Chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật chế độ tài sản pháp định Với chế độ tài sản này, pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các lo
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
NGUYỄN DUY THÀNH BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Kon Tum, ngày 20 tháng 6 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN & GIA ĐÌNH VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : Nguyễn Thị Anh Thư SINH VIÊN THỰC HIỆN : Nguyễn Duy Thành
Kon Tum, ngày 20 tháng 6 năm 2019
Trang 3i
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT………ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ VĂN PHÒNG LUẬT SƯ SÀI GÒN AN NGHIỆP 3
1.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển 3
1.2 Lĩnh vực hoạt động của Văn phòng Luật sư Sài Gòn An Nghiệp 3
1.3 Cơ cấu tổ chức 5
1.4 Nội quy, quy chế làm việc của Văn phòng Luật sư Sài Gòn An Nghiệp 5
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 6
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIẾM, Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 6
2.1.1 Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng 6
2.1.2 Đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng 6
2.1.3 Ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng 7
2.2 CÁC LOẠI CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 7
2.2.1 Chế độ tài sản dựa trên sự thoả thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) 7
2.2.2 Chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định) 7
2.3 KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ 8
2.3.1 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến 8
2.3.2 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc 9
2.3.3 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ của nước ta từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay 12
2.4 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG 16
2.4.1 Chế độ tài sản theo luật định 18
2.4.2 Chế độ tài sản theo thỏa thuận 33
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG, GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG TẠI VĂN PHÒNG LUẬT SƯ SÀI GÒN AN NGHIỆP 40
3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG 40
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG LUẬT HN&GĐ HIỆN HÀNH 42
3.2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng 42
3.2.2 Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng 44
3.2.3 Về hình thức của văn bản chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận 45
3.2.4 Về điều kiện có hiệu lực của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận 45
KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DLGYNK : Dân luật Giản yếu Nam kỳ
HN&GĐ : HN&GĐ
HVLL : Hoàng Việt luật lệ
HVTKHL : Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
QTHL : Quốc triều hình luật
Trang 51
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, diện mạo của gia đình
đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất sang tiêu dùng Kinh tế xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, mối quan hệ trong gia đình vì thế cũng gặp những thuận lợi và thách thức Khi hai người nam nữ quyết định kết hôn với nhau, tức là
họ đã lựa chọn cho mình một con đường mới với rất nhiều bổn phận, nghĩa vụ và quyền lợi, trong đó có quyền lợi và nghĩa vụ về tài sản Quan hệ hôn nhân là một quan hệ đặc thù, theo đó, quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng cũng là một loại quan hệ đặc biệt Chính vì vậy, pháp luật về quan hệ tài sản của vợ chồng đã giành được nhiều sự quan tâm
và không ngừng được hoàn thiện qua các thời kỳ
Chế độ tài sản của vợ chồng là một chế định quan trọng của pháp luật HN&GĐ Luật Hôn nhân và gia đình đã đưa ra các quy định về vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; vấn đề chia tài sản chung và hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng; quyền thừa kế tài sản giữa vợ chồng Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định phụ thuộc chặt chẽ vào sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, tập quán của đất nước Những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã có từ lâu, được các nhà làm luật lựa chọn theo thời gian và ngày càng thêm hoàn thiện
Cho nên việc hiểu biết pháp luật vừa là công cụ vừa là phương tiện giúp các cá nhân, tổ chức có thể thực hiện tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong cuộc sống cũng như trong gia đình Tuy nhiên, không phải cứ hiểu hết pháp luật, nắm rõ luật là có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong thực tế, số người nắm rõ luật và
có thể tự đứng lên bảo vệ cho mình rất ít vì họ sợ không đủ trình độ để tự chứng minh bảo vệ và lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật
Chính vì vậy, trong cuộc sống họ cần tư vấn pháp luật để có thể giải quyết được nhu cầu pháp lý của mình: Như nhà ở, đất đai, HN&GĐ… Hay khi sảy ra tranh chấp về quyền cũng như lợi ích của họ bị xâm phạm thì họ cần có người đứng lên đại diện cho họ đòi lại quyền lợi cho mình khi họ không có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình trước pháp luật Cũng như khi quyền về tính mạng, sức khỏe của mình bị xâm phạm, những quyền và lợi ích hợp pháp khác theo quy định pháp luật của họ bị xâm phạm Khi đó cần người hiểu rõ pháp luật và có trình độ thay mặt họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
họ, tư vấn pháp lý cho họ Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao này thì các Văn phòng luật
sư và các Công ty luật ra đời
Xuất phát từ những lý do trên, cũng như mong muốn được hiểu biết về hoạt động của các văn phòng luật sư, công ty luật hoạt động trong thực tế nên em đã chọn Văn phòng Luật sư Sài Gòn An Nghiệp để thực tập Với kiến thức được tích lũy trên lớp, em
xin chọn đề tài “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam” nhằm tìm
hiểu và đi vào thực tế hoạt động giải quyết các vấn đề phát sinh trong chế độ tài sản của
vợ chồng
Đề tài kết cấu gồm 3 phần:
Trang 62
Chương 1: Tổng quan về văn phòng luật sư sài gòn an nghiệp
Chương 2: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về chế độ tài sản của
vợ chồng
Chương 3: Thực tiễn áp dụng, giải quyết chế độ tài sản vợ chồng tại Văn phòng
Luật sư Sài Gòn An Nghiệp
Để hoàn thiện tốt đề tài này, trước hết, em xin cảm ơn Trưởng Văn phòng Luật sư Sài Gòn An Nghiệp và các anh chị, nhân viên của Văn phòng đã nhiệt tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu, hồ sơ và chỉ dạy những kinh nghiệm quý báu trong quá trình em thực tập lại văn phòng
Trang 73
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN PHÒNG LUẬT SƯ SÀI GÒN AN NGHIỆP
1.1 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển
Đáp ứng nhu cầu hội nhập của nước ta trong những năm gần đây, đặc biệt là khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, Quốc hội ban hành và sửa đổi pháp luật cho phù hợp với thực tế, trong đó có Luật luật sư theo đó ban hành quy định phù hợp với các loại hình luật sư trên thế giới, nhằm giúp cho pháp luật của chúng ta thi hành một cách triệt để
và chuyên nghiệp đồng thời cũng góp phần đáp ứng được yêu cầu Quốc tế trong tiến trình hội nhập đó là : “Minh bạch trong vấn đề pháp luật”
Văn phòng luật sư Sài Gòn An Nghiệp thành lập từ năm 2017 do Luật sư- Tạ Văn Nghiệp làm trưởng văn phòng
Tên doanh nghiệp: VĂN PHÒNG LUẬT SƯ SÀI GÒN AN NGHIỆP
Mã số thuế: 6101230466
Nơi đăng ký quản lý: Chi cục Thuế Thành phố Kon Tum
Địa chỉ: Số nhà 52 Bà Triệu, Phường Thắng Lợi, Thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum
1.2 Lĩnh vực hoạt động của Văn phòng Luật sư Sài Gòn An Nghiệp
- Tư vấn pháp luật doanh nghiệp:
Tư vấn lựa chọn loại hình doanh nghiệp, thành lập doanh nghiệp; tư vấn và biên tập ngành nghề kinh doanh; tư vấn mức vốn điều lệ và cơ cấu góp vốn; tư vấn bộ máy điều hành, quản trị nội bộ; tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh; tư vấn chuyển đổi doanh nghiệp; tư vấn cơ cấu lại doanh nghiệp; tư vấn pháp luật trong kinh doanh
- Tư vấn về hợp đồng thương mại- dân sự:
Tư vấn quy định pháp luật về hợp đồng Đánh giá tính hợp pháp của hợp đồng về chủ thể, nội dung, năng lực ký kết, thực hiện hợp đồng của đối tác khách hàng; nhận tham gia cùng khách hàng đàm phán, thương lượng, thẩm định nội dung của bản dự thảo hợp đồng trước khi giao dịch với đối tác; soạn thảo hợp đồng, tư vấn các vấn đề pháp lý liên quan
Trang 84
- Tư vấn pháp luật về đất đai – xây dựng:
Tư vấn việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tư vấn việc cấp đổi giấy tờ về đất đai, nhà ở, công trình trên đất; tư vấn tách thửa, chuyển mục đích sử dụng đất; tư vấn việc thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; tư vấn hình thức sử dụng đất của tổ chức kinh tế, cá nhân, tổ chức nước ngoài khi đầu tư sinh sống tại Việt Nam; tư vấn điều kiện, hình thức sở hữu nhà của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài đang làm ăn, sinh sống ở Việt Nam; tư vấn giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp tài sản trên đất, tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất v.v…
- Tư vấn pháp luật lao động:
Văn phòng cũng cung cấp các hoạt động tư vấn trong nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến lao động của Việt Nam, như thảo các hợp đồng lao động, các quy định làm việc trong công ty, thoả ước lao động tập thể để ký giữa công ty và công đoàn của công ty, các vấn đề liên quan đến luật pháp và các chế độ chính sách của nhà nước về tiền lương, thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội, tuyển dụng và sa thải lao động, cũng như chế độ bồi thường khi chấm dứt hợp đồng lao động, cũng chế độ bồi thường khi chấm dứt hợp đồng lao động,…Văn phòng có nhiều kinh nghiệm trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại toà án trong các vụ tranh chấp hợp đồng lao động
- Tư vấn về pháp luật dân sự - hôn nhân gia đình:
Tư vấn pháp luật liên quan đến việc thực hiện, bảo vệ quyền nhân thân, tài sản công dân; tư vấn pháp luật quốc tịch, hộ tịch, cư trú; tư vấn pháp luật thừa kế; tư vấn pháp luật bảo vệ quyền sở hữu, quyền bất động sản liền kề; tư vấn việc kết hôn, ly hôn, chia tài sản
vợ chồng thời kỳ hôn nhân sau ly hôn (kể quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài); tư vấn pháp luật thực việc dân tuyên bố người tích/chết, tuyên bố mất/hạn chế lực hành vi dân sự; Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam định, bản án dân sự nước ngoài
- Về tranh tụng, Văn phòng Luật sư Sài Gòn An Nghiệp cung cấp dịch vụ luật sư tranh tụng - giải tranh chấp cấp Toà án, bao gồm:
Tư vấn cách thức giải tranh chấp, đánh giá điểm mạnh điểm yếu bên tranh chấp; Đưa phương án cụ thể có lợi trình đàm phán, hòa giải (nếu có); Hướng dẫn tư vấn cho khách hàng trình tự thủ tục khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách chủ thể soạn đơn khởi kiện gửi đến Tòa án có thẩm quyền; Tiến hành điều tra thu thập chứng - tài liệu, kiểm tra đánh giá chứng - tài liệu để trình trước Tòa; Tham gia tố tụng với tư cách luật sư bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho thân chủ tòa án cấp vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh - thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân gia đình; Tham gia tố tụng với tư cách đại diện ủy quyền- nhân danh khách hàng thực tất phương án cách thức theo quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp khách hàng cách tốt cấp tòa xét xử
Với những lĩnh vực hoạt động rộng như vậy, Văn phòng có thể đáp ứng hầu hết những yêu cầu pháp lý của mọi chủ thể Từ khi thành lập với tên là Văn phòng Luật sư
Trang 95
Sài Gòn An Nghiệp thì văn phòng đã trợ giúp pháp lý cho rất nhiều chủ thể trong nhiều lĩnh vực từ tư vấn pháp lý cho cá nhân, pháp nhân đến tranh tụng tại toà để giúp các đương sự thực hiện quyền công dân của họ Có thể nói tranh tụng là hoạt động chủ yếu của văn phòng
1.3 Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức Văn phòng Luật sư Sài Gòn An Nghiệp 1.4 Nội quy, quy chế làm việc của Văn phòng Luật sư Sài Gòn An Nghiệp
Điều 1: Thời gian làm việc
Thời gian làm việc là 8 giờ / ngày, từ thứ 2 đến thứ 7
Sáng: 7h40′ đến 11h45′
Chiều: Từ 13h30′ đến 17h20′
Có chế độ làm ngày chủ nhật khi cần thiết
Có thể trực thêm giờ khi có khách bất ngờ đến muộn
Điều 2: Tác phong và đạo đức
Không làm việc riêng trong giờ hành chính
Nhân viên phải mang giầy, dép xăng đan, áo sơ mi có cổ, hoặc đồng phục, bảo hộ lao động do văn phòng cấp
Trung thực và có tinh thần trách nhiệm cao, tận tâm đào tạo nhân viên mới
Điều 3: An toàn lao động
Không hút thuốc lá, uống bia, rượu hoặc đánh bài bạc
Tuân thủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an toàn điện
Không mang vật dụng dễ cháy nổ hoặc hung khí vào văn phòng
Mọi nhân viên ra ngoài trong giờ làm việc phải thông báo với cấp trên
Điều 4: Quản lý tài sản
Trừ khi được giao trách nhiệm trực, không tự ý vào kho hàng
Mọi nhân viên mang tài sản văn phòng ra ngoài cần được sự đồng ý của trưởng văn phòng
Có ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài sản chung
Không tự ý sử dụng tài sản riêng của người khác
Trưởng văn phòng
Trang 106
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIẾM, Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
2.1.1 Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng được dự liệu xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự phát triển của xã hội, do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập, chế độ tài sản của vợ chồng được quy định phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá của đất nước Các nhà làm luật đã quan tâm xây dựng các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng, cơ bản nhất của pháp luật HN&GĐ
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ
2.1.2 Đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng Vợ, chồng với tư cách là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ HN&GĐ, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình, tham gia các giao dịch dân sự Vì vậy, chế độ tài sản của vợ chồng có những đặc điểm riêng biệt sau:
Thứ nhất, chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này phải có đầy đủ năng
lực chủ thể và phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật HN&GĐ
Thứ hai, quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở tạo điều
kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của
vợ chồng
Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân
Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng trong việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể, như quyền định đoạt tài sản bị hạn chế trong một
Trang 117
số trường hợp (ví dụ, nếu tài sản riêng đang là nguồn sống duy nhất của cả gia đình, khi định đoạt liên quan đến tài sản này thì phải có thoả thuận của hai vợ chồng)
2.1.3 Ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật về HN&GĐ Nhìn vào chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật của Nhà nước, người ta có thể nhận biết được trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội (tính khách quan) và ý chí của Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội đó (tính chủ
quan)
Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có ý nghĩa nhằm xác
định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình
Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng của chế độ tài sản còn nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng Từ đó, là cơ sở pháp lý để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và với những người khác trong thực tế
2.2 CÁC LOẠI CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ ở mỗi quốc gia được quy định gắn liền với các điều kiện kinh tế - xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những quy định khác biệt về tài sản của vợ chồng Tuy nhiên, về cơ bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới đã quy định có hai chế độ tài sản của vợ chồng đó là chế độ tài sản theo sự thoả thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và chế độ tài sản theo quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định)
2.2.1 Chế độ tài sản dựa trên sự thoả thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định)
Đây là loại chế độ tài sản dựa trên sự thoả thuận của vợ chồng (hôn ước) Miễn sao
sự thoả thuận đó không trái với trật tự công cộng, với đạo đức, với thuần phong mỹ tục
và những quy định của pháp luật
Hệ thống pháp luật về HN&GĐ của Nhà nước ta từ năm 1945 đến Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định về loại chế độ tài sản này Hiện nay, Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung quy định về áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thoả thuận”
2.2.2 Chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định)
Với chế độ tài sản này, pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của
vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan tới các khoản nợ chung hay nợ riêng của vợ, chồng
Trang 128
2.3 KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
2.3.1 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến
Xã hội phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo, trong đó có các quan niệm về HN&GĐ Các quy định về HN&GĐ chiếm một vị trí quan trọng trong các văn bản luật, tiêu biểu nhất là hai bộ luật: Quốc triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức - thời Lê) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long - thời Nguyễn) Theo các nhà nghiên cứu, chế độ tài sản của vợ chồng không được quy định như một chế định riêng rẽ và cụ thể Trong Quốc triều hình luật (QTHL) đã thiết lập một chế độ tài sản tương đối bình đẳng giữa vợ và chồng, quyền bình đẳng về tài sản thể hiện qua các quyền
sở hữu tài sản của vợ và chồng đối với tài sản chung và tài sản riêng
Nguồn tài sản gồm có:
Tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình chồng (phu điền sản);
Tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình vợ (thê điền sản);
Tài sản chung do hai vợ chồng cùng kiếm được sau khi lấy nhau (tần tảo điền sản) Toàn bộ tài sản trong gia đình được hợp thành một khối Mặc dù Bộ luật Hồng Đức
và Bộ luật Gia Long không trực tiếp đề cập đến việc quản lý tài sản trong gia đình, nhưng quy định tại các Điều 374, 375, 376 của Bộ luật nhà Lê đã gián tiếp thừa nhận năng lực bình đẳng của vợ chồng trong việc quản lý tài sản của gia đình Các văn cố lập dưới thời
Lê cho thấy các định đoạt quan trọng đối với tài sản như bán, tặng cho, cầm cố, lập chúc thư, do hai vợ chồng cùng thực hiện, các văn tự đều do hai vợ chồng cùng ký
Với tư cách là người chủ gia đình, người chồng có quyền quản lý và sử dụng tài sản của gia đình nhưng phải xuất phát vì lợi ích của gia đình, nếu làm tổn hại đến tài sản của gia đình thì người vợ có quyền phản đối
Trong Bộ luật cũng thừa nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu tài sản riêng Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản có trước khi kết hôn, được thừa kế từ gia đình mỗi người Đối với tài sản này vợ, chồng đều có quyền sở hữu riêng, mặc dù tài sản này được quản
lý chung bởi vợ chồng và các lợi tức từ tài sản đó mang lại là tài sản chung, nhưng tài sản này chỉ tạm thời gộp lại để vợ chồng quản lý trong thời gian hôn nhân Như vậy, có thể hiểu tài sản riêng của vợ và chồng thì cả hai đều có quyền chiếm hữu, sử dụng trong thời gian hôn nhân nhưng không có quyền định đoạt đối với tài sản riêng của người khác Do
đó, khi họ ly hôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó và họ có quyền mang theo trừ trường hợp ly hôn do vợ gian dâm Việc thừa nhận vợ có quyền sở hữu tài sản riêng là điểm đặc sắc của pháp luật phong kiến nhà Lê và tạo cho người vợ có vị thế ngang bằng nhất định với người chồng
Tuy nhiên, sự bất bình đẳng trong quan hệ tài sản của vợ chồng theo quy định của
Bộ luật Hồng Đức thể hiện ở chỗ trong trường hợp người chồng chết trước, nếu người vợ lấy chồng khác thì người vợ mất quyền hưởng hoa lợi từ tài sản của người chồng đã chết; nhưng ngược lại, nếu người vợ chết trước thì mặc dù người chồng lấy vợ khác, nhưng vẫn được hưởng hoa lợi từ tài sản của người vợ đã chết
Trang 139
Đến thế kỷ XIX, Bộ luật Gia Long cho phép người chồng có toàn quyền chuyển nhượng tài sản của gia đình, vấn đề tài sản giữa vợ và chồng hầu như không được Luật Gia Long đề cập tới, người vợ phải phụ thuộc người chồng một cách tuyệt đối Quy định này xuất phát từ chỗ Bộ luật Gia Long đã sao chép máy móc các quy định của Nhà Thanh
và đã làm hạn chế quyền tài sản của người vợ so với các quy định tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức
Qua nghiên cứu các quy định liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng trong QTHL và HVLL có thể thấy rằng, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong thời
kỳ phong kiến là chế độ cộng đồng toàn sản, với nội dung toàn bộ tài sản mà vợ, chồng
có được từ trước khi kết hôn hoặc do vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng, khối tài sản chung này được sử dụng vào mục đích là nuôi dưỡng, giáo dục các con, để lại cho các con khi cha, mẹ chết Tài sản chung của vợ chồng bao gồm các tài sản là động sản (QTHL gọi là phù vật) và các bất động sản (điền sản) Trong đó điền sản được coi là tài sản chủ yếu, chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong khối tài sản chung của vợ chồng Nó có ý nghĩa thiêng liêng và thể hiện trật tự giữa các thành viên trong gia đình
2.3.2 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc
Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp ban hành ở nước ta ba Bộ luật dân sự áp dụng cho ba miền:
- Ở Bắc Kỳ áp dụng BLDS năm 1931 (DLBK);
- Ở Trung Kỳ áp dụng BLDS năm 1936 (DLTK);
- Ở Nam Kỳ cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (DLGYNK)
Trong cả ba Bộ dân luật nói trên đều có phần quy định về HN&GĐ, trong đó có chế
độ tài sản vợ chồng
Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ có 5 tiết nói về hôn thú, ly dị, phụ hệ, nuôi con nuôi
và phụ quyền; không có quy định về hôn sản, di sản và tư sản Thời kỳ đầu các án lệ của Nam Kỳ có công nhận người vợ có của riêng và chế độ hôn nhân theo tục lệ là cộng đồng tạo sản Nhưng sau đó các án lệ lại đổi hướng không công nhận quyền có tài sản riêng của người vợ, với lập luận rằng nếu công nhận chế độ cộng đồng tài sản tức là đã gán cho người vợ những quyền ngang hàng với quyền của người chồng, trong khi đó trong gia đình, người vợ chỉ có địa vị của một người con gái
Chế độ hôn sản được áp dụng tại Nam Kỳ theo các nguyên tắc:
Người vợ không có của riêng, do đó không thể có cộng đồng tài sản giữa vợ và chồng Toàn thế tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu và quyền quản lý của người chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết Trong trường hợp
vợ chết thì chồng là chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của gia đình do hiệu lực của hôn nhân chứ không phải là hưởng gia tài của người vợ; nhưng nếu người chồng chết thì người vợ chỉ có quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản gia đình trong khi còn ở goá
Trang 14- Các bất động sản đã ban cấp riêng cho người vợ;
- Các bất động sản có được trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù các bất động sản đó đứng tên người vợ khi mua
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong thời Pháp thuộc ở Nam
Kỳ là rất bất công đối với người vợ, nhất là khi tài sản mà vợ tạo ra được do hành nghề riêng trong thời kỳ hôn nhân vẫn phải coi là thuộc tài sản của người chồng
Tuy nhiên, án lệ cũng công nhận trong một số trường hợp thì những tài sản sau đây được coi là tài sản riêng của vợ:
- Các đồ tư trang của người vợ;
- Tài sản người vợ có được do được gia đình vợ tặng cho hoặc được hưởng di sản của gia đình vợ;
- Bất động sản đã ghi rõ tên vợ là chủ sở hữu trong sổ địa bộ
Do các án lệ đã công nhận chồng là chủ sở hữu đối với tài sản của gia đình nên trong việc quản lý tài sản, người chồng có thể một mình đứng ra thực hiện các giao dịch
và thu nhận hoa lợi; nếu con nợ vay tiền của vợ thì có thể trả nợ đó cho người chồng Ngược lại, người vợ không được ký kết các hợp đồng một mình và người chồng có quyền khiếu nại để phủ nhận hợp đồng đó Là chủ sở hữu đối với tài sản của gia đình, người chồng có thể một mình ký kết để chuyển dịch động sản và bất động sản Trên thực tế, mỗi khi chồng bán hoặc tặng cho bất động sản thì người vợ cũng thường ký cùng chồng vào các giấy tờ, nhưng các án lệ không coi đó là một thể thức có giá trị pháp lý
Tại Bắc và Trung Kỳ, ảnh hưởng của BLDS Pháp (1804) thể hiện trong việc nhà làm luật dự liệu chế độ tài sản ước định và áp dụng nguyên tắc bất di, bất dịch của chế độ tài sản của vợ chồng theo hôn khế Điều 104 DLBK quy định:
Về đường tài sản, pháp luật chỉ can thiệp đến đoàn thể vợ chồng là khi nào vợ chồng không có tuỳ ý lập ước riêng với nhau mà thôi, miễn là ước riêng ấy không được trái với phong tục và không được trái với quyền lợi người chồng là người chủ trương trong đoàn thể Tiếp đó, Điều 105 quy định: Phàm tư ước về tài sản giá thú phải làm thành chứng thư tại trước mặt, hoặc do Lý trưởng thị thực, mà phải làm trước khi khai giá thú Đã khai giá thú rồi thì không được thay đổi gì nữa
Quy định chế độ tài sản ước định này lần đầu tiên được dự liệu trong hệ thống pháp luật Việt Nam theo quan niệm của nhà làm luật tư sản là không phù hợp với tục lệ và truyền thống của gia đình người Việt Nam, nên mặc dù được hai bộ DLBK và DLTK dự liệu, các cặp vợ chồng thường không thoả thuận lựa chọn loại chế độ tài sản ước định này
Trường họp vợ chồng không thoả thuận lập hôn khế khi kết lập giá thú, DLBK và DLTK đều dự liệu một chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho họ, đó là chế độ cộng
Trang 1511
đồng toàn sản Theo tục lệ của người Việt Nam thì mọi tài sản trong gia đình đều là tài sản chung và đều để dành cho con cháu Các quy định trong hai Bộ Dân Luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật cũng chấp nhận tục lệ này Điều 106 DLBK và Điều 104
DLTK quy định: “Nếu hai vợ chồng không lập hôn ước riêng thì hai người đã theo chế
độ cộng đồng toàn sản, gồm tất cả của cải và hoa lợi của chồng cũng như của vợ”
Vợ hoặc chồng có thể có của riêng trước khi kết hôn, nhưng kể từ khi kết hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân thì các tài sản riêng đó (bao gồm cả động sản và bất động sản) hợp nhất thành khối tài sản chung Tuy nhiên, đó chỉ là sự hợp nhất tạm thời trong thời kỳ hôn nhân Chỉ có những tài sản do hai vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mới
là tài sản chung chính thức Khi hôn nhân chấm dứt thì các tài sản riêng của vợ chồng đã được hợp nhất tạm thời vào khối tài sản chung lại được tách ra để chia theo nguyên tắc của ai thì người đó lấy lại, còn các tài sản chung thì được chia đôi cho vợ và chồng Việc xác định tài sản chung của vợ và chồng ở thời kì này được quy định Điều 107 DLBK và Điều 105 DLTK Như vậy, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân (cả động sản và bất động sản) đều là tài sản chung của vợ chồng Để phân biệt được động sản hoặc bất động sản nào là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng, thì căn cứ vào việc đăng ký hoặc có chứng thư xác nhận nguồn gốc của tài sản đó Đối với các động sản không được đăng ký và cũng không có chứng thư xác nhận nguồn gốc thì Toà án suy đoán là tài sản chung của vợ chồng; nếu vợ hoặc chồng muốn khiếu nại đó là tài sản riêng của mình thì phải chứng minh
Theo Điều 111 Bộ DLBK và Điều 109 HVTKHL, tất cả các khoản nợ của chồng,
dù vay từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt là do ký kết hợp đồng hoặc do hành vi phạm pháp mà gây ra thì đều phải coi là nợ của hai vợ chồng
và do khối cộng đồng phải gánh chịu Mặc dù các món nợ do hành vi phạm pháp của người chồng gây ra không được quy định rõ trong hai bộ dân luật, nhưng theo đạo lý thì phải trích từ khối tài sản chung của gia đình để thanh toán
Về việc quản lý tài sản của gia đình, theo Điều 100, Điều 111 DLBK và Điều 98, Điều 109 DLTK quy định đối với các nhu cầu của gia đình thì vợ hoặc chồng đều có thể đại diện cho gia đình để giao dịch và được trích từ khối tài sản của gia đình để chi dùng Theo quy định tại Điều 109 Bộ DLBK và Điều 107 HVTKHL vợ chồng muốn sử dụng tài sản chung thì phải có sự ưng thuận của vợ và của chồng, chồng có quyền sử dụng các động sản mà không cần phải có sự đồng ý của vợ, miễn là việc sử dụng đó đem lại lợi ích cho gia đình; việc ưng thuận của người chồng phải được thể hiện bằng văn bản,
có chữ ký của người chồng, còn việc ưng thuận của người vợ thì chỉ cần là sự ưng thuận công nhiên hoặc mặc nhiên không cần phải ghi chép hoặc giấy tờ Quy định này cũng nói lên sự bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng khi định đoạt các tài sản của gia đình Ngoài
ra, pháp luật còn cho phép người chồng có đặc quyền được thực hiện các giao dịch mua bán bất động sản và các bất động sản chung của gia đình (chỉ trừ bất động sản riêng của người vợ) mà không cần phải có sự tham gia hoặc ưng thuận của người vợ, miễn là việc mua bán đó đem lại lợi ích cho gia đình (Điều 109)
Trang 1612
Để bảo vệ khối tài sản của gia đình, các Bộ dân luật đều có quy định trong trường hợp người vợ một mình thực hiện các giao dịch cho gia đình mà lạm dụng quyền đó thì người chồng có quyền thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyền của người vợ (Điều 100) Ngược lại, trong trường hợp người chồng không chu cấp để nuôi dưỡng vợ con hoặc phá tán tài sản của gia đình thì người vợ có quyền xin Toà án cấm người chồng sử dụng kỷ phần của mình, và tất cả các tài sản do nghề nghiệp riêng của vợ tạo ra Trong trường hợp này, Toà án có thể cho phép người vợ được quản lý, hưởng dụng các tài sản
đó (Điều 110)
Khi ly hôn, nếu người vợ không có con thì được lấy lại kỷ phần của mình bằng hiện vật và được nửa của chung Nếu là vợ thứ thì không được dự phần của chung, chỉ được lấy lại tài sản riêng ( Điều 112),
Trong trường hợp vợ chồng ly dị mà có con thì pháp luật quy định sẽ không thanh toán tài sản Điều 112 Bộ DLBK quy định trong trường họp này, người vợ được hưởng một phần từ khối tài sàn chung, phần đó nhiều hay ít tuỳ thuộc vào sự đóng góp của người vợ đã là tăng khối tài sản chung và do Toà án quyết định; nếu người vợ thông gian
mà bị ly hôn thì phần đó sẽ bị bớt đi 1/2; Người vợ bị ly hôn bao giờ cũng có quyền lấy lại các đồ tư trang, phục sức của mình Tuy nhiên, Bộ HVTKHL quy định phần của người vợ khi vợ chồng ly hôn mà có con bằng 1/3 khối tài sản chung, nếu người vợ thông gian mà bị ly dị thì bị mất cả quyền lợi về tài sản chung (Điều 110)
Khi người chồng chết mà người vợ không tái giá, của chung vẫn để nguyên, người
vợ goá được thay quyền chồng quản lý tài sản chung
Nếu người vợ chết trước, người chồng thành sở hữu tất cả tài sản chung kể cả kỷ phần của người vợ
Vợ thứ được giữ quyền sở hữu và quản lý, hưởng thụ cùng định đoạt tài sản riêng của mình
2.3.3 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ của nước ta từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay
Giai đoạn 1945 - 1954
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, do điều kiện lịch sử xã hội, Nhà nước
ta chưa thể ban hành ngay một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Các quan hệ dân luật và HN&GĐ từ năm 1945 - 1950 vẫn được điều chỉnh bởi ba văn bản luật (DLBK, DLTK, DLGYNK) do thực dân Pháp ban hành trước năm 1945 (theo sắc lệnh số 90-SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã cho phép áp dụng pháp luật cũ một cách chọn lọc; miễn sao không trái với lợi ích của chính thể Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và lợi ích của nhân dân lao động)
Năm 1946 Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã khẳng
định quyền bình đẳng giữa nam và nữ Hiến pháp quy định: “Đàn bà ngang quyền với
đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên khẳng định quyền
bình đẳng giữa nam và nữ và cũng chính là cơ sở pháp lý xác nhận quyền bình đẳng giữa
vợ và chồng
Trang 1713
Đến năm 1950, Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh quan hệ HN&GĐ, đó là sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Một
trong những nội dung của hai sắc lệnh này là thể hiện nguyên tắc “nam nữ bình đẳng” và nguyên tắc “người chồng và người vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” Đây là những
quy định mới và tiến bộ góp phần đáng kể vào việc xoá bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu, nói lên quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng trong đó có quan hệ về tài sản
Sắc lệnh số 97/SL quy định:“Trong lúc con sinh thời người chồng goá hay vợ goá,
các con đã thành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung” (Điều 11), trong khi sắc lệnh số 90/SL đã cho phép
vận dụng pháp luật cũ có chọn lọc Theo đó, ta suy luận: Mặc dù sắc lệnh số 97/SL không
có điều nào quy định về thành phần tài sản chung của vợ chồng thì chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng theo tinh thần của các sắc lệnh trên là chế độ cộng đồng toàn sản (chế độ tài sản này đã được áp dụng theo DLBK và DLTK)
Sắc lệnh số 159/SL quy định:“Hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về
việc nuôi dạy con, mỗi bên tuỳ theo khả năng của mình” (Điều 6) Theo đó, khi ly hôn,
tài sản chung của vợ chồng phải được chia tuỳ theo khả năng của mồi bên vợ, chồng phải cùng có nghĩa vụ trong việc nuôi dạy con
Như vậy, sắc lệnh số 97/SL và sắc lệnh số 159/SL đã góp phần quan trọng vào việc xoá bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Nội dung của hai sắc lệnh đã thể hiện tính dân chủ và tiến bộ của một nền pháp chế mới
Giai đoạn 1954 - 1975
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt Miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh thống nhất nước nhà Vì vậy, pháp luật được áp dụng trong giai đoạn này ở hai miền là khác nhau, trong đó có chế độ HN&GĐ
- Ở miền Bắc, Sắc lệnh số 97/SL và sắc lệnh số 159/SL tuy góp phần vào việc xoá
bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu nhưng không còn đáp ứng được tình hình mới Việc xây dựng và ban hành một đạo luật mới về HN&GĐ là một tất yếu khách quan Vào thời gian này, bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được Quốc hội thông qua vào năm 1959 Hiến pháp năm 1959 đã quy định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt, là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ HN&GĐ mới XHCN Vì vậy, cùng thời gian này, Luật HN&GĐ năm 1959 đã ra đời và có những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng
Theo Luật HN&GĐ năm 1959, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng
toàn sản quy định: “vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử đụng ngang nhau
đối với tài sản có trước và sau khi cưới’’ (Điều 15) Nghĩa là toàn bộ các tài sản của vợ
chồng dù có trước khi kết hôn hoặc được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; dù vợ, chồng
Trang 1814
được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc cả hai vợ chồng được tặng cho chung hay thừa kế chung, không phân biệt nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Luật không thừa nhận vợ, chồng có tài sản riêng Vợ, chồng
có quyền bình đẳng ngang nhau khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung và luôn
có kỷ phần bằng nhau trong khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất đó Có hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là khi vợ, chồng chết trước (Điều 16) và khi vợ chồng ly hôn (Điều 29) Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên vào tình hình tài sản Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất
- Ở miền Nam, hệ thống các văn bản pháp luật HN&GĐ được ban hành bao gồm:
+ Luật gia đình ngày 2/1/1959 (Luật số 1 - 59) dưới chế độ Ngô Đình Diệm
+ Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng
+ Bộ dân luật ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu
Về chế độ tài sản của vợ chồng, cả ba văn bản luật này đều dự liệu chế độ tài sản ước định, cho phép vợ chồng ký kết với nhau một hôn ước thoả thuận về vấn đề tài sản từ trước khi kết hôn, miễn là sự thoả thuận bằng hôn ước đó không trái với trật tự công cộng, thuần phong mỹ tực và quyền lợi của con Trong trường hợp hai vợ chồng không lập hôn ước với nhau về tài sản thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ
quy định của pháp luật BLDS Sài Gòn năm 1972 quy định: “Luật pháp chỉ quy định chế
độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước tuỳ ỷ muốn, miễn không trải với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục ” ( Điều 144,
145), Điều 45 LGĐ; Điều 49 sắc luật số 15/64 cũng quy định tương tự, về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì LGĐ năm 1959 đã dự liệu chế độ cộng đồng toàn sản, còn sắc luật số 15/64 và BLDS năm 1972 dự liệu chế độ cộng đồng động sản và tạo sản với những thành phần tài sản, phạm vi quản lý, định đoạt tài sản và việc phân chia tài sản chung của vợ chồng có những nội dung khác nhau Cả ba văn bản luật này vẫn bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng trong gia đình, quan hệ bất binh đẳng về tài sản giữa
vợ và chồng vẫn tồn tại trong pháp luật và trong thực tế
Giai đoạn từ 1975 đến nay
Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, cả nước thống nhất, trước thực tế đó đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật XHCN thống nhất trên cả hai miền Nam - Bắc, trong đó có pháp luật về HN&GĐ Ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 76/CP, quy định về việc thực hiện pháp luật thống nhất trong phạm vi cả nước, trong đó có Đạo luật số 13 về HN&GĐ (Luật HN&GĐ năm 1959)
Quá trình thực hiện và áp dụng Luật HN&GĐ năm 1959 đã góp phần xoá bỏ những tàn tích lạc hậu của chế độ HN&GĐ phong kiến, thực hiện chế độ HN&GĐ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Tuy nhiên, đến những năm 1980 nền kinh tế xã hội nước ta đã có những thay đổi căn bản, ảnh hưởng sâu sắc tới vấn đề thực hiện và áp dụng pháp luật, trong đó
có pháp luật về HN&GĐ Việc áp dụng Luật HN&GĐ năm 1959, một số điều không phù hợp Việc ban hành Luật HN&GĐ mới là một tất yếu khách quan Trước thực tế đó, năm
Trang 19cộng đồng toàn sản mà Luật HN&GĐ năm 1959 áp dụng Điều 14 quy định: “Tài sản
chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung ”
Bên cạnh khối tài sản chung của vợ chồng, Luật HN&GĐ năm 1986 đã ghi nhận
vợ, chồng có quyền có tài sản riêng quy định: “Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có
trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng” (Điều 16)
Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, Luật HN&GĐ năm 1986 đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung, quy định rõ mục đích sử dụng tài sản chung của
vợ chồng nhằm đảm bảo những nhu cầu chung của gia đình: “Vợ, chồng có quyền và
nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Việc mua bán, cho, đổi, vay mượn và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của hai
vợ chồng ” (Điều 15)
Về chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài hai trường hợp như Luật HN&GĐ năm 1959: Chia khi một bên vợ, chồng chết trước (Điều 17) và khi vợ, chồng ly hôn (Điều 42), Luật HN&GĐ năm 1986 còn quy định thêm chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại (Điều 18) Đây là quy định mới, xuất phát từ thực tiễn của đời sống xã hội và với mục đích bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, chồng cũng như của những người có lợi ích liên quan (người thứ ba) đến tài sản chung của vợ chồng Ngoài
ra, trong Luật HN&GĐ năm 1986 còn quy định “nguyên tắc chia đôi tài sản chung’’ của
Giống với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 của Nhà nước ta cũng không dự liệu về chế độ tài sản ước định giữa vợ chồng Chế độ cộng đồng tài sản pháp định mà Luật HN&GĐ năm 2000 quy định là chế độ cộng đồng tạo sản, áp dụng cho các
Trang 2016
cặp vợ chồng Cũng như Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về phạm vi thành phần khối tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó; các trường hợp chia tài sản chung và hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng
Khác với Luật HN&GĐ năm 1959 và năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 có quy định về việc đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng; các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng được cụ thể hơn, khắc phục một số điểm hạn chế khi dự liệu
về chế độ tài sản của vợ chồng góp phần điều chỉnh kịp thời những phát sinh trong đời sống HN&GĐ Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng Sự không minh bạch này gây hậu quả không an toàn cho các giao dịch dân sự liên quan đến người thứ ba Luật chủ yếu đề cập đến vấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ 2000 chỉ quy định một chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản pháp định có một số hạn chế, như: Quy định của luật 2000 không bảo đảm quyền tự định đoạt của chủ sở hữu tài sản Về nguyên tắc, mỗi cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu và theo ý chí của mình, miễn sao không xâm phạm lợi ích của người khác, không trái với đạo đức xã hội; Việc chỉ áp dụng một chế độ hôn sản pháp định cho tất cả các trường họp không đáp ứng được nhu cầu của một số cặp vợ chồng Thực tế, có những trường hợp mà hai người kết hôn muốn tất cả tài sản mà mỗi bên có trước khi kết hôn cũng như trong thời kỳ hôn nhân đều
là tài sản chung; ngược lại, có những trường hợp mà người kết hôn có nhiều tài sản riêng
có nguồn gốc từ gia đình mình hoặc vì lý do kinh doanh riêng nên muốn thực hiện một chế độ tách riêng tài sản và thoả thuận với nhau về việc đóng góp cho đời sống chung của gia đình Xuất phát từ những lý do đó, Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành đã giải quyết được một số vấn đề bất cập của Luật HN&GĐ năm 2000 và bổ sung nội dung chế
độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận
2.4 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VỢ CHỒNG
Trước khi Luật HN &GĐ năm 2014 ra đời, pháp luật HN&GĐ của Việt Nam qua các thời kỳ chỉ ghi nhận một loại chế độ tài sản của vợ chồng duy nhất là chế độ tài sản
vợ chồng theo luật định Qua thực tiễn áp dụng cho thấy, việc chỉ quy định chế độ tài sản
vợ chồng theo luật định đã không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, đồng thời không đảm bảo tôn trọng quyền của vợ chồng trong việc định đoạt tài sản
Do đó, giống như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Luật HN&GĐ Việt Nam năm
2014 đã quy định hai loại chế độ tài sản trong quan hệ tài sản của vợ chồng Đây là một trong những điểm mới quan trọng của Luật HN&GĐ năm 2014 Việc áp dụng hai loại chế độ tài sản này được quy định tại Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2014
Điều 28, đã chỉ rõ hiệu lực áp dụng của các quy định chung là áp dụng bắt buộc cho chế độ tài sản của vợ chồng Các quy định này được thực hiện sẽ đảm bảo chế độ tài sản
Trang 21Nội dung của những quy định chung bao gồm: quy định về các loại chế độ tài sản của vợ chồng; việc lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng; nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng; giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng kỷ quyền sở hữu, quyền sử dụng Nguyên tắc về chế độ tài sản của vợ chồng được Luật HN&GĐ 2014 quy định tại Điều 29 Trong đó, mục đích của nguyên tắc thứ nhất (quy định lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập) chính là để bảo vệ quyền lợi cho người vợ, chồng không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà thực hiện công việc nội trợ của gia đình, chăm lo cho cuộc sống của con cái và các thành viên khác trong gia đình Nguyên tắc này sẽ đảm bảo quyền và lợi ích pháp của họ, đặc biệt là khi vợ, chồng thực hiện chế
độ tách riêng tài sản (tài sản do bên nào làm ra thuộc quyền sở hữu riêng của bên đó) thì
họ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán cho mình một phần giá trị tài sản tương đương với công sức đóng góp của mình dành cho việc nội trợ và chăm sóc gia đình
Nguyên tắc thứ hai thể hiện sâu sắc nhất tinh thần của Luật HN&GĐ năm 2014 khi thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là phải bảo đảm lợi ích chung của gia đình Cùng với nguyên tắc này, Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định thêm về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
Điều này đã khẳng định vợ, chồng có quyền tự mình thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, đồng thời cũng xác định trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ phát sinh từ những giao dịch này đối với người vợ, chồng không thực hiện giao dịch
Nguyên tắc thứ ba xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ, chồng Trong trường hợp một bên vợ, chồng không tuân thủ những quy định chế độ tài sản của
vợ chồng, gây thiệt hại cho người kia như tự ý dùng tài sản chưng nhằm đáp ứng nhu cầu
cá nhân của riêng bản thân mình đánh cờ bạc, tẩu tán tài sản hoặc tự ý tặng cho người khác , thì người kia có quyền yêu cầu bồi hoàn cho khối tài sản chung Nếu như gây thiệt hại đến tài sản riêng của bên kia thì người vợ chồng gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường
Trang 2218
Ngoài ra, quy định chung về chế độ tài sản của vợ chồng còn đề cập đến những vấn
đề như: giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng và giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sỡ hữu, quyền
sử dụng Cụ thể là, trong trường hợp nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng thì khi thực hiện việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà đó phải có sự thỏa thuận của vợ chồng Đối với nhà ở thuộc sở hửu riêng của vợ, chồng, thì vợ, chồng vẫn được bảo đảm thực hiện quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến nhà
đó, tuy nhiên phải đảm bảo chổ ở cho vợ chồng Điều này cũng thể hiện rất rõ tinh thần đảm bảo lợi ích chung của gia đình trong Luật HN&GĐ năm 2014 Bởi lẽ, đối với gia đình nhà ở là một vấn đề vô cùng quan trọng, cần thiết sự ổn định, nhà ở không chỉ là nơi
ở của vợ, chồng mà còn có các thành viên khác trong gia đình, con cái cần phải có nơi để sinh sống và đảm bảo những điều kiện tốt nhất để phát triển
Đối với các giao dịch liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà pháp luật không quy định phải đăng ký quyền sở hữu , quyền sử dụng, khi giao dịch với người thứ ba ngay tình, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình và tạo thuận lợi cho vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch,
do vậy những nguyên tắc suy đoán đã được đặt ra tại Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2014 Theo đó, người thứ ba (gồm có ngân hàng, công ty chứng khoán hoặc người có giao dịch với vợ, chồng) được phép suy đoán rằng chủ tài khoản chính là người có quyền định đoạt những tài sản có trong tài khoản Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật về tài chính, ngân hàng trong việc xác định chủ tài khoản là người duy nhất có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản của họ Nguyên tắc suy đoán trên vừa tạo điều kiện cho vợ, chồng trong việc tự do thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản,
mà không phải đưa ra các tài liệu chứng minh về quyền định đoạt tài sản Đồng thời, vừa
có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thứ ba Khi đó, người thứ ba không cần thiết phải biết về tinh trạng hôn nhân hay chế độ tài sản của người ký kết giao dịch với mình
Tương tự như vậy, đối với tài sản là động sản mà không thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu thì người thứ ba được phép suy đoán người vợ, chồng đang chiếm hữu tài sản là người có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản đó
Nguyên tắc này chỉ có hiệu lực trong quan hệ giữa một bên là vợ, chồng với bên kia
là người thứ ba Còn trong quan hệ giữa hai vợ, chồng thì vợ chồng phải tuân theo các quy định của Luật HN &GĐ hoặc theo chế độ tài sản thỏa thuận của vợ, chồng
2.4.1 CHẾ ĐỘ TÀI SẢN THEO LUẬT ĐỊNH
a Tài sản chung của vợ chồng
Căn cứ xác lập tài sản chung vợ chồng
Để cuộc sống chung của vợ chồng được duy trì, một trong những yếu tố quan trọng nhất là việc tạo lập tài sản để nuôi sống gia đình Việc xác định tài sản chung của vợ chồng được quy định tương đối đầy đủ, cụ thể, căn cứ để xác định tài sản chung của vợ
Trang 2319
chồng dựa trên hai cơ sở là “thời kỳ hôn nhân ” và “nguồn gốc tài sản” Vấn đề này
được quy định tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014
Quy định về tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014 là sự kế thừa Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 về xác định tài sản chung của vợ chồng căn cứ vào thời
kỳ hôn nhân (tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân); nguồn gốc tài sản; thỏa thuận của vợ chồng và nguyên tắc suy đoán Vậy, căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
Tài sản chung của vợ chồng được xác lập trong thời kỳ hôn nhân
Theo khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời
gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân
” Như vậy, việc xác định tài sản chung của vợ chồng sẽ được tính từ ngày đăng ký kết
hôn đến ngày phán quyết ly hôn của Toà án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết Tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được tạo thành từ các nguồn gốc sau:
- Những tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng
Hành vi tạo ra tài sản là một trong những chức năng chính để nuôi sống gia đình Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sức trong việc tạo lập tài sản để duy trì cuộc sống
và đảm bảo cho gia đình tồn tại Hành vi tạo ra tài sản là việc vợ chồng tạo ra tài sản bằng chính sức lao động của mình dựa trên công việc hoặc nghề nghiệp chuyên môn của mình Vợ chồng có thể trực tiếp tạo ra tài sản như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc thông qua các hợp đồng với người khác như hợp đồng lao động, mua bán tài sản nhằm tạo ra thu nhập đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của gia đình
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng là việc hưởng thành quả lao động do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh theo tính chất nghề nghiệp, công việc, chuyên môn
mà vợ chồng thực hiện Tài sản chung từ thu nhập hợp pháp của vợ chồng thường là tiền lương, tiền công lao động, tài sản thu được qua hoạt động sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lợi nhuận thu được thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh
Ngoài các thành phần nêu trên trong khối tài sản chung của vợ chồng còn có các khoản thu nhập khác được quy định cụ thể tại Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ CP Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung thêm điểm mới khi quy định về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng, đó là: các hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng thuộc sở hữu chung của vợ chồng Các hoa lợi, lợi tức
từ tài sản, do việc khai thác tự nhiên hoặc khai thác pháp lý: cây con sinh ra từ cây mẹ, gia súc con sinh ra từ gia súc mẹ, cá con, trứng, tiền cho thuê nhà, tiền lãi tiết kiệm, bất
kể tài sản gốc là của riêng hay của chung, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đều là của chung
- Những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung
Trang 2420
Việc xác lập loại tài sản này phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu hoặc do pháp luật quy định về thừa kế Việc tặng cho một tài sản chung cho cả vợ và chồng thường được ghi nhận trong thực tiễn Việt Nam, người tặng cho thường là cha mẹ của vợ hoặc chồng Khi xác lập hợp đồng tặng cho chung hoặc di chúc để lại tài sản chung cho vợ chồng, chủ
sở hữu không có sự phân biệt kỷ phần cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng Nếu có sự xác định tỷ lệ tài sản cho mỗi bên vợ, chồng thì phần tài sản đó sẽ thuộc tài sản riêng của mỗi bên theo tỷ lệ được thừa kế, tặng cho và chỉ là tài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện nhập vào khối tài sản chung hay vợ chồng thoả thuận đó là tài sản chung
Trường hợp vợ chồng cùng hàng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế thì
tài sản được thừa kế “theo hàng thừa kế” đó thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài
sản chung khi vợ chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung hoặc có thoả thuận là tài sản chung của vợ chồng
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn:
Đất đai là một loại tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản được pháp luật công nhận và bảo
vệ Khoản 2 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy đinh của luật Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết
hôn là tài sản chung của vợ chồng Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ 2014 quy định :
“Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”
- Tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung:
Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững thì việc phát triển kinh tế, tạo lập tài sản của vợ chồng được các bên chú trọng Khi cuộc sống hoà thuận hạnh phúc, việc xác định rạch ròi tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi bên ít được quan tâm, coi trọng Vợ chồng thường có xu hướng sử dụng các tài sản có được vào mục đích chung của gia đình, giới hạn giữa tài sản chung và riêng không có sự phân biệt rõ ràng Các bên thường có xu hướng nhập phần tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của
vợ chồng nhằm đảm bảo đời sống của gia đình Pháp luật ghi nhận việc thoả thuận của các bên trên nguyên tắc quyền tự định đoạt, giữa vợ và chồng có thể thoả thuận tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng và tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng Việc nhập hay không nhập tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng
có thể mặc nhiên hoặc được thoả thuận bằng văn bản
Khi vợ chồng có mâu thuẫn về tình cảm thì yếu tố tài sản cũng được các bên đem ra tính toán Do tính chất phức tạp của quan hệ tài sản mà việc xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng và đâu là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng gặp nhiều khó khăn Có trường hợp tài sản riêng của một bên được sử dụng nhằm đảm bảo cuộc sống chung của
vợ chồng, giữa tài sản chung và tài sản riêng có sự chuyển hoá, trộn lẫn với nhau dẫn đến
Trang 2521
khó xác định chính xác Do vậy, khoản 3 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 vẫn giữ
nguyên quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000: “Trong trường hợp
không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung ”
Ví dụ: Anh A và chị B kết hôn với nhau, sau khi kết hôn anh A đã bán số vàng của mình có trước khi kết hôn để thêm tiền vào xây một ngôi nhà trên mảnh đất được cha mẹ anh cho anh dùng làm chỗ ở chung cho hai vợ chồng Như vậy, anh A đã tự nguyện nhập
số vàng là tài sản riêng của anh (có được trước khi kết hôn) vào tài sản chung của vợ chồng (ngôi nhà chung) Việc nhập số vàng là tài sản riêng của anh A vào tài sản chung được coi là sự mặc nhiên vì số tiền có được do bán vàng đã dùng vào mục đích chung của gia đình Tuy nhiên, nếu anh A muốn nhập tài sản riêng là mảnh đất do cha mẹ anh cho riêng anh hoặc mua trước khi kết hôn vào tài sản chung của vợ chồng thì phải làm các thủ tục pháp lý có liên quan Việc anh dùng mảnh đất này để xây ngôi nhà chung cho vợ chồng không mặc nhiên được coi là nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng Anh A muốn chứng minh tài sản nào là tài sản riêng của mình thì phải đưa ra được chứng cứ chứng minh, nếu không chứng minh được thì tuỳ từng trường hợp Toà án có thể suy đoán
đó là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản riêng của anh A
Như vậy, so với các văn bản pháp luật trước đây, Luật HN&GĐ năm 2000 đã đưa
ra được điểm mới là nguyên tắc suy đoán tài sản chung của vợ chồng và được giữ nguyên trong Luật HN&GĐ năm 2014, đây là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ khối tài sản chung Nguyên tắc này đã phần nào đảm bảo được sự công bằng trên cơ sở vì lợi ích chung của gia đình
Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
- Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tương đối cụ thể về quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung Căn cứ khoản 2 Điều 213 BLDS năm 2015 và khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014, như vậy, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản, đồng thời họ cũng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất
Quy định không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập, tức
là đối với những người vợ, chồng không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà thực hiện công việc nội trợ của gia đình, chăm lo cho cuộc sống của con cái và các thành viên khác trong gia đình cũng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân, về tài sản ngang bằng với người lao động có thu nhập
Khi quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản, khoản 1 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định: "Vợ, chồng có
quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử đụng, định đoạt tài sản chung"
Việc bổ sung quy định "không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu
Trang 2622
nhập " là một điểm mới trong Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000,
quy định này đã thể hiện rõ ràng, cụ thể quan điểm của nhà nước ta là bảo vệ những người vợ, chồng không tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập mà thực hiện công việc nội trợ của gia đình, chăm lo cho cuộc sống của con cái và các thành viên khác trong gia đình, có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng giữa vợ và chồng Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 35 Luật HN&GĐ 2014 Đối với trường hợp vợ, chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được mặc nhiên
là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng
Như vậy, một bên vợ, chồng không thể tự ý định đoạt tài sản chung là bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu hoặc tài sản chung đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình Nếu một bên vợ, chồng định đoạt các tài sản chung nêu trên mà không có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu
- Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung:
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định đối với tài sản chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác (Điều 34)
Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng là một thủ tục đăng ký nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng có tài sản chung trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và dùng tài sản để tham gia các quan hệ dân sự, thương mại Điều 106 BLDS
năm 2015 quy định: “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được
đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.Việc đăng ký tài sản phải được công khai.”
Trong đó, bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 107 BLDS 2015)
Việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với bất động sản được thực hiện theo Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngoài các bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, pháp luật còn quy định các động sản phải đăng ký như: tàu biển, tàu bay, tàu, thuyền theo quy định tại Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm
2014 và Thông tư số 75/2014/TT-BGTVT ngày 19/12/2014 của Bộ Giao thông vận tải về đăng ký phương tiện thủy nội địa
Để đảm bảo quyền lợi của các cặp vợ chồng đã đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, khoản 2 Điều 12 Nghị
Trang 2723
định số 126/2014/NĐ-CP quy định: “Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng
ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng”
Trong trường hợp vợ, chồng không yêu cầu cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu giấy chứng nhận quyền sử dụng, mà vẫn để giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một người thì giao dịch liên quan đến tài sản chung đó được thực hiện theo quy định tại Điều 26; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này
Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 đã sửa quy định bắt buộc vợ, chồng phải ghi tên của cả vợ chồng (Khoản 2 Điều 27 HN&GĐ 2000), và thay vào đó là quy định mở hơn
tôn trọng việc tự do thỏa thuận của vợ chồng: “Giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy
chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường họp vợ chồng có thỏa thuận khác” (Khoản 1 Điều 34)
- Nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý và sử dụng tài sản chung Vợ, chồng sử dụng tài sản chung của vợ chồng đương nhiên được coi là có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng So với khoản 2 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 thì Luật HN&GĐ năm 2014 đã dành riêng một điều luật mới (Điều 37) quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung là nhằm bảo vệ khối tài sản chung, tránh những trường hợp một trong hai vợ chồng có hành vi phá tán tài sản chung, huỷ hoại tài sản chung hoặc tự mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sản chung, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình và của người kia Đồng thời, quy định này còn khẳng định quyền bình đẳng của vợ chồng trong quan hệ gia đình
Chia tài sản chung của vợ chồng
- Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp
vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bởi vợ chồng có mẫu thuẫn trong quản lý tài chính hoặc nhiều lý do khác Do đó, trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có nhu cầu thì có quyền thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng Để giải quyết những vấn đề nêu trên, Luật HN&GĐ đã dự liệu các quy định nhằm giải quyết việc phân chia tài sản vợ chồng thời kỳ hôn nhân như sau:
Về điều kiện chia: Theo Điều 38 Luật HN&GĐ 2014 quy định chia tài sản chung của vợ chồng như sau:
- Vợ, chồng tự thỏa thuận phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung;
- Nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết