Trong giai đoạn nền kinh tế của đất nước đang phát triển theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý và chính sách pháp luật không phải lúc nào cũng ngay lập t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN- THỰC TIỄN TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
Kon Tum, ngày 20 tháng 06 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN- THỰC TIỄN TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : CHÂU THỊ NGỌC TUYẾT
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG
LỚP : K915LK1
MSSV : 15152380107013
Kon Tum, ngày 20 tháng 06 năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên khi đã hoàn thành toàn bộ chương trình bốn năm tại trường đại học, trong đó có cả sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế tại trường Đại học Đà Nẵng phân hiệu tại Kon tum
Được sự phân công và giúp đỡ từ nhà trường cùng giáo viên hướng dẫn, em đã được đến thực tập tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn tây, tỉnh Quảng Ngãi, quá trình thực tập kéo dài 3 tháng từ ngày 15 tháng 02 năm 2019 đến ngày 15 tháng 5 năm 2019 Trong quá trình thực tập em đã học được không ích kinh nghiệm thực tiễn về pháp luật cũng như về sự vận hành của bộ máy viện kiểm sát nhân dân huyện Sau khi kết thúc quá trình thực tập tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi và trở về
trường, em đã chọn đề tài “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản- thực tiễn tại huyện Sơn Tây,
tỉnh Quảng Ngãi” để hoàn thành việc nghiên cứu, học tập tại trường cũng như cũng cố
lại kinh nghiệm đã học dược tại đơn vị thực tập
Em xin cảm ơn Giám đốc Đại học Đà Nẵng phân hiệu tại Kon Tum, Phó giám đốc nhà trường, giáo viên hướng dẫn cùng các giảng viên bộ môn đã giúp đỡ em trong việc học tập 4 năm tại trường và góp ý giúp em hoàn thành đề tài thực tập tốt nghiệp
Em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến viện trưởng, phó viện trưởng, các anh chị cán bộ tại các phòng ban và đặt biệt là cán bộ hướng dẫn trực tiếp cho em tại viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình trong suốt quảng thời gian thực tập
Trong quá trình thực tập, vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên trong bài báo cáo khó tránh khỏi sai sót Kính mong nhận được sự góp ý và nhận xét từ phía thầy cô để
em có được những kinh nghiệm bổ ích và áp dụng thực hiện hiệu quả trong tương lai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI 5
1.1 THÀNH LẬP VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI 5
1.1.1 Thành lập Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi 5
1.1.2 Thành tự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi 5
1.2 BỘ MÁY CHUNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN 6
1.3 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 6
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 9
2.1 KHÁI NIỆM VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 9
2.2 CĂN CỨ PHÁP LÝ 9
2.3 CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ 9
2.3.1 Mặt chủ thể của tội phạm 9
2.3.2 Mặt khách quan của tội phạm 10
2.3.3 Mặt khách thể của tội phạm 12
2.3.4 Mặt chủ quan của tội phạm 12
2.4 CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 13
2.5 PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI CÁC TỘI DANH KHÁC 16
2.5.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 16
2.5.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Tội trộm cắp tài sản 17
2.5.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Tội cướp tài sản 17
2.5.4 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Tội tham ô tài sản 17
KẾT CHƯƠNG 2 18
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI- GIẢI PHÁP 19
19
Trang 53.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI 19
3.1.1 Tình hình áp dụng pháp luật về xử phạt đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản 19 3.1.2 Đánh giá thành tựu đã đạt được và bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về
xử lý tội phạm phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 21
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 23 KẾT CHƯƠNG 3 25 KẾT LUẬN 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Một trong những quyền quan trọng luôn được pháp luật nói chung và pháp luật hình
sự nói riêng bảo vệ tránh sự xâm hại của các hành vi phạm tội là quyền sở hữu Trong thời gian qua các tội phạm xâm phạm sở hữu diễn ra rất phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản nhà nước, tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu diễn biến theo chiều hướng gia tăng, đây là loại tội phạm xảy ra thường xuyên, với nhiều thủ đoạn tinh
vi xảo quyệt, từ chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng Trong giai đoạn nền kinh tế của đất nước đang phát triển theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý và chính sách pháp luật không phải lúc nào cũng ngay lập tức phù hợp với thực trạng nền kinh tế, do đó tình hình tội phạm có nhiều biến đổi, đặc biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được thực hiện với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, chiếm đoạt tài sản có giá trị rất lớn, có những vụ án chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng của nhà nước, có nhiều trường hợp lợi dụng việc giao kết hợp đồng đầu tư, hợp đồng vay vốn hoặc sử dụng công nghệ khoa học tiên tiến về vi tính, tin học để làm thẻ tín dụng giả, tìm kiếm mật mã số tài khoản của người khác… nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản Bộ luật hình sự do Nhà nước ban hành quy định các hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định các chế tài tương ứng nhằm trừng trị và giáo dục đối với người phạm tội cũng như răn đe phòng ngừa chung đối với toàn xã hội nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của mọi tổ chức và lợi ích của công dân, góp phần duy trì trật tự trị an xã hội Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích nhìn thấy rõ pháp luật trong thực tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài sẽ nghiên cứu rõ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc nhìn thực tiễn tại khu vực sinh viên thực tập – huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi Những công dân vi phạm luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ có đặc điểm, động cơ gây án như thế nào;
số liệu về những vụ án này tại địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi qua các năm và trong năm nay như thế nào, tất cả sẽ được đề cấp và phân tích rõ tại đề tài thực tập này của sinh viên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng của đề tài
Đối tượng của đề tài là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Văn bản hợp nhất số của Bộ luật Hình sự năm 2015 ban hành ngày tháng năm được bổ sung ngày tháng năm 2017 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 Từ những quy định thực có trong bộ luật Hình sự và dưới góc nhìn thực tiễn về việc áp dụng pháp luật, sinh viên sẽ nêu và phân tích rõ những thành tự cũng như bất cập trong việc áp dụng pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đề tài, một phần nào đó đóng góp cho việc hoàn thiện pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt cũng như đưa ra một số giải pháp trong việc hạn chế sự gia tăng của tội phạm về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 7b Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian
Phạm vi nghiên cứu là khu vực huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi Bởi vì nơi thực tập của sinh viên là viện kiểm sát nhân dân huyện nên mọi số liệu thống kê, thông tin về các vụ án sẽ chỉ tập trung trong khu vực huyện
Huyện Sơn Tây là một huyện miền núi nằm ở phía tây tỉnh Quảng Ngãi Phía bắc huyện Sơn Tây giáp huyện Nam Trà My (tỉnh Quảng Nam), phía tây và nam giáp huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum), phía đông và đông nam là huyện Sơn Hà Huyện có diện tích 38.221,68 ha và dân số là 17.475 người
Sơn Tây là một huyện đa số người dân là dân tộc thiểu số, vùng kinh tế khó khăn Bởi vậy, mức sống người dân còn thấp, tệ nạn còn nhiều Hằng năm luôn có những vụ giết người, trộm cắp, buôn bán ma túy, cần sa xảy ra trên địa bàn huyện Về việc chấp hành đúng pháp luật của người dân còn chưa cao Tuy nhiên những năm gần đây nhờ những lớp học về tuyên truyền pháp luật được mở ra, cán bộ, sinh viên tham gia các chương trình tình nguyện giúp đỡ người dân nâng cao tri thức về luật cũng đã được đẩy mạnh nên tệ nạn xảy ra ít Người phạm tội cũng đã biết hợp tác với công an khi điều tra
án nên việc giáo dục dân cư cũng trở nên dễ dàng hơn
Phạm vi thời gian
Các số liệu cũng như các vụ án nêu ra trong đề tài là những vụ án liên quan về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài trong khoảng thời gian năm 2018 và bốn tháng đầu năm 2019 Vì đây là khoảng thời gian gần với quá trình thực tập của sinh viên cũng như đây là khoảng thời gian Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung đã được áp dụng
4 Phương pháp nghiên cứu
Theo phương pháp luận chủ nghĩa Mac-Lenin, chúng ta hiểu phương pháp chính là cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó
a Theo phạm vi ảnh hưởng, có thể phân phương pháp thành các cấp độ
Phương pháp riêng (đối với ngành): là các phương pháp chỉ sử dụng trong các
ngành riêng biệt Mỗi khoa học đều có các phương pháp đặc thù, chỉ sử dụng riêng trong ngành mình, không thể sử dụng cho ngành khác; ví dụ: ẩn dụ trong văn học, log trong toán học, …
Phương pháp chung: là các phương pháp có thể được áp dụng trong nhiều ngành
khác nhau; ví dụ: quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, …
Phương pháp chung nhất: là các phương pháp có thể sử dụng cho tất cả các ngành
khoa học, đó là phương pháp của triết học
Trang 8phương pháp Đồng thời chúng hỗ trợ, bổ sung, kiểm tra lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính xác thực của các luận điểm khoa học Như vậy, thì phương pháp hệ thống nhất với nghĩa thứ 2 của “phương pháp” và được sử dụng trong nghiên cứu khoa học
Phương pháp luận hiện nay, có nhiều cách hiểu gần giống nhau về phương pháp luận Có ba cách hiểu phổ biến nhất là Luận về một phương pháp; Hệ thống các phương pháp và Khoa học hoặc lý thuyết về phương pháp
Nếu xác định vị trí, thì phương pháp luận “là một bộ phận của logic học, nhằm nghiên cứu một cách hậu nghiệm về các phương pháp” Phương pháp luận không đề xuất, tạo ra các phương pháp, nó chỉ chọn lọc hoặc tổng hợp những phương pháp “Đứng trước những con đường khác nhau dẫn đến cùng một mục tiêu, phương pháp luận sẽ chỉ cho ta con đường nào là con đường ngắn nhất, tốt nhất”
Như vậy, phương pháp luận được hiểu là hệ thống các nguyên lý, quan điểm (trước hết là những nguyên lý, quan điểm liên quan đến thế giới quan) làm cơ sở, có tác dụng chỉ đạo, xây dựng các phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu tìm tòi cũng như việc lựa chọn, vận dụng phương pháp Nói cách khác thì phương pháp luận chính là lý luận về phương pháp, bao hàm hệ thống các phương pháp, thế giới quan và nhân sinh quan của người sử dụng phương pháp và các nguyên tắc để giải quyết các vấn đề đã đặt ra có hiệu quả cao nhất
c Phương pháp luận
Cũng như phương pháp, có thể phân ra các cấp độ phương pháp luận Phương pháp luận có nhiều cấp độ khác nhau: phương pháp luận ngành là phương pháp luận của các ngành khoa học cụ thể; phương pháp luận chung là các quan điểm, nguyên tắc chung hơn cấp độ ngành, dùng để xác định phương pháp hay phương pháp luận của nhóm ngành có đối tượng nghiên cứu chung nào đó; phương pháp luận chung nhất (phương pháp luận triết học) khái quát các quan điểm, nguyên tắc chung nhất làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp luận ngành, chung và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức
và thực tiễn Vì phương pháp luận mang tính lý luận cao nên nó có màu sắc triết học, tuy nhiên, không thể đồng nhất phương pháp luận và phương pháp luận triết học Phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới
Bởi vì Chủ nghĩa Mác – Lênin là phương hướng nhà nước ta đang theo đuổi Vậy nên mọi công việc của Đảng và nhà nước luôn sử dụng Chủ nghĩa Mác – Lênin để làm kim chỉ nam nên đề tài sinh viên cũng sử dụng để làm rõ lý luận cũng như đưa ra những lập luận, giải pháp đối với đề tài
Trang 9Chương III Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi- giải pháp
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
1.1 THÀNH LẬP VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI
1.1.1 Thành lập Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi
Huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi được thành lập ngày 6 tháng 8 năm 1994 và Viện kiểm sát nhân dân huyện sơn tây thành lập vào ngày 04/10/1994 Tại xã Sơn Dung, huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi
Bởi trong trước khi có huyện Sơn Tây hiện nay, thì khu vực đó là các xã thuộc huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi Việc tách huyện để dễ dàng quản lý các xã dân cư nhỏ
lẻ hơn Đi kèm với việc tách huyện thì các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện cũng phải hình thành theo để quản lý và phát triển kinh tế, xã hội huyện
1.1.2 Thành tự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi
Trong những năm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây đã luôn làm tốt nhiệm vụ của mình trong việc phối hợp cũng công an huyện, toàn án trong việc giải quyết các vấn đề tội phạm trong khu vực huyện Đội ngũ cán bộ trong Viện kiểm sát luôn hoàn thành tốt công việc cũng mình cũng như giúp đỡ đời sống nhân dân được văn minh và an toàn
Những vụ án hình sự, các tranh chấp dân sự, đất đai… luôn được Viện kiểm sát quan tâm và phối hợp cùng nhân dân và các ban ngành liên quan giải quyết một cách tốt nhất Những vụ án sau khi được giải quyết luôn nhận được sự hài lòng từ đa số bộ phận nhân dân nhờ vào tính chuyên nghiệp cũng như tinh thần trách nhiệm tốt của các cán bộ
Ở viện kiểm sát huyện Sơn Tây có một phòng nằm gần khu vực vào của Viện kiểm sát là Phòng Tiếp dân Ở đó cán bộ quản lý phòng tiếp dân sẽ lắng nghe và lưu tâm cũng như
xử lý các tranh chấp thây cho người dân Tôi thấy đây là một việc rất tốt, những vấn đề
mà người dân không thể tự tìm cách giải quyết thì sẽ tìm đến pháp luật Như vậy vừa nâng cao nghiệp vụ của các cán bộ trong ngành, vừa tạo được lòng tin của nhân dân vào pháp luật nước Cộng hòa xã hội củ nghĩa Việt Nam
Với 25 năm hoạt hộng, Viện kiểm sát nhân dân đã luôn luôn theo sát các vụ án để
vụ án giải các vụ án một cách công bằng, đảm bảo xử đúng người đúng tội Có những vụ
án có yếu tố phong tục tập quán như nạn tảo hôn, các nghi thức cúng bái mê tín dị đoan,
… cũng được giải quyết một cách hợp lý, tuy không triệt để vì một số ít người dân còn sống trong tư tưởng cũ kỹ nhưng đa số luôn được giải quyết đúng pháp luật Viện kiểm sát luôn theo sát quá trình kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Trang 11Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi trong tố tụng hình sự đã thực hành tốt quyền công tố trong việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
1.2 BỘ MÁY CHUNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN
BộViện kiểm sát nhân dân cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh có cơ cấu với sơ đồ sau:
1.3 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở địa phương mình Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng những công tác sau đây
1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
2 Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán
bộ thuộc các cơ quan tư pháp;
3 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;
4 Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh
tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
Viện kiểm sát nhân dân huyện
(Viện trưởng)
Các Viện kiểm sát chuyên trách
Cơ quan điều tra
Các cơ quan giúp việc
Trang 125 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà
Theo quy định tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ
và quyền hạn sau đây:
1 Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; Yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
2 Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;
3 Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;
4 Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật;
5 Huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra;
6 Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Điều 17 Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà;
2 Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm
về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm;
3 Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua các hoạt động kiểm sát cụ thể như sau:
Trang 13Thứ nhất, công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, bao gồm các hoạt động kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Thứ hai, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, bao gồm các hoạt động: Kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án và quyết định của Toà
án nhân dân theo quy định của pháp luật; yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị
Thứ ba, kiểm sát việc giải quyết của Tòa án đối với các vụ việc dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh tế, lao động, các vụ án hành chính và những việc khác theo quy định của pháp luật
Thứ tư, kiểm sát thi hành án, bao gồm các hoạt động: Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của Toà án nhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị
và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định về hình sự, dân sự đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật
Thứ năm, kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án
phạt tù, bao gồm các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị
và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù
Trang 14CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.1 KHÁI NIỆM VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (bị xác định là tội phạm) là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối để người khác tin tưởng, giao tài sản cho người phạm tội
Đây được xem là hành vi đánh vào tâm lý của người phạm tội đối với người bị hại Người phạm tội sẽ nghĩ ra các cách thức, phương thức để có được lòng tin của người bị hại, và các phương thức, cách thức thường là những thông tin sai sự thật mà người phạm tội cung cấp cho người bị hại Những thông tin sai sự thật này thường làm cho người bị hại cảm thấy có lợi hoặc nó đúng với suy nghĩ của họ nên rất dễ tin theo
Việc người bị hại tin theo những hành động cũng như thông tin sai lệch được đưa ra
từ người phạm tội đã là đạt được 50% mục đích của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và phạm tội hoàn thành khi người có tài sản đã tự nguyện giao tài sản của mình Người bị hại đối với loại tội phạm này chỉ nhận ra mình mất tài sản khi tài sản đã bị chiếm đoạt bởi người phạm tội
Loại tội phạm này rất phổ biến ở Việt Nam và đánh vào đa số người dân là người nghèo hoặc những người nhẹ dạ cả tin, các hành vi này ngày nay thường xảy ra rất nhiều trên mạng xã hội Nhờ vào sự tiện lợi của mạng xã hội cũng như những thông tin người dùng cung cấp trên đó mà người phạm tội dễ dàng thực hiện hành vi của mình Và giá trị tài sản luôn ở mức độ khác nhau tùy vào phương thức của kẻ lừa đảo Đôi khi giá trị tài sản bị chiếm đoạt lên đến hành trăm triệu đồng
2.3 CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ
2.3.1 Mặt chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự Theo quy định của Bộ luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi Tức là nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này Người trên 16 tuổi đã hình thành đầy đủ về mặt tâm sinh lý, họ có ý thức chuẩn mực nhất của bản thân đối với tất cả những hành vi mình thực hiện Khi một công dân đã trên 16 tuổi, họ có đẩy đủ năng lực hành vi thì họ sẽ nhận thấy việc mình làm là như thế nào, mục đích, phương thức, kết quả, ảnh hường đến những người xung quanh hay không đều được hình thành trong suy nghĩ của họ Đối với
Trang 15những chủ thê là người dưới 16 tuổi, họ vẫn còn nằm trong phạm vi đang được giáo dục
để hình thành nên nhân cách Những hành vi do người dưới 16 tuổi gây nên đa phần xuất phát từ những suy nghĩ thiếu chín chắn, sự xúi dục từ người khác hoặc đơn giản là mục đích muốn thể hiện bản thân Vì vậy, việc xử lý đối với những công dân dưới 16 tuổi cần
có sự giáo dục, cải tạo về mặt nhân cách tốt hơn
2.3.2 Mặt khách quan của tội phạm
Về hành vi khách quan
Hành vi của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác mà ngay lúc đó, người bị hại không biết được có hành vi gian dối;
Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật nhưng làm cho người bị lừa dối tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội Việc đưa ra thông tin giả có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động, bằng hình ảnh…hoặc kết hợp bằng nhiều cách thức khác nhau Hiện nay, thủ đoạn lừa đảo của tội phạm rất tinh vi, tội phạm thường thực hiện hành vi lừa đảo trên các trang mạng xã hội hoặc các trang web, sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, tội phạm sẽ cắt đứt mọi liên hệ với người bị hại và thường người bị hại không biết hoặc biết những thông tin không chính xác về tội phạm
Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ
sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi, cũng chính vì thế mà khi phân tích các dấu hiệu khách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một số quan điểm cho rằng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hành vi khách quan là hành vi
“gian dối” và hành vi “chiếm đoạt”, nói như thế cũng không phải là không có căn cứ Tuy nhiên, điều luật quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…” nên không thể coi thủ đoạn phạm tội là một hành vi khách quan được vì thủ đoạn chính là phương thức để đạt mục đích mà biểu hiện của thủ đoạn gian dối lại bao gồm nhiều hành vi khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể khác mà người phạm tội thực hiện hành vi đó nhằm đánh lừa người khác
Ví dụ: A nói dối với B là mẹ của A ốm phải đưa vào bệnh viện cấp cứu; B tin và
đưa xe máy cho A để A đưa mẹ đi cấp cứu A đem xe máy của B ra tiệm cầm đồ cầm cố lấy 10.000.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc và đã thua hết Nhưng trong một hoàn cảnh khác, A không nói dối với B là mẹ của mình bị bệnh mà lại nói dối với B là mượn xe chở bạn gái về rồi đem cầm cố lấy tiền đánh bạc Như vậy việc người phạm tội
có hành vi cụ thể nào để đánh lừa được người khác là phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể và do người phạm tội lựa chọn sao cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin
mà tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội
Trang 16Đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối của người phạm tội phải có trước hành vi chiếm đoạt và là nguyên nhân trực tiếp khiến người bị hại tin là thật mà giao tài sản cho người phạm tội Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới
là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp cụ thể, thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác,
ví dụ như tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Để lừa được chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, người phạm tội sử dụng nhiều cách khác nhau như: bằng lời nói dối, giả mạo giấy tờ, giả danh người có chức vụ quyền hạn, giả danh các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để thông qua việc ký kết hợp đồng…Thực tế để xác định hành vi gian dối, thường căn cứ vào các chứng từ, tài liệu, giấy tờ giả (như Hợp đồng mua bán, Giấy chứng nhận sở hữu nhà, đất, giấy vay tiền…) mà đối tượng dùng để tạo niềm tin cho chủ tài sản, làm cho chủ tài sản tin để giao tài sản để xác định Ví dụ: Trong các vụ án lừa đảo Ngân hàng, đối tượng phạm tội thường xây dựng phương án kinh doanh khống, làm giả
hồ sơ tài sản thế chấp…để được vay vốn sau đó chiếm đoạt mà không có khả năng trả nợ
Về hậu quả
Hậu quả của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là làm thiệt hại về tài sản của người khác Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nếu hành vi gian dối bị phát hiện trước khi người bị lừa dối giao tài sản hoặc người bị lừa dối không phát hiện ra hành
vi gian dối nhưng không thực hiện việc giao tài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho mình hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận
Hậu quả chung của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt
từ hai triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới hai triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội: cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội
sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản , chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại
và gia đình họ Nhưng không vì thế mà cho rằng, phải có thiệt hại về tài sản (người phạm tội chiếm đoạt được tài sản) thì mới cấu thành tội phạm
Đối với những trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc rất lớn như ôtô, xe máy, máy tính xách tay, điện thoại đắt tiền, đồng hồ có giá trị rất lớn hoặc tài sản khác có giá trị hàng chục triệu đồng trở lên, thì dù người phạm tội chưa
Trang 17chiếm đoạt được tài sản vẫn bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, là phạm tội trong trường hợp phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể
Về mối quan hệ nhân quả
Cũng như những tội có cấu thành vật chất khác, hậu quả và hành vi khách quan của tội phạm có mối quan hệ nhân quả với nhau Hậu quả thiệt hại về tài sản phải được xuất phát từ hành vi lừa dối Nếu việc thiệt hại về tài sản từ nguyên nhân khác thì sẽ dựa vào những dấu hiệu khách quan để xác định xem có dấu hiệu của tội phạm không và được pháp luật điều chỉnh như thế nào
2.3.3 Mặt khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước,
cơ quan, tổ chức, cá nhân Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản, bao gồm vật, tiền Việc xâm phạm quyền sở hữu cũng thể hiện ở hành vi chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khác sau khi lừa lấy được tài sản
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
2.3.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ý của chủ thể, mục đích là mong muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người bị hại Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu sau khi đã có tài sản một cách hợp pháp, ngay thẳng rồi mới có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác như tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Thực tế việc chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội thường căn cứ vào tài sản thực có, tình trạng tài chính, nhu cầu tài sản của người phạm tội kết hợp với lời khai nhận của người phạm tội như thế nào Thông thường trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người