1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ngữ pháp chức năng TỔNG THUẬT, ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA CAO XUÂN HẠO QUA CUỐN NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG TIẾNG VIỆT

26 308 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 168,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, có thể nói hầu như tất cả những lí thuyết quan trọng của thế giới đều đã có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, ở một mức độ nào đó và các nhà Việt ngữ học, mỗi người mỗi vẻ, đã đóng góp phần công sức của mình vào công cuộc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung. Và chúng ta không thể không nhắc đến GS. Cao Xuân Hạo với quyển sách Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt, phải thừa nhận rằng, cuốn sách của GS. Cao Xuân Hạo đã mang lại một luồng gió mới cho cả nền ngôn ngữ học nước nhà và hiện nay. Cuốn sách về ngữ pháp chức năng của GS. Cao Xuân Hạo xứng đáng được coi là một thành tựu, một dấu ấn trong chặng đường phát triển của Việt ngữ học. Bất cứ ai bước chân vào nghiên cứu ngôn ngữ học cũng có thể tiếp thu được nhiều điều bổ ích về tri thức cơ bản, về cú pháp học, đặc biệt là về phương pháp nghiên cứu.

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

Lớp : 18CVH

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Trần Văn Sáng

Đà Nẵng, tháng 6 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG……….……… ……… 4

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT CHUNG QUAN ĐIỂM CỦA CAO XUÂN HẠO VỀ NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG TIẾNG VIỆT 4

1.1 Quan điểm về ngữ pháp chức năng 4

1.2 Quan điểm về cấu trúc cú pháp câu của Tiếng Việt 5

1.3 Phân loại ngữ đoạn chức năng và từ loại tiếng Việt 7

1.3.1 Ngữ đoạn 7

1.3.1.1 Ngữ đoạn nội tâm và ngữ đoạn ngoại tâm 8

1.3.1.2 Ngữ đoạn chính phụ và ngữ đoạn đẳng lập 9

1.3.2 Từ loại Tiếng Việt 9

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM VỀ QUAN NIỆM CHỨC NĂNG CÓ HỆ THỐNG CỦA GS CAO XUÂN HẠO 11

2.1 Vai trò của cấu trúc Đề - Thuyết trong câu tiếng Việt 11

2.1.1 Cấu trúc Đề - Thuyết 11

2.1.2 Phương tiện đánh dấu Đề - Thuyết 12

2.1.3 Quan hệ giữa Đề -Thuyết 13

2.2.Cấu trúc và phương pháp phân tích của các ngữ đoạn trong câu 14

KẾT LUẬN 24

Tài liệu tham khảo 25

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, có thể nói hầu như tất cả những líthuyết quan trọng của thế giới đều đã có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu ngữ pháp tiếngViệt, ở một mức độ nào đó và các nhà Việt ngữ học, mỗi người mỗi vẻ, đã đóng góp phầncông sức của mình vào công cuộc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung Và chúng takhông thể không nhắc đến GS Cao Xuân Hạo với quyển sách Ngữ pháp chức năng TiếngViệt, phải thừa nhận rằng, cuốn sách của GS Cao Xuân Hạo đã mang lại một luồng giómới cho cả nền ngôn ngữ học nước nhà và hiện nay Cuốn sách về ngữ pháp chức năngcủa GS Cao Xuân Hạo xứng đáng được coi là một thành tựu, một dấu ấn trong chặngđường phát triển của Việt ngữ học Bất cứ ai bước chân vào nghiên cứu ngôn ngữ họccũng có thể tiếp thu được nhiều điều bổ ích về tri thức cơ bản, về cú pháp học, đặc biệt là

về phương pháp nghiên cứu

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT CHUNG QUAN ĐIỂM CỦA CAO XUÂN HẠO VỀ

NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG TIẾNG VIỆT 1.1 Quan điểm về ngữ pháp chức năng

Trào lưu ngữ pháp chức năng ra đời và phát triển mạnh trên khắp thế giới trongmười mấy năm gần đây sau khi ngữ pháp miêu tả và ngữ pháp sinh sản đã lộ rõ tất cả sựbất lực của nó, tận dụng và khai triển những thành tựu cơ bản của các khuynh hướngchức năng luận như trường Praha, tín hiệu học Ch.S.Peircc, trường Ngôn ngữ Á PhiLondon, của lí thuyết hành động từ J.L.Austin, đã ý thức được một cách triệt để chứcnăng giao tiếp và nội dung logic của ngôn ngữ mà xây dựng được cơ sở cho lý thuyếtngôn ngữ học có sức phát hiện và giải thích được những cơ chế hoạt động chung củanhân loại, và do đó mà có năng lực miêu tả được một cách chính xác các ngôn ngữ thuộc

đủ các loại hình Nó cho ta những phương tiện chưa từng có để khắc phục cái thói gò bótất cả các ngôn ngữ vào mô hình Châu Âu khiến ta không sao hiểu được cơ chế thực củanhững ngôn ngữ khác xa tiếng Châu Âu như tiếng Việt đó là một tệ nạn đã vô hiệu hoácông cuộc giảng dạy tiếng mẹ đẻ của ta hơn nữa thế kỷ nay và đã đưa nó vào ngõ cụt

Trong quyển: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1 của Cao Xuân Hạo (Đến năm

2004, công trình này đã được Nhà xuất bản Giáo dục tái bản), Cao Xuân Hạo đã xem xétcâu tiếng Việt trên ba bình diện là cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Về cú pháp, CaoXuân Hạo đã phủ nhận quan hệ chủ - vị trong câu tiếng Việt Cái mới mà “Sơ thảo” (tức

“Tiếng Việt- Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1” của Cao Xuân Hạo) mang lại là mộttinh thần chống chủ nghĩa “Dĩ Âu vi trung” trong nghiên cứu câu tiếng Việt, ông tự coimình là một “môn đệ” của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo tâm đắc và

cổ xúy mạnh mẽ cho lý thuyết về tính hình tiết (morphosyllacisme) Ông viết: “Nếuthuyết ấy đúng, thì có thể rút từ đấy ra một kết luận có ý nghĩa trong tiếng Việt, tiếng vừa

là âm vị, vừa là hình vị, vừa là từ, và nếu ta có thể hình dung một ngôn ngữ châu Âu nhưmột cơ chế hoạt động trên ba trục chính - âm vị, hình vị và từ - thì tiếng Việt dường nhưgộp ba cái trục ấy lại thành một trục hợp nhất, ấy là tiếng

Ông cho rằng, gần như tất cả những miêu tả ngữ pháp trong nhà trường lâu nay chỉ

là một sự rập khuôn máy móc ngữ pháp của tiếng Châu Âu, mà điển hình nhất là việc gáncho cấu trúc chủ vị cái cương vị là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt Theo tácgiả, cấu trúc chủ vị, như vẫn thường được hiểu, chỉ thích hợp cho việc miêu tả các thứtiếng Châu Âu Còn đối với một thứ tiếng như tiếng Việt, cái cấu trúc cú pháp cơ bản ấy

là một cấu trúc khác: cấu trúc Sở đề - Sở thuyết Hai thành tố của cấu trúc này tương ứngvới hai thành phần của một hành động nhận định hay hành động mệnh đề Trong tiếngViệt, ranh giới của Sở đề (gọi tắt là Đề) và Sở thuyết (gọi tắt là Thuyết) được đánh dấubằng khả năng thêm các tác tử thì, là, mà Cấu trúc của câu trần thuật được “chia hết” cho

Trang 5

hai thành phần Đề, Thuyết và câu có thể có một bậc Đề Thuyết hoặc có từ hai bậc ĐềThuyết trở lên

Cao Xuân Hạo cho rằng cách tiếp cận chức năng là thích hợp nhất để miêu tả ngữ pháptiếng Việt Cách tiếp cận chức năng nhìn thấy sự thống hợp của ba bình diện nghiên cứucâu là kết học, nghĩa học và dụng học, tuy nhiên đòi hỏi người nghiên cứu phải biết phânbiệt ba bình diện nghiên cứu này một cách tách bạch, không được lẫn lộn những sự kiệncủa bình diện này sang bình diện khác (đây, theo tác giả, vốn là một trong nhược điểmphổ biến ở các tác giả đi trước, chẳng hạn tình trạng dùng các đặc điểm nghĩa học để gánnhãn các thành phần cấu trúc của câu, vốn thuộc bình diện kết học)

Quan điểm của ông được nhiều người chia sẻ và có không ít người không đồngtình Bởi lẽ có nhiều giải pháp tiếp cận một đối tượng chứ đâu chỉ một, mỗi giải pháp có

ưu thế riêng và cũng có bất cập riêng Ngôn ngữ không có “duy nhất đúng” mà cần có sự

bổ khuyết Nhưng khoa học đôi khi lại có sự đổi thay chính từ một sự cực đoan nào đó.Đến năm 1998, Cao Xuân Hạo cho xuất bản một quyển sách khác, do ông làm chủ biên

Đó là quyển Ngữ pháp chức năng, quyển 1: câu trong tiếng Việt: cấu trúc ngữ nghĩa công dụng Quyển sách dựa này dựa trên nền tảng lý thuyết của quyển sách Tiếng Việt:

-Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1, được giản lược, dễ hiểu, dễ đọc hơn

Năm 2005, Nhà xuất bản Giáo dục đã cho xuất bản tiếp quyển Ngữ pháp chức năng tiếng

Việt, quyển 2: Ngữ đoạn và từ loại, do Cao Xuân Hạo làm chủ biên Quyển sách này đi

sâu hơn vào phân loại các loại ngữ đoạn chức năng và từ loại theo quan điểm ngữ phápchức năng

Như vậy, tính từ đầu nghiên cứu công trình có hệ thống xuất hiện vào năm 1991đến nay, việc nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ chức năng ởViệt Nam mới trải qua 18 năm Tuổi đời một nghành khoa học còn trẻ như thế thì chưathể nói đến những thành tựu rực rỡ nhất của nó Và nhìn chung, các công trình về ngữpháp chức năng hiện nay đều tiếp tục thu kết quả nghiên cứu của Cao Xuân Hạo

1.2 Quan điểm về cấu trúc cú pháp câu của Tiếng Việt

Cuốn sách của Cao Xuân Hạo cũng nêu lên hoặc đặt lại một loạt vấn đề cơ bảntrong nghiên cứu cú pháp: câu là gì, câu và các đơn vị của ngôn ngữ, cấu trúc chủ vị vàcấu trúc Đề Thuyết trong ngôn ngữ học hiện thời, cấu trúc nghĩa của câu, những vấn đề

về dụng pháp… Trong nghiên cứu cú pháp hiện đại, người nghiên cứu ngày nay khôngthể không bàn đến những vấn đề mà Cao Xuân Hạo đã nêu ra trong Sơ thảo (và trongnhững bài viết khác về sau) Sự cân đối và giản dị trong giải pháp dùng cấu trúc ĐềThuyết để miêu tả câu tiếng Việt là một trong những ưu điểm của tác giả

Hoạt động giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ được gọi là hoạt động ngôn từ Ngôn

từ có thể chia thành những đơn vị tách biệt ít nhiều gọi là những phát ngôn Phát ngônnhỏ nhất có thể dung trong giao tiếp là một câu, tuy thường thường một phát ngôn có thể

Trang 6

gồm nhiều câu Khi một người nói ra một câu hay một số câu hướng vào một người nghe

cụ thể, trong một tình huống cụ thể, nhằm mục đích tác động nhất định, ta có một hànhđộng phát ngôn

Tóm lại, ngôn từ thực hiện ý định tác động của người nói thông qua việc truyềnđạt những mệnh đề được tình thái hoá ít hay nhiều, cho nên câu, đơn vị tối giản của ngôn

từ có thể được định nghĩ là “sự thể hiện ngôn ngữ học của mệnh đề” Bình thường ta sẽnghĩ mệnh đề bằng những nhận định Nghĩ là thực hiện một hay một loạt nhận định kếtiếp nhau hoặc đi song song với nhau, trong đó có thể những nhận định được rút ra từnhững nhận định khác hay được bao hàm trong những nhận định khác

Nội dung của một nhận định có thể là nêu lên một phẩm chất (“tốt”, “xấu”, “dài”,

“ngắn”), hoặc một số lượng (“có nhiều”, “có ít”) hoặc một vị trí trong không gian (“ởphía đông”, “trong vườn”) hoặc trong thời gian (“xảy ra tuần trước”)…

Nhưng để cho một nhận định có được giá trị chân lý thì những nội dung nhận định đượcnêu lên phải có một phạm vi ứng dụng Chẳng hạn khi khen “rất tốt” cần phải nêu rõmình đang nghĩ về cái gì, ai, việc gì; khi nghĩ “sẽ rất đáng mừng”, đồng thời người taphải biết rõ cái tình huống mà nếu có thì sẽ đáng mừng như vậy…

Nôi dung của nhận định gọi là Sở thuyết (Praedicatum)

Phạm vi ứng dụng của nhận định gọi là Sở đề (Subjecttum)

Hai thành phần này được phản ánh trong câu bằng hai thành phần Đề (hay Đềngữ) và Thuyết (hay Thuyết ngữ) Cách tư duy của nhân loại chỉ có một, cho nên câu củabất kì ngôn ngữ nào cũng có hai phần Đề và Thuyết, tuy trong tình huống nhất định mộttrong hai phần đó có thể không thể hiện lên trên bề mặt Đó là khi cả người nói và ngườinge đều rõ mười phần cái phạm vi hay nội dung được đưa ra

Cao Xuân Hạo là người đầu tiên áp dụng một cách triệt để quan hệ đề - thuyết vàoviệc phân tích cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt Trong công trình “Tiếng Việt – Sơ thảoNgữ pháp chức năng” (1991) Cao Xuân Hạo cho rằng cần phải thay cách phân tích câutiếng Việt theo quan hệ chủ vị mà theo tác giả là đã được bê nguyên xi từ tiếng Pháp vàotiếng Việt do tư tưởng “dĩ Âu vi trung” bằng cách phân tích theo quan hệ đề - thuyết chophù hợp với đặc điểm loại hình của tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề Theo đó,câu với tư cách là đơn vị “thông báo một mệnh đề” hay “phản ánh một nhận định” đượccấu trúc hóa thành hai phần đề và thuyết, trong đó “đề là điểm xuất phát, là cái cơ sở, cáiđiểm tựa làm bàn đạp cho đà triển khai của câu” ở phần thuyết Với cách hiểu này, trongcấu trúc đề - thuyết của Cao Xuân Hạo, phần đề không chỉ bao gồm các chủ ngữ điểnmẫu (Tôi xem phim này rồi), chủ đề hay khởi ngữ (ví dụ, Tôi tên là Nam, Phim này tôixem rồi) mà cả những trường hợp các tác giả khác coi là trạng ngữ (Mai, mẹ về Ở đâymọi người đều làm việc), tình thái ngữ (Theo tôi, Nam thế nào cũng trúng cử), thànhphần câu ghép (Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy) hoặc bị gạt sang một bên như những

Trang 7

trường hợp ngoại lệ (Chó treo, mèo đậy Cần tái, cải nhừ) v.v Cách phân tích theo quan

hệ đề - thuyết như vậy được Cao Xuân Hạo không chỉ áp dụng cho câu mà cả ngữ đoạndưới câu là tiểu cú Mặc dù còn nhiều tranh cãi nhưng không thể không thừa nhận rằngcách phân tích cấu trúc câu theo quan hệ chủ -vị của Cao Xuân Hạo đã giải quyết đượchàng loạt các trường hợp bế tắc nếu phân tích theo quan hệ chủ vị (theo đánh giá củanhững người ủng hộ quan niệm này thì các câu kiểu này có thể lên tới 86%) và mở ra khảnăng ứng dụng vào việc dạy viết và chữa lỗi câu tiếng Việt cho người Việt và người nướcngoài theo một cách tiếp cận mới

Tuy nhiên, chấp nhận cách phân tích cú/ câu tiếng Việt theo cấu trúc đề - thuyếtnhưng lại loại bỏ hoàn toàn cấu trúc chủ - vị và các chức năng cú pháp truyền thống nhưchủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ…ra khỏi hệ thống ngữ pháp tiếng Việt chưa hẳn là một giải phápthỏa đáng, đặc biệt khi xem xét vấn đề dưới góc độ loại hình và phổ niệm ngôn ngữ Bởi

vì, thứ nhất, giải pháp này vạch ra một ranh giới quá rạch ròi, thậm chí gần như đối lậpgiữa tiếng Việt và các ngôn ngữ được coi là chỉ có chủ đề mà không có chủ ngữ với cácngôn ngữ chỉ có chủ ngữ mà không có chủ đề, một sự đối lập mà ngay cả các tác giả đềxuất phân biệt các loại hình “thiên chủ ngữ” và “thiên chủ đề” cũng chưa nói tới Thứ hai,nếu xem xét cấu trúc chủ - vị dưới góc độ lí thuyết điển mẫu, chúng ta có thể thấy rằng cóhàng loạt các câu tiếng Việt tương ứng với câu có cấu trúc chủ - vị trong các ngôn ngữkhác, mặc dù giữa chúng có thể khác nhau về hình thức đánh dấu hay trật tự từ, và đóchính là cơ sở cho các nghiên cứu về loại hình học hình thái cách (phân biệt các ngôn ngữđối cách với các ngôn ngữ khiển cách, tuyệt cách, tam phân hay trung hòa) hay loại hìnhtrật tự từ (phân biệt các ngôn ngữ SVO, SOV, VOS, v.v) mà tiếng Việt không phải là mộtngoại lệ về mặt loại hình Thứ ba, nếu đối lập một cách triệt để cách phân tích cú phápcâu tiếng Việt với câu của các ngôn ngữ khác sẽ tạo ra những khó khăn nhất định về mặtứng dụng, đặc biệt là trong việc dạy và học ngoại ngữ cũng như dạy và học tiếng Việtnhư một ngoại ngữ

1.3 Phân loại ngữ đoạn chức năng và từ loại tiếng Việt

c Mai và ngày kia nghỉ học

d Ai mà tham thì người ấy bị thâm

Trang 8

e Mấy con bồ câu gù khe khẽ trên mái nhà

Các ngữ đoạn làm Đề (Mẹ tôi, Mai và ngày kia, Ai mà tham, Mấy con bồ câu) vàthuyết (về nhà, mưa to, nghỉ học, người ấy bị thâm, gù khe khẽ trên mái nhà) có thể phântích ra thành những ngữ đoạn nhỏ hơn, nghĩa là thành những bộ phận thuộc bậc thấp hơn,

có chức năng biểu hiện một cái gì đó trong sự tình và có quan hệ cú pháp và ngữ nghĩavới nhau

Khác với các ngữ đoạn làm Đề trong các câu a Mẹ tôi, b Mai và ngày kia, c Ai

mà tham, ngữ đoạn bồ câu trong câu e tuy gồm hai tiếng, lại không thể phân tích thànhhai ngữ đoạn ở bậc thấp hơn vì giữa bồ và câu không có quan hệ cú pháp

Trong các ngữ đoạn mai, ngày kia và ai, tham đều có những chức năng cú pháp biểu hiệnmột bộ phận nào đó của sự tình được phản ánh trong câu Ngoài ra còn có những tiếngkhông làm thành ngữ đoạn: và, mà Những tiếng này có chức năng cú pháp khác, khôngthể hiện một bộ phận nào của sự tình Chức năng cú pháp này là báo hiệu của sự phângiới giữa các ngữ đoạn/ hợc cho thấy rõ mối quan hệ cú pháp giữa các ngữ đoạn Đó làtác tử cú pháp (những hư từ, theo thuật ngữ truyền thống)

Ngữ đoạn là những bộ phận của câu có chức năng cú pháp nhất định biểu hiện những vainghĩa nhất định

=> Cấu trúc cú pháp của câu hình thành do một hay nhiều ngữ đoạn có bậc cao thấp khácnhau có thể được liên kết lại bằng những tác tử cú pháp

1.3.1.1 Ngữ đoạn nội tâm và ngữ đoạn ngoại tâm

Ngữ đoạn nội tâm là ngữ đoạn có trung tâm nằm ở bên trong ngữ đoạn Trung tâm củamột ngữ đoạn là yếu tố quy định tính cách ngữ pháp của toàn ngữ đoạn: ngữ đoạn nộitâm bao giờ cũng mang tính cách ngữ pháp của yếu tố làm trung tâm cho nó

Đây là những ngữ đoạn nội tâm Ngữ đoạn a mang tính cách ngữ pháp của danh từ

xe (chẳng hạn có thể làm bổ ngữ cho một vị từ); đó là một ngữ danh từ Ngữ đoạn bmang tính cách ngữ pháp của vị từ đi (chẳng hạn làm Thuyết cho một câu); đó là một ngữ

vị từ Ngữ đoạn c mang tính cách ngữ pháp của vị từ đi và vị từ đứng; đó là một ngữ vị từ

có hai trung tâm Ngữ đoạn d và ngữ đoạn e chỉ có một trung tâm

Ngữ đoạn ngoại tâm là ngữ đoạn không có một trung tâm có tính cách ngữ phápcủa cả ngữ đoạn

Ví dụ: Các ngữ đoạn sau:

Trang 9

a Trên thuận (trong trên thuận dưới hòa)

b của đau (trong của đau con xót)

c từ đây

d tại Hà Nội

Đây là những đoạn ngoại tâm, không có yếu tố nào có được tính cách ngữ phápcủa cả đoạn ngữ Trên thuận và của đau là những tiểu cú (Những tiểu cấu trúc Đề -Thuyết) Tính cách ngữ pháp này không hệ coi trọng bất cứ yếu tố nào làm thành phầncấu tạo của hai ngữ đoạn này Trong từ đây, và tại Hà Nội cũng không có từ nào có tínhcách ngữ pháp của toàn ngữ đoạn - Tính cách trạng ngữ

1.3.1.2 Ngữ đoạn chính phụ và ngữ đoạn đẳng lập

Trong ngữ đoạn “xe đạp”, ta có một quan hệ chính phụ giữa trung tâm xe và phụngữ của nó là đạp Trong ngữ đoạn “đi xe” ta cũng có một quan hệ chính phụ giữa trungtâm đi và phụ ngữ của nó là xe

Trong ngữ đoạn “đi đứng” ta có một quan hệ đẳng lập giữa hai ngữ đoạn cùngbậc: đi và đứng

Xét về thực chất một ngữ đoạn đẳng lập không phải là một cấu trúc cú pháp có bậccao hơn những ngữ đoạn được kết hợp lại để tạo nên nó Các ngữ đoạn kết hợp ấy là cácyếu tố song hành cùng có quan hệ cú pháp như nhau với một ngữ đoạn khác nhiều hơn là

có quan hệ cú pháp với nhau, ngay cả khi chúng có quan hệ nghĩa khăng khít với nhaunhư một thành ngữ

1.3.2 Từ loại Tiếng Việt

Trong các ngôn ngữ có hình thái có thể căn cứ vào hai tiêu chí hình thức để xácđịnh thái độ cú pháp của từ:

- Cách biến hình và sử dụng phụ tố

- Cách phân bố (trước và sau các thực từ và hư từ)

Trong các ngôn ngữ không có hình thái học, hay ít nhất không dùng hình thái họcnhư một phương tiện cú pháp, chỉ có thể căn cứ vào tiêu chí thứ hai là cách phân bố

Trong các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, điều duy nhất có thể quan sát trực tiếpđược trong thái độ cú pháp của các từ là cách phân bố ở những vị trí, những ô của nótrong một chu cảnh X-Y nhất định Nó thường được miêu tả bằng nhận định có nội dunglà:

Trang 10

Trước và sau có nghĩa là ngay trước và ngay sau, vì nếu cách quãng thì tiêu chínày không thể nào sử dụng được với một kết quả có giá trị

Ví dụ cách phân bố của đã (… rồi), đang và chưa trong những chu cảnh sau đây:

a Tôi đã già Nay con đã già dặn Cái này đã cũ

b *Tôi đã trẻ.*Nay con đã nhỏ dại.* Cái này đã mới

c Cha tôi đang trẻ Con đang nhỏ lại cái này đang cũ

d *Cha tôi đang già.*Con đang già dặn.*Cái này đang cũ

e Ông tôi chưa già Con chưa lớn khôn Cái này chưa cũ

f *Ông tôi chưa trẻ.*Con chưa nhỏ dại.*Cái này chưa mới

Những sự kiện trên đây cho thấy rõ những nét nghĩa, hàm nghĩa và tiền giả địnhcủa ba từ như sau:

Đã

a Thời gian: lúc phát ngôn (hoặc cái lúc được lấy làm mốc trong quá khứ hay tươnglai)

b Trạng thái được nhận định là hiện thực

c Trước đó / trước đây chưa hiện thực

Đang

a Thời gian: lúc phát ngôn (hoặc cái lúc được lấy làm mốc)

b Trạng thái được nhận định là hiện thực

c Sau đó / Sau này nó có thể không còn hiện thực nữa

Chưa

a Thời gian: lúc phát ngôn (hoặc cái lúc được lấy làm mốc)

b Trạng thái được nhận định là hiện thực

c Sau đó / Sau này nó có thể thành hiện thực

Chính những nét trên đây cắt nghĩa tại sao ba từ đang xét chỉ có thể xuất hiệntrước một số từ này mà không thể xuất hiện trước một số từ khác

Trang 11

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM VỀ QUAN NIỆM CHỨC NĂNG CÓ HỆ

THỐNG CỦA GS CAO XUÂN HẠO 2.1 Vai trò của cấu trúc Đề - Thuyết trong câu tiếng Việt

Em gái tôi không thích ăn kẹo

Giá cả hợp lí thì nên mua

Ngày đẹp trời thì nên ra ngoài

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Cấu trúc mệnh đề: Sở Đề Sở Thuyết

Cấu trúc câu: Đề Thuyết

Như vậy, một câu hoàn chỉnh sẽ thể hiện được cấu trúc mệnh đề trở thành mộtphát ngôn có giá trị, được tiếp nhận như một lời nói trong giao tiếp

- Trật tự Đề Thuyết trong câu thông thường tuân thủ Đề trước Thuyết sau Đề trong câuhay Sở Đề trong mệnh đề là điểm xuất phát, điểm mốc trong tư duy người nói và đượcdùng để thể hiện cách thông báo sự kiện Sự thay đổi trật tự Đề Thuyết sẽ làm thay đổinghĩa của câu, mặc dù đều nhận định về một hiện tượng

Ví dụ:

Thằng Minh thấp hơn thằng Tuấn (1)

Thằng Tuấn cao hơn thằng Minh (2)

Cùng để miêu tả so sánh về chiều cao của Tuấn và Minh, song câu (1) đứng điểmmốc là Minh để so sánh còn ở câu (2) đứng ở điểm mốc là Tuấn để so sánh Do đó, haicầu nêu cùng một sự tình nhưng tính chất tập trung làm sáng tỏ cho đối tượng chủ thể lạikhác nhau

Máy tính Nhật bền lắm (3)

Đề Thuyết

Nhật máy (Đ) bền lắm (T) (4)

Đề Thuyết

Trang 12

Sự phân bố từ ngữ thay đổi dẫn đến sự thay đổi về ý nghĩa thông báo Câu (3)nhằm nói đến máy tính của Nhật Câu (4) nhằm đánh giá về Nhật Do xuất phát điểmkhác nhau nên sự tình trong câu cũng khác nhau

- Nếu chỉ có phần Đề thì chưa thành câu và không xác định được nội dung thông báo.Nếu chỉ nói phần Thuyết mà người nghe vẫn hiểu thì phải đặt phần thuyết vào một ngữcảnh, một tình huống giao tiếp cụ thể Ví dụ: - An đã đi Hà Nội bao giờ chưa? – Chưa -Cái này giá bao nhiêu? - Năm ngàn đồng

2.1.2 Phương tiện đánh dấu Đề - Thuyết

Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, một câu được chia ra hai phần: phần Đề

và phần Thuyết Để phân tích được câu theo cấu trúc này, có thể dựa vào nhiều tiêu chí.Tuy nhiên, đơn giản nhất là dựa vào tiêu chí trên ba phương tiện Đó là ba chỉ tố đánhdấu sự phân chia đề - thuyết là thì, là, mà Quả thực trong hội thoại, các phát ngôn chứarất nhiều các tác tử thì, là, mà,… do vậy, việc phân tích khá đơn giản Còn trong các vănbản văn học, nhất là các văn bản khoa học thì các từ tác tử này sẽ ít hoặc không xuất hiện

Về mặt lý thuyết, chúng ta có thể thêm các từ này vào để làm ranh giới phân chia đề thuyết, song việc làm này mang tính chất cảm tính Việc xác định phần đề, phần thuyết lệthuộc rất nhiều vào ngữ cảnh Thêm vào đó, trong những câu có chứa cả thì và là, ranhgiới xác định đề - thuyết không nhất quán, có lúc dựa vào thì, có lúc dựa vào là

-Đầu tiên, xét hư từ là Đây vừa là hệ từ, trợ từ và liên từ, xuất hiện nhiều trong cáccâu được phân tích theo lý thuyết đề - thuyết Từ phân giới Đ – T trong các câu định tínhhay câu đẳng thức Ta dễ dàng bắt gặp các cấu trúc câu có dạng “danh - là danh” Chonên hệ từ là vừa là dấu hiệu nhận diện vừa là dấu hiệu phần giới đề Thuyết

Tiếp theo, từ mà cũng là một hư từ đa chức năng Nhưng chức năng cơ bản nhấtvẫn là phần giới hai vế đề - thuyết “Mà” thường phân giới một cấu trúc Đ - T bậc thấphơn câu (bậc thành phần câu) Ngoài ra nó còn có các chức năng sau:

- Ý nghĩa bộc lộ sự ngạc nhiên

Ví dụ: Nó mà học giỏi ư?

- Hoặc bộc lộ sự nghi vấn

Ví dụ: Nó mà đánh nhau hả?

- Có khi lại làm liên từ tương phản

Ví dụ: Trời đã mưa mà bố chưa về

Cũng như hai hư từ trên, thì là hư từ có chức năng tách biệt đề với thuyết, trong batác tử này, thì có công dụng điển hình Trong ngữ pháp tiếng Việt, thì chỉ có một chứcnăng duy nhất ấy Nếu có thể chêm “thì” vào một chỗ chấp nhận được trong câu thì đó làranh giới Đề - Thuyết của câu: Đề trước, Thuyết sau Không chỉ vậy, hư từ thì còn để:

- Nhấn mạnh

Ví dụ: Lúc đó thì có trời cũng bó tay.

Trang 13

- Xuất hiện làm liên từ trong các câu ghép điều kiện

Ví dụ: Nếu bố chưa về thì mẹ con ta đi tìm bố.

Dù sao, phân tích câu theo cấu trúc Đề - Thuyết vẫn là một phương pháp mới, khôngquen thuộc với người học, do vậy, thông thường người học hay suy từ cấu trúc

2.1.3 Quan hệ giữa Đề -Thuyết

Giữa Đề - Thuyết là một quan hệ cú pháp phản ánh một quan hệ logic giữa Sở đề

và Sở Thuyết của một nhận định Quan hệ về nghĩa rất đa dạng, dưới đây là một số quanđiểm của Cao Xuân Hạo đã chỉ ra một vài quan điểm tiêu biểu Các vai nghĩa được thựchiện trong quan hệ với một trung tâm hoặc với một bộ phận của Đề hoặc Thuyết

Vai nghĩa do Đề thực hiện do Thuyết thực hiện

(1) Chủ thể a Mẹ đã về b Ngồi bên phải là anh tôi

(2) Đối thể a Bệnh nhân A đã mổ xong b Nó ăn nhiều nhất là kẹo sữa

(3) Nơi chốn a Ở đây thì không tiện b Họ gặp nhau lần đầu ở Yên Bái.(4) Công cụ a Nồi đồng nấu ốc b Nấu ếch thì phải nồi đất

(5) Điều kiện a Nhiều no ít đủ b Mây vàng thì gió, mây đỏ thì mưa.(6) Định tính a Hổ là loài ăn thịt b Trốn tránh là hèn

Ngoài ra, trong quan hệ đẳng thức, nghĩa của Đề và Thuyết được coi là tươngđương với nhau về một phương diện nào đấy

Cần chú ý rằng, trong một câu đẳng thức, nếu hoán vị Đề và Thuyết ta sẽ đượcmột câu đẳng thức khác, không đồng nghĩa với câu ban đầu Để thấy rõ được sự thay đổi

đó ta có thể nhìn nhận qua ví dụ sau:

(a) Phê bình không phải là mạt sát

(a’) Mạt sát không phải là phê bình

Sau cùng phải nói đến một quan hệ ẩn giữa Đề và Thuyết, nghĩa là giữa hai thànhphần này có những quan hệ về nghĩa không lộ ra trên bề mặt của câu Những nghĩa ẩn ấyphải từ kinh nghiệm cuộc sống, kinh nghiệm ngôn ngữ của người bản ngữ mà nhận ra, cókhi khá vòng vo

Ví dụ:

a Mưa trắng, nắng đen

b Của đau, con xót

Câu a có nghĩa là: khi đi đường vào ban đêm, nếu trời mưa thì phải tránh nhữngchỗ trắng, nếu trời nắng thì phải tránh những chỗ đen, vì những chỗ ấy có nước

Câu b có nghĩa là: nếu của cải bị thiệt hại thì ta đau, khi con cái bị thương thì taxót

Ngày đăng: 29/08/2021, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w