “quyền huynh thế phụ”)
Giữa hai phạm trù tôn ti và lịch sự cũng tạo thành một quan hệ thứ bậc trong tâm thức, và đó là văn hóa người Việt: tôn ti > lịch sự
Với những quan niệm được đề cập ở trên, chúng ta thấy việc nghiên cứu phạm trù lịch sự cần phải được đặt trong mối quan hệ với những phạm trù khác có liên quan như lễ phép, vị thế, khoảng cách, tôn ti, đối với người Việt Từ đây chúng ta mới có thể thấy rõ được quan niệm về lịch sự ở Việt Nam khác với lịch sự của phương Tây như thế nào trong từng nghi thức
1.1.3.3- Tiền giả định và hàm ngôn
Các phát ngôn đóng vai trò chính yếu và trực tiếp trong giao tiếp hội thoại Nhưng các phát ngôn này ngoài cái ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu cú pháp, … ) còn có rất nhiều ý nghĩa khác mà người nghe phải suy ý dựa vào ngữ cảnh, ngôn cảnh, vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ mới nắm bắt được Và cái ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn Đối với hành vi chất vấn, vì đặc thù của nó là sự giữ phép lịch sự cũng như sự tránh nói thẳng nói thật thay cho sự gián tiếp phê phán, châm biếm hoặc sự không hài lòng trong giao tiếp mà người chất vấn rất thường xuyên sử dụng nghĩa hàm ẩn khi đối thoại
Trong dụng học, ý nghĩa hàm ẩn còn có thể được tách ra thành hai loại: tiền giả định (TGĐ – Presupposition) và các hàm ngôn ( Implication ) Chúng được khái quát như sau:
“TGĐ là những căn cứ cần thiết để người nói tạo ra ý nghĩa tường minh ( ý nghĩa theo từng câu chữ ) trong phát ngôn của mình Hàm ngôn
Trang 20là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó, từ
ý nghĩa tường minh cùng với TGĐ của nó” ( Theo Đại cương ngôn ngữ học của Đỗ Hữu Châu)
Từ chỗ phải nhờ đến thao tác suy ý mới nắm bắt được cho nên giữa TGĐ và hàm ngôn có khá nhiều trường hợp không rõ ràng Cho đến nay, phân biệt TGĐ và hàm ngôn vẫn còn là vấn đề lớn của ngữ dụng học Dưới đây là sơ khảo một số đặc điểm cơ bản mà có thể dựa vào đó
để phân biệt TGĐ và hàm ngôn
“TGĐ là những hiểu biết được xem là bất tất phải bàn cãi , bất tất phải đặt lại thành vấn đề, đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình.” (Theo Ngôn ngữ học đại cương của Đỗ Hữu Châu)
có thể cô ấy đi lo việc riêng tư của mình v.v…
Đặc điểm này có thể được hiểu là TGĐ luôn luôn đúng Tuy nhiên, trong giao tiếp thông thường, không phải không có những trường hợp người nói cố tình tạo ra một phát ngôn mà ý nghĩa tường minh dựa trên một TGĐ sai hay bịa đặt Lúc này vấn đề tranh cãi sẽ rơi vào chính cái TGĐ đó Đây là một chiến lược hội thoại, chiến lược gài bẫy TGĐ Thí dụ:
A: Sao không thấy cậu trả sách cho tớ?
TGĐ của phát ngôn này là: cậu mượn sách của tớ
Người nghe B có thể cãi lại TGĐ đó:
Trang 21B: Tớ mượn sách của cậu hồi nào mà trả? ( Nếu như B không mượn sách của A )
Khác với TGĐ, hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra
từ ý nghĩa tường minh và tiền giả định của ý nghĩa tường minh Nếu không có ý nghĩa tường minh và tiền giả định của nó, không thể suy ra được hàm ngôn thích hợp
Thí dụ:
- Hôm nay Tâm lại trễ hẹn nữa!
TGĐ: Hôm qua ( hay các hôm trước) Tâm có trễ hẹn
Ý nghĩa tường minh: Hôm nay Tâm trễ hẹn
Từ TGĐ và ý nghĩa tường minh trên người nói muốn dẫn tới hàm ngôn có thể là: “Chúng tôi lại không kịp đón chuyến xe buýt 7 giờ” hay
“Chúng tôi lại không kịp mua vé xem kịch ngồi ở hàng trên.”
Từ TGĐ và ý nghĩa tường minh có thể suy ra nhiều hàm ngôn khác nhau, hàm ngôn nào là thích hợp, điều này phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh giao tiếp, vào ngôn cảnh Đây là một đặc điểm để phân biệt TGĐ với hàm ngôn: TGĐ nói chung ít lệ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp, còn hàm
ngôn lệ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh giao tiếp
Ngoài ra, một phát ngôn có thể có nhiều TGĐ nhưng chỉ có một hoặc một số có dính líu đến (quan yếu với) ý nghĩa tường minh của phát ngôn
Khảo sát ví dụ sau:
- Cô ta đang lo đám tang cho bà mẹ chồng khó tính của mình
Câu trên có thể có các TGĐ sau:
TGĐ 1 : Cô ta có mẹ chồng
TGĐ 2 : Mẹ chồng cô ta khó tính
TGĐ 3 : Mẹ chồng cô ta mới chết
TGĐ 4 : Cô ta đã có chồng
Trang 22Các TGĐ 1,2,3 đều quan yếu với phát ngôn trên và được đánh dấu bằng các yếu tố ngôn ngữ bà mẹ chồng, khó tính, đang, đám tang TGĐ 4
không quan yếu mặc dầu vẫn được đánh dấu bằng từ mẹ chồng
Do đặc điểm trên mà TGĐ tương đối ít lệ thuộc vào ngữ cảnh phát
ngôn
Hàm ngôn, trái lại không tất yếu phải được đánh dấu bởi các dấu hiệu ngôn ngữ Như chúng ta biết, quan hệ giữa ý nghĩa tường minh và hàm ngôn là quan hệ giữa luận cứ và kết luận hoặc giữa kết luận và luận cứ trong một
“lẽ thường” Mà luận cứ và kết luận thường khác nhau về hình thức ngôn ngữ diễn đạt, cho nên trong phát ngôn diễn đạt ý nghĩa tường minh không chứa sẵn những dấu hiệu ngôn ngữ báo hiệu hàm ngôn Nếu xem các “lẽ thường” là những quy tắc diễn ngôn thí chính kiểu quan hệ giữa luận cứ và kết luận, chính cả cái lẽ thường đó là dấu hiệu hình thức định hướng
(hướng lập luận) cho chúng ta rút ra được hàm ngôn cần thiết Một dấu hiệu nữa, tuy không trực tiếp nằm trong phát ngôn tường minh và nằm trong văn cảnh là chủ đề, hướng lập luận, các hành vi ở lời (chủ hướng, dẫn nhập và hồi đáp)… cũng cần thiết để chúng ta xác định hàm ngôn nào
là hàm ngôn dính líu, quan yếu, nằm trong ý định truyền báo của người nói Như thế cũng có nghĩa là hàm ngôn lệ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh phát ngôn như đã được đề cập ở trước
Như vậy, ý nghĩa hàm ẩn dụng học ( TGĐ và hàm ngôn ) là những yếu tố chính trong việc tạo cho các hành vi giao tiếp hiện thực hóa được các ý tưởng mà các nhân vật giao tiếp muốn truyền đạt cho nhau Đó là một nét đặc trưng và vô cùng lý thú của ngôn ngữ nói chung và của ngôn ngữ về mặt ngữ dụng nói riêng
1.1.3.4- Khái niệm vai (tức những quan hệ cá nhân)
Những quan hệ cá nhân có tầm quan trọng đặc biệt trong tương tác hội thoại, bởi cuộc thoại có trở nên thân mật hay trang trọng hay không là
do quan hệ cá nhân chi phối Cũng có thể từ quan hệ cá nhân, cuộc thoại
Trang 23có sự gần gũi hay xa cách, sự thân mật hay sỗ sàng, sự lịch sự hay khiếm nhã, Như chúng ta biết, quan hệ cá nhân là quan hệ giữa người với người trong giao tiếp, nói rõ hơn là cách xưng hô trong giao tiếp Đối với người Việt Nam, quan hệ xưng hô này được thể hiện rất phong phú Với một đối tượng giao tiếp, người nói có thể xưng hô bằng rất nhiều đại từ khác nhau: tôi, anh, chị, bác, tao, tớ, mình, em, … và cùng kèm theo các trợ từ như: thưa, bẩm, dạ, tùy thuộc vào mối quan hệ của các nhân vật giao tiếp Đặc biệt là trong ngữ cảnh giao tiếp thích hợp các từ xưng hô lại còn thay đổi thành nhiều kiểu nói khác nhau (theo từng địa phương) kèm ngữ điệu tương ứng Cũng vì sự đa dạng này mà các từ xưng hô tạo được vị trí quan trọng của mình trong giao tiếp hội thoại Vậy, các mối quan hệ cá nhân được hiểu một cách cụ thể như thế nào?
Các quan hệ cá nhân thường được xem xét dưới hai góc độ:
+ Quan hệ ngang
+ Quan hệ dọc
Những quan hệ này thay đổi theo các nền văn hóa và do đó thay đổi theo từng ngôn ngữ Những quan hệ này cũng tiến hóa theo thời đại, theo lịch sử phát triển của mỗi dân tộc Ở thời đại phong kiến, có sự phân chia giữa các cá nhân trong xã hội thành nhiều giai tầng, nhiều tôn ti nên cũng có nhiều quan hệ ngang và quan hệ dọc hơn xã hội hiện đại trong khuynh hướng chung tiến tới nền dân chủ và tự do cá nhân Và đồng thời cũng xuất hiện nhiều loại tín hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để thể hiện những mối quan hệ trên Điều này gián tiếp thể hiện sự phát triển tư duy ngày càng cao của con người So với các nước phương Tây, những quan
hệ cá nhân ở các nước phương Đông thể hiện mạnh hơn, đa dạng hơn, chưa kể nhiều tình huống quan hệ đã trở thành những nghi thức giao tiếp Nếu một người phương Tây muốn học thành công một ngôn ngữ phương Đông, như tiếng Việt Nam chẳng hạn, họ sẽ phải mất thời gian rất nhiều
để nắm vững được các từ xưng hô của người Việt Các từ xưng hô trong
Trang 24giao tiếp hàng ngày của người Việt nếu liệt kê có thể lên đến vài chục từ Chưa kể chúng còn thay đổi theo rất nhiều kiểu khác nhau khi mối quan
hệ của các nhân vật giao tiếp là quan hệ ngang, tức quan hệ thân - sơ hay quan hệ dọc, tức quan hệ vị thế ( sẽ được nói tiếp sau đây) Trong khi
đó, với tiếng Anh chẳng hạn, các từ xưng hô được phân chia rất đơn giản
so với tiếng Việt; đơn cử một ví dụ, với người chủ thể của cuộc thoại trong bất kỳ tình huống nào và với tất cả đối tượng giao tiếp nào cũng chỉ
là một từ xưng hô duy nhất là “I” và “You” Các từ xưng hô của tiếng Anh chỉ có ba ngôi dành cho các đối tượng giao tiếp là một người, và ba ngôi dành cho các đối tượng giao tiếp là hai người trở nên Nên liệt kê thì từ xưng hô tiếng Anh chỉ có vài từ so với tiếng Việt là vài chục từ
Các quan hệ cá nhân (quan hệ ngang và dọc) có thể được vắn tắt như sau:
A/ Quan hệ ngang hay là quan hệ thân sơ
* Quan hệ này được đặc trưng bằng yếu tố “khoảng cách”, một ẩn
dụ không gian biểu trưng cho sự gần gũi hoặc xa cách trong quan hệ Quan hệ khoảng cách có thể thay đổi và điều chỉnh trong quá trình hội thoại, từ sơ tới thân hoặc ngược lại Chẳng hạn từ quan hệ bình thường (tôi - anh, tôi – chị) tới quan hệ thân ái (tớ – cậu, mình – đằng ấy) và tới quan hệ tình yêu (anh – em)
* Những từ nhân xưng, những từ dùng để thưa gởi mang sắc thái quan hệ cá nhân rất rõ ràng Trong nhiều ngôn ngữ, có hàng loạt cặp
từ phản ánh quan hệ “Tôi /Anh” giữa người nói và người nghe với những sắc thái khác nhau: trong tiếng Việt, sắc thái nghĩa của những từ tự xưng tôi – tớ – mình – tao – ông rất khác nhau Cách gọi người đối thoại trực tiếp với mình ông – anh – chị – ngài – bà – cậu – cô – mày cũng phản ánh rất rõ quan hệ thân – sơ hoặc trọng – khinh
Chuẩn mực về quan hệ ngang thân – sơ này cũng rất khác nhau, tùy ngôn ngữ, tùy dân tộc Cách dùng “cậu – tớ” đối với tiếng Việt là cách
Trang 25dùng hết sức thân mật chẳng hạn Hay cách gọi người theo tên, theo họ, theo tên riêng, tên tục, tên biệt hiệu hoặc gọi đầy đủ cả họ và tên cũng thể hiện mối quan hệ thân – sơ, trọng – khinh Ví dụ, với người Việt Nam, chỉ cần thêm từ xưng hô anh, chị, ông , bác, ngài trước tên riêng của người được tiếp thoại là sự biểu thị mối quan hệ thân – sơ, trọng khinh Trong khi đó, với các nước phương Tây, với người Anh chẳng hạn, việc xưng hô bằng cách gọi đầy đủ cả họ tên là cách thể hiện mối quan hệ thân – sơ, trọng – khinh
Ngoài ra, những dấu hiệu cử chỉ và dấu hiệu kèm lời cũng thể hiện mối quan hệ thân – sơ, trọng – khinh Nổi bật là những dấu hiệu về khoảng cách Sự đứng xa hay gần trong hội thoại cũng phản ánh về mối quan hệ này Thực tế thấy rằng, những người có quan hệ gần nhau thường đứng gần nhau hơn khi hội thoại Bên cạnh đó, những cử chỉ, điệu bộ cũng cho biết rất rõ về mức độ quan hệ Những cử chỉ thân mật, gần gũi được phản ánh trong những lời nói “cánh tay rộng mở”, “dang tay đón chào”, hay những tín hiệu “vồ vập”, “động chạm tay chân” như nắm tay, vỗ vai, xoa đầu là những chỉ dẫn rất rõ ràng về quan hệ thân thiết, suồng sã hay thoải mái Hơn nữa, những dấu hiệu kèm lời như: cường độ, âm lực phát âm khi nói năng càng thể hiện rõ nét hơn về mối quan hệ thân – sơ, trọng – khinh Ví dụ, trong gia đình - giữa những người có quan hệ thân thiết – người ta nói nhanh hơn, còn ngoài xã hội, khi nói chuyện một cách trang trọng, “chính thức” thì người ta nói chậm hơn
B/ Quan hệ dọc hay là quan hệ vị thế
Đây là quan hệ tôn ti xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới xếp thành tầng bậc trên một trục dọc Vì vậy, quan hệ này được đặc trưng bằng yếu tố quyền lực
Quan hệ vị thế có tính chất tương đối A có thể ởù vị thế cao so với
B nhưng lại ở vị thế thấp so với C Thậm chí, A có thể ởù vị thế cao hơn
Trang 26so với B về phương diện này nhưng lại ở vị thế thấp hơn về phương diện khác Ví dụ, so sánh một nữ giám đốc trẻ với một bác bảo vệ già của một công ty nào đó, thì cô giám đốc trẻ ở vị thế cao hơn về chức vụ trong quan hệ công việc, nhưng lại ở vị thế thấp hơn về phương diện tuổi tác lẫn kinh nghiệm sống trong quan hệ “tình cảm” Chính sự khác nhau về vị thế này mà cách xưng hô giữa các đối tượng giao tiếp thay đổi cho phù hợp Nếu trong giao tiếp bình thường, bác bảo vệ có thể xưng hô với cô gái là “con, cháu.” , nhưng trong mối quan hệ vị thế trong một công ty, bác bảo vệ cần phải xưng hô với cô giám đốc trẻ này là “ chị, cô, bà ”
Ngoài ra, các dấu hiệu bằng lời và cử chỉ, điệu bộ cũng thể hiện mối quan hệ vị thế Hầu như mọi yếu tố trong hội thoại đều thể hiện quan hệ vị thế Những dấu hiệu bằng lời thường được thể hiện khá rõ nét Người nói nhiều lần và mỗi lần nói dài hơn thường ở vị thế cao hơn Người hay xen lời, hay ngắt lời người khác cũng thường ở vị thế cao hơn Chính vậy, trong cuộc sống thường ngày, thường có những lời khuyên: “Hãy lắng nghe ý kiến của quần chúng!”, chứ không nói: “Quần chúng hãy lắng nghe
ý kiến của lãnh đạo” Còn một đặc điểm nữa, các hành vi ngôn ngữ và hành vi hội thoại cũng như sự thể hiện phép lịch sự cũng phản ánh quan
hệ vị thế Người có quyền lực cao thường hay “vô tình” hoặc thản nhiên
đe dọa tới thể diện và lãnh địa người đối thoại, ví dụ như lối nói “trống không” thường thấy ở những người có vị thế cao Bên cạnh đó, đối với tiếng Việt, những từ tình thái hay những từ đi kèm hành vi ngôn ngữ cũng thể hiện các quan hệ vị thế Những từ vị thế này đã được ngôn từ hóa thành từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ Cũng là những hành vi chào và hỏi, nhưng cách dùng “ạ” và “à” thể hiện các vị thế khác nhau Hỏi người ở vị thế thấp có thể nói “trống không”, nhưng không được hỏi “trống không” đối với người có vị thế cao hơn mình và cả đối với những người lớn tuổi hơn mình
Ví dụ: - Con chào ông ạ !
Trang 27Chứ không thể là: “- Ông chào cháu ạ !”
1.2 – Hành vi chất vấn
1.2.1 Sơ lược về hành vi chất vấn tiếng Việt
* Từ câu nghi vấn đến câu chất vấn
Câu nghi vấn (câu hỏi) được định nghĩa như sau:
+ Câu nghi vấn là câu nói để hỏi cho biết: có hay không có một tình trạng hay một biến cố nào (Sơ thảo ngữ pháp tiếng Việt - Lê Văn Lý)
+ Nghi vấn là đặt ra câu hỏi để, nói chung, yêu cầu trả lời (Ngữ pháp tiếng Việt – UBKHXH Việt Nam)
Xét về mục đích, câu hỏi được phân thành hai loại: câu hỏi chính danh – câu hỏi thực sự tìm thông tin (Lê Đông, Cao Xuân Hạo) và câu hỏi không chính danh – câu hỏi không nhằm tìm thông tin mà nhằm những mục đích khác Tác giả Lê Văn Lý trong “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” (1968) cho rằng câu hỏi còn được dùng để chỉ sự khẳng định, phủ định,
sự hoài nghi hay mỉa mai Ví dụ như “Nhân sinh thành Phật có dễ đâu ?”, dùng câu hỏi để phủ định “Không dễ.”; “Thấy chưa?”, dùng câu hỏi để thể hiện hành vi mỉa mai; “Không biết đã trả tiền chưa?”, dùng câu hỏi để thể hiện sự hoài nghi Hay trong sách “Ngữ pháp tiếng Việt” của Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật đã nêu: câu nghi vấn có hình thức là câu nghi vấn nhưng về nội dung là khẳng định hay phủ định một vấn đề Ví dụ như “Của ngon trờ
Trang 28trờ trước mắt ai mà nhịn được?” (Nam Cao), dùng câu nghi vấn để phủ định “không nhịn được”, “Ai chẳng biết?”, dùng câu nghi vấn để khẳng định “Ai cũng biết”,
Nhìn chung, xét về mục đích, câu hỏi được phân thành hai loại: câu hỏi chính danh và câu hỏi không chính danh; xét về phương diện ngữ dụng, có những lời hỏi theo khuôn mẫu của câu hỏi chính danh, câu hỏi tìm thông tin, nhưng xem xét kỹ thì nó lại là những câu hỏi lấy lệ, hỏi cho
có chuyện, tức người hỏi không thực sự tìm thông tin
Khảo sát các ví dụ sau:
• - Hồi đó má nói cho tao đi, mày ở nhà làm ruộng với má, trọng trọng rồi đi sau
- Má nói hồi nào?
( Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi.)
Câu “Má nói hồi nào ?” có hình thức của một câu hỏi nhưng lại không phải để hỏi mà để phủ định “Má không nói.”
• - Mày ngốc thật !
- Nói vậy mà nghe được à ?
Câu “Nói vậy mà nghe được à ?” có hình thức của một câu hỏi nhưng lại không phải để hỏi mà để phê phán
Khảo sát các ví dụ trên, chúng ta thấy câu hỏi chính danh đã chuyển sang thành câu chất vấn; bởi trong cuộc sống hàng ngày, khi người ta không chịu nổi một sự tình thì người ta chất vấn với các hàm ý khác nhau: có thể là chất vấn để phủ định, khẳng định hay chất vấn là để phê phán, mỉa mai… Hành vi chất vấn được định nghĩa: “Chất vấn là hỏi
và yêu cầu phải giải thích rõ ràng” (TĐTV)
Trên thực tế, chất vấn không chỉ là hỏi và yêu cầu giải thích rõ ràng Khi người ta không chịu nổi một sự tình thì người ta chất vấn với nhiều hàm ý khác nhau tùy thuộc vào tiền giả định, ngữ cảnh giao tiếp và các nhân vật giao tiếp Nói rộng hơn, khi nghi ngờ một sự việc nói chung ( một
Trang 29ý kiến, một luận điểm, một đối tượng, một hiện tượng, ) là không đúng,
là vô lí, là chuyện ngược đời, là điều không thể tin được, không chấp nhận được thì người ta chất vấn sự việc đó để bày tỏ ý kiến của mình hay
để bác bỏ sự việc đó và trong một số trường hợp không cần người tiếp thoại phải trả lời Và hành vi chất vấn này được thể hiện thành những câu chất vấn Như vậy, câu chất vấn luôn luôn có hàm ý
Ví dụ: Hãy theo dõi lời người đối thoại sau:
- Nhỏ Hằng lúc này học hành thế nào ?
- Chị có thực sự quan tâm đến nó không đấy ?
Người đối thoại đã mượn câu hỏi “ Chị có thực sự quan tâm đến nó không đấy?” là ngầm mỉa mai hay hoài nghi người phát ngôn “Hỏi lấy lệ chứ không phải quan tâm về việc học hành của Hằng” Điều này sẽ dẫn đến câu hỏi : “Từ đâu người đối thoại lại có câu chất vấn nhằm mỉa mai hay hoài nghi người phát ngôn như vậy?”, vấn đề “Tiền giả định” được đề cập ở đây Có thể là do sự mâu thuẫn của người phát ngôn với Hằng trước đó, có thể là do cá nhân người phát ngôn đã từng không quan tâm,
lo lắng cho ai khác ngoài bản thân mình, Ngoài ra, tùy theo ngữ cảnh, mối quan hệ liên cá nhân, câu chất vấn lại này có thể được phát âm theo giọng quở trách, ngạc nhiên, phẫn nộ hay khinh thường
Một ví dụ khác, một người phụ nữ hàng xóm (A) khen chồng của chị B là tốt Thay vì chị B tỏ vẻ mừng và cám ơn chị A, chị B lại chất vấn rằng:
- Thế chị nói có thật lòng không đấy?
Với câu chất vấn của chị B, người nghe có thể hiểu rằng chị B không thật sự tin vào lời khen của chị A mà chị còn dựa vào một tiền giả định nhất định để chất vấn chị A với hàm ý khác
TGĐ 1 : Chị hàng xóm hay luyên thuyên và thường không nói thật TGĐ 2 : Chồng của chị B thật sự không phải là người tốt
Trang 30Với hàm ý mỉa mai: chị có biết thật sự chồng tôi tốt thì hãy nói, chứ
đừng nói luyên thuyên thế
Từ những ví dụ trên, chúng ta nhận thấy rằng HVCV là một trong những hành vi ngôn ngữ thể hiện tích cực những yếu tố ngoài ngôn ngữ như hàm ý của câu, tức nghĩa của câu không được thể hiện trên từng câu chữ mà phải dựa vào tiền giả định hay ngữ cảnh giao tiếp người đối thoại phải suy ý mới hiểu được Điều này cũng nhằm tạo hứng khởi hoặc khích
lệ các đối tượng giao tiếp tham gia vào cuộc thoại Ngoài ra, chất vấn để tạo các hàm ý gián tiếp: khẳng định, phủ định, bác bỏ, … là một phương thức tạo lối nói mềm mỏng, nhẹ nhàng hơn lối nói trực tiếp Đây là một trong những yếu tố căn bản tạo hiệu quả cao trong giao tiếp hội thoại
Như vậy, trong giao tiếp, bên cạnh việc chất vấn mang nghĩa trực tiếp (nghĩa được thể hiện trên từng câu chữ) như những câu chất vấn của người dân đối với các cấp lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta cùng những câu chất vấn của các đại biểu Quốc hội hay các buổi phỏng vấn nói chung, HVCV còn có hiệu lực gián tiếp rất đa dạng Nghĩa gián tiếp đa dạng này thường có được khi người chất vấn dựa vào tiền giả định hay nghĩa hàm ẩn của phát ngôn từ nhiều nguyên do hoặc vì khiêm tốn, vì không muốn trực tiếp làm mất thể diện người nói lẫn người nghe, hoặc vì muốn châm biếm, mỉa mai, vì muốn bác bỏ một sự tình, và quan trọng hơn nữa là không muốn chịu trách nhiệm trực tiếp về điều mình nói ra Đối với tiếng Việt của chúng ta, HVCV là sự biểu hiện đậm nét văn hóa người Việt, vốn thường ý nhị trong lời nói, thường hay rào trước đón sau, nên khi giao tiếp họ thường sử dụng lối nói mềm mỏng, nhẹ nhàng bằng những câu chất vấn mang hàm ý gián tiếp nhiều hơn là những câu chất vấn mang nghĩa trực tiếp
1.2.2 Các kiểu loại câu chất vấn tiếng Việt
Trước khi đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa của HVCV, chúng ta cần tìm hiểu câu chất vấn tiếng Việt được cấu tạo như thế nào
Trang 31và nó được vận dụng ra sao trong quá trình giao tiếp Dưới đây chỉ là hình thức cơ bản của câu chất vấn và đa số được minh họa bằng những câu đơn giản Khi giao tiếp các cấu trúc câu chất vấn còn có thể thay đổi theo nhiều dạng thức khác nhau để phù hợp với vai giao tiếp Về ngữ nghĩa, trước hết, HVCV thường được hiểu với ý nghĩa trực tiếp Ngoài ra, dựa vào TGĐ và các nhân tố giao tiếp thích hợp chúng có thể được hiểu với nhiều nghĩa gián tiếp khác nhau, tức ngữ nghĩa ngữ dụng Dựa theo cách phân loại câu nghi vấn nói chung từ các sách ngữ pháp tiếng Việt, trong
đó, cơ sở chính được chúng tôi áp dụng là quyển “Ngữ pháp tiếng Việt” của Diệp Quang Ban, HVCV có thể được phân loại như sau:
1.2.2.1 Câu chất vấn dùng đại từ nghi vấn (hay còn được gọi là câu chất vấn bộ phận)
Câu chất vấn dùng đại từ nghi vấn được dùng để chất vấn những điểm xác định trong câu; điểm chất vấn là điểm chứa đại từ nghi vấn Đại từ nghi vấn có thể đứng một mình như gì, ai, sao, đâu, hoặc kết hợp với một từ khác, như người nào, cái gì, thứ bao nhiêu, làm gì, vì sao, ở đâu,
Kiểu câu chất vấn tiếng Việt chứa đại từ nghi vấn có đặc điểm là đại
từ nghi vấn không chuyển lên đầu câu trong mọi trường hợp như trong tiếng Anh Đại từ nghi vấn được đặt ở vị trí thông thường của từ mà nó thay thế trong câu trình bày và căn cứ vào các đại từ nghi vấn câu chất vấn được mang nghĩa tương ứng
• Chất vấn về người: Trễ như thế này rồi mà anh còn tìm ai?
• Chất vấn về sự việc: Anh đi lâu như thế thì học được cái gì mang về?
• Chất vấn về lượng: Thế rút cục mày cần bao nhiêu hả?
• Chất vấn về thứ tự: Cao như thế, nhưng mắt lại cận biết xếp nó ngồi bàn thứ mấy bây giờ?
Trang 32• Chất vấn về thời gian: Bao giờ anh mới chịu xin lỗi bố đây?
• Chất vấn về không gian:
+ Nó đi đâu mà suốt đêm không về vậy bà ?
+ Thế đặt nó ở đâu chị mới vừa lòng?
• Chất vấn về tính chất và cách thức: Biết làm như thế nào bây giờ?
• Chất vấn về nguyên nhân: Sao bây giờ em lại thay đổi như thế chứ?
• Chất vấn về điều kiện và mục đích: Cô đối xử tốt với tôi là nhằm mục đích gì cứ nói thẳng ra xem?
• Chất vấn về chứng cứ:
+ Nó có nói đâu ?
+ Tôi nói bao giờ ?
1.2.2.2 Câu chất vấn dùng phó từ (hay còn được gọi là câu chất vấn toàn bộ )
Để tạo câu chất vấn toàn bộ, người Việt thường dùng các cặp phó
• Chẳng phải anh đã nói chuyện đó với cô ấy sao?
• Ớt nào là ớt chẳng cay đúng không?
Trang 33• Nhân sinh thành Phật có dễ đâu?
• Con đã làm xong bài tập chưa mà đòi đi chơi?
• Lẽ nào nó lại làm như thế?
• Sướng chưa con?
• Sao mà con vừa học vừa ăn thế?
Trên đây chỉ là một số khuôn mẫu điển hình được sử dụng trong khi chất vấn Ngoài ra, tùy thuộc vai vế và hoàn cảnh giao tiếp, các khuôn mẫu này có thể thay đổi thành nhiều khuôn mẫu khác nhau hoặc đơn giản
là câu khẳng định được dùng kèm các trợ từ tình thái kết hợp với ngữ điệu tương ứng để trở thành câu chất vấn và chúng có thể được liệt kê thành một mục riêng sau:
1.2.2.3 Câu chất vấn (toàn bộ) dùng tiểu từ chuyên dụng
Với câu chất vấn loại này, các tiểu từ tình thái là công cụ hỗ trợ đắc lực cho một câu khẳng định chuyển thành một câu chất vấn Các tiểu từ tình thái được đặt ở cuối câu khẳng định và được kết hợp với ngữ điệu tương ứng để tạo sắc thái cho câu chất vấn Các tiểu từ tình thái thường gặp là à, ư, ạ, a, hả, hử, hở, chứ, bộ, sao, Trong
số các tiếng này có lẽ chỉ hai tiếng à, ư là tiểu từ có tính chất vấn trung tính nhất (mặc dù đôi khi cũng có sắc thái “ngạc nhiên”), những tiếng còn lại dù dùng một mình tạo tính chất vấn hay dùng cùng với các phương tiện nghi vấn khác, đều thường kèm các sắc thái tình cảm rất tế nhị
Các ví dụ:
• Bộ mày sẽ chết nếu sống thiếu cô ấy à?
• Cầm lấy mà cút đi cho rảnh Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi à? (Chí Phèo-Nam Cao)
• Giờ này mà ông ấy đi nhậu chưa về ư ?
• - Chị Bơ bảo sao?
Trang 34- Còn bảo sao nữa! Bảo là tùy cô
- Vậy là xong à ?
( Nắng chiều của Nguyễn Khải )
• Khuya thế này mà cậu tìm con gái tôi hả/ hử/ sao ?
1.2.2.4 Câu chất vấn dùng quan hệ từ lựa chọn HAY (còn được
gọi là câu chất vấn lựa chọn)
Quan hệ từ HAY là quan hệ từ bình đẳng, nó được dùng trong câu chất vấn với mục đích là tìm khả năng trả lời bằng cách sử dụng một trong những ý chất vấn đã được người nói đưa ra Nếu khả năng được đưa ra trong câu chất vấn đều không được lựa chọn, thì người đối thoại
có thể trả lời bằng sự bác bỏ toàn bộ chúng hay bằng cách chất vấn ngược lại
• - Sao? Có nghe tôi nói không hay là nghe ai nói trong chiêm bao?
- Nghe chớ Nghe rất kỹ.(Tiếng hát và tiếng khóc-Trang Thế Hy)
• - Giờ con muốn ăn đòn hay là tự đi học?
- Con không muốn cái gì hết
• - Anh đi làm là vì vợ con hay vì các em ở quán càphê ?
- Thế em xem anh đi làm là vì ai ?
Ngoài các khuôn mẫu câu chất vấn lựa chọn có dùng quan hệ từ
“HAY”, có một số khuôn mẫu câu chất vấn lựa chọn vắng quan hệ từ
“HAY” như:
- có không ? tức là kiểu lựa chọn: có hoặc không ?
- có phải không? tức là kiểu lựa chọn: có phải hay không phải
?
- xong (hoặc rồi) chưa? tức là kiểu lựa chọn: đã xong hay chưa
xong?
Ví dụ:
Trang 35• Nó nói vậy có tức không ?
• Có phải con lại bỏ học đi chơi không ?
• Cậu luôn là người lề mề, cậu đã kết thúc mối tình vớ vẩn ấy chưa? …
Trên đây là các kiểu loại câu chất vấn cơ bản của tiếng Việt Ngoài
ra, các khuôn mẫu chất vấn này còn có thể thay đổi theo nhiều khuôn chất vấn khác nhau do tính biến động của trật tự từ tiếng Việt Các từ thay đổi trong một câu có thể vẫn theo một khuôn mẫu câu chất vấn nhất định, nhưng về ngữ nghĩa lại có thể khác ở sắc thái hay hàm ý nhấn mạnh nội dung chất vấn và cũng có thể trật tự từ thay đổi trong một câu chất vấn sẽ mang lại ý nghĩa hoàn toàn khác Đây là cái phức tạp của ngôn ngữ tiếng Việt mà ngay cả người Việt không am hiểu về ngôn ngữ dân tộc mình vẫn
có thể bị nhầm lẫn Điều này sẽ được nói rõ hơn qua việc tìm hiểu về ngữ nghĩa của HVCV ở chương tiếp theo
Trang 36về mặt cú pháp, ngữ nghĩa nghĩa học, việc hiểu rộng hơn về mặt ngữ nghĩa ngữ dụng của hành vi chất vấn trước là đối với tiếng mẹ đẻ sau là trên cơ sở đó so sánh với ngôn ngữ khác là việc làm hết sức cần thiết trong việc nghiên cứu sự đa dạng phong phú của ngôn ngữ cùng những hiệu dụng của nó trong giao tiếp nói chung, trong những phân ngành chuyên biệt nói riêng Xuất phát từ tính thiết thực của HVCV, chúng tôi mạnh dạn khảo sát nó dưới góc độ ngữ nghĩa ngữ dụng để bổ sung tính
Trang 37đa năng của ngôn ngữ trong lĩnh vực giao tiếp Trước hết, việc khảo sát HVCV bằng tiếng mẹ đẻ, tức tiếng Việt để làm cơ sở cho việc so sánh với ngôn ngữ khác, tức tiếng Anh theo yêu cầu của luận văn là điều tất yếu
2.2- Một số đặc điểm ngữ nghĩa của hành vi chất vấn tiếng Việt
2.2.1.1- Hành vi chất vấn để tìm nguyên nhân
• Tôi được biết đề án tin học hóa quản lý hành chính đã đầu tư vài chục tỉ đồng nhưng đến nay hiệu quả mang lại không cao Vậy nguyên nhân từ đâu ? Hướng tới Thủ tướng có giải pháp gì
không ?
( Những câu chất vấn trực tuyến gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng- báo Tuổi Trẻ – Chủ Nhật , ngày 4-2-2007.)
Trang 38• Vừa qua báo chí có nêu trường hợp ông Vũ Xuân Hồng và ông Nguyễn Bá Thanh có vi phạm tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, vậy tại sao vòng hiệp thương thứ ba họ vẫn được giới thiệu trong danh sách ứng cử ? ( Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn Yểu trả lời trực tuyến độc giả báo điện tử Đảng Cộng Sản VN và báo Tuổi Trẻ-thứ năm 3-5-2007.)
• Bộ Y tế đã ban hành tiêu chuẩn hàm lượng 3-MCPD cho phép
có trong nước tương (1mg/kg) Thực tế vẫn còn nhiều cơ sở vi phạm, sao không thấy bị xử phạt ? ( Ông Trần Văn Ký – phụ trách chuyên môn Hội Khoa học Kỹ thuật an toàn thực phẩm phía Nam – trả lời chất vấn Báo Tuổi trẻ - thứ bảy, ngày 27-1-
2007 )
• Số vụ tai nạn lao động chết người năm 2006 tăng 37 vụ so với năm 2005 Theo ông nguyên nhân do đâu? ( Ông Huỳnh Tấn Dũng-trưởng Ban thanh tra kỹ thuật an toàn – Bảo hộ lao động trả lời phỏng vấn Báo Phụ Nữ, ngày 26/3/2007)
• Vì sao việc bán thuốc lại không kiểm soát giá và chất lượng thuốc?
( Báo điện tử – Tuổi trẻ - chất vấn ông Trương Đình Trị – Bộ trưởng Bộ Y tế và xã hội.)
2.2.1.2- Hành vi chất vấn để tìm giải pháp
• Từ rất lâu, cuộc sống kinh tế của nhiều công chức nhà nước (kể
cả đảng viên) có hệ số lương từ 3 phẩy trở xuống luôn gặp khó khăn (Riêng tôi đến nay chỉ mới có hệ số lương là 2,6 qua 11 năm công tác) Chúng tôi không muốn vi phạm pháp luật để cải thiện tình hình (giả sử môi trường công tác có điều kiện để tham nhũng hay các mặt tiêu cực khác …), đồng thời cũng không muốn giảm sức chiến đấu trong công tác Thủ tướng có quan
Trang 39tâm vấn đề này không và có giải pháp nào để cải thiện vấn đề
• Ông có nói chống tham nhũng là việc cực kỳ khó khăn nhưng nếu có biện pháp thông minh và quyết liệt thì làm được Đó là biện pháp gì, thưa Phó thủ tướng ? ( Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng trả lời phỏng vấn Báo Tuổi trẻ - ngày thứ năm 06-7-2006.)
• Chương trình học còn quá nặng là nguyên nhân của tỷ lệ học sinh yếu kém cao và tình trạng dạy thêm học thêm chưa được giải quyết, Bộ trưởng có biện pháp gì để giải quyết? ( Báo Tuổi Trẻ - thứ năm ngày 9-6-2005)
• Các bệnh viện tuyến huyện hiện nay đang thiếu bác sĩ Các bác
sĩ có trình độ lại không làm việc ở bệnh viện công, hoặc chuyển công tác về thành phố Làm gì để khắc phục tình trạng thiếu bác
sĩ ?
(Đại biểu Quốc hội chất vấn chính phủ, trích báo tuổi trẻ – thứ
ba, ngày 20/11/2007.)
2.2.1.3- Hành vi chất vấn để xác định hay tìm thông tin
• Có phải là thầy cô và cha mẹ đã không quan tâm đúng mức trong việc cho trẻ học ngôn ngữ? ( Báo Phụ Nữ 20/3/2007 )
• Phó thủ tướng nghĩ gì về nạn chạy chức chạy quyền ? ( Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng trả lời phỏng vấn Báo Tuổi trẻ - ngày thứ năm 06-7-2006.)
Trang 40• Ngài là người lãnh đạo cao nhất của Việt Nam đến đây kể từ khi chiến tranh chấm dứt Chúng tôi bắt đầu từ cuộc gặp Tổng thống Bush, Ngài có thấy hài lòng không? ( Chủ tịch nước trả lời phỏng vấn của Hãng truyền hình CNN )
• Qua những gì đã chứng kiến và trải qua ở ASIAN CUP, các anh
có thấy bất ngờ về trình độ bóng đá của Châu Á không ?
(Báo chí phỏng vấn Tim Cahill và Aloisi – đội tuyển bóng đá Australia Nguồn ngữ liệu điện tử.)
2.2.2- Hành vi chất vấn có hiệu lực gián tiếp
Trong tiếng Việt, ngoài hình thức cấu tạo đa dạng, HVCV lại rất phong phú về nội dung ngữ nghĩa Người Việt Nam, theo truyền thống, luôn ý nhị trong lời nói, luôn giữ thể diện cho mình, nên khi giao tiếp, muốn biết hay thắc mắc một sự việc hoặc muốn bác bỏ một sự tình trái với lẽ thường, các đối tượng giao tiếp thường đưa ra những câu chất vấn bằng lối sử dụng nghĩa hàm ẩn ngữ dụng để buộc người nghe phải suy ý mới nắm bắt được nghĩa thực của lời nói, đồng thời làm tăng sức hấp dẫn cũng như sự nhập vào cuộc thoại của các nhân vật giao tiếp Và ý nghĩa thực của lời nói ở đây rất đa dạng Dựa vào ngữ cảnh giao tiếp, TGĐ nhất định kết hợp cùng với tính lịch sự cũng như với quan hệ cá nhân thích