Thi hành án dân sự THADS là hoạt động của Nhà nước để đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, của các cơ quan có thẩm quyền khác được tôn trọng và thực hiện tr
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
VÕ TRẦN QUYỀN
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
Kon Tum, tháng 06 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ, THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ ĐÌNH QUANG PHÚC
SINH VIÊN THỰC HIỆN : VÕ TRẦN QUYỀN
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 T ÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
2 T ÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2
3 M ỤC ĐÍCH , NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đ ỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 C Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
7 K ẾT CẤU CỦA BÀI 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THADS 5
1.1 M ỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THADS 5
1.1.1 Một số quan niệm về công tác thi hành án 5
1.1.2 Khái niệm về THADS 6
1.1.3 Đặc điểm của THADS 7
1.1.4 Các loại hình thi hành án 10
1.2 Q UÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 11
1.2.1 Thời kỳ từ tháng 8/1945 đến năm 1989 11
1.2.2 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 đến trước khi có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 11
1.2.3 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đến trước khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008 12
1.2.4 Thời kỳ từ khi thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đến khi sửa đổi bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014 12
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN HÀNH, LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI HUYỆN SA THẦY 14
2.1 K HÁI QUÁT CÁC ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN Ở HUYỆN S A T HẦY ẢNH HƯỞNG TỚI THADS 14
2.2 Đ IỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 14
2.3 K HÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM , TÌNH HÌNH CỦA CƠ QUAN , ĐƠN VỊ 15
2.4 T HỦ TỤC HÀNH CHÍNH VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 15
2.5 C Ơ CẤU TỔ CHỨC VÀ TÌNH HÌNH NHÂN SỰ CỦA CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN S A T HẦY 15
2.5.1 Cơ cấu tổ chức cán bộ 15
2.5.2 Tình hình nhân sự 16
2.6 C Ơ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỀ CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN S A T HẦY 16
2.7 Q UY ĐỊNH CHUNG VỀ TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 16
2.8 H Ệ THỐNG TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ 16
Trang 42.9 T HỰC TRẠNG VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN
S A T HẦY 18
2.10 H OẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 18
2.11 T IẾP DÂN , GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI , TỐ CÁO , XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 23
2.12 X Ử LÝ VI PHẠM TRONG CÔNG TÁC THADS 24
2.13 H OẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRÊN MỘT SỐ NỘI DUNG KHÁC 25
2.14 Đ ÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC THỰC THI PHÁP LUẬT CỦA CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN S A T HẦY 28
2.14.1 Ưu điểm 28
2.14.2 Những tồn tại và hạn chế 29
2.15 L ÀM ĐƠN THI HÀNH ÁN VÀ CƠ CHẾ THỰC HIỆN 30
2.15.1 Điều kiện làm đơn yêu cầu thi hành án 30
2.15.2 Cơ chế thực hiện 31
2.16 N HỮNG BIỆN PHÁP ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN S A T HẦY ĐỂ THI HÀNH ÁN 33
2.17 C ÔNG TÁC HƯỚNG DẪN , CHỈ ĐẠO NGHIỆP VỤ 34
2.18 H ẠN CHẾ KHÓ KHĂN VÀ VƯỚNG MẮC 35
2.19 N GUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ KHÓ KHĂN VÀ VƯỚNG MẮC 35
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA THẦY 38
3.1 P HƯƠNG HƯỚNG , GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC HIỆU QUẢ VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC HIỆU QUẢ VỀ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 38
3.1.1.Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, người lao động ngành THADS 38
3.1.2 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hoàn thiện chế độ chính sách đãi ngộ công chức, người lao động trong Ngành gắn với nâng cao chất lượng công chức, người lao động 38
3.1.3 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả các hoạt động chuyên môn về 39
3.1.4 Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự 39
3.1.5 Tăng cường công tác phối hợp về THADS giữa cơ quan THADS với các cơ quan hữu quan 40
3.1.6 Phía nhà nước 40
3.2 M ỘT SỐ KIẾN NGHỊ , ĐỀ XUẤT 41
KẾT LUẬN 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động của Nhà nước để đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, của các cơ quan có thẩm quyền khác được tôn trọng và thực hiện trên thực tế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) Chính vì vậy, thi hành án nói chung, THADS nói riêng đã trở thành một nguyên tắc Hiến định được ghi nhận tại (Điều 106 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2013 và Điều 4 Luật THADS) Mặt khác, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản về việc cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan Tư pháp nói chung và cơ quan THADS nói riêng như: (Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002) của Bộ Chính trị về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới; (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005) của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm (2020); (Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001) về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác THADS; (Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg ngày 01/7/2008) của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác THADS; Luật THADS, Luật sửa đổi năm (2014), bổ sung một số điều của Luật THADS
Thực hiện (Nghị quyết của Quốc Hội khóa IX ngày 06/10/1992)và Pháp lệnh THADS năm (1993), công tác THADS được Tòa án chuyển giao cho Bộ Tư pháp thống nhất quản lý từ Trung ương đến địa phương Những văn bản này đã tạo tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới về tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS cũng như tăng cường quản lý nhà nước về THADS Hơn 20 năm qua, công tác THADS đã có nhiều chuyển biến tích cực về mọi mặt góp phần quan trọng trong việc ổn định và phát triển của đất nước
Tuy nhiên, công tác THADS hiện nay còn bộc lộ những tồn tại và hạn chế như: Hệ thống văn bản pháp luật về THADS thiếu đồng bộ, việc kiện toàn tổ chức, bộ máy theo quy định còn chậm; trình độ chuyên môn của công chức thi hành án còn hạn chế; cơ sở vật chất vẫn còn nhiều khó khăn; tình trạng khiếu nại, tố cáo có diễn biến phức tạp; hoạt động phối hợp trong THADS có lúc, có nơi chưa được quan tâm, chú trọng; một số tổ chức, cá nhân chưa nhận thức vai trò và coi trọng công tác THADS Vì vậy, hiệu quả của công tác THADS chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu và đảm bảo được tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng trên, đó
là vai trò của Nhà nước trong công tác: quản lý, chỉ đạo, điều hành (quản lý nhà nước) đối với công tác THADS còn hạn chế Tuy nhiên, công tác THADS hiện nay còn bộc lộ những tồn tại và hạn chế như: Hệ thống văn bản pháp luật về THADS thiếu đồng bộ, việc kiện toàn tổ chức, bộ máy theo quy định còn chậm; trình độ chuyên môn của công chức thi hành án còn hạn chế; cơ sở vật chất vẫn còn nhiều khó khăn; tình trạng khiếu nại, tố cáo có diễn biến phức tạp; hoạt động phối hợp trong THADS có lúc, có nơi chưa được quan tâm, chú trọng; kết quả công tác THADS hàng năm tăng chậm, không bền vững, án tồn đọng chuyển sang năm sau còn nhiều; một số tổ chức, cá nhân chưa nhận thức vai trò
Trang 6và coi trọng công tác THADS Vì vậy, hiệu quả của công tác THADS chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu và đảm bảo được tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng trên, đó là vai trò của Nhà nước trong công tác: quản lý, chỉ đạo, điều hành (quản lý nhà nước) đối với công tác THADS còn hạn chế
Sa Thầy là huyện nghèo kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí còn thấp, số lượng
án bàn giao và thụ lý mới tăng nhanh hàng năm kể cả về việc và tiền phải thi hành Tuy nhiên trong những năm qua hoạt động THADS ở huyện Sa Thầy đã đạt được kết quả đáng ghi nhận nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng lâu năm đã được thi hành dứt điểm, một
số vụ án lớn có tính chất phức tạp cũng đã được chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành về THADS đã được tăng cường; tổ chức bộ máy ngày càng hoàn thiện, cơ sở vật chất đã được quan tâm đầu tư, chất lượng, hiệu quả công tác THADS không ngừng được cải thiện, đã góp phần tích cực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Tuy nhiên, cũng tương tự như hầu hết các địa phương khác trên cả nước công tác THADS hiện nay ở huyện Sa Thầy còn bộc lộ những tồn tại và hạn chế như: việc kiện toàn tổ chức, bộ máy theo quy định còn chậm; trình độ chuyên môn của công chức thi hành án còn hạn chế; cơ sở vật chất vẫn còn nhiều khó khăn; tình trạng khiếu nại, tố cáo
có diễn biến phức tạp; hoạt động phối hợp trong THADS có lúc, có nơi chưa được quan tâm, chú trọng; kết quả công tác THADS hàng năm chưa bền vững, án tồn đọng chuyển sang năm sau còn nhiều, đặc biệt trong đó có một số vụ việc tồn đọng rất nhiều năm như vẫn chưa có biện pháp giải quyết dứt điểm Nhận thức pháp luật về THADS của nhân dân còn hạn chế, nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền một số nơi về công tác THADS chậm chuyển biến Vì vậy, hiệu quả của công tác THADS chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu và đảm bảo được tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật
Nguyên nhân chính của tình trạng trên được xác định đó là hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong hoạt động THADS còn hạn chế, thiếu đồng bộ Xuất phát từ thực tiễn đó tôi lựa chọn đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp “Pháp luật Thi hành
án dân sự, thực tiễn áp dụng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Sa Thầy”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây trước những đòi hỏi khách quan, cấp thiết của công tác THADS đã có nhiều tài liệu nghiên cứu, giảng dạy và một số công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực THADS Về các đề tài nghiên cứu, đáng chú ý là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại”,(mã số 95-98-114/ĐT do Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố
Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện); Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án”, (mã số 96-98-027/ĐT do Cục THADS ( nay là Tổng cục THADS))- Bộ Tư pháp thực hiện; Đề tài cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” (Bộ Tư pháp chủ
Trang 7trì); Đề tài “THADS, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001” (Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện)
Bên cạnh đó, có nhiều luận văn, luận án tiến sĩ, thạc sỹ về lĩnh vực THADS như Luận văn thạc sĩ Luật học "Quản lý nhà nước trong lĩnh vực THADS" (tác giả Hoàng Kim Chiến); Luận văn thạc sĩ Luật học: “Các biện pháp cưỡng chế THADS, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” (tác giả Nguyễn Công Long); Luận văn thạc sĩ luật học
“Hoàn thiện pháp luật THADS” (tác giả Nguyễn Thanh Thủy); Luận văn thạc sĩ luật học
“Xã hội hóa THADS ở Việt Nam” (tác giả Lê Xuân Hồng); Luận văn thạc sĩ luật học
“Đổi mới tổ chức và hoạt động THADS ở Việt Nam” (tác giả Nguyễn Quang Thái); Luận văn thạc sĩ luật học về “Đổi mới thủ tục THADS ở Việt Nam” (tác giả Lê Anh Tuấn) Mặt khác, các trường đại học ngành Luật cũng đã chú trọng biên soạn giáo trình và
tổ chức nghiên cứu, giảng dạy môn THADS như trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Học Viện Tư pháp
Các tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, cũng có nhiều bài viết, nghiên cứu về lĩnh vực THADS ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, ít nhiều cũng đã có đề cập đến vấn đề vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực THADS Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu về nội dung này để có đầy đủ cơ sở thực tiễn đề xuất biện pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong hoạt động THADS gắn với một địa bàn cụ thể
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Báo cáo đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật THADS;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về THADS hiện hành và liên hệ tại huyện
Sa Thầy hiện nay;
- Đề xuất và luận giải tính khả thi của các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
áp dụng luật THADS trên địa bàn huyện Sa Thầy thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Pháp luật thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng trên địa bàn huyện Sa Thầy
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Sa Thầy;
- Về thời gian: năm 2016, 2017, 2018
Trang 8- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu một số nội dung về pháp luật thi hành án dân sự và thực tiễn áp dụng luật thi hành án dân sự, trong đó sẽ tập trung nghiên cứu sâu vào hai nội dung sau:
+ Thực hiện pháp luật thi hành án dân sự;
+ Thực trạng áp dụng luật tại địa phương
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về thi hành án, THADS
- Các phương pháp nghiên cứu gồm: So sánh, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lô-gic
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Làm phong phú thêm lý luận về quản lý nhà nước về THADS
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Phân tích có hệ thống thực trạng công tác quản lý nhà nước về THADS trên địa bàn huyện Sa Thầy;
+ Vai trò của Nhà nước và quản lý nhà nước đối với hoạt động THADS;
+ Sử dụng làm tài liệu tham khảo để các cơ quan có thẩm quyền đề xuất các biện pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác THADS trên địa bàn huyện Sa Thầy
7 Kết cấu của bài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài báo cáo thực tập gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về THADS
Chương 2: Thực trạng pháp luật THADS hiện hành và liên hệ thực tiễn huyện Sa
Thầy
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoàn thiện pháp
luật về THADS trên địa bàn huyện Sa Thầy
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THADS 1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về THADS
1.1.1 Một số quan niệm về công tác thi hành án
Quan niệm về thi hành án là đề tài tranh luận chưa có hồi kết trên diễn đàn khoa học pháp lý, trong đó có công tác THADS Cho đến nay, vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về công tác thi hành án Qua nghiên cứu tài liệu có liên quan đến công tác thi hành
án thì hiện tại có 03 quan điểm cơ bản về công tác thi hành án, gồm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng Bởi vì, thi hành án là để thực hiện mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng
Bản án, quyết định của Tòa án chỉ mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản giấy tờ Nếu muốn chân lý được thực hiện trên thực tế cần phải chờ kết quả của công tác thi hành án Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử, ở giai đoạn này, cơ quan thi hành án được áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, của các cơ quan có thẩm quyền khác trở thành hiện thực trong đời sống thực tế Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức và quản
lý
Quan điểm thứ hai, khẳng định thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp Theo
quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi Tòa án nhân danh Nhà nước ra phán quyết Thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì “thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Đặc thù trong các quan hệ thủ tục thi hành án có thể bao gồm cả quan hệ mang tính chất tố tụng và quan hệ mang tính hành chính - tư pháp, nhưng các quan hệ mang tính hành chính - tư pháp là chủ yếu hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động…) Thi hành án là hoạt động của cơ quan Nhà nước Tuy nhiên,
ở một số lĩnh vực, một số công việc, Nhà nước có thể ban hành các quy định để xã hội hóa hoạt động này Đây là điểm khác biệt cơ bản so với hoạt động tố tụng, hoạt động tố tụng mang tính quyền lực tư pháp, không thể xã hội hóa
Quan điểm thứ ba, xác định thi hành án là hoạt động tư pháp Khái niệm tư pháp
hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống các thiết chế, các tổ chức bảo vệ pháp luật, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án giữ vị trí trung tâm Thi hành án là hoạt động tiếp theo của quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử Bởi vì, gốc của hoạt động thi hành
án là Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các quyết định được đưa
ra thi hành theo quy định của pháp luật Cơ quan thi hành án phải thi hành đúng theo phán quyết của Tòa án không được suy diễn, làm trái Tuy chịu sự chi phối như trên, nhưng ở giai đoạn thi hành án, tính chất tố tụng đã chấm dứt Bởi lẽ, khi bản án, quyết
Trang 10định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, chân lý đã được làm sáng tỏ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phán quyết rõ ràng Việc tổ chức thi hành các phán quyết của Tòa
án không thuộc chức năng của cơ quan xét xử, cũng không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng mà chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án Thi hành án cũng không mang tính chất hành chính, bởi hành chính là hoạt động chấp hành, điều hành, các quyết định hành chính đưa ra trên cơ sở mệnh lệnh có tính bắt buộc thi hành của cấp trên đối với cấp dưới Trong khi đó, thi hành án là hoạt động thực hiện đúng phán quyết của Tòa
án chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính, thực chất hoạt động hành chính trong lĩnh vực thi hành án chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ quan thi hành án là
tổ chức thi hành án theo đúng quy định của pháp luật
Mỗi quan điểm trên đều có cơ sở khoa học và hạt nhân hợp lý riêng Tuy nhiên, theo chúng tôi, quan điểm thứ hai coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp là hợp lý hơn cả Bởi lẽ, thi hành án không chỉ đơn thuần là hoạt động mang tính hành chính hay tư pháp, không phải là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng Bản chất của hoạt động thi hành án thể hiện rõ cả hai đặc điểm đó là tính hành chính và tính tư pháp Vì vậy, nên coi thi hành án là hoạt động hành chính tư pháp và như vậy hoạt động THADS
là hoạt động hành chính tư pháp
1.1.2 Khái niệm về THADS
Để làm rõ khái niệm THADS, chúng ta phải hiểu như thế nào về “dân sự” trong THADS Hiện có hai nhóm ý kiến khác nhau như sau:
Ý kiến thứ nhất, xác định “dân sự” theo nghĩa hẹp Cơ sở để đưa ra ý kiến này xuất phát từ quy định tại (Điều 1 của Bộ Luật Dân sự năm 2015) cho rằng: Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự) Vì vậy, những bản án, quyết định dân sự trong thi hành án bao gồm bản án, quyết định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và một số loại bản án, quyết định có tính chất dân sự như: quyết định về tài sản trong vụ án hình sự, hành chính, quyết định giải quyết tranh chấp kinh tế hoặc thương mại của trọng tài được tiến hành theo trình tự, thủ tục riêng
Ý kiến thứ hai cho rằng, phải hiểu khái niệm “dân sự” ở đây theo nghĩa rộng, đó không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại bản án, quyết định có tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản án, quyết định khác do pháp luật quy định
Người viết đồng ý với quan điểm thứ hai, bởi lẽ theo quy định của pháp luật hiện hành ở nước ta có nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự, thủ tục khác nhau (như tố tụng dân sự, kinh tế, hành chính, lao động…) nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục THADS Điều này cũng phù hợp với pháp luật của nhiều nước trên thế giới: việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc
Trang 11pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động) được thực hiện theo một thủ tục chung quy định trong bộ luật tố tụng dân sự Vì vậy, phạm vi THADS phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm bản án, quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự (như hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí
và quyết định dân sự khác), phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
Từ sự phân tích nêu trên, căn cứ quy định pháp luật hiện hành về THADS, Tôi đưa
ra khái niệm THADS như sau: THADS là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định để thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,
xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại
Những bản án, quyết định được thi hành theo quy định của pháp luật hiện hành gồm hai nhóm là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị
- Nhóm thứ nhất
Những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, gồm: Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau
30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản
- Nhóm thứ hai
Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị, gồm: Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.1.3 Đặc điểm của THADS
- THADS mang bản chất hành chính - tư pháp
Trang 12+ Tính chất tư pháp trong hoạt động THADS được thể hiện qua đặc điểm là hoạt động nhằm thi hành bản án, quyết định của Tòa án, đồng thời bao gồm cả các hoạt động thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp Điều này thể hiện rõ trong việc thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhằm đảm bảo cho việc xét xử, cũng như đảm bảo cho việc thi hành án sau này, mặc dù chưa có kết quả xét xử của Tòa án Cơ sở của hoạt động THADS là các Bản án, quyết định của Tòa án và của cơ quan có thẩm quyền theo quy định được đưa ra thi hành Mục đích của của hoạt động THADS là đảm bảo cho phán quyết của Tòa án và các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện trong đời sống thực tế Hơn nữa, theo quy định của Hiến pháp (1992), sửa đổi, bổ sung năm (2013) thì Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng chính là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp (Điều 107) Theo quy định của Luật THADS năm (2008), được sửa đổi, bổ sung năm (2014) thì “Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ quan THADS…” Nghĩa là, ngay trong các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất như Hiến pháp, Luật cũng đã khẳng định THADS là hoạt động tư pháp + Tính chất tư pháp của hoạt động thi hành án còn được thể hiện như sau: Trong quá trình thi hành án, người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận và tự định đoạt với nhau về cách thức thi hành án, nhà nước khuyến khích các bên đương sự tự nguyện thi hành án Quan hệ “tư” đó làm cho tính chất tư pháp của hoạt động THADS nổi bật, chỉ khi các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về phương thức thi hành án và người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thì mới bị cưỡng chế thi hành án (gồm cả quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của trọng tài thương mại theo quy định của Luật THADS năm (2008)) Trong quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của mình, tức là có tính độc lập rất cao trong hoạt động nghiệp vụ
+ Tính chất hành chính của hoạt động THADS được thể hiện ở một số đặc điểm là Chấp hành viên phải tuân theo sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của cơ quan quản lý THADS,
cơ quan THADS và của thủ trưởng cơ quan THADS Trong quá trình tổ chức thi hành án, nếu như Chấp hành viên có vi phạm thủ tục thi hành án dẫn tới khiếu nại của đương sự, thì việc giải quyết khiếu nại thực hiện thông qua thủ tục hành chính được quy định trong Luật THADS năm (2008) sửa đổi, bổ sung năm (2014), mà không xem xét, giải quyết như trình tự tố tụng Khác với mối quan hệ của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử được quy định chặt chẽ trong luật tố tụng Quan hệ giữa cơ quan thi hành án với các cơ quan hữu quan khác theo quy định của Luật THADS năm (2008) sửa đổi, bổ sung năm (2014)
và các văn bản hướng dẫn, đó là những quan hệ mang bản chất hành chính, có tính chấp hành và điều hành Trong quá trình THADS, để buộc người phải thi hành án chấp hành các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án và của cơ quan có thẩm quyền theo quy định, hoạt động của Chấp hành viên phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử phạt… là những tính chất của hoạt động quản lý hành chính
Trang 13- Chủ thể bắt buộc trong quan hệ THADS là Cơ quan THADS, Chấp hành viên và đương sự (người phải thi hành án, người được thi hành án)
Quan hệ THADS luôn tồn tại ba chủ thể bắt buộc là cơ quan THADS, Chấp hành viên và các bên đương sự (người phải thi hành án, người được thi hành án) hình thành trên cơ sở thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác của cơ quan
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Cơ quan THADS và Chấp hành viên là chủ thể thực hiện quyền lực Nhà nước, có quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để buộc các bên đương sự trong THADS phải nghiêm chỉnh chấp hành các phán quyết của Tòa án và quyết định của cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Trong THADS, tính chủ động trong hoạt động tác nghiệp của Chấp hành viên luôn được đề cao Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án, được pháp luật bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín (Điều 20, Luật THADS năm 2008) Kể từ thời điểm được thủ trưởng cơ quan THADS phân công tổ chức thi hành vụ việc, hầu như Chấp hành viên có quyền chủ động rất lớn trong hoạt động nghiệp vụ để thi hành dứt điểm vụ việc Trừ một số việc thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan THADS như ra các quyết định ủy thác, trả đơn, đình chỉ, tạm đình chỉ, hoãn thi hành án, trả lại tiền, tài sản theo quyết định của Bản án, thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng (theo sự đề xuất của Chấp hành viên)…còn lại Chấp hành viên được quyền chủ động trong việc thiết lập hồ sơ, thông báo, xác minh thi hành án, triệu tập đương sự, đôn đốc giải quyết việc thi hành án, đặc biệt là chủ động trong việc ra các quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế và biện pháp bảo đảm thi hành án, xử lý tài sản kê biên, trực tiếp ký kết hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá, với tổ chức bán đấu giá tài sản…Nói tóm lại, trong quy trình giải quyết vụ việc THADS, ngoài phần việc thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan THADS như đã nêu, Chấp hành viên có quyền chủ động rất cao trong việc tổ chức thi hành dứt điểm Bản án, quyết định của Tòa án Về nguyên tắc, tính chủ động, độc lập của Chấp hành viên trong hoạt động nghiệp vụ luôn được tôn trọng, bảo vệ
- Đảm bảo quyền yêu cầu, tự nguyện và thỏa thuận thi hành án của các bên đương
sự
Xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận, bình đẳng, hòa giải trong quan hệ dân sự Đối với hoạt động THADS, cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án các khoản: hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (điểm đ, khoản 2, Điều 36 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014), ngoài ra cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành án trên cơ
sở yêu cầu của người phải thi hành án, người được thi hành án Mặt khác, cơ quan thi hành án và chấp hành viên phải tôn trọng và đảm bảo cho các bên đương sự thực hiện
Trang 14quyền thỏa thuận và tự nguyện thi hành án Thỏa thuận về thi hành án của đương sự trong THADS không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận thi hành án Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận Nói cách khác, cơ quan thi hành án và Chấp hành viên chỉ được tổ chức thi hành án trong phạm vi yêu cầu hợp pháp của đương sự, đồng thời phải tôn trọng thỏa thuận hợp pháp của đương sự về phương thức thi hành án như: thời gian, địa điểm, tài sản thậm chí cả thỏa thuận hoãn thi hành án, thỏa thuận rút đơn từ bỏ quyền yêu cầu thi hành án… Đây là đặc điểm nói lên sự khác nhau cơ bản giữa THADS với thi hành án hình sự Thi hành án hình sự nhằm trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, mang tính cưỡng chế bắt buộc, không có sự thỏa thuận giữa cơ quan thi hành án và người phạm tội
- Trình tự, thủ tục THADS theo quy định của pháp luật về THADS
Với chức năng thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định khác của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định Trình tự, thủ tục THADS là một cơ chế chặt chẽ theo quy định của pháp luật THADS nhằm phục vụ cho chức năng thi hành án Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, thủ tục THADS phải đảm bảo tính chính xác cao độ, bởi lẽ hoạt động thi hành án là để hiện thực hóa quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ THADS,
vì vậy, nếu cơ quan thi hành án, chấp hành viên áp dụng pháp luật THADS không chính xác sẽ dẫn đến hậu quả thực tế rất khó khắc phục (khác với trình tự tố tụng tại Tòa, còn có thủ tục xét lại bản án, quyết định) Việc cưỡng chế thi hành án được xem là biện pháp cuối cùng để thi hành dứt điểm vụ việc, Chấp hành viên có quyền sử dụng biện pháp cưỡng chế nhưng phải đảm bảo các thủ tục theo quy định, không được áp dụng biện pháp cưỡng chế tùy tiện Bên cạnh đó, Nhà nước luôn khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án, kể cả khi đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản nhưng “trước khi mở cuộc đấu giá
01 ngày người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ số tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức
bán đấu giá” (K5, Đ101, Luật THADS năm (2008) sửa đổi, bổ sung năm (2014))
1.1.4 Các loại hình thi hành án
Hiện nay, ở nước ta có 5 loại hình thi hành án: Dân sự, hình sự, kinh tế, lao động, hành chính Bên cạnh những điểm chung, mỗi loại hình thi hành án lại có những đặc điểm riêng và trong không ít trường hợp chúng có sự đan xen lẫn nhau Chính sự đan xen này làm nảy sinh những vướng mắc về mặt lí luận Chẳng hạn như việc phạt tiền, tiêu huỷ tang tài vật trong án hình sự; việc nhận người làm việc lại trong án lao động có thuộc phạm vi thi hành án dân sự không? Phạm vi thi hành án dân sự có phải chỉ là những vấn
đề có liên quan đến tài sản và bồi hoàn hay bao gồm tất cả những vấn đề có tính dân sự? Những vấn đề liên quan đến bán đấu giá tài sản, tuyên bố phá sản Có thuộc phạm vi thi hành án dân sự không? Tình hình đó đòi hỏi phải nghiên cứu cơ sở lí luận cho việc xác định tính đặc thù và phân định giới hạn của mỗi loại hình thi hành án để từ đó xác định nội dung, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp phù hợp cho mỗi loại hình đồng thời
Trang 15xây dựng mô hình tổ chức và quản lí thi hành án hợp lí và có hiệu quả Thực tế hiện nay
ở nước ta đã cho thấy rõ tính bức xúc của các vấn đề nói trên
1.2 Quá trình hình thành và phát triển luật thi hành án dân sự
1.2.1 Thời kỳ từ tháng 8/1945 đến năm 1989
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi có Pháp lệnh Thi hành
án dân sự năm (1989), là giai đoạn mà tổ chức hoạt động thi hành án dân sự chưa được dựa trên một văn bản pháp luật chính thức có hiệu lực pháp lý cao do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành, thậm chí có thời kỳ chỉ căn cứ vào Điều lệ tạm thời về công tác Chấp hành án ban hành kèm theo (Công văn số 827/CV ngày 23/10/1979) của Tòa án nhân dân tối cao Công tác thi hành án dân sự đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Toà án Trong thời kỳ này tổ chức bộ máy cũng như nguyên tắc hoạt động của cơ quan thi hành
án chưa được chú trọng Cơ chế quản lý và tổ chức thi hành án chưa tạo được vị trí của chấp hành viên tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra Mặt khác, tổ chức và hoạt động thi hành án là một giai đoạn khép kín trong tòa án và tuỳ thuộc vào sự chỉ đạo của Chánh án tòa án nhân dân địa phương Vai trò của tòa án nhân dân tối cao (và tiếp đó là
Bộ Tư pháp từ 1981 đến 1992) trong việc quản lý tòa án địa phương mới dừng lại ở vai trò quản lý chung, còn thực chất việc quản lý đội ngũ cán bộ tòa án, cũng như việc xây dựng đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử, THA do chính quyền địa phương đảm nhiệm Nhiều năm liền mối quan tâm chú trọng của tòa án vẫn dành cho công tác xét xử, còn thi hành án hầu như ít quan tâm Điều này dẫn đến tình trạng án xét xử xong không được thi hành chiếm tỉ lệ ngày càng lớn trong lượng án phải thi hành hàng năm
1.2.2 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 đến trước khi có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
Đầu những năm 1990, công cuộc đổi mới nói chung và cải cách bộ máy Nhà nước nói riêng đã được tiến hành một cách khá tích cực, khẩn trương (Hiến pháp năm 1992 và các Luật về tổ chức bộ máy Nhà nước được Quốc hội khoá IX thông qua vào tháng 10/1992), đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng cho quá trình cải cách Tư pháp, trong đó công tác thi hành án dân sự được đổi mới một cách cơ bản Khác với Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm (1981), Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm (1992) không quy định thẩm quyền của tòa án nhân dân trong việc thi hành án Trong khi đó Luật Tổ chức Chính phủ năm (1992) lần đầu tiên đã xác định việc “quản lý công tác thi hành án” là một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực pháp luật và hành chính tư pháp Để thực hiện quy định của các đạo luật trên đây về công tác thi hành án, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX ngày (6/10/1992) đã thông qua (Nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án từ tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ “chậm nhất vào tháng 6/1993”) (Pháp lệnh thi hành án dân sự ban hành ngày 21/4/1993), có hiệu lực ngày 01/6/1993 thay thế (Pháp lệnh thi hành án dân sự ban hành ngày 28/8/1989) Điểm khác biệt căn bản nhất của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm (1993) so với Pháp lệnh thi hành án dân sự năm (1989) chính là ở các quy định về tổ chức, cơ chế thi hành án mới Theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm (1989), tòa án có nhiệm vụ thi
Trang 16hành án dân sự, còn theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm (1993) thì nhiệm vụ thi hành
án dân sự được chuyển cho một cơ quan Nhà nước mới thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/7/1993, đó là hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự Việc ra các quyết định về thi hành án trước đây thuộc thẩm quyền của Chánh án tòa án, thì nay thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án Có thể nói, (Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 21/4/1993) đã tạo ra bước ngoặt về tổ chức và hoạt động của công tác thi hành án dân sự
ở nước ta, đưa công tác này sang một giai đoạn phát triển mới, đáp ứng yếu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới Bắt đầu từ ngày 01/7/1993, tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự chính thức tiến hành theo cơ chế mới
1.2.3 Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đến trước khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008
Qua hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đã bộc lộ nhiều bất cập trước những đòi hỏi của quá trình đổi mới, cải cách hành chính, cải cách tư pháp Nhiều vướng mắc về cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục thi hành án dân sự chưa được tháo gỡ kịp thời, dẫn đến tình trạng án tồn đọng có xu hướng gia tăng, đòi hỏi pháp luật thi hành án dân sự cần có sự bổ sung, hoàn thiện kịp thời để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự Vì vậy, (ngày 14/01/2004 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thi hành án dân sự sửa đổi thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993) Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm (2004) đã có những bước tiến mới về lập pháp, theo đó quy định cụ thể, đầy đủ hơn về tổ chức các cơ quan thi hành án và thủ tục thi hành án Cụ thể là:
- Các Cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án dân sự: Theo các quy định của (Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 ngày 14/01/2004) của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án dân sự, các cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự bao gồm: Bộ Tư pháp, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
1.2.4 Thời kỳ từ khi thực hiện Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đến khi sửa đổi bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014
Thể chế hóa chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng về công tác thi hành án dân
sự, ngày 14/11/2008, Quốc hội đã thông qua Luật Thi hành án dân sự Trên cơ sở các quy định của Luật, thời gian qua, công tác thi hành án dân sự đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: Nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân về ý nghĩa, vai trò của công tác thi hành án dân sự được nâng lên rõ rệt; công tác thi hành án dân sự nhận được sự quan tâm hơn của cấp ủy, chính quyền địa phương thông qua việc các cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm trực tiếp báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân cùng cấp; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật cơ bản đã đầy đủ (06 nghị định của Chính phủ, 06 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 20 thông tư, 15 thông tư liên tịch ); việc kiện toàn
tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác thi hành án dân sự theo quy định của Luật cơ bản đã hoàn thành; cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các cơ quan thi hành án dân sự được
Trang 17cải thiện một bước; việc xây dựng trụ sở, kho vật chứng các cơ quan thi hành án dân sự cũng được quan tâm thực hiện, cơ bản hoàn thành ở cấp tỉnh; công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp được tăng cường và triển khai ngày càng bài bản Nhờ đó, kết quả công tác thi hành án dân sự đã có những chuyển biến tích cực: Việc phân loại án ngày càng chính xác, tỷ lệ số việc và tiền có điều kiện thi hành trên tổng số việc và tiền phải thi hành của các năm tăng đáng kể
Trang 18CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN HÀNH, LIÊN HỆ
THỰC TIỄN TẠI HUYỆN SA THẦY 2.1 Khái quát các đặc điểm tự nhiên ở huyện Sa Thầy ảnh hưởng tới THADS
- Đặc điểm tự nhiên:
Sa Thầy là một huyện thuộc tỉnh Kon Tum, Việt Nam Huyện có 143.522,3 ha diện
tích tự nhiên và 42.703 nhân khẩu (tháng 3/2015)
Đây là huyện miền núi biên giới, là một trong những huyện có mật độ dân số thấp nhất Việt Nam.Trong huyện có nhiều dự án thủy điện lớn trên sông Sê San như thuỷ điện
Sê San 3A, thuỷ điện Ya Ly, thuỷ điện Plei Krông
Vị trí địa lý:
Huyện Sa Thầy phía Bắc giáp huyện Ngọc Hồi, phía Đông Bắc giáp huyện Đắk Tô, phía Đông (từ Bắc xuống Nam) lần lượt giáp huyện Đắk Hà và thành phố Kon Tum Phía Nam huyện giáp với huyện Ia H'Drai và tỉnh Gia Lai, ranh giới là thượng nguồn sông Sê San Phía Tây của huyện giáp biên giới Việt Nam - Campuchia
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Toàn huyện có 11 xã và thị trấn, Sa Thầy là một huyện nghèo, tăng trưởng kinh tế
trong 6 tháng đầu năm 2017 trong đó: Giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản theo giá hiện hành: 6 tháng đầu năm ước đạt 195.600 triệu đồng, đạt 21,45% kế hoạch và bằng 52,74%
so với cùng kỳ năm 2016
- Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc trên địa bàn có 21.009 con(1), đạt 96% kế hoạch và
bằng 6,22 % so với cùng kỳ; sản lượng thịt xuất chuồng có 944 tấn, đạt 57,72% kế hoạch;
tổng đàn gia cầm có 108.000 con, đạt 98,18 % kế hoạch; sản lượng thịt xuất chuồng 196 tấn, vượt 40,3% kế hoạch
Thủy sản: Diện tích nuôi trồng duy trì ổn định, sản lượng khai thác ước thực hiện
340 tấn, đạt 50% kế hoạch, cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nhân dân trên địa bàn(2) Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng theo giá hiện hành: 6 tháng ước đạt 607.301 triệu
đồng, đạt 53,4% kế hoạch, vượt 17,37 % so với cùng kỳ năm 2016 (trong đó giá trị sản xuất của 2 nhà máy chế biến tinh bột sắn ước đạt 319.265 triệu đồng, nhà máy chế biến
mủ cao su ước đạt 171.297 triệu đồng)
Về đầu tư - xây dựng trong đó: vốn kế hoạch năm 2017 là 63.696 triệu đồng; vốn năm trước chuyển sang 6.452 triệu đồng Tính đến ngày 30/6/2017 Giá trị thương mại - dịch vụ theo giá hiện hành 6 tháng ước đạt 335.658 triệu đồng, đạt 49,69% kế hoạch,
vượt 5,34 % so với cùng kỳ năm 2016 Trong đó: Tổng mức bán lẻ ước đạt 98.035 triệu đồng, đạt 51,05% kế hoạch; Tổng giá trị dịch vụ ước đạt 237.624 triệu đồng, đạt 49,15%
(2) Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản là 320,5 ha (diện tích ao, hồ nhỏ 70,5 ha; diện tích nuôi mặt nước lớn
250 ha); Sản lượng nuôi trồng đạt 182 tấn, sản lượng khai thác tự nhiên đạt 158 tấn
Trang 19Kon Tum)
2.3 Khái quát đặc điểm, tình hình của cơ quan, đơn vị
Chi cục thi hành án dân sự là cơ quan trực thuộc Cục Thi hành án dân sự Trong công tác tổ chức cán bộ, Chi cục có chức năng là đơn vị quản lý, sử dụng công chức, người lao động Chi cục thi hành án dân sự huyện Sa Thầy hiện nay có 06 biên chế ( trình
độ chuyên môn: 01 thạc sĩ luật, 05 đại học luật; trình độ chính trị) và 4 hợp đồng lao động Trong đó, có 03 Chấp hành viên Lãnh đạo đơn vị có Chi cục trưởng, 01 Phó Chi cục trưởng Ngoài công chức, đơn vị được bố trí 4 hợp đồng lao động theo Nghị định 68 (2 Bảo vệ, 01 Tạp vụ, 01 Lái xe) 100% công chức là đảng viên Chi cục là đơn vị có số lượng án thụ lý giải quyết trung bình 400 việc mỗi năm, đứng thứ 4 của các đơn vị cấp huyện của tỉnh Kon tum về số lượng án giải quyết Trong những năm qua, đơn vị luôn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được phân công Năm 2018 đơn vị là một trong hai đơn vị được xếp hạng A ( xuất sắc )
2.4 Thủ tục hành chính về thi hành án dân sự
Công tác thi hành án dân sự là hoạt động thực thi Bản án, Quyết định của Tòa án nhằm đưa các phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi trên thực tế Hoạt động thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền lực của Nhà nước, mặt khác nó là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân khi bị xâm hại Hiệu quả của hoạt động thi hành án phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong
- Gửi quyết định và thông báo về thi hành án
- Xác minh điều kiện thi hành án
- Tự nguyện thi hành án
- Biện pháp bảo đảm thi hành án
- Cưỡng chế thi hành án
- Kết thúc thi hành án và xác nhận kết quả thi hành án
2.5 Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự của chi cục thi hành án dân sự huyện Sa Thầy
2.5.1 Cơ cấu tổ chức cán bộ
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sa Thầy hiện nay có 06 biên chế, trong đó có 03 Chấp hành viên, 01 thư ký thi hành án, 01 kế toán trưởng, 01 văn thư- lưu trữ Lãnh đạo đơn vị hiện nay có Chi cục trưởng và 01 Phó Chi cục trưởng Trong 12 tháng năm 2018
có 01 công chức học xong lớp Trung cấp lý luận chính trị; 01 công chức học xong lớp Cao cấp lý luận chính trị; đơn vị đã thực hiện kịp thời về quy trình, hồ sơ giới thiệu quy hoạch chức danh Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng giai đoạn 2018-2021 và giai đoạn 2021-2026 theo hướng dẫn của Cục Thi hành án dân sự
Trang 20Ngoài ra, trong 12 tháng đã đăng ký, hoàn thiện hồ sơ cho 02 trường hợp dự thi nâng ngạch công chức theo kế hoạch của Tổng cục và hướng dẫn của Cục
Trong 12 tháng không có trường hợp nào bị xử lý kỷ luật
2.5.2 Tình hình nhân sự
2.6 Cơ sở hình thành và phát triển về chi cục thi hành án dân sự huyện Sa Thầy
Chi cục thi hành án dân sự huyện Sa Thầy được xây dựng vào năm 2000 và năm
2001 được đưa vào sử dụng, diện tích trụ sở 1000m2, Diện tích xây dựng là 600m2 Nằm trên đường Hùng Vương, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
2.7 Quy định chung về tổ chức thi hành án dân sự
Theo quy định tại Điều 13 của Luật THADS thì hệ thống tổ chức thi hành án dân sự bao gồm:
- Cơ quan quản lý thi hành án dân sự:
+ Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;
+ Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng
- Cơ quan thi hành án dân sự:
+ CQTHADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là CQTHADS cấp tỉnh);
+ CQTHADS huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là CQTHADS cấp huyện);
- Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân khu) Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của CQTHADS
Trong khoa học pháp lý cho đến nay mặc dù vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của hoạt động thi hành án, nhưng quan điểm được thừa nhận tương đối rộng rãi hiện nay là hoạt động thi hành án là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp
2.8 Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự trong công tác quản lý
Theo quy định tại Luật thi hành án dân sự (2008), (số 26/2008/QH12) thì hệ thống
tổ chức thi hành án dân sự được quy định cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự và được chia làm 2 phần
- Thứ nhất về cơ quan quản lý THADS
+ Thi hành án có những đặc trưng cơ bản sau:
Thi hành án là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của toà án Bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án Vì
Trang 21vậy, có thể nói không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động thi hành án Tuy nhiên, thi hành án lại không phải là giai đoạn tố tụng (cuối cùng); bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật không phải là cơ sở duy nhất để tiến hành các hoạt động thi hành án; thi hành án đòi hỏi những nguyên tắc, thủ tục và cách thức
hoạt động riêng Ví dụ, để có thể tiến hành các hoạt động thi hành án thì phải có quyết định thi hành án và phải dựa trên những quy định cụ thể về thi hành án
Thi hành án là dạng hoạt động có tính chấp hành, vì thi hành án chỉ được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật quy định nhằm thực hiện các các bản án và quyết định của toà
án đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, ở đây tính chất chấp hành trong thi hành án có những nét riêng thể hiện ở chỗ:
Một là: nó chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) hay đối tượng phải thi
hành án tiến hành;
Hai là: cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án bao gồm các quy định của
pháp luật (được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật) và bản án, quyết định của toà án (văn bản áp dụng pháp luật) đã có hiệu lực pháp luật;
Ba là: mục đích cuối cùng của hoạt động thi hành án là bảo đảm cho các nội dung
của các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi chứ không phải là ra các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành, nét đặc trưng của cơ quan hành chính
Thi hành án là dạng hoạt động có tính quản lí vì thi hành án luôn đòi hỏi các yếu tố
kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lí nhằm tác động tới các đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa
vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của toà án, phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước và trở thành người lương thiện (đối với những người bị kết án phạt tù) ở đây, tính chất quản lí cũng có đặc trưng riêng về chủ thể quản lí, đối tượng và khách thể quản lí; phạm vi và phương pháp quản lí
Trong thi hành án, phương pháp thuyết phục, giáo dục có ý nghĩa quan trọng nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành có tính chất đặc thù (trong thi hành án hình sự đó là phương pháp chủ yếu và có tính kiên quyết) Điều này xuất phát từ tính chất của thi hành án như đã nêu ở trên Ngay cả trong trường hợp người phải thi hành án tự nguyện thực thi hành nghĩa vụ của mình thì cũng là vì họ hiểu rằng toà án đã phán xét, sự thực đã được làm sáng tỏ (nghĩa là trước đó họ đã không tự nguyện) và nếu không thi hành thì họ sẽ phải chịu các biện pháp cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Có nhiều cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án, nhất là trong việc tổ chức thi hành các bản án và quyết định của toà án có những nội dung phức tạp Thực tế đã cho thấy rõ, trong thi hành án vai trò của các cơ quan tư pháp là rất quan trọng, nhất là các cơ quan thi hành án nhưng trong nhiều trường hợp nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp với cơ quan hành pháp và có sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng thì việc thi hành các bản án phức tạp khó đạt được kết quả tốt
Trang 22- Thứ hai về cơ quan thi hành án dân sự:
Có thể nói hiện nay vấn đề về mô hình tổ chức và quản lí thi hành án ở nước ta chưa
có được phương án tổng thể và có tính khả thi Vì vậy, tình trạng vừa tản mạn vừa chồng chéo là không thể tránh khỏi Để có được mô hình tổ chức và quản lí thi hành án mang tính thống nhất và có tính khả thi thì cần thiết phải nghiên cứu và giải quyết đồng bộ các vấn đề nêu trên đồng thời phải chú trọng tới việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật
về thi hành án và xây dựng đội ngũ cán bộ thi hành án Theo chúng tôi, căn cứ vào bản chất, đặc trưng, mục đích, nội dung của thi hành án như đã phân tích ở trên, mô hình thi hành án ở nước ta cần xây dựng theo hướng xây dựng hệ thống tổ chức và quản lí thống nhất tất cả các loại hình thi hành án do Chính phủ thống nhất quản lí
2.9 Thực trạng về thực thi pháp luật tại chi cục thi hành án dân sự huyện Sa Thầy
Sự phát triển về kinh tế với những chính sách kinh tế thuận lợi; đường lối chính trị đúng đắn, định hướng nhân cách con người; nét đẹp truyền thống và những đổi mới theo hướng tích cực, lối sống văn hóa cùng với các hệ thống pháp lý chặt chẽ đã tạo điều kiện cho người dân thực hiện pháp luật một cách hiệu quả nhất Nhìn chung, xã hội hiện nay tương đối ổn định, có điều kiện phát triển kinh tế xã hội; để có được điều này là nhờ có hoạt động thực hiện pháp luật của con người được đảm bảo, duy trì và giữ vững
Việt Nam đang trên con đường phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo những điều kiện thuận lợi nhất định đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũng như các hoạt động thực hiện pháp luật của họ
Có thể nói rằng, thực tiễn thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay có biểu hiện tương đối tốt Thực hiện Đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, chính sách của nhà nước, sự quan tâm chỉ đạo của các ban cấp lãnh đạo, công tác tuyên truyền pháp luật của các cơ quan chức năng; tất cả những nhân tố đó đã tạo cho người dân một cái nhìn tổng quan và chính xác nhất về pháp luật, từ đó, người dân chấp hành, tuân thủ và thực hiện pháp luật
một cách tự giác, chủ động và nghiêm chỉnh Ví dụ: như có nhiều vụ tham nhũng của các cán bộ công chức nhà nước như tham nhũng về đất, tiền đóng góp của người dân đã
bị người dân khiếu nại, tố cáo Nhân dân ủng hộ nhiệt tình với các chủ trương của chính phủ trong việc giải quyết dứt khoát, không tránh né dù đối tượng có cương vị, trọng trách cao đến đâu, cũng có nghĩa rằng nhu cầu công bằng xã hội được dư luận xã hội quan tâm, tán thành, ủng hộ Không chỉ đem lại quyền lợi cho người dân mà thể hiện tính dân chủ của nhà nước Điều này cũng cho thấy nhận thức về pháp luật của người dân đã được củng cố và nâng cao
Tuy nhiên, do Sa Thầy là một huyện khó khăn, trình độ dân trí về pháp luật của người dân chưa cao Cho nên việc thực thi quyết đinh, bản án của tòa án chưa được hiệu quả cao Người phải thi hành án thường hay chống đối với cơ quan thi hành án do: Người phải thi hành án bị cưỡng chế tài sản của mình, ảnh hưởng đến đời sống của bản thân, ý thức về luật pháp chưa cao
2.10 Hoạt động nghiệp vụ về thi hành án dân sự
Trang 23Hoạt động nghiệp vụ THADS có vai trò hết sức quan trọng đây là quá trình thực hiện để đưa bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, của các cơ quan có thẩm quyền khác được tôn trọng và thực hiện trên thực tế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN)
+ Kết quả thi hành án dân sự thực hiện theo (Nghị quyết số 111/2015/QH13 của Quốc hội)
+ Kết quả thi hành án dân sự về việc và về tiền 12 tháng năm 2017 (từ ngày 01/10/2016 đến ngày 30/9/2017)
- Về việc, (đến hết tháng 9/2016), số cũ chuyển sang là 49 việc; (từ 01/10/2016) đến
(30/09/2017), thụ lý mới 330 việc, tăng 64 việc (24.06%) so với cùng kỳ Như vậy, tổng
số thụ lý là 379 việc, tăng 84 việc (28.4%) so với cùng kỳ Kết quả xác minh, phân loại
thì có: 327 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 86.3%), tăng 61 việc (22.9%) so với
cùng kỳ và 52 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 13.7%) Trong số có điều
kiện, đã giải quyết xong 309 việc, đạt tỷ lệ 94.46% (tăng 19.46 % so với chỉ tiêu được giao) So với cùng kỳ năm 2016, tăng 63 việc (25.6%) và tăng 2.12% về tỷ lệ
Số việc chuyển kỳ sau 70 việc, trong đó số việc có điều kiện nhưng chưa thi hành
xong là 18 việc, so với số việc có điều kiện thi hành năm 2016 chuyển sang năm 2017 (02 việc) giảm 02 việc (10%)
- Về tiền, (đến hết tháng 9/2016), số cũ chuyển sang là 1.255.469.000 đồng; từ
(01/10/2016 đến 30/9/2017), thụ lý mới 3.658.129.000 đồng, tăng 2.696.977.000 đồng (280.6%) so với cùng kỳ Như vậy, tổng số tiền thụ lý là 4.913.598.000 nghìn đồng, tăng
2.088.102.000 đồng (73.9%) so với cùng kỳ Kết quả xác minh, phân loại: 3.088.359.000
đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 62.8%), tăng 1.121.384.000 đồng (57%) so với cùng kỳ và 1.825.239.000 đồng chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 37.2%) Trong số
có điều kiện, đã giải quyết xong 2.109.598.000 đồng, đạt tỷ lệ 68.30% (tăng 35.3% so với
chỉ tiêu được giao) So với cùng kỳ năm 2016, tăng 539.571.000 đồng (34%) và giảm
8.19% về tỷ lệ
Số tiền chuyển kỳ sau 2.804.000.000 đồng, trong đó số tiền có điều kiện nhưng chưa thi hành xong là 978.761.000 đồng, so với số việc có điều kiện thi hành năm 2016 chuyển sang năm 2017 (396.947.000đồng) tăng 581.814.000 đồng
- Về thi hành án đối với các khoản thu cho Ngân sách Nhà nước, số việc phải giải
quyết loại này là 214 việc, tương ứng với số tiền là 288.055.000 đồng (chiếm 73.03% về việc
và 5.86% về tiền so với tổng số việc và tiền phải giải quyết) Kết quả: trong số việc loại này,
đã giải quyết được 185 việc thu được số tiền là 129.583.000 đồng, đạt tỷ lệ 86.4% về việc và
68.55% về tiền
- Về tình hình giải quyết các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng: số việc phải
giải quyết loại này là 10 việc, tương ứng với số tiền là 201.087.000đồng (chiếm 2.6% về việc
và 4.09% về tiền so với tổng số việc và tiền phải giải quyết) Kết quả: trong số việc loại này,
Trang 24đã giải quyết được 6 việc thu được số tiền là 135.922.000 đồng, đạt tỷ lệ 60% về việc và 67.5% về tiền
- Về kết quả xét miễn, giảm thi hành án, các cơ quan Thi hành án dân sự đã phối
hợp với Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp rà soát, lập hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân
có thẩm quyền xét miễn, giảm đối với 01 việc, tương ứng với số tiền 7.153.556 đồng
Kết quả: đã thực hiện miễn, giảm được 01 việc với số tiền 7.153.556 đồng
- Về kết quả tổ chức thi hành phần dân sự trong các bản án hình sự đối với phạm nhân tại các Trại giam: Trong năm 2017, tổng số việc, tiền phải thi hành của người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam là 91 việc, tương ứng với
830 triệu 020 nghìn đồng Kết quả: Thi hành xong 57 việc, thu được số tiền là 324 triệu 364 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 62.6 % về việc và 39.07% về tiền (So với cùng kỳ năm 2016, tăng 01 việc và 482 triệu 748 nghìn đồng; tăng 1.1% tỷ lệ về việc và tăng 139% tỷ lệ về tiền)
- Về kết quả tổ chức cưỡng chế thi hành án, (từ ngày 01/10/2016 đến hết ngày
30/9/2017), đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với 10 trường
hợp, tăng 06 trường hợp so với cùng kỳ, trong đó có 03 vụ cưỡng chế có huy động lực lượng liên ngành, tăng 02 trường hợp so với cùng
- Về kết quả xử lý tài sản để bảo đảm thi hành án: 03 việc, với số tiền 731.900.000Đ; đã xử lý xong 0 việc, với số tiền 0; số vụ việc đã kê biên tài sản, định giá
lại và bán đấu giá nhiều lần nhưng vẫn chưa xử lý được là 0 việc, tương ứng với số tiền là
0 đồng (chiếm 0 % về việc và 0% về tiền trong số việc, tiền có điều kiện thi hành)
+ Kết quả thi hành án dân sự về việc và về tiền 12 tháng năm 2018 (từ ngày 01/10/2017 đến ngày 28/9/2018)
- Về việc, (đến hết tháng 9/2017), số cũ chuyển sang là 70 việc; từ 01/10/2017 đến
28/9/2018, thụ lý mới 278 việc, giảm 52 việc (15.7%) so với cùng kỳ
Như vậy, tổng số thụ lý là 348 việc, giảm 31 việc (8.9%) so với cùng kỳ Kết quả xác minh, phân loại thì có: 297 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 85.34%), giảm
28 việc (8.6%) so với cùng kỳ và 49 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 14.66%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 280 việc, đạt tỷ lệ 94.28% (so với chỉ tiêu được giao vượt 19.2%) So với cùng kỳ năm 2017, giảm 27 việc (0.18%)
Số việc chuyển kỳ sau 66 việc, trong đó số việc có điều kiện nhưng chưa thi hành xong là 17 việc, so với số việc có điều kiện cùng kỳ năm 2017 (18 việc) giảm 01 việc (5.5%, vượt 1% so với chỉ tiêu giảm việc tồn được giao năm 2018)
Việc thi án qua từng năm có chiều hướng tăng về số việc và việc chưa có điều kiện cũng có tăng thêm Qua đó có thể thấy, các vụ việc này có không tốt đang tăng lên Tuy vậy, tiến độ công tác THADS vẫn đáp ứng được nhu cầu của công việc
Trang 25Bảng thi hành kết quả về việc
Số việc không có điều kiện thi hành
Tỷ lệ % Thi hành
xong
Giải quyết xong ( đình chỉ, ủy thác, miễn giảm)
(Nguồn: báo cáo công tác thi hành án dân sự huyện Sa Thầy)
Kết quả: Thi hành xong 59 việc, thu được số tiền là 266.098.000 đồng, đạt tỷ lệ 79.7% về việc và 12.5% về tiền (So với cùng kỳ năm 2017, tăng 46 việc và tăng 1.589.420.000 đồng; tăng 62.2% tỷ lệ về việc và tăng 25.5% tỷ lệ về tiền)
Trong 12 tháng năm 2018, Chi cục đã triển khai thực hiện tốt Thông tư liên tịch (số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013) và Quy chế phối hợp (số 911/QCLN-TCTHADS-TCTHAHS ngày 26/11/2015)
- Về kết quả tổ chức cưỡng chế thi hành án, (từ ngày 01/10/2017 đến hết ngày 31/7/2018), đơn vị đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với 07 trường hợp, tăng 4 trường hợp so với cùng kỳ, do có 02 trường hợp đương sự tự nguyện thi hành án, nên thực tế số việc phải tổ chức cưỡng chế là 05 trường hợp, tăng 4 trường hợp so với cùng kỳ, trong đó có 05 cuộc cưỡng chế có huy động lực lượng liên ngành, tăng 01 trường hợp so với cùng kỳ
- Về kết quả xử lý tài sản để bảo đảm thi hành án (phân tích thuận lợi, khó khăn, ví
dụ vụ việc cụ thể): bán đấu giá thành 02 việc, tuy nhiên tài sản bảo đảm đưa ra bán đấu giá nhiều lần làm giảm giá trị thực tế của tài sản bảo đảm, gây tổn thất cho người phải thi hành án, người được thi hành án vụ (Chiến, Tốt), 03 việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để khấu trừ khoản nghĩa vụ phải thi hành án
- Tình hình, kết quả triển khai thi hành án thuộc phạm vi điều chỉnh của (Nghị quyết
số 42/2017/QH14) về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng trong 12 tháng năm
2018 tại đơn vị xử lý 02 vụ việc liên quan theo (Nghị quyết 42)
+ Về tình hình thực hiện một số chỉ tiêu khác theo (Nghị quyết số 37 của Quốc hội): Đơn vị đã thực hiện nghiêm túc chỉ tiêu về “Ra quyết định thi hành án đúng thời hạn đối với các bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực theo đúng quy định của pháp luật”; chỉ tiêu về “bảo đảm chính xác, đúng pháp luật trong việc xác minh, phân loại án dân sự có điều kiện thi hành và chưa có điều kiện thi hành”; chỉ tiêu “Cơ bản khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án”
- Thi hành về tiền, (đến hết tháng 9/2017), số cũ chuyển sang là 2.804.000.000
đồng; (từ 01/10/2017 đến 28/9/2018), thụ lý mới 5.201.820.000 đồng, tăng 1.543.691.000 đồng (42.1%) so với cùng kỳ Như vậy, tổng số tiền thụ lý là 8.005.820.000 đồng, tăng 3.092.222.000 đồng (62.9%) so với cùng kỳ Kết quả xác minh, phân loại: 4.124.440.000 đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 51.5%), tăng 1.036.481.000 đồng (33.5%) so
Trang 26với cùng kỳ và 3.880.980.000 đồng chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 48.5%) Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 3.179.955.000 đồng, đạt tỷ lệ 77.1% (so với chỉ tiêu được giao vượt 42%) So với cùng kỳ năm 2017, tăng 1.070.575.000 đồng (50.7%)
Số tiền chuyển kỳ sau 4.825.483.000 đồng
- Trong đó số tiền có điều kiện nhưng chưa thi hành xong là 944.503.000 đồng, so với số việc có điều kiện cùng kỳ năm (2017), giảm 34.258.000 đồng (bằng 3,5%, đạt chỉ tiêu giảm tiền tồn do Cục THADS giao)
- Về thi hành án đối với các khoản thu cho Ngân sách Nhà nước, số việc phải giải quyết loại này là 178 việc, tương ứng với số tiền là 662.149.000 đồng (chiếm 51.4% về việc và 8.27% về tiền so với tổng số việc và tiền phải giải quyết)
Kết quả: trong số việc loại này, đã giải quyết được 147 việc thu được số tiền là 480.988.000 đồng, đạt tỷ lệ 82.5% về việc và 72.6% về tiền
- Về tình hình giải quyết các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng: số việc phải giải quyết loại này là 7 việc, tương ứng với số tiền là 1.285.040.000 đồng chiếm 2.02%
về việc và 16.05% về tiền so với tổng số việc và tiền phải giải quyết)
Kết quả: trong số việc loại này, đã giải quyết được 5 việc thu được số tiền là 825.080.000 đồng, đạt tỷ lệ 71.4% về việc và 64.2% về tiền
- Về kết quả xét miễn, giảm thi hành án, đơn vị đã phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp rà soát, lập hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét miễn, giảm đối với 2 việc, tương ứng với số tiền 4.025.000 đồng
- Kết quả: đã thực hiện miễn, giảm được 2 việc với số tiền 4.025.000 đồng
- Về kết quả tổ chức thi hành phần dân sự trong các bản án hình sự đối với các Trại giam thuộc Bộ Công an: Trong 12 tháng năm 2018, tổng số việc, tiền phải thi hành của người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam là 74 việc, tương ứng với 2.133.067.000 đồng
Về thi hành án bằng tiền, kết quả của từng năm được thay đổi và tăng lên rõ rệt mặc
dù lượng tiền thi hành tăng mạnh qua từng năm Số tiền thi hành án chưa có điều kiện vẫn đang ở mức cao vì nguyên nhân đa số loại án này là do người phải thi hành án không
có điều kiện thi hành và đang chấp hành hình phạt tù Để thực hiện khoản thu này là một điều hết sức khó khăn
Bảng thi hành kết quả bằng tiền
Tỷ lệ
%
xong ( đình chỉ, ủy thác, miễn giảm)