1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận và thực tiễn các tình tiết giảm nhẹ trong luật hình sự việt nam tại viện kiểm sát huyện tumorong, tỉnh kon tum

48 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Luận Và Thực Tiễn Các Tình Tiết Giảm Nhẹ Trong Luật Hình Sự Việt Nam Tại Viện Kiểm Sát Huyện Tu Mơ Rông, Tỉnh Kon Tum
Tác giả Trần Thị Thu Oanh
Người hướng dẫn Thạc Sỹ Nguyễn Thị Anh Thư
Trường học Đại học Đà Nẵng phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum
Thể loại báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu giải thích và làm sáng tỏ nội dung của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý rất quan trọng trong quá trình

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

TRẦN THỊ THU OANH

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI VIỆN KIỂM SÁT HUYỆNTU MƠ RÔNG, TỈNH

KON TUM

Kon Tum, tháng 8 năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI VIỆN KIỂM SÁT HUYỆNTU MƠ RÔNG, TỈNH

KON TUM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : NGUYỄN THỊ ANH THƯ

Kon Tum, tháng 8 năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trường Đại học

Đà Nẵng phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum đã tận tình dạy dỗ em trong suốt thời gian học tại trường những kiến thức bổ ích mà các thầy cô giáo đã trang bị vừa là nền tảng, vừa là hành trang hữu ích cho công việc sau này của em Đồng thời, em cũng cảm

ơn giảng viên hướng dẫn thực tập Thạc Sỹ Nguyễn Thị Anh Thư đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong việc hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp

Được sự giới thiệu của Nhà trường và sự chấp nhận của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông em đã có cơ hội thực tập tại quý cơ quan Nhưng nhờ sự quan tâm chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của ban lãnh đạo quý cơ quan cũng như các anh chị công tác trong cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ em hòa nhập trong công việc cũng như hoàn thành tốt trong kỳ thực tập và báo cáo thực tập một cách thuận lợi nhất Nhân đây

em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu

Mơ Rông, Tỉnh Kon Tum, các cô chú, anh chị trong Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu

Mơ Rông đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em tiếp cận thực tế trong suốt thời gian thực tập

Tuy thời gian thực tập là không nhiều nhưng đây là khoảng thời gian vô cùng quý giá Đây là cơ hội để em được cọ xát với thực tế, được tận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn công việc Bên cạnh đó em còn được quan sát cách làm việc của các cán bộ Viện kiểm sát và rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân Để khi ra trường em sẽ vững tin hơn với kiến thức đã học và những trải nghiệm thực tế từ khóa thực tập để phục

vụ cho công việc sau này Với nội dung mà báo cáo trình bày, do năng lực bản thân còn hạn chết và có nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý tận tình của quý thầy, cô giáo cùng các bạn để bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

l Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài 1

3 Kết cấu của đề tài 1

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ 2

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 2

1.1.1 Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam 2

1.1.2 Đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam 3

1.1.3 Ý nghĩa việc áp dụng đúng đắn các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong xét xử các vụ án hình sự 4

1.2 Quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 5

1.2.1 Quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trước khi có Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) 5

1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 9

CHƯƠNG 2 THỰC TIỂN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM 22

2.1 Khái quát chung về Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông 22

2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông 22

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ được giao của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông 23

2.2 Thực tiển áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông 23

2.2.1 Tình hình áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông 23

2.2.2 Thực tiển áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông 24

2.2.3 Nhận xét về thực tiển áp dụng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông 31

2.2.4 Những vấn đề rút ra và những vấn đề tồn tại từ thực tiển áp dụng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông 33

Trang 5

CHƯƠNG 3 CÁC KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ÁP DỤNG CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM 35 3.1 Đánh giá tổng hợp về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại huyện Tu Mơ Rông, Tỉnh Kon Tum 35 3.2 Các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại huyện Tu Mơ Rông, Tỉnh Kon Tum 37

3.2.1 Kiến nghị chung nhằm nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại huyện Tu Mơ Rông, Tỉnh Kon Tum 37 3.2.2 Kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại huyện Tu Mơ Rông, Tỉnh Kon Tum 38

3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại huyện Tu Mơ Rông, Tỉnh Kon Tum 39 KẾT LUẬN 41 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 6

MỞ ĐẦU

l Lý do chọn đề tài

Các tình tiết có vai trò quan trọng trong việc xác định và xử lý tội phạm Được sử dụng để phân biệt các tội phạm khác nhau Tội phạm là một hiện tượng của xã hội, tội phạm xảy ra xâm phạm đến các quan hệ xã hội khác nhau, có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng nếu cùng xâm phạm đến một quan hệ xã hội thì mỗi hành vi phạm tội cũng có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau, nếu tính chất và mức độ xâm phạm như nhau thì vẫn có những yếu tố khác nhau Chính do sự khác nhau này pháp luật không thể quy định mức hình phạt cho từng hành vi phạm tội, mà chỉ quy định khung hình phạt cho một nhóm hành vi giống nhau cơ bản về tính chất nhưng khác lượng Sự khác nhau về lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và được pháp luật quy định thành hai nhóm tình tiết có nội dung trái ngược nhau Các yếu tố nào làm thay đổi mức

độ nguy hiểm của hành vi theo mức độ ít nghiêm trọng hơn gọi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

2 Mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Như vậy, Luật quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ cần thiết để Tòa án xem xét quyết định hình phạt Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thực hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu giải thích và làm sáng tỏ nội dung của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, vấn đề tách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội, cũng như thể hiện rõ phương châm: “Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị với giáo dục” trong chính sách hình sự của nước ta Theo Điều

51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), một trong những căn cứ

để Tòa án quyết định hình phạt là xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết thể hiện sự nguy hiểm của hành vi phạm tội ở những mức độ khác nhau được xem xét dựa trên yếu

tố khách quan, chủ quan hoặc các đặc điểm nhân thân người phạm tội Tất cả các tình tiết này đều thuộc về các căn cứ để quyết định hình phạt

3 Kết cấu của đề tài

Kết cấu của đề tài được trình bày gồm có 3 phần mở đầu, nội dung và kết luận ( danh mục tài liệu tham khảo kèm theo), phần nội dung của đề tài thì gồm có 3 chương : Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự

Chương 2 Thực tiển áp dụng các quy định pháp luật về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông, Tỉnh Kon Tum

Chương 3 Các kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông, Tỉnh Kon

Trang 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TÌNH TIẾT

GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 1.1.1 Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thuật ngữ khá phổ biến trong pháp luật hình sự và có vai trò quan trọng trong quyết định hình phạt Tuy nhiên, các Bộ luật hình

sự cũng như các văn bản pháp luật hình sự khác từ trước đến nay thì chưa có khái niệm

cụ thể về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Trong khoa học pháp lý, tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn đề này và chưa có sự thống nhất, đồng bộ để đưa ra một khái niệm được áp dụng chung

Từ điển pháp luật hình sự lí giải thuật ngữ “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”

là “tình tiết ảnh hưởng đến mức độ trách nhiệm hình sự của trường hợp phạm tội cụ thể theo hướng làm giảm xuống so với trường hợp bình thường”

Trên phương diện phân tích ngôn ngữ tiếng Việt thuật ngữ “tình tiết” được hiểu là

sự việc nhỏ trong quá trình diễn biến của sự kiện, tâm trạng Còn thuật ngữ “giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” được hiểu là việc miễn, giảm tác động cưỡng chế hình sự thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự Căn cứ theo cách hiểu hiểu trên những tình tiết của tội phạm trong một vụ án mà làm giảm bớt mức độ trách nhiệm hình sự của tội phạm cụ thể

so với bình thường có thể coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì : Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết không có ý nghĩa về mặt định tội, định khung hình phạt mà chỉ có tác dụng làm giảm mức độ trách nhiệm hình sự trong phạm vi một khung hình phạt nhất định

Các tình tiết giảm nhiệm hình sự không được quy định trong các điều khoản của phần các tội phạm như các tình tiết định tội, định khung hình phạt mà được quy định riêng tại Điều 46 Bộ luật hình sự Quan điểm trên giới hạn các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là làm giảm mức độ trách nhiệm hình sự trong một khung hình phạt, đồng thời căn cứ vào cơ sở pháp lý để Tòa án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự

Cũng đưa ra khái niệm về vấn đề này, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam ( Phần chung) của Trường Đại học Huế do Giáo Sư Tiến Sĩ Võ Khánh Vinh chủ biên cũng có nêu: “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc khi quyết định hình phạt

là những tình tiết khác nhau về tội phạm đã thực hiện, về thân nhân người phạm tội được quy định cụ thể trong luật hoặc không được quy định cụ thể trong luật nhưng được Tòa

án cân nhắc với ý nghĩa làm giảm trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội”

Nếu như khái niệm của Giáo trình Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên đặc trưng pháp lí thì quan niệm này nêu ra cơ sở phân nhóm các tình tiết giảm nhẹ dựa

Trang 8

trên quy định của pháp luật, dựa trên các yếu tố của tội phạm liên quan đến tình tiết nhưng không đề cập đến điều luật quy định cụ thể Nhìn chung, ý nghĩa giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các tình tiết luôn được chú trọng

Qua đó, phản ánh mức độ ảnh hưởng đến quyết định xét xử và mức hình phạt của

cơ quan tiến hành tố tụng, đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật hình sự

Là cơ sở để người phạm tội có thể chịu trách nhiệm hình sự ở mức thấp nhất hơn so với quy định của pháp luật

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được sử dụng và có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình cơ quan tố tụng tiến hành xét xử, là căn cứ để đưa ra mức hình phạt của Tòa án Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 không đưa ra khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Từ thực tế cho thấy, dù Bộ luật hình sự đã có những điều chỉnh mới những quy định

về Điều luật, nhưng bản chất, nội dung của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới chỉ nêu đặc trưng pháp lý (Căn cứ tại Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 21 của

Bộ luật hình sự năm 2015) Chưa thể hiện được cách nhìn khái quái về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cách nhận biết như: “Khái niệm tội phạm” tại Điều 8, “Khái niệm hình phạt” tại Điều 30 Bộ luật hình sự năm 2015

Trên cơ sở tiếp thu từ các công trình nghiên cứu của những người đi trước, tôi xin đưa ra khái niệm định nghĩa: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết xảy ra trong vụ án hình sự Có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi phạm tội, phản ánh khả năng nhận thức của người có hành vi phạm tội trong quá trình diễn biến sự việc, ý thức ăn năn, hối cải và muốn cải tạo người phạm tội Ngoài ra, yếu tố hoàn cảnh, nguyên nhân tác động, nhân thân của người phạm tội cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Có giá trị làm cơ sở, xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho người phạm tội được pháp luật quy định cụ thể và công nhận

Khái niệm về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giúp các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và người dân có thể hiểu hơn, sâu rộng hơn so với kiến thức phổ biến chung hiện nay

1.1.2 Đặc điểm các tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam

Thông qua tìm hiểu về khái niệm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có thể rút

ra một số đặc điểm cơ bản:

Thứ nhất, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có liên quan đến việc giải

quyết trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Đây là đặc điểm quan trọng thể hiện bản chất của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giới hạn phạm vi của các tình tiết giảm nhẹ trong việc giải quyết vụ án hình sự Trong thực tiển, tội phạm diễn ra ngày một phức tạp, một vụ án có thể có nhiều tình tiết liên quan Ngoài những tình tiết đã được dùng để định tội hay định khung hình phạt, những tình tiết có ảnh hưởng đến nguy hiểm cho xã hội của tội phạm theo hướng giảm đi

Trang 9

mức độ nguy hiểm của xã hội cho hành vi, sẽ là căn cứ để giảm trách nhiệm hình sự cho người phạm tội

Thứ hai, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa giảm nhẹ mức độ

nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, phản ánh khả năng cải tạo tốt của ngừơi phạm tội hoặc phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng

Đặc điểm này, thể hiện rõ giá trị của các tình tiết giảm nhẹ trong quyết định hình phạt, phản ánh mức độ ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ đối với tính nguy hiểm cho

xã hội của hành vi Giá trị của các tình tiết giảm nhẹ có thể hình dung rõ ràng trong sự so sánh với các trường hợp phạm tội khác mà không có tình tiết giảm nhẹ

Thứ ba, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chưa được quy định cụ thể giá trị

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong chế tài

Đây cũng là cơ sở để các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng được áp dụng để cá thể hóa hình phạt và phân biệt với tình tiết định tội, định khung giảm nhẹ

Việc xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự góp phần làm cho hình phạt được tuyên phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Giá trị của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sẽ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cá biệt cho từng trường hợp khác nhau Mỗi tình tiết có ý nghĩa khác nhau, sự ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội, đến quyết định hình phạt dĩ nhiên cũng sẽ có sự khác biệt Có tình tiết thì ảnh hưởng rất lớn đến việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho hầu hết trường hợp phạm tội nhưng có tình tiết thì ảnh hưởng ít hơn Có tình tiết chỉ có ý nghĩa đáng kể tội phạm này nhưng tội phạm khác thì lại hạn chế

Giá trị giảm nhẹ của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chưa được quy định

cụ thể, mức độ ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ đến đâu, mỗi tình tiết sẽ được giảm nhẹ thế nào đều không được quy định theo một tuân chuẩn cụ thể nào, mà do Tòa án có trách nhiệm cân nhắc, xem xét Trong khi các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể trong phần chung của Bộ luật hình sự, trong các văn bản hướng dẫn, hoặc theo quy định mở cho theo sự xem xét của Tòa án, thì các tình tiết được dùng làm giá trị định tội, định khung được quy định trong các tội danh cụ thể Đồng thời, khi xem xét các tình tiết liên quan cần lưu ý ưu tiên xem xét các tình tiết này có được dùng

để định tội, định khung hay chưa Tình tiết nào đã được quy định là tình tiết định tội và định khung thì không xem là tình tiết giảm nhẹ Điều này, chứng tỏ tình tiết giảm nhẹ không được sử dụng hai lần trong cùng một bản án

Ví dụ minh họa: Tình tiết “Phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, trong tội “Giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng” ( Điều 126 Bộ luật hình sự 2015) thì tình tiết này là tình tiết định tội và giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của nó đã được ghi nhận trong chế tài

1.1.3 Ý nghĩa việc áp dụng đúng đắn các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong xét xử các vụ án hình sự

Ý nghĩa trong việc thực hiện các nguyên tắc của pháp luật hình sự

Trang 10

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là biểu hiện của nguyên tắc các nguyên tắc công bằng, phân hóa nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân đạo của pháp luật hình sự

Công bằng thể hiện ở giá trị của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự giúp cho việc quyết định hình phạt được phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của từng tội phạm

Khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vào quá trình giải quyết trách nhiệm hình sự của người phạm tội, không phải bất kỳ tình tiết nào cũng có vai trò như nhau với mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự riêng biệt Không phải bất kỳ trường hợp nào cùng một tội phạm cũng chịu mức hình phạt như nhau và không phải mọi trường hợp bị kết án đều áp dụng hình phạt

Qua đó, cũng cho thấy một trong những tinh thần chủ đạo của Nhà nước là chính sách nhân đạo trong việc áp dụng pháp luật hình sự kết hợp giữa “Nghiêm trị với khoan hồng”, “trừng trị với giáo dục” Từ đó, cũng khơi gợi lòng hướng thiện của những người lầm đường lạc lối được nhận sự khoan hồng, hướng dẫn đến những giá trị tích cực hơn và tốt đẹp hơn

Ý nghĩa trong việc áp dụng pháp luật hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự, là một trong những căn cứ để giải quyết đúng trách nhiệm hình sự Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là cơ sở để nhìn nhận đúng đắn bản chất tội phạm, khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội Qua đó, có sự khách quan, toàn diện, mềm dẻo trong quyết định hình phạt và xét xử đúng ngừơi, đúng tội, thấu tình đại lí Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng là một trong những cách thức để đạt được mục đích của hình phạt Theo Điều 31 Bộ luật hình sự 2015: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục học ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa học phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” Mục đích của hình phạt đạt được khi đảm bảo người phạm tội chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ tội phạm gây ra chứ không đơn thuần là trừng trị người phạm tội Đồng thời, qua các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng cho thấy

cơ sở để cân nhắc khả năng cải tạo, tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội

Bên cạnh, việc quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cụ thể trong pháp luật hình sự, sự cho phép công nhận những tình tiết khác luật định tạo thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật, góp phần hạn chế sự bất cập trong trường hợp pháp luật chưa tiên liệu được Qua đó, góp phần vào công cuộc xây dựng, hoàn thiện pháp luật trong tương lai

1.2 Quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1.2.1 Quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trước khi có Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

a Quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thời kỳ phong kiến

Trang 11

Pháp luật hình sự Việt Nam có quá trình phát triển lâu đời Trong thời kỳ phong

kiến, luật hình sự chiếm địa vị ưu thế trong nền pháp luật của nước ta “Tất cả mọi điều

khoản trong cổ luật được chế tài về phương diện hình sự Chính vì lẽ ấy, các bộ luật cổ đàu tiên của Việt Nam, đều mệnh danh là bộ luật hình” Pháp luật hình sự của các triều

đại phong kiến Việt Nam đã từng bước hình thành và phát triển và mang đậm dấu ấn của những bước thăng trầm lịch sử Đỉnh cao của sự phát triển đó là Bộ Quốc triều hình luật

Vì nhiều lí do mà phần lớn các di sản pháp lí không còn lưu truyền cho đến ngày nay Hiện nay, có thể nói Bộ Quốc triều hình luật thời Lê và Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn còn được lưu truyền cho đến ngày naylà những bộ luật đại diện cho pháp luật hình sự thời kỳ phong kiến Việt Nam Quốc triều hình luật ( 1428 - 1788) là bộ luật xưa nhất còn lưu giữ đầy đủ Đây là Bộ luật quan trọng nhất và chính thống nhất của triều

Hoàng Việt luật lệ (1813 – 1945) đời nhà Nguyễn cũng là bộ luật được soạn thảo theo tinh thần như hoàng đế Gia Long chỉ định : “Lấy luật lệ của các triều đại nước ta làm căn bản, tham chiếu luật Hồng Đức và luật Thanh triều”

Qua nghiên cứu quá trình hình thành và hoàn thiện chế định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thời kỳ phong kiến Việt Nam, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1 Quy định của pháp luật hình sự phong kiến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

là yêu cầu khách quan Dù là ở thời đại khác nhau với phương pháp và trình độ lập pháp khác nhau thì tất cả đều gặp nhau cùng một điểm – sử dụng các tình tiết giảm nhẹ làm căn cứ quyết định hình phạt

2 Chế định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự thời

kỳ phong kiến mang dấu ấn của giai đoạn lịch sử này Bởi lẽ, việc quy định một tình tiết nào đó có phải là tình tiết giảm nhẹ hay không, các sử dụng nó như thế nào đều phụ thuộc vào quan niệm của giai cấp thống trị về trật tự xã hội cần được bảo vệ bằng pháp luật hình sự , phương pháp lập pháp hình sự cũng như trình độ lập pháp của thời kì đó Do vậy, xem xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không thể tách rời hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cần thừa nhận sự vận động biện chứng của chế định này trong quá trình vận động của xã hội Dấu ấn lịch sử thời kì này thể hiện ở sự ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, quan niệm về tôn ti trật tự xã hội và gia định của giai cấp phong kiến trong quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

3 Quá trình hình thành và phát triển của chế định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình phát triển có tính kế thừa chọn lọc Thông qua việc nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự thời phong kiến, những giá trị văn hóa pháp lí mà dân tộc ta tích lũy qua nhiều thế hệ đã được sáng tỏ Những di sản pháp lí của dân tộc mà pháp luật hình sự hiện đại có kế thừa chính là việc thừa nhận sự tương xứng giữa tính chất và mức

độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện với mức độ trách nhiệm dân sự mà người phạm tội gánh chịu.Những di sản pháp lí cần kế thừa cũng là truyền thống nhân đạo, khoan hồng của ông cha trong xử lí tội phạm Biết kế thừa có lựa chọn những kinh

Trang 12

nghiệm ông cha cho chúng ta một cách tiếp cận hợp lí trong hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật

b Quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thời kỳ Pháp thuộc

Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc mang tính chất thực dân - phong kiến do xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chịu sự bảo hộ của thực dân Pháp Các bộ luật hình thời kỳ này được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tư tưởng pháp lý phương Tây với ba bộ luật hình: Hình luật Bắc phần, Hình luật Trung phần, Hình luật Canh cải Những quy định của pháp luật phong kiến mà trái với tư tưởng pháp lý tư sản Phương Tây đều bị loại bỏ ( chế định Bát nghị, các hình phạt mang tính hà khắc, trách nhiệm tập thể ) Tuy nhiên, các quy định nào thể hiện đặc thù của xã hội Việt Nam mà không trái với tư tưởng pháp lý phương Tây thì vẫn tiếp tục được duy trì ( tính nhân đạo, trật tự gia đình ) Do vậy, một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từ thời phong kiến vẫn được duy trì trong giai đoạn này như: Tình tiết giảm nhẹ vì có quan hệ gia đình như việc trộm cắp, lừa gạt, sang đoạt giữa

vợ chồng hoặc những người có quan hệ gia đình như tôn thuộc, ty thuộc ( Điều 380 Hình luật Canh cải; Điều 260 Hình luật Trung phần; Điều 355 Hình luật Bắc phần)

Các bộ luật hình thời kỳ này về cơ bản cũng gồm hai phần đặc trưng là phần đầu quy định về những vấn đề chung và phần thứ hai quy định về các loại tội phạm cụ thể Một điểm tiến bộ so với pháp luật thời kỳ phong kiến đó là pháp luật thời kỳ này đã coi hình phạt là công cụ đấu tranh phòng chống tội phạm chứ không phải là công cụ trả thù

xã hội Điều này, được thể hiện qua việc quy định một số biện pháp tha miễn mới và có mức độ giảm nhẹ cao hơn như án treo ( biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện trong thời hạn 5 năm trên cơ sở đạo luật Beranger 26/03/1891 của Pháp); phóng thích có điều kiện (trên cơ sở Luật về phóng thích có điều kiện của Pháp 14/08/1885); miễn chấp hành hình phạt do hết thời hiệu thi hành án

Có thể thấy những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm tại thời kỳ này tương tự như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong pháp luật hình sự hiện hành Đây là cơ sở quan trọng để các nhà lập pháp xây dựng và hoàn thiện các quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thời kỳ Pháp điển hóa luật hình sự Việt Nam lần thứ nhất cũng như trong thời kỳ sau này cho đến hiện tại

c Quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thời kỳ 40 năm trước Pháp điển hóa Luật hình sự Việt Nam lần thứ I (1945- 1985)

Trong những năm đầu tiên giành chính quyền, các quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong các điều luật độc lập áp dụng chung cho các tội phạm được quy định trong các văn bản đó Pháp luật thời kỳ này tuy đã có một sự khái quát hóa nhất định so với việc quy định các tình tiết giảm nhẹ với từng tội cụ thể, nhưng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự còn chưa đặt tên mà mới chỉ ra những trường hợp đáng được khoan hồng trong một số văn bản cụ thể Nhưng nó cũng thể hiện việc mở rộng khả năng áp dụng của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho tất cả tội phạm, là

cơ sở để xây dựng các nguyên tắc chung sau này

Trang 13

Nhờ đó, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định khái quát hươn thành một danh mục và có tên gọi về cơ bản là “Các trường hợp giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt” Có thể nói mặc dù chưa có văn bản quy phạm pháp luật hình sự nào quy định chung về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng sự ra đời của Công văn số 38- Nghị định Chính phủ ngày 16/01/1976 của Tòa án nhân dân tối cao đã đánh dấu một bước tiến bộ rõ rệt về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội trong công tác xét xử Công văn này là sự tổng kết việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thực tiển xét xử, đã có tác dụng hạn chế sự tùy tiện trong việc áp dụng

Qua đó, chứng tỏ rằng các văn bản quy phạm pháp luật hình sự thời kì này là nền tảng quan trọng cho việc xây dựng quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội trong Bộ luật hình sự 1985

d Quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từ sau khi thông qua Bộ luật hình sự Việt Nam đầu tiên đến Bộ luật hình sự 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Sau lần pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985, Bộ luật hình sự ra đời thể hiện một sự tiến triển vượt bậc trong lĩnh vực lập pháp Trong Bộ luật này, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể thành một điều và mang tính áp dụng chung cho tất cả các loại tội phạm Các tình tiết này được quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự

1985 với tên gọi “Những tình tiết giảm nhẹ” Việc khái quát hóa thành một quy định mang tính chất chung như vậy không chỉ thể hiện một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, mà nó còn đem lại hiệu quả cao trong việc vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trong thực tiển đấu tranh phòng và chống tội phạm

Tuy nhiên, khi Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực thi hành thì cũng là lúc sự nghiệp đổi mới bắt đầu Sự thay đổi các mặt của đời sống xã hội, trong đó đổi mới về kinh tế giữ vai trò quan trọng không chỉ là cơ sở mà còn là đòi hỏi cấp bách đối với sự thay đổi của pháp luật nói chung cũng như Luật hình sự nói riêng Bộ luật hình sự 1985 với ý nghĩa là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt dược xây dựng trên cơ sở kinh

tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiển của tình hình tội phạm thời kì đó

Do vậy, có thể nói ngay khi ra đời Bộ luật hình sự 1985 đã ở trong tình trạng không phù hợp với chủ trương đổi mới luật hình sự buộc phải có những thay đổi mang tính phát triển Sự phát triển này, được thể hiện trước hết và chủ yếu trong những sửa đổi, bổ sung của Bộ luật này thông qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho đến năm 1999

Bộ luật hình sự 1999 được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện Bộ luật hình sự 1985 nhưng có kế thừa những nội dung hợp lí, tích cực của Bộ luật này qua bốn lần sửa đổi, bổ sung So với Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999

có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam Bởi vì, trong thực tiển xét xử , nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì trách nhiệm hình sự mà học phải chịu càng ít đi Và việc thêm hai tình tiết mới cũng dựa vào thực tiển xét xử đó là những trường hợp thường xuyên gặp phải và

Trang 14

đáng được hưởng sự khoan hồng của pháp luật Chính vì thế, những sự thay đổi về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bộ luật hình sự 1999 là hoàn toàn phù hợp với thực tiển lúc bấy giờ

1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trước sự phát triển và nhiều thay đổi về đời sống xã hội, nhận thức của người dân ngày càng được nâng cao, các trào lưu sống và giải trí cũng được nâng lên một tầm cao mới Đồng hành cùng sự phát triển vượt trội đó là vấn đề loại hình tội phạm hình sự cũng tăng nhanh và đa dạng về hình thức, bản chất phạm tội cũng như nguyên nhân phạm tội Chính vì những nhu cầu thực tế từ sự phát triển của xã hội, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có sự thay đổi, điều chỉnh trong chính sách pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng để phù hợp với sự phát triển của xã hội

Quy định về quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) không bổ sung điều luật mới nhưng tách 10 điều của Bộ luật hình sự cũ thành hai mục có mối liên hệ với nhau Mục A là những quy định chung về quyết định hình phạt và mục B là quyết định hình phạt trong trường hợp cụ thể

Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định 22 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51, nhiều hơn so với Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 46 ba tình tiết Từ đó, có thể cho thấy rằng ở Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm 4 trường hợp hoàn toàn mới so với quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình

sự 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009) đó là : “Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức

cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, nguười có công với cách mạng” Ngoài 04 trường hợp trên, Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đã sửa đổi dấu, câu từ ở một số quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) nhằm cụ thể hóa hơn các quy định để việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trong thực tế được hiệu quả, chính xác hơn

Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017):

“Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm” tại

điểm a Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Ngăn chặn tác hại của tội phạm là khi người có hành vi phạm tội đang trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội hoặc sau khi hành vi phạm tội đó đã được thực hiện, người phạm tội tự mình nhận thức được hoặc có sự tác động khách quan nên bằng những khả năng có thể để ngăn chặn hành vi phạm tội, không để cho hậu quả từ tác hại của hành

vi phạm tội xảy ra

Trang 15

Làm giảm bớt tác hại của tội phạm là khi người có hành vi đang trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội hoặc sau khi hành vi phạm tội đó đã được thực hiện, người phạm tội tự mình nhận thức được hoặc có sự tác động khách quan nên bằng những khả năng có thể giảm bớt tác hại của hành vi phạm tội, không để cho hậu quả từ tác hại của hành vi phạm tội xảy ra ở mức độ lớn nhất

Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội, nếu không có lý

do tác động nào khác vào hành vi phạm tội thì tác hại xảy ra đúng với bản chất của hành

vi Nhưng vì tác động nào đó, người có hành vi phạm tội đã tự chủ động ngăn chặn không để cho hành vi phạm tội đúng như bản chất ban đầu xảy ra hoặc làm hạn chế mức

độ tác hại của bản chất hành vi phạm tội Việc tác động nhằm ngăn chặn hay hạn chế bản chất hành vi phạm tội này đã làm giảm bớt mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Việc làm giảm bớt mức độ nguy hiểm này có thể thực hiện trong quá trình diễn biến hành vi phạm tội hay ngay cả khi hành vi phạm tội đã được thực hiện

Việc người có hành vi phạm tội tự chủ động ngăn chặn làm giảm bớt tác hại, mức

độ nguy hiểm phải xảy ra thực tế trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết này mới được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Thiệt hại và tác hại không phải bao giờ cũng là một, có sự tác hại là thiệt hại cụ thể

có thể xác định được như tính mạng, sức khỏe, tài sản… nhưng có sự tác hại không phải

là thiệt hại có thể đánh giá cụ thể được như ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội…

Để xác định một tình tiết được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, dưới góc độ của nhà làm luật và người thực thi pháp luật phải xem xét rõ hành vi đã tác động đến việc ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của hành vi phạm tội

Người có hành vi phạm tội tự chủ động ngăn chặn hay có tác động làm giảm bớt tác hại của bản chất hành vi phạm tội Điều đó, có thể tự xuất phát từ trong nhận thức của người có hành vi phạm tội hoặc có người nào đó đã tác động đến nhận thức của người có hành vi phạm tội

“Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” tại điểm b Khoản 1 của Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người phạm tội phải tự nguyện ( không do ép buộc, cưỡng chế) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả Cũng được coi là tự nguyện nếu do người khác tác động ( khuyên bảo) hay theo yêu cầu của người bị thiệt hại mà người phạm tội sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả

Căn cứ theo quy định của pháp luật, người có hành vi phạm tội gây thiệt hại cho người khác sẽ bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền yêu cầu phải sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả Tuy nhiên, để buộc người phạm tội bồi thường cần một quá trình tố tụng mà thiệt hại cần được khắc phục, sửa chữa kịp thời

Người có hành vi phạm tội muốn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự này, phải tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả Trường hợp do người khác tác động khuyên bảo mà người có hành vi phạm tội thực hiện hành vi sửa

Trang 16

chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả Trường hợp người có hành vi phạm tội đang bị giam giữ không tự mình thực hiện hành vi sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do tác động của hành vi phạm tội được mà có sự tác động đến gia đình, người thân thực hiện việc bồi thường thay cho mình

Trường hợp do tác động của cơ quan pháp luật (ép buộc, cưỡng chế) người có hành

vi phạm tội mới thực hiện hành vi sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả thì không được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Hành vi tự nguyện, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả phải được thực hiện và hoàn tất trước khi vụ án được xét xử Hành vi tự nguyện, bồi thường thiệt hại ở thẩm quyền cấp xét xử nào thì cơ quan xét xử đó có thẩm quyền đó mới được áp dụng

Cơ sở pháp lý để xem xét tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá trên việc người có hành vi phạm tội tự nhận thức tự nguyện thực hiện hay do tác động của người khác dẫn đến người có hành vi phạm tội đồng ý thực hiện và mức độ sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả đối với những thiệt hại do chính tác động của hành

vi phạm tội gây ra Hoặc do người khác tự nguyện thực hiện thay việc sửa chữa, bồi thường, khác phục hậu quả những thiệt hại do chính tác động của người phạm tội gây ra

“Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” tại điểm c

Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Trường hợp người có hành vi phạm tội vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là thực hiện hành vi phản kháng, chống trả lại từ tác động của một hành vi nào đó trực tiếp ảnh hưởng đến bản thân hoặc người thân của người của người có hành vi phòng vệ Người có hành vi phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, là người đang trực tiếp chịu tác động của hành vi khác hay đang bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Đảng và Nhà nước, cá nhân, tổ chức khác

Động cơ của người có hành vi phạm tội vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có phải là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Đảng và Nhà nước, của bản thân, cá nhân,

tổ chức khác không

Hành vi chống trả của người phạm tội vượt quá phòng vệ chính đáng là hành vi rõ ràng vượt quá mức cần thiết Bản chất của hành vi này phải phù hợp với tính chất, mức

độ nguy hiểm từ hành vi xâm hại của người bị hại

Cơ sở xem xét, đánh giá tình tiết này phụ thuộc bản chất hành vi vào mức độ giớihạn cho phép của hành vi phòng vệ Tình tiết phạm tội vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được các nhà chuyên môn và cơ quan tố tụng đánh giá là có ảnh hưởng lớn đến quyết định hình phạt

“Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết” tại điểm d

Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là người phạm tội

có hành vi phạm tội bị tác động từ một tình huống nguy cấp nào đó, vì muốn ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại hay tránh nguy cơ đang thực tế đe dọa ngay tức khắc đến các quyền

và lợi ích hợp pháp của Đảng và Nhà nước, của bản thân, và cá nhân, tổ chức khác mà

Trang 17

không có sự lựa chọn nào khác là phải thực hiện hành vi phạm tội gây ra vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Trường hợp trong tình thế cấp thiết gây thiệt hại nhưng không bị xem là vượt quá giới hạn và không phải chịu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện sau:

Trong tình huống nguy hiểm dang bị đe dọa, hậu quả thiệt hại cao và ngay thời điểm sự việc diễn ra Trường hợp sự việc chưa xảy ra hay đã kết thúc mới thực hiện hành

vi gây thiệt hại thì hành vi này không được xem là vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Tình huống nguy hiểm phải mang tính trực tiếp và thực tế xảy ra, nếu không trực tiếp và thực tế không mang tính nguy hiểm cấp thiết gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, an ninh quốc gia… mà chỉ theo sự phỏng đoán hay suy nghĩ của riêng cá nhân người thực hiện hành vi thì không được xem là vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Hành vi gây ra một thiệt hại mới để giảm tránh mối nguy hại của mối nguy hại ban đầu là tình thế bắt buộc không có sự lựa chọn nào khác để giải quyết sự việc phải đáp ứng được điều kiện: Thiệt hại mới phải có giá trị thấp hơn thiệt hại đang diễn ra, ý nghĩa của hành vi gây thiệt hại mới là xử lý những nguy hiểm sắp diễn ra, nếu không dùng biện pháp này thì không còn giải pháp nào để giải quyết và hậu quả xảy ra vô cùng to lớn

Cơ sở giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào cường độ của nguồn nguy hiểm

và mức độ thiệt hại trên thực tế Mục đích của người thực hiện hành vi, mối quan hệ giữa các bên liên quan

“Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội” tại

điểm đ Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Như vậy, “Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội” được hiểu là người có quyền bắt giữ tội phạm đã thực hiện hành vi vượt quá giới hạn ( theo quy định của pháp luật hoặc tình huống bắt tội phạm thực tế ) đủ để có thể bắt giữ người phạm tội Để đánh giá hành vi bắt giữ người có vượt quá mức cần thiết hay không cần căn cứ vào các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của người phạm tội tại thời điểm

bị bắt giữ, bao gồm : Nhân thân người phạm tội ( người phạm tội lần đầu có nhân thân tốt hay đối tượng giang hồ cộm cán đã từng chống trả lực lượng chức năng, vào tù ra tội, hung hãn côn đồ), vũ khí và phương tiện người phạm tội đang sử dụng để chống trả lực lượng bắt giữ, số lượng người bị bắt ( chỉ có một người phạm tội hay cả một băng nhóm phạm tội)

Thứ hai, là căn cứ vào biện pháp bắt giữ, việc sử dụng vũ lực, vũ khí và phương tiện

để bắt giữ, cũng như thiệt hại, hậu quả đã xảy ra để đối chiếu với yếu tố thứ nhất để làm

rõ vượt quá hay không vượt quá mức cần thiết

Tình tiết giảm nhẹ này được áp dụng khi hành vi bắt người phạm tội vượt quá giới hạn cho phép dẫn đến phạm tội ( trừ tội quy định tại Điều 126 và Điều 136 của Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sử dụng tình tiết này làm tình tiết định tội

Trang 18

thì không sử dụng làm tình tiết giảm nhẹ nữa theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luạt hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

“Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” tại điểm e Khoản 1 Điều 51 của của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ

sung năm 2017)

Hành vi trái pháp luật do nạn nhân gây ra không nhất thiết là hành vi vi phạm pháp luật có tính chất nghiêm trọng Hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra phải mang tính trực tiếp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân hay người thân của người

có hành vi phạm tội

Tình tiết này được xem xét, đánh giá là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện: Có tác động từ hành vi trái pháp luật của nạn nhân và hành vi trái pháp luật đó trực tiếp tác động xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân hay người thân của người có hành vi phạm tội

Cơ sở để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào tính chất và mức độ tác động từ hành vi trái pháp luật mà nạn nhân gây ra, dẫn đến mức độ bị kích động và tâm lý, phản ứng của người bị kích động và bản chất hành vi phạm tội

“Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra” tại

điểm g Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người có hành vi phạm tội do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình

tự gây ra, vì điều kiện khách quan chi phối dẫn đến việc phạm tội và bản chất của hành vi phạm tội không phải do chủ đích của người thực hiện hành vi phạm tội

Có thể do hoàn cảnh khó khăn nhất thời đưa tâm lý người đó vào sự quẫn bách không thể suy nghĩ và có hướng giải quyết tốt nhất, dẫn đến nhất thời thực hiện hành vi phạm tội để giải quyết khó khăn trước mắt

Hoàn cảnh đặc biệt khó khăn xuất phát từ điều kiện tự nhiên như đất đai, lũ lụt, hạn hán, từ hậu quả của chiến tranh để lại… Đây không phải là lỗi của người có hành vi phạm tội tự tạo ra

Điều kiện xác định tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì cần xem xét cụ thể hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của người phạm tội và mức độ ảnh hưởng trực tiếp đén bản chất hành vi phạm tội

Trường hợp xem xét và áp dụng tình tiết này đối với những người có hành vi phạm tội do cố ý Trường hợp người có hành vi phạm tội do vô ý vì các tội phạm do vô ý không

có mục đích phạm tội không được áp dụng

Cơ sở xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà người có hành vi phạm tội phải chịu và nỗ lực cố gắng tìm cách vượt qua khó khăn của người có hànhvi phạm tội, mức độ hoàn cảnh khó khăn càng lớn thì mức độ xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự càng cao

“Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” tại điểm h

Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Trang 19

Người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hậu quả do hành vi phạm tội tác động chưa gây ra thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn Hành vi phạm tội đã xảy ra nhưng do tác động xung quanh, điều kiện khách quan đã ngăn chặn làm cho mức độ thiệt hại thấp

và không như chủ đích của người thực hiện hành vi phạm tội

Trường hợp này người có hành vi phạm tội có chủ đích và không có nhận thức tự ngăn chặn, làm giảm bớt mức độ thiệt hại Nhưng vì lý do khách quan đã tác động làm cho hành vi phạm tội bị ngăn chặn hay giảm bớt mức độ làm ảnh hưởng đến mức thiệt hại gây ra

Điều kiện để xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này là hành vi phạm tội của người phạm tội, lý lịch nhân thân của người phạm tội, tính chất và mức độ thiệt hại xảy ra

Do việc hạn chế mức độ thiệt hại đén từ tác động của các nguyên nhân khách quan, các nhà chuyên môn và cơ quan xét xử đều nhận định đánh giá về bản chất của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này ở mức độ nhất định không có giá trị cao

Cơ sở để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào từ chính mức độ thiệt hại do tác động của hành vi phạm tội gây ra, kết hợp với yếu tố nhân thân của người

có hành vi phạm tội để xem xét đối tượng có được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay không

“Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” tại điểm i Khoản 1 Điều

51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người có hành vi phạm tội lần đầu là chưa chịu bất kỳ trường hợp quản lý giáo dục nào tại địa phương, có lý lịch nhân thân tốt Hành vi phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là xem xét từ bản chất của hành vi phạm tội, hậu quả tác động của hành vi phạm tội không ở mức nghiêm trọng, không làm tổn thất nhiều về sức khỏe, tinh thần, tài sản của người bị hại

Điều kiện để xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cần phải đáp ứng đủ hai điều kiện là “Phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” Nếu không đáp ứng đủ 1 trong 2 điều kiện trên thì người có hành vi phạm tội không được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này

Để xác định phạm tội lần đầu, dưới góc nhìn của các nhà chuyên môn và cơ quan xét xử nhận định “Phạm tội lần đầu” là trong lý lịch nhân thân của người đó chưa chịu bất kỳ bản án quyết định nào của tòa án tuyên phạm tội, chưa từng chịu bất kỳ hình thức quản lý giáo dục tại địa phương hay chưa từng phải đi cơ sở cải tạo giáo dục bệnh nghề nghiệp…

Trường hợp người đã từng phạm tội và đã được xóa án tích và tiếp tục có hành vi phạm tội thì không được xem là phạm tội lần đầu

Trường hợp người đã từng có hành vi phạm tội nhưng chưa bị kết án do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, có hành vi phạm tội và bị truy cứu trách nhiệm hình

sự thì không được xem là phạm tội lần đầu

Trang 20

Ngoài ra, căn cứ theo lý lịch nhân thân của người có hành vi phạm tội lần đầu để xem xét áp dụng Thể hiện tính nhân đạo của pháp luật với những người chưa bao giờ thực hiện hành vi phạm tội, vì nguyên nhân khách quan hay do hoàn cảnh tác động nên phạm tội lần đầu

Trường hợp ít nghiệm trọng còn được hiểu là hậu quả chịu tác động từ hành vi phạm tội thấp, bản chất của hành vi phạm tội không cao chỉ mang tính chất đồng phạm hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Cơ sở xem xét đánh giá giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào bản chất của hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả thiệt hại từ hành vi phạm tội, lý lịch nhân thân của người có hành vi phạm tội

“Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức” tại điểm k Khoản 1 Điều 51

của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đe dọa là dọa nạt, là tạo ra nỗi lo sợ về một tai họa có thể xảy ra

Cưỡng bức là dùng sức mạnh uy hiếp tinh thần người khác để bắt buộc họ phải làm

dù không muốn cũng không được

Người có hành vi phạm tội vì chịu tác động từ người khác đe dọa, cưỡng bức như

uy hiếp về mặt vật chất, tinh thần, dùng vũ lực Hành vi đe dọa, cưỡng bức này tác động trực tiếp đến bản thân hay người thân của người có hành vi phạm tội

Hành vi đe dọa và hành vi cưỡng bức có bản chất khác nhau, tính chất và mức độ cũng khác nhau Nhưng cả 2 hành vi đều có tác động làm người khác lo sợ, tinh thần, tâm

lý bị kích động mạnh dẫn đến việc phản kháng tiêu cực trong suy nghĩ hay hành vi phạm tội để giải thoát khỏi những áp bức từ hành vi cưỡng bức, đe dọa

Cơ sở để xem xét, đánh giá giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm từ hành vi đe dọa, cưỡng bức Bản chất của hành vi phạm tội, hậu quả

từ hành vi phạm tội Các mối tương quan về hoàn cảnh, điều kiện, nguyên nhân khách quan và chủ quan của hành vi phạm tội

“Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra” tại điểm l Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung

năm 2017)

Theo quy định nêu trên thì việc phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi mình gây ra là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hạn chế khả năng nhận thức ở đây có thể hiểu là những người thiếu hiểu biết, hạn chế hiểu biết chứ không phải là những người hạn chế khả năng nhận thức do bệnh lý như bệnh thần kinh

Ví dụ như một cậu bé 15 tuổi nghịch lửa dẫn đến việc cháy nhà Lỗi của mình gây

ra cũng không phải là lỗi dẫn đến hành vi nghịch lửa mà là lỗi dẫn tới việc bị hạn chế khả năng nhận thức như uống rượu, bia, chất kích thích dẫn đến mất khả năng nhận thức avf điều khiển hành vi

Trang 21

Khi xem xét đến khả năng hạn chế về nhận thức phải gắn liền với hành vi cụ thể mà

họ thực hiện để áp dụng giảm nhẹ Mức độ giảm nhẹ của tình tiết này phụ thuộc vào mức

độ hạn chế nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội

“Phạm tội do lạc hậu” tại điểm m Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa

đổi, bổ sung năm 2017)

Môi trường sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, miền núi… không có điều kiện Người

có hành vi phạm tội do lạc hậu, từ nguyên nhân khách quan do hoàn cảnh khó khăn, điều kiện học tập và tiếp xúc với xã hội xung quanh Nguyên nhân chủ quan là nhận thức thấp, hạn chế khả năng nhận thức về các tác hại mang tính nguy hiểm cho xã hội từ hành vi phạm tội của bản thân

Người có hành vi phạm tội do lạc hậu xuất phát từ đời sống sinh hoạt còn mang tính phong tục, tập quán và tín ngưỡng theo quan điểm mê tín, dị đoan Trình độ hiểu biết thấp, ít quan tâm đến quy định pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra

Nguyên nhân khách quan và chủ quan phải ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức lạc hậu của người có hành vi phạm tội Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội phải ở mức không nghiêm trọng, hậu quả từ tác động của hành vi phạm tội không cao

Điều kiện để xem xét, áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần căn cứ vào lý lịch nhân thân, hoàn cảnh, điều kiện, nhận thức của người có hành vi phạm tội khi xảy ra sự việc Bản chất của hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả từ hành vi phạm tội

Trường hợp người có hành vi phạm tội nghiêm trọng liên quan đến tính mạng, an minh quốc gia, ma túy… không được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Vì những hành vi đó đã được Đảng và Nhà nước tuyên truyền, phổ biến đến từng bản làng, thôn xóm, từng hộ gia đình về tác hại và hạu quả của những hành vi phạm tội đó

Cơ sở xem xét đánh giá giảm nhẹ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện sinh sống, phong tục tập quán của địa phương… mức độ nhận thức của người có hành vi phạm tội Bản chất của hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả từ tác động của hành vi phạm tội

“Người phạm tội là phụ nữ có thai” tại điểm n Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình

sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người có hành vi phạm tội là phụ nữ đang trong thời kỳ mang thai, nguyên nhân khách quan dẫn đến hành vi phạm tội là trong giai đoạn đang mang thai, tâm sinh lý người phụ nữ có nhiều thay đổi, dễ bị kích động trước những tác động xung quanh, khả năng nhận thức và kiểm soát hành vi của bản thân bị suy giảm

Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể riêng đối với người có hành vi phạm tội là phụ

nữ mang thai Căn cứ theo Điều 40 Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ mang thai hay phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Đây là chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật Việt Nam

Trang 22

Người có hành vi phạm tội là phụ nữ đang trong thời kỳ mang thai được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt áp dụng đối với phụ nữ đang trong thời

kỳ mang thai phải thấp hơn so với các người khác có cùng hành vi phạm tội

Trường hợp người phụ nữ có hành vi phạm tội vào thời điểm chưa mang thai, sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội mới mang thai sẽ không dược xem xét áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Căn cứ xác định người phụ nữ đang mang thai khi thực hiện hành vi phạm tội phải dựa trên kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền

Cơ sở xem xét đánh giá giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào thời kỳ mnag thai của người phụ nữ có hành vi phạm tội, ảnh hưởng từ tình trạng thai nhi, nguyên nhân khách quan từ xung quanh tác động đến việc thực hiện hành vi phạm tội

“Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên” tại điểm o Khoản 1 Điều 51 của Bộ

luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người có hành vi phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên, nguyên nhân khách quan là tuổi cao, lý trí và nhận thức bị giảm sút, khả năng kiểm soát hành vi thấp, hay mắc bệnh ở dạng hoang tưởng dẫn đến hành vi phạm tội

Điều kiện để xem xét, áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải là người đủ 70 tuổi trở lên có hành vi phạm tội chịu sự tác động từ nguyên nhân khách quan hay từ bên ngoài dẫn đến bị kích động về tâm lý, mất khả năng kiểm soát nhận thức và hành vi của bản thân Bản chất của hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, hậu quả từ tác động của hành vi phạm tội

Người có hành vi phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt áp dụng đối với người đủ 70 tuổi trở lên thấp hơn

so với đối tượng khác có cùng hành vi phạm tội Không phân biệt bản chất hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và hậu quả chịu tác động của hành vi phạm tội

Cơ sở xem xét đánh giá tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào độ tuổi của người có hành vi phạm tội, yếu tố sức khỏe cũng có ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng mức hình phạt, sức khỏe càng yếu mức hình phạt càng thấp

“Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng” tại điểm

p Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động

đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc ( Khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2012/ Nghị định – Chính phủ)

Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc ( Khoản 1 Điều 3 Nghị định 28/2012/ Nghị định – Chính phủ)

Trang 23

Căn cứ vào nội hàm của các cụm từ “khuyết tật nặng”, “khuyết tật đặc biệt nặng” và hai cụm từ này được quy định cách nahu bởi từ “hoặc” nên được hiểu đây là hai tình tiết giảm nhẹ khác nhau nhưng được quy định cùng tại điểm p Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người phạm tôị có tỷ lệ thương tật càng cao thì mức độ giảm nhẹ hình phạt (chuyển hình phạt nhẹ hơn, giảm mức hình phạt tù hoặc phạt tiền hoặc thời gian cải tạo không giam giữ) cho họ càng nhiều và ngược lại

“Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” tại điểm q Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa

đổi, bổ sung năm 2017)

Người có hành vi phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức là không ý thức được suy nghĩ, không phân biệt được nặng nhẹ, đúng sai… hạn chế khả năng điều khiển hành vi của bản thân là không thể kiểm soát hành vi dẫn đến hành vi phạm tội

Điều kiện để xem xét, áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải đáp ứng được các điều kiện là người có hành vi phạm tội phải là người đnag mắc bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của bản thân Từ những nguyên ngân khách quan bên ngoài tác động gây ảnh hưởng đến tâm lý của người mắc bệnh kích động dẫn đến hành vi phạm tội

Cơ sở để xem xét đánh giá giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào kết luận của cơ quan có thẩm quyền về tình trạng bệnh tật của người mắc bệnh Bản chất hành vi phạm tội, nguyên nhân tác động, tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội

“Người phạm tội tự thú” tại điểm r Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi,

bổ sung năm 2017)

Người có hành vi phạm tội tự thú do nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân hay từ sự tác động của người thân, nguyên nhân khách quan nào đó làm cho người có hành vi phạm tội cảm thấy ăn năn, hối hận và tự nguyện đến cơ quan có thẩm quyền để khai báo sự việc và hành vi phạm tội của bản thân

Điều kiện xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ cần căn cứ vào việc người có hành vi phạm tội chưa bị ai phát hiện, tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền Người có hành vi phạm tội nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân tự nguyện đến cơ quan có thẩm quyền khai báo sự việc Thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối hận và lý lịch nhân thân của người có hành vi phạm tội Bản chất hành vi phạm tội, nguyên nhân tác động, tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội

Trường hợp người có hành vi phạm tội ít nghiêm trọng tự thú và tố giác tội phạm hay hỗ trợ cơ quan chức năng trong quá trình điều tra tội phạm có thể được xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ Khoản 2 Điều 29 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi,

bổ sung năm 2017)

Trang 24

Trường hợp người có hành vi phạm tội tự thú nhưng tính chất và mức độ phạm tội nghiêm trọng, thì tình tiết tự thú được xem là tình tiết giảm nhẹ khi cơ quan tố tụng xem xét sự việc

Cơ sở xem xét, đánh giá giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào bản chất của hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội Thời gian từ khi thực hiện hành vi phạm tội đến khi tự thú Mức độ thành khẩn, ăn năn của hành vi tự thú và lý lịch nhân thân của người có hành vi phạm tội

“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” tại điểm s Khoản 1 Điều 51

của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Người có hành vi phạm tội sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội và bị cơ quan có thẩm quyền bắt giữ Trong giai đoạn tiến hành tố tụng hình sự đã thành tội, khai báo thành thật đầy đủ toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội và các yếu tố có liên quan,

có thái độ ăn năn hối cải vì hành vi phạm tội của bản thân

Điều kiện để xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần căn cứ vào mức độ thành khẩn khai báo và thái độ ăn năn hối cải, lý lịch nhân thân của người có hành vi phạm tội Bản chất hành vi phạm tội, nguyên nhân tác động, tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội

Trường hợp người có hành vi phạm tội nhưng sau khi thực hiện hành vi phạm tội,

tự nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, lợi ích… của người khác và cảm thấy ăn năn, hối hận muốn khắc phục hậu quả do hành vi của bản thân gây ra Đồng thời tự nguyện đến cơ quan có thẩm quyền thành khẩn khai báo sự việc

Cơ sở xem xét, đánh giá giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào mức độ thành khẩn khai báo và thái độ ăn năn của người có hành vi phạm tội trong giai đoạn tiến hành

tố tụng Lý lịch nhân thân của người có hành vi phạm tội, bản chất hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội

“Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có tách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” tại điểm t Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật

hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Hành động tích cực tham gia giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án bằng cách cung cấp thông tin, bằng chứng, tài liệu, tin tức cho cơ quan phát hiện nơi tội phạm lẫn trốn, nơi cấu giấu tang vật … hoặc thực hiện các công việc theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền

Điều kiện để xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần căn cứ theo mức độ thực tế và giá trị, ý nghĩa từ hành động của người có hành vi phạm tội giúp

đỡ cơ quan có thẩm quyền

Cơ sở xem xét, đánh giá giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào mức độ hành động giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền phát hiện và trong quá trình giải quyết vụ án, giá trị

và ý nghĩa từ các tài liệu, thông tin đã cung cấp Mức độ công trạng khi kết thúc vụ việc

Ngày đăng: 29/08/2021, 08:19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm