Trong đó, mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động phổ biến và quan trọng nhất trong bối cảnh Việt Nam đã, đang và sẽ ký kết nhiều điều ước quốc tế về thương mại trong khuôn khổ của WTO
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
NGUYỄN THỊ THANH NHÃ
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2005 VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
Kon Tum, tháng 5 năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2005 VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài báo cáo thực tập tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giảng viên trong khoa Sư phạm và Dự bị đại học trường Phân hiệu đại học Đà Nẵng tại Kon Tum đã tạo cơ hội cho chúng em được học tập và tìm hiểu những bộ môn liên quan đến Luật kinh doanh Qua đó, em có thể nhận thức một cách đầy đủ nhất về các khía cạnh của ngành Luật Kinh Tế Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Lê Đình Quang Phúc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn các anh, chị, cô, chú của Công ty Luật Trách nhiệm Hữu hạn Khởi Minh đã giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình, tạo điều kiện, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng em trong thời gian thực tập và luôn sẵn sàng hỗ trợ em trong việc tìm hiểu tài liệu cũng như cung cấp kiến thức chuyên môn để em hoàn thành chuyên đề thực tập này của mình và được nghiên cứu những vấn đề thực tiễn, các hồ sơ trong quá trình thực tập tại Công ty Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến anh Nguyễn Minh Khánh giám đốc Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Khởi Minh đã tạo điều kiện cho em được có cơ hội thực tập
và làm việc ở Công ty để có thể hoàn thành được bài báo cáo thực tập
Tuy chúng em đã cố gắng rất nhiều trong quá trình thực tập, nhưng chúng em biết với những kiến thức thực tế còn hạn chế, nghiên cứu tài liệu tại nơi thực tập chưa được nhiều và kiến thức lý thuyết chưa được sâu rộng nên trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp này của chúng em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp từ thầy, cô giáo để chuyên đề thực tập tốt nghiệp này của em được hoàn thiện hơn và
để em có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức, kiến thức của bản thân để có thêm kinh nghiệm cho công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4i
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……… …….iv
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY LUẬT TNHH MTV KHỞI MINH 4
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY 4
1.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY 5
1.2.1 Tổ chức nhân sự của công ty 5
1.2.2 Tình hình thực hiện các hoạt động của công ty 5
1.2.3 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của công ty 7
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 8
2.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 8
2.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 8
2.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 10
2.2 VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LOẠI HỢP ĐỒNG NÀY 12
2.2.1 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12
2.2.2 Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12
KẾT CHƯƠNG 2 16
CHƯƠNG 3 CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2005 VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 17
3.1 NHỮNG TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI THƯỜNG HAY SỬ DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ QUY ĐỊNH TẠI INCOTERMS 17 3.1.1 EXW (EX works) - Giao tại xưởng 17
3.1.2 FCA (Free Carrier) - Giao cho người chuyên chở 18
3.1.3 CPT (Cariage paid to) - Cước phí trả tới 19
3.1.4 CIP (Carriage insurance Paid to) - Cước phí và bảo hiểm trả tới 19
3.1.5 DAT (Delivered at terminal) – Giao tại bến 20
3.1.6 DAP (Delivered at place) – Giao tại nơi đến 21
3.1.7 DDP (Delivered duty paid) – Giao hàng đã thông quan nhập khẩu 21
3.1.8 FAS (Free alongside ship) - Giao dọc mạn tàu 22
3.1.9 FOB (Free on board) - Giao hàng trên tàu 22
3.1.10 CFR (Cost and Freight) - Tiền hàng và cước phí 23
3.11 CIF (Cost - Insurance - Freight) - Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí 23
Trang 5ii
3.2 KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 24
3.2.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 24
3.2.2 Thủ tục ký kết hợp đồng 28
3.3 MỘT SỐ NỘI DUNG THƯỜNG QUY ĐỊNH TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 30
3.3.1 Tên hàng (đối tượng của hợp đồng mua bán) 30
3.3.2 Số lượng 31
3.3.3 Quy cách, phẩm chất 31
3.3.4 Giá cả 32
3.3.5 Phương thức thanh toán 33
3.3.6 Địa điểm và thời hạn giao nhận hàng 33
3.4 TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 34
3.4.1 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 34
3.4.2 Chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 34
3.5 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 36
3.5.1 Thương lượng 36
3.5.2 Hòa giải 36
3.5.3 Trọng tài 36
3.5.4 Tòa án 37
3.6 XUNG ĐỘT VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 38
KẾT CHƯƠNG 3 39
CHƯƠNG 4 NHỮNG KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG KÝ KẾT VÀ 40
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 40
4.1 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 40
4.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRƯỚC KHI KÝ KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ HỢP ĐỒNG PHÍA VIỆT NAM 41
4.2.1 Những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 41
4.2.2 Những giải pháp hạn chế rủi ro trong thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (chủ yếu đối với hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu) 45
4.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ KHUNG PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 49
Trang 6iii
KẾT CHƯƠNG 4 51 KẾT LUẬN 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 7iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT
TẮT TÊN TIẾNG ANH TÊN TIẾNG VIỆT
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Trang 8tổ chức, cá nhân nước ngoài ngày càng mở rộng, nhất là trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Do đó, hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta rất đa dạng bao gồm mua bán hàng hóa quốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ, hợp tác lao động quốc tế Trong đó, mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động phổ biến và quan trọng nhất trong bối cảnh Việt Nam đã, đang và sẽ ký kết nhiều điều ước quốc tế về thương mại trong khuôn khổ của WTO và của nhiều tổ chức quốc tế khác như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)…
Các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế giữa các chủ thể hiện nay được thể hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hay còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu Quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là quan hệ pháp lý quan trọng trong việc xác lập căn cứ pháp lý cho các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các chủ thể Hoạt động thương mại hàng hóa chủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa và giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là dạng hợp đồng được các chủ thể của quan hệ thương mại quốc tế
sử dụng phổ biến và thường xuyên nhất trong các hoạt động thương mại của mình Do
đó, các quan hệ này đã được pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật các nước trên thế giới, các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế Đối với Việt Nam, đã xác định xây dựng và hoàn thiện chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một vấn đề rất quan trọng trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật thương mại quốc tế ở nước ta Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế chỉ mang lại hiệu quả kinh tế xã hội khi nó được thiết lập dựa trên chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chặt chẽ, hợp lý và sự hiểu biết sâu sắc của các chủ thể tham gia về pháp luật nói chung, pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng Nhận thức được tầm quan trọng này, nhà nước đã ban hành Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại năm 2005 trong đó các quy định về hợp đồng và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được quy định chi tiết cho phù hợp hơn các các quy phạm pháp luật quốc tế
Tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn sau khi Việt Nam gia nhập WTO trước những thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế đối ngoại và những tác động
và ảnh hưởng sâu sắc của nền kinh tế thế giới, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam đã bộc lộ những hạn chế, gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh khi tham gia quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế Thêm vào đó, hiểu biết về luật pháp nói chung, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng của các chủ thể kinh doanh còn hạn chế làm giảm hiệu quả của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 92
Luật Thương mại năm 2005 về cơ bản đã có các quy định về hoạt động mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được sửa đổi toàn diện cho phù hợp với thực tiễn quan hệ kinh tế đã đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi đặt ra về mặt pháp
lý Tuy nhiên, việc triển khai thực thi, áp dụng có hiệu quả quy định này trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế mới là vấn đề quan trọng giúp cho các quy định này thực sự đi vào cuộc sống và phát huy vai trò của mình
Đồng thời cũng cần phải tìm hiểu và nghiên cứu trong quan hệ so sánh với các quy định của pháp luật các nước, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mới mang lại nhận thức toàn diện và sâu sắc về những vấn đề chế độ pháp lý của quan hệ hợp đồng
Do vậy, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ nội dung và hoàn thiện chế độ pháp lý nâng cao khả năng nhận thức và vận dụng pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế vào các quan hệ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết hiện nay nhằm ổn định các quan hệ về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của các chủ thể kinh doanh vào quan hệ về mua bán hàng hóa quốc tế hạn chế thấp nhất những rủi ro và tranh chấp
Những điều dẫn ở trên là lý do em chọn đề tài "Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005 và các quy định của pháp luật quốc tế" để nghiên cứu cho đề tài tốt nghiệp của mình
Với đề tài này, em đi sâu phân tích về lý luận và thực tiễn, những vấn đề pháp lý cần lưu ý trong quá trình ký kết và thực hiện về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đồng thời làm rõ những hạn chế của các chủ thể kinh doanh trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật về về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế qua đó góp phần nhỏ bé vào việc đổi mới và hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật trong thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở những tri thức đã tiếp thu được trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực tiễn, đề tài góp phần làm sáng tỏ vấn đề pháp lý trong việc thực thi áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, giải quyết tranh chấp phát sinh có liên quan Qua đó tìm
ra những giải pháp thiết thực và hữu hiệu nhất để từng bước nâng cao nhận thức, kỹ năng vận dụng có hiệu quả pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong thực tiễn kinh doanh ở nước ta
Việc nghiên cứu đề tài là nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận về nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng các quy định này, từ đó phát hiện những tồn tại và nguyên nhân của nó từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trang 103
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng các quy định này
Phạm vi nghiên cứu đề tài giới hạn trong những quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật một số quốc gia có quan hệ thương mại song phương với Việt Nam, một số điều ước quốc tế, tập quán quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được áp dụng phổ biến hiện nay trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài là dựa trên phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành bằng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp quy nạp
- Phương pháp tổng hợp, phản ánh thực tiễn và rút ra kết luận
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Công ty Luật TNHH MTV Khởi Minh
Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Chương 3: Các quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005 và pháp luật quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chương 4: Những kiến nghị trong việc áp dụng pháp luật nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp lý của hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế ở Việt Nam
Trang 114
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY LUẬT TNHH MTV KHỞI MINH
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
Đáp ứng nhu cầu hội nhập của nước ta trong những năm gần đây, đặc biệt là khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, Quốc hội đã ban hành và sửa đổi pháp luật cho phù hợp với nhu cầu thực tế, trong đó có Luật luật sư theo đó ban hành các quy định phù hợp với các loại hình luật sư trên thế giới, nhằm giúp cho pháp luật của chúng ta được thi hành một cách triệt để và chuyên nghiệp đồng thời cũng phần nào đáp ứng được yêu cầu của Quốc tế trong tiến trình hội nhập đó là “ Minh bạch trong vấn đề pháp luật” Theo đó hình thức tổ chức hành nghề luật sư được mở rộng so với trước kia và phù hợp với thế giới, cụ thể là tại điểm b khoản 1 điều 32 Luật luật sư 2006 quy định: “Các luật sư có thể hành nghề luật sư dưới dạng Công ty Luật” Như vậy không giới hạn là Văn phòng luật
sư hay Công ty hợp danh như trước kia mà bây giờ có thêm công ty trách nhiệm hữu hạn
1 thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên (theo quy định tại Điều 34 – luật luật sư 2006) Quy định này góp phần làm nâng cao tính chuyên nghiệp của các luật sư để dễ dàng hội nhập với luật sư trên thế giới
- Công ty thuộc hình thức Công ty luật TNHH MTV hoạt động theo Luật luật sư và các quy định hiện hành khác của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Tên công ty: Công ty Luật TNHH MTV Khởi Minh
- Trụ sở công ty: Số 138 Lê Đình lý, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng
Điện thoại: 0905526767
Số 28 Tự Lập, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0915915555 Căn cứ theo quy định của Luật luật sư số 65/2006/QH ngày 29 tháng 6 năm 2006
và Nghị định số 28/2007/NĐ – CP ngày 26 tháng 02 năm 2007 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật luật sư và căn cứ theo thông tư số 02/2007/TT-BTP ngày 25 tháng 04 năm 2007 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư thì văn phòng luật sư có từ 2 người chủ sở hữu trở lên phải chuyển đổi sang hình thức công ty luật
Công ty luật TNHH MTV Khởi Minh và cộng sự được thành lập năm 2013 do Luật
sư Nguyễn Minh Khánh sáng lập Với phương châm hết lòng phục vụ khách hàng, Văn phòng luật sư Khởi Minh đã đạt được những thành quả nhất định Công ty luật TNHH MTV Khởi Minh là một Công ty Luật uy tín và đáng tin cậy tại Việt Nam
Công ty được thành lập theo giấy phép hoạt động kinh doanh số:… /TP/ĐKHĐ do Phòng Đăng kí kinh doanh - Chi cục thuế quận Hải Châu cấp Theo nội dung của giấy phép này công ty được phép hành nghề trong các lĩnh vực:
- Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng
- Tư vấn pháp luật
- Dịch vụ pháp lý khác
Trang 125
Công ty Luật Khởi Minh với đội ngũ các luật sư, chuyên viên, cộng tác viên được đào tạo chính quy, chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, lao động, đất đai, hôn nhân và gia đình, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, lĩnh vực tư vấn cho các doanh nghiệp, giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại theo con đường Tòa án và Trọng tài,…
Đội ngũ luật sư của Công ty trực tiếp tham gia cung cấp dich vụ tư vấn pháp luật cho nhiều dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, cũng như trợ giúp pháp lý cho các khách hàng nước ngoài có nhu cầu
Mục đích của Công ty Luật Khởi Minh là xây dựng và duy trì được một đội ngũ luật sư giỏi và có uy tín trong các lĩnh vực tranh tụng, cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp
1.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
1.2.1 Tổ chức nhân sự của công ty
Nguyễn Minh Khánh: Giám đốc công ty
Ngoài ra công ty còn có các cộng tác viên là luật sư dày dạn kinh nghiệm trong các lĩnh vực tư vấn cũng như tranh tụng là luật sư Trần Minh Thuận
1.2.2 Tình hình thực hiện các hoạt động của công ty
Lĩnh vực hoạt động cụ thể:
- Tư vấn doanh nghiệp và thương mại: Công ty có nhiều kinh nghiệm trong việc giúp các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề liên quan đến đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước tại Việt nam
Các dịch vụ của công ty bao gồm soạn thảo các tài liệu liên quan đến đầu tư như đơn xin đầu tư, điều lệ công ty, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng thuê/cho thuê đất và nộp các tài liệu trên lên các cơ quan có thẩm quyền cấp phép đầu tư, theo dõi tiến triển và nhận phép đầu tư cho các khách hàng xin phép thành lập công ty tại Việt Nam
Ngoài ra công ty còn cung cấp các dịch vụ trong các lĩnh vực khác như soạn thảo hợp đồng mua bán, hợp đồng đại lý, hợp đồng phân phối, thành lập, sáp nhập chia tách và
cơ cấu lại công ty, cổ phần hóa doanh nghiệp cũng như các dịch vụ điều tra thị trường theo yêu cầu của khách hàng
- Về luật lao động: Công ty cũng cung cấp các hoạt động tư vấn trong nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến lao động của Việt Nam, như soạn thảo các hợp đồng lao động, các quy định làm việc trong công ty, thỏa ước lao động tập thể để ký giữa công ty
và công đoàn của công ty, các vấn đề liên quan đến luật pháp và các chế độ chính sách của nhà nước về tiền lương, thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội, tuyển dụng và sa thải lao động cũng như chế độ bồi thường khi chấm dứt hợp đồng lao động, Công ty có nhiều kinh nghiệm trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại tòa án trong các vụ tranh chấp hợp đồng lao động
- Giải quyết tranh chấp: Công ty luật Khởi Minh đã tham gia giải quyết nhiều vụ việc tranh tụng kinh tế thương mại, dân sự, đặc biệt là các vụ việc có yếu tố nước ngoài
Trang 136
tại toà án các cấp ở Việt Nam Các luật sư của công ty là những người có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề về tranh chấp, bao gồm các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý, tranh chấp các công trình xây dựng, mua bán nhà ở, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng liên doanh và hợp tác kinh doanh
- Ngân hàng, tài chính và thế chấp ngân hàng: Công ty đã giúp tư vấn cho khách hàng nhiều vấn đề liên quan đến vay vốn ngân hàng, nhận xét hay soạn thảo các tài liệu liên quan đến vay vốn ngân hàng, nhận xét hay soạn thảo các tài liệu liên quan như hợp đồng vay vốn, hợp đồng bảo lãnh, thế chấp cũng như đưa ra các ý kiến pháp lý đối với các vấn đề về các hợp đồng nêu trên
Công ty có thể đại diện cho các ngân hàng, cơ quan tài chính và các bên vay trong việc giao kết hợp đồng tín dụng hay các giao dịch liên quan đến thế chấp và bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Hôn nhân và gia đình: Công ty cũng cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý trong tất cả các vấn đề có liên quan đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài Các dịch vụ của công ty bao gồm tư vấn giải quyết vấn đề ly hôn, giám hộ, tranh chấp nuôi dưỡng, chia tài sản chung
và vấn đề khác có liên quan
Ngoài ra công ty còn cung cấp các dịch vụ tư vấn về các vấn đề khác như kết hôn giữa người Việt Nam và người nước ngoài cũng như các thủ tục pháp lý về nhận con nuôi
và giám hộ
- Quyền sở hữu trí tuệ: Các dịch vụ của chúng tôi trong lĩnh vực này rất đa dạng, bao gồm việc soạn thảo và các đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và quyền tác giả Công ty tư vấn cho khách hàng về các yêu cầu đối với tài liệu liên quan cũng như thủ tục xin đăng ký và bảo hộ Công ty thực hiện các tra cứu theo yêu cầu của khách hàng về đối tượng bảo hộ với nhiều mục đích khác nhau như: Đánh giá khả năng đăng ký và khả năng được cấp sáng chế; xác định các thiếu sót của đơn đăng ký và khả năng được cấp sáng chế; xác định các thiếu sót của đơn vị đăng ký bảo hộ, Công ty còn soạn thảo và kiểm tra các hợp đồng li-xăng, hợp đồng chuyển giao công nghệ cho khách hàng
- Tranh tụng dân sự và hình sự:
Dịch vụ của công ty bao gồm:
+ Tranh tụng trong lĩnh vực dân sự:
* Tranh tụng liên quan đến tài sản, bao gồm tài sản thế chấp, cầm cố, bão lãnh, các tranh chấp về đất đai nhà cửa như mua bán, chuyển nhượng nhà đất, xây dựng, thừa kế
* Giải quyết tranh chấp về xây dựng, dân dụng và các tòa cao ốc
* Tranh tụng liên quan đến cổ đông, cổ phiếu, cổ phần
* Các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng
* Giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ
* Tranh tụng trong lĩnh vực bảo hiểm
+ Tranh tụng trong lĩnh vực hình sự:
Trang 147
* Tham gia các vụ án lớn
* Tư vấn tham gia tranh tụng trong các vụ án liên quan đến tội phạm ma túy và gian lận thương mại
* Tư vấn và tranh tụng trong các vụ án hình sự nói chung
- Sở hữu nhà cửa và đất đai: Công ty còn cung cấp dịch vụ cho tất cả các cá nhân
và công ty, các ngân hàng, tổ chức tài chính và các nhà đầu tư lớn ở Việt Nam Công ty còn cung cấp các dịch cụ pháp lý toàn diện trong mọi lĩnh vực liên quan đến vấn đề sở hữu đất đai Các dịch vụ bao gồm tư vấn các hợp đồng mua bán, hợp đồng xây dựng và phát triển các hợp đồng cho thuê
1.2.3 Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của công ty
Với nguyên tắc quản lý điều hành hoạt động của công ty theo chế độ phân cấp cụ thể, rõ ràng, hệ thống quy trình, quy định làm việc và hệ thống văn bản nội bộ của Khởi Minh được ban hành theo một quy trình kiểm soát nghiêm ngặt Khởi minh đã quy tụ được một đội ngũ lãnh đạo và nhân viên bao gồm các luật sư, các chuyên gia, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau có cùng chí hướng và quyết tâm thực hiện các mục tiêu chiến lược của Khởi Minh
Ngoài ra, Khởi Minh còn có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các công ty luật và các nhà đầu tư lớn tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh cùng một mạng lưới công tác viên là những chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực tư vấn của Khởi Minh
Tổ chức bộ máy của Khởi Minh được chuyên môn hóa để nhằm đảm bảo chất lượng và tính chuyên nghiệp của dịch vụ
Trang 158
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ 2.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ
2.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 chưa định nghĩa về HĐMBHHQT, nhưng HĐMBHHQT trước hết là hợp đồng mang đầy đủ những đặc điểm của hợp đồng mua
bán tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015: Hợp đồng mua bán tài
sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán 1
Đồng thời, HĐMBHHQT còn mang các đặc trưng cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế Tính quốc tế của quan hệ chính là điểm khác biệt của HĐMBHHQT với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường Tính quốc tế có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia, pháp luật quốc tế nhưng tựu chung lại đó là các yếu tố nước ngoài liên quan đến quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể, liên quan đến nơi xác lập quan hệ hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng
HĐMBHHQT mang những đặc trưng cơ bản của hợp đồng mua bán tài sản, tức là
có sự thỏa thuận giữa bên bán và bên mua, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ mua bán, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ, có đền bù Về bản chất, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa ít nhất là hai bên Sự thỏa thuận này có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản là người bán và người mua Người bán và người mua có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc cũng có thể là Nhà nước Nội dung của hợp đồng là toàn bộ nghĩa vụ của các bên xung quanh việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua, xung quanh việc làm thế nào để người bán lấy được tiền và người mua nhận được hàng… Xét về tính chất pháp lý, hợp đồng mua bán tài sản là loại hợp đồng song vụ, có bồi hoàn và là hợp đồng ước hẹn Những đặc trưng này là điểm phân biệt giữa HĐMBHHQT với các loại hợp đồng được ký kết trong các lĩnh vực khác của thương mại quốc tế như dịch vụ, đầu tư Luật pháp của các nước trên thế giới đều có quan điểm thống nhất với nhau về những điểm nêu trên
HĐMBHHQT được thực hiện dưới các hình thức hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu HĐMBHHQT là sự thỏa thuận giữa các chủ thể có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu tài sản cho một bên khác gọi là bên mua một tài sản nhất định gọi là hàng hóa; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng Định nghĩa trên nêu rõ bản chất của hợp đồng này là sự thỏa thuận của các bên ký kết
1 Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 169
Các chủ thể của HĐMBHHQT là bên bán và bên mua Họ có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau Bên bán giao một giá trị nhất định, và để đổi lại, bên mua phải trả một đối giá cân xứng với giá trị đã được giao
Ðối tượng của hợp đồng này là tài sản; do được đem ra mua bán tài sản này trở thành hàng hóa Khách thể của hợp đồng này là sự di chuyển quyền sở hữu hàng hóa (chuyển chủ sở hữu) Ðây là sự khác biệt so với hợp đồng thuê, mượn tài sản (vì hợp đồng thuê mượn không tạo ra sự chuyển chủ sở hữu), so với hợp đồng tặng cho (vì hợp đồng tặng cho không có sự cân xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi)
Tính chất quốc tế của HĐMBHHQT được hiểu không giống nhau tùy theo quan điểm của luật pháp các nước
Do đó, để xác định một hợp đồng mua bán là hợp đồng mua bán quốc tế, các luật gia thường dựa trên một số tiêu chí như sau:
Thứ nhất, hợp đồng mua bán có tính quốc tế nếu trụ sở kinh doanh của bên mua và
bên bán được đăng ký tại hai quốc gia khác nhau
Thứ hai, hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nếu đối tượng của hợp đồng là
hàng hóa phải được giao tại một nước khác với nước mà hàng hóa đó đang được tồn trữ hoặc sản xuất ra khi hợp đồng được ký kết
Thứ ba, được coi là HĐMBHHQT khi:
+ Có sự vận chuyển hàng hóa là đối tượng của hợp đồng từ lãnh thổ của quốc gia này sang lãnh thổ của quốc gia khác
+ Tất cả các hành vi cấu thành sự chào hàng và sự ưng thuận không được thực hiện trên lãnh thổ của cùng một quốc gia
+ Sự giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia mà
ở đó các hành vi cấu thành sự chào hàng và sự ưng thuận đã được hoàn thành
+ Các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc là việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết được lập ở những nước khác nhau
Nếu các bên ký kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cứ trú của họ Vấn đề quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của HĐMBHHQT
Pháp luật một số nước Châu Âu, khi xác định tính chất quốc tế của HĐMBHHQT, người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý:
- Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo ra sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói cách khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế
- Theo tiêu chuẩn pháp lý,một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là HĐMBHHQT nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch của các bên, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, đồng tiền thanh toán
Trang 1710
Theo quy định pháp luật về hợp đồng của Pháp, một hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính quốc tế khi các bên ký hợp đồng này ở các nước khác nhau, hoặc quá trình đàm phán hợp đồng diễn ra ở một nơi khác với ký kết hợp đồng đó, hoặc có một khoản nộp quốc tế, dịch vụ chuyển khoản hay chuyển hàng hóa từ một nước này đến một nước khác, chung quy lại một hợp đồng được gọi là HĐMBHHQT khi nó bao hàm các điều khoản gắn liền với nhiều hệ thống luật
Đối với Việt Nam, khái niệm về HĐMBHHQT chưa được quy định chính thức trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào Tuy nhiên, trong Quy chế tạm thời số 4794 TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Công thương) hướng dẫn việc
ký kết HĐMBHHQT hay còn gọi là HĐXNK, trong đó đưa ra ba tiêu chuẩn để hợp đồng mua bán được thừa nhận là HĐMBHHQT, đó là:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là các bên có quốc tịch khác nhau
Thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thông thường được di chuyển từ nước này qua nước khác
Thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một hoặc hai bên ký
hợp đồng
Khái niệm và cách hiểu này đã được thừa nhận trong thực tiễn hoạt động MBHHQT của Việt Nam trong nhiều năm Tuy nhiên, quy định trên khi áp dụng vào thực tiễn hoạt động MBHHQT bộc lộ nhiều hạn chế và không phù hợp
Luật Thương mại Việt Nam 2005 không đặt vấn đề quốc tịch hay sự dịch chuyển của hàng hóa là đối tượng của HĐMBHHQT mà nêu cụ thể tại Điều 27 các hình thức
MBHHQT được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu Việc MBHHQT phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương 2 So với các quy định của pháp luật Việt Nam trước khi ban hành Luật Thương mại năm 2005 thì quy định này gián tiếp khẳng định việc không coi dấu hiệu quốc tịch của chủ thể hoặc dấu hiệu về phạm vi lãnh thổ quốc gia là căn cứ xác định HĐMBHHQT mà chủ yếu dựa vào tính chất của quan hệ hợp đồng Quy định này phù hợp với thực tiễn thương mại hiện nay, đặc biệt là việc phát triển các khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở
2.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
So với các hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, HĐMBHHQT có những đặc điểm khác biệt thể hiện ở những khía cạnh sau:
a Về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo pháp luật của một số nước trên thế giới (Anh, Mỹ ) hoặc theo quy định của các văn bản pháp luật quốc tế về MBHHQT (Công ước Lahay 1964, Công ước Viên 1980 ) thì chủ thể của HĐMBHHQT là các thương nhân có trụ sở ở các quốc gia khác nhau Theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005, chủ thể tham gia là những thương nhân mang quốc tịch khác nhau Nếu thương nhân là pháp nhân thì thương nhân
2 Điều 27 Luật thương mại 2005
Trang 18có quyền tham gia ký kết HĐMBHHQT có sự thay đổi theo từng thời kỳ phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại theo hướng mở rộng phạm vi chủ thể của HĐMBHHQT
b Về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Đối tượng của hợp đồng là yếu tố quan trọng nhất trong một hợp đồng mua bán hàng hóa Không có đối tượng của hợp đồng thì không thể có một hợp đồng mua bán hàng hóa bởi vì mọi sự thỏa thuận giữa các bên tham gia hợp đồng đều nhằm đến việc chuyển quyền sở hữu đối tượng của hợp đồng từ bên bán sang bên mua và chuyển tiền từ bên mua sang bên bán Tuy nhiên, không phải mọi tài sản mà các bên mua bán với nhau đều là đối tượng của HĐMBHHQT bởi vì nếu nó không đáp ứng được những yêu cầu
mà pháp luật đặt ra thì sự thỏa thuận giữa các bên là bất hợp pháp và hợp đồng đó bị vô hiệu
Đối tượng của HĐMBHHQT phải thỏa mãn được các điều kiện sau đây:
- Đối tượng của HĐMBHHQT phải được phép mua bán giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt nam và của pháp luật nước ngoài có liên quan
- Đối tượng của HĐMBHHQT phải xác định, tồn tại thực tế và có thể dịch chuyển được từ nước này sang nước khác hoặc từ thị trường nội địa vào khu chế xuất Điều kiện này tuy không được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật nhưng chúng ta có thể suy ra từ bản chất và đặc điểm của HĐMBHHQT Như vậy, bất động sản thì không thể trở thành đối tượng của HĐMBHHQT hoặc các loại hàng hóa đặc thù như: Các cổ phiếu,
cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ; tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí; điện năng3
- Đối với mỗi quốc gia, việc trao đổi hàng hóa quốc tế đều ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cộng đồng Do vậy, mỗi quốc gia đều có quy định về mặt hàng được phép mua bán với thương nhân nước ngoài Tại Việt Nam hàng năm Chính phủ đều ban hành các văn bản điều hành xuất nhập khẩu trong đó quy định danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu và các mặt hàng xuất nhập khẩu có điều kiện
Như vậy, hàng hóa muốn trở thành đối tượng của HĐMBHHQT là những hàng hóa được phép mua bán với thương nhân nước ngoài theo pháp luật của nước bên bán và
3 Điều 2 Công ước Viên 1980
Trang 1912
nước bên mua Đồng thời phải là hàng hóa mà doanh nghiệp được phép kinh doanh theo ngành nghề đa dạng ký tại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
c Về đồng tiền thanh toán
Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, các bên thường sử dụng nội tệ làm đồng tiền thanh toán Trong HĐMBHHQT thì đồng tiền thanh toán do các bên thỏa thuận nhưng thông thường là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên Theo quy định của Chính phủ về quản lý ngoại hối tại Pháp lệnh ngoại hối thì đồng tiền chung của các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu - EU (ví dụ đồng Euro) cũng được coi là ngoại tệ
2.2 VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LOẠI HỢP ĐỒNG NÀY
2.2.1 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
HĐMBHHQT có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại, đặc biệt là trong
xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay Vai trò của HĐMBHHQT thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất: HĐMBHHQT là công cụ thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ
MBHHQT bởi vì bản chất của hợp đồng là sự bày tỏ và thống nhất ý chí giữa các chủ thể Thông qua HĐMBHHQT các bên bày tỏ và thống nhất ý chí giữa các chủ thể Thông qua HĐMBHHQT các bên bày tỏ mong muốn thiết lập quan hệ mua bán hàng hóa với nhau, cụ thể là bên bán đồng ý bán hàng cho bên mua và bên mua đồng ý nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo đúng các điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận
Thứ hai: HĐMBHHQT là công cụ để bảo vệ lợi ích của các bên chủ thể, một
HĐMBHHQT được thành ký kết hợp pháp có giá trị bắt buộc đối với các bên giao kết Nếu một bên có hành vi vi phạm những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng thì bên đó phải chịu trách nhiệm vật chất trước bên bị vi phạm Mặt khác, khi có tranh chấp xảy ra HĐMBHHQT là bằng chứng quan trọng để cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra phản quyết đúng đắn, phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo quyền lợi của các bên đương
sự
Thứ ba: HĐMBHHQT là một trong những cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch
sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh xuất nhập khẩu
Thứ tư: HĐMBHHQT cũng là công cụ để thực hiện các kế hoạch, chỉ tiêu mà
doanh nghiệp đã đề ra
2.2.2 Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
HĐMBHHQT mặc dù được pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế quy định rất chặt chẽ, trong quá trình ký kết thực hiện cũng được các bên thỏa thuận chi tiết, nhưng dù được ký kết hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng, bao gồm tất cả những vấn đề, những tình huống có thể phát sinh trong thực
tế Vì vậy, cần phải bổ sung cho HĐMBHHQT một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó Điều này có nghĩa là mỗi một HĐMBHHQT đã được ký kết là một cơ sở pháp lý quan trọng để các bên dựa vào đó xác định quyền, nghĩa
vụ và trách nhiệm của mình, để các bên tự kiểm tra lại mình và kiểm tra đối tác
Trang 2013
Nhưng, trong thực tế lại thường xảy ra những trường hợp mà tranh chấp phát sinh giữa các bên lại không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng Trường hợp này, các bên phải dựa vào luật điều chỉnh hợp đồng, tức là dựa vào luật được
áp dụng cho hợp đồng đó để giải quyết tranh chấp Không chỉ các bên chủ thể phải tìm hiểu luật áp dụng cho hợp đồng mua bán đã ký kết mà cả tòa án (hoặc trọng tài), được giao giải quyết tranh chấp phát sinh, cũng phải nghiên cứu vấn đề luật áp dụng cho hợp đồng đó thì mới có thể làm tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình
Theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế trong MBHHQT, các bên đương sự hoàn toàn có quyền tự do thảo thuận chọn nguồn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng của mình Nguồn luật đó có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế về thương mại, hợp đồng thương mại hoặc tập quán thương mại quốc tế và cả các án lệ (tiền lệ xét xử)
Song, điều quan trọng là ở chỗ nên chọn nguồn luật nào, làm thế nào để chọn luật thích hợp nhất để có thể bảo vệ được quyền lợi của mình Vấn đề này thật không đơn giản Cần phải nghiên cứu tất cả các nguồn luật nói trên và cách áp dụng cũng như vai trò giá trị pháp lý của từng nguồn luật đối với HĐMBHHQT
a Điều ước quốc tế trong thương mại quốc tế
Khi có tranh chấp phát sinh từ HĐMBHHQT liên quan đến vấn đề không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng, các bên ký kết hợp đồng có thể dựa vào các điều ước quốc tế trong thương mại Do đó, điều ước quốc tế về thương mại quốc tế là nguồn luật đầu tiên của HĐMBHHQT
Điều ước quốc tế về thương mại là sự thỏa thuận bằng văn bản được các quốc gia
ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ mua bán quốc tế
Điều ước quốc tế về thương mại, xét về mặt chủ thể ký kết, có thể có hai loại là điều ước quốc tế có tính chất song phương và điều ước quốc tế có tính chất đa phương Xét về mặt phạm vi, quy mô ảnh hưởng, có thể có điều ước quốc tế về thương mại có tính chất khu vực và điều ước thương mại có tính chất toàn cầu Xét về mặt nội dung, có điều ước quốc tế chuẩn tắc và điều ước mang tính thực chứng
Một trong những điều ước quốc tế quan trọng điều chỉnh lĩnh vực ký kết và thực hiện HĐMBHHQT là Công ước Viên 1980 về Hợp đồng MBHHQT Công ước gồm 3 phần 101 điều quy định rõ những vấn đề liên quan tới việc ký kết và thực hiện HĐMBHHQT Công ước là kết quả của một quá trình cố gắng, là một thành tựu đáng kể của Liên hợp quốc nhằm tiến tới việc nhất thể hóa luật về mua bán quốc tế, loại bỏ những cản trở do những quy định quá khác xa nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia về những vấn đề liên quan đến thủ tục ký kết và thực hiện hợp đồng giữa người mua với người bán
Hiện nay, hầu hết các đối tác thương mại lớn của Việt Nam đều là thành viên của Công ước này Việt Nam đã gia nhập Công ước viên 1980 vào cuối tháng 12-2015 và Công ước chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 1-1-2017 Những điều ước quốc tế
Trang 2114
về thương mại mà Nhà nước ta không ký kết, chưa ký kết, tham gia hoặc không thừa nhận thì không có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể Việt Nam trong HĐMBHHQT Những điều ước quốc tế này không phải là nguồn luật đương nhiên của HĐMBHHQT do các chủ thể Việt Nam ký kết với thương nhân và pháp nhân nước ngoài Chúng chỉ trở thành nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT nếu các bên thỏa thuận dẫn chiếu tới chúng trong hợp đồng
Đối với điều ước quốc tế về thương mại quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia ký kết
và phê chuẩn chúng ta sẽ tuân thủ theo những quy định trong điều ước quốc tế;
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định khác với quy định của Phần này và luật khác về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng4
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được pháp luật Việt Nam điều chỉnh, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Những quy phạm pháp luật của điều ước quốc tế là những quy phạm luật thực chất
đã được các quốc gia thống nhất Do vậy, dựa vào điều ước quốc tế, các chủ thể của HĐMBHHQT, dù ở các nước khác nhau, có thể sẽ có một sự hiểu biết thống nhất trong việc giải quyết nhanh chóng tranh chấp phát sinh, tiết kiệm thời gian Song hiện nay, đối với Việt Nam thì do nước ta chưa ký nhiều điều ước quốc tế về mua bán hàng hóa trong thương mại với các nước ngoài, đặc biệt là các nước phát triển, nên điều ước quốc tế về thương mại và HĐMBHHQT với ý nghĩa là nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT chưa phát huy thật sự vai trò của nó
b Luật quốc gia
Vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐMBHHQT, các chủ thể của hợp đồng có thể lựa chọn luật pháp của một quốc gia nào đó để giải quyết các quan hệ hợp đồng.Trong trường hợp này, luật quốc gia trở thành nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT Luật quốc gia của một nước sẽ được áp dụng cho HĐMBHHQT khi:
- Các bên thỏa thuận trong HĐMBHHQT, điều này có nghĩa là ngay từ lúc đàm phán ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận đưa vấn đề này vào thành một điều khoản của HĐMBHHQT, gọi là điều khoản về luật áp dụng
4 Điều 665 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 2215
- Các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng sau khi HĐMBHHQT đã được ký kết Phương pháp này thường được áp dụng khi trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà các bên đã ký kết trước đó, vì một lý do có tính chất khách quan hoặc chủ quan (hợp đồng được soạn thảo quá đơn giản, ngắn gọn để chớp thời cơ, chính bản thân các bên ký kết chưa thấy rõ được tầm quan trọng của điều khoản luật áp dụng ) không có điều khoản về luật áp dụng Lúc này thường là tranh chấp đã xảy ra nhưng các bên vẫn có thể đàm phán với nhau để thỏa thuận chọn luật áp dụng Tất nhiên, trong thực tế, trường hợp này rất khó có được một sự nhất trí trong việc chọn luật của nước nào trong số luật của hai nước liên quan, song, nếu chúng ta chọn luật của nước thứ ba hoặc dẫn chiếu tới một điều ước quốc tế thì vấn đề cũng có thể được tháo gỡ
- Khi luật đó được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan Điều này có nghĩa
là nếu trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đã tham gia ký kết (hoặc thừa nhận) có quy định điều khoản về luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán quốc tế thì luật đó đương nhiên được áp dụng, các chủ thể của HĐMBHHQT không phải mất thời gian đàm phán về vấn đề đó nữa
Luật quốc gia được các bên lựa chọn có thể là luật nước người bán, luật nước người mua, luật của nước thứ ba hoặc luật của bất kỳ nước nào khác có mối liên quan với HĐMBHHQT, chẳng hạn như luật nơi ký kết hợp đồng, luật nơi thực hiện nghĩa vụ, như thanh toán, giao hàng…
Việc chọn luật của nước nào hoàn toàn do các chủ thể của HĐMBHHQT tự thỏa
có nghĩa là toàn bộ hệ thống luật quốc gia đều được đem áp dụng, mà chỉ áp dụng những văn bản pháp luật có liên quan tới MBHHQT nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng Trong hệ thống luật quốc gia, luật có liên quan tới MBHHQT là luật dân sự (civil law), luật thương mại (commercial law)
Đặc biệt, khi pháp luật Việt Nam được chọn áp dụng để điều chỉnh các mối quan hệ về HĐMBHHQT nhưng ở Việt Nam, ngoài những quy định chung của luật dân sự còn có những quy tắc pháp luật được quy định để điều chỉnh riêng những mối quan hệ phát sinh
từ hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại (Luật thương mại, Luật sở hữu trí tuệ, Luật xây dựng…) Vậy chúng ta sẽ dựa vào những quy tắc nào? Chúng ta chỉ áp dụng những quy tắc đã giành riêng cho những hợp đồng đặc thù Nói một cách cụ thể hơn, nếu luật áp dụng cho HĐMBHHQT là luật Việt Nam thì những quy định về hợp đồng mua bán có trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại Việt Nam 2005 sẽ được áp dụng Ngoài ra còn có những quy định trong luật và các văn bản luật khác liên quan đến MBHHQT thuộc lĩnh vực đặc thù cũng sẽ được áp dụng
c Tập quán quốc tế về thương mại
Tập quán quốc tế về thương mại cũng là nguồn luật của HĐMBHHQT Tập quán thương mại là những thói quen thương mại được công nhận rộng rãi Những thói quen thương mại sẽ được công nhận và trở thành tập quán thương mại khi thỏa mãn ba yêu cầu sau:
Trang 2316
- Là một thói quen phổ biến, được nhiều nước áp dụng và áp dụng thường xuyên
- Về từng vấn đề và ở từng địa phương, đó là thói quen độc nhất
- Là một thói quen có nội dung rõ ràng mà người ta có thể dựa vào đó để xác định quyền và nghĩa vụ đối với nhau
Thông thường, các tập quán thương mại quốc tế được chia thành ba nhóm: các tập quán có tính chất nguyên tắc; các tập quán thương mại quốc tế chung và các tập quán thương mại khu vực
Tập quán thương mại quốc tế chung là các tập quán được nhiều nước công nhận và
áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực: các điều kiện thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế tập hợp và soạn thảo (gọi tắt là Incoterms 1953 - 1980 - 1990 - 2000 - 2010) trong đó quy định các điều kiện thương mại khác nhau (như điều kiện FOB, CFR ) được rất nhiều nước trên thế giới thừa nhận và áp dụng
Các tập quán thương mại khu vực (địa phương) là các tập quán thương mại quốc tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng
Trong các loại tập quán quốc tế về thương mại Incoterms là một loại có nội dung bao hàm nhiều nhất, phạm vi sử dụng rộng rãi nhất và ảnh hưởng lớn nhất
Ngoài ba nguồn nói trên, thực tiễn buôn bán của các nước phương Tây còn thừa nhận cả án lệ và các bản điều kiện chung, các hợp đồng mẫu chuyên nghiệp làm nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán ngoại thương
Tập quán quốc tế về thương mại sẽ được áp dụng cho HĐMBHHQT trong các trường hợp:
- Khi chính HĐMBHHQT quy định
- Khi các điều ước quốc tế liên quan quy định
- Khi luật thực chất (luật quốc gia) do các bên thỏa thuận lựa chọn, không có hoặc
có nhưng không đầy đủ, còn khiếm khuyết về vấn đề tranh chấp, về vấn đề cần được điều chỉnh
Trong ba trường hợp trên, tập quán thương mại quốc tế sẽ được áp dụng để điều chỉnh HĐMBHHQT
Tuy nhiên, cần chú ý là: vì tập quán quốc tế thường có nhiều loại cho nên, để tránh
sự nhầm lẫn hoặc sự hiểu không thống nhất về một tập quán nào đó Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, các bên cần phải chứng minh nội dung của tập quán đó Bởi vậy, sẽ là thuận lợi nếu người bán và người mua có được thông tin đầy đủ về tập quán thương mại khi họ bước vào đàm phán ký kết HĐMBHHQT
KẾT CHƯƠNG 2
Việc nghiên cứu đề tài "Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005 và pháp luật quốc tế" góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của quan hệ hợp đồng MBHHQT, trong đó làm sáng tỏ khái niệm về hợp đồng MBHHQT theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế từ đó phân tích những đặc điểm mang tính đặc thù của hợp đồng MBHHQT để phân biệt với hợp đồng mua bán hàng hóa trong quan hệ thương mại trong nước ở Việt Nam
Trang 2417
CHƯƠNG 3 CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2005 VÀ PHÁP LUẬT
QUỐC TẾ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
3.1 NHỮNG TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI THƯỜNG HAY SỬ DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ QUY ĐỊNH TẠI INCOTERMS
Mua bán hàng hóa quốc tế có đặc điểm là hàng hóa được vận chuyển trên quãng đường dài, qua nhiều khâu liên quan đến hải quan, ngân hàng, bảo hiểm và mang tính rủi ro cao Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho mình, các bên thường đàm phán rất kỹ và quy định chi tiết, cụ thể trong hợp đồng về các vấn đề như: địa điểm giao hàng, phương thức giao hàng, nghĩa vụ của mỗi bên trong việc gánh chịu rủi ro, chi phí; trách nhiệm các bên trong việc làm thủ tục thông quan xuất khẩu, nhập khẩu
Ngày nay, các công việc đó được các bên tiến hành tương đối nhanh chóng và thuận lợi nhờ sử dụng các điều kiện đã trở thành tập quán thông dụng trong thương mại quốc tế Những điều kiện này được sử dụng và giải thích thông qua các thuật ngữ trong thương mại quốc tế Đây là các thuật ngữ đã hình thành từ lâu trong thực tiễn buôn bán hàng hóa quốc tế dùng để biểu thị rủi ro, trách nhiệm của các bên đối với việc chịu chi phí vận tải, bảo hiểm và các chi phí khác
Việc nghiên cứu các thuật ngữ về những điều kiện tập quán trong thương mại quốc
tế này giúp chúng ta xác định chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Đồng thời, việc sử dụng các thuật ngữ này cũng giúp cho quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng của các bên diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí Thay vì phải đàm phán về một loạt các vấn đề như trên các bên chỉ cần chỉ ra thuật ngữ sẽ được áp dụng trong hợp đồng Ngoài ra, việc sử dụng các điều kiện mang tính tập quán thương mại quốc tế còn giúp cho văn bản hợp đồng ngắn gọn, súc tích tạo điều kiện thuận lợi cho các bên cũng như các chủ thể có liên quan như hải quan, công ty bảo hiểm, ngân hàng thực hiện nhiệm vụ của mình
Để các chủ thể kinh doanh hiểu thống nhất về các thuật ngữ thương mại quốc tế này Phòng Thương mại quốc tế đã soạn thảo và ban hành một văn bản tập hợp các quy tắc giải thích thống nhất các thuật ngữ đó gọi là INCOTERMS (International commerial terms) Bản quy tắc này được ban hành lần đầu tiên vào năm 1936 và đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000, 2010 (Incoterms 2010 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2011) Sau đây là một số thuật ngữ thương mại được sử dụng rộng rãi nhất theo cách giải thích của Incoterms 2010, bao gồm FOB, CIF, CFR (dùng trong vận tải đường biển và đường thủy nội địa) và FCA, CPT, CIP… (dùng cho các phương thức vận tải khác nhau)
3.1.1 EXW (EX works) - Giao tại xưởng
Điều kiện này có thể sử dụng cho mọi người phương thức vận tải và có thể sử dụng khi có nhiều phương thức vận tải tham gia Điều kiện này phù hợp với thương mại nội địa trong khi điều kiện FCA thường thích hợp hơn trong thương mại quốc tế
Trang 2518
“Giao tại xưởng” có nghĩa là người bán giao hàng khi đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại một địa điểm chỉ định (ví dụ xưởng, nhà máy, kho, v.v ) Người bán không cần xếp hàng lên phương tiện tiếp nhận cũng như không cần làm thủtục thông quan xuất khẩu (nếu có)
Các bên nên quy định càng rõ càng tốt địa điểm tại nơi giao hàng chỉ định vì chi phí
và rủi ro đến điểm đó do người bán chịu Người mua chịu toàn bộ chi phí và rủi ro liên quan đến việc nhận hàng từ điểm quy định, nếu có, tại nơi giao hàng chỉ định
Điều kiện EXW là điều kiện mà nghĩa vụ của người bán là ít nhất Điều kiện này nên áp dụng cẩn trọng với một số lưu ý sau:
- Người bán không có nghĩa vụ với người mua về việc xếp hàng, mặc dù trên thực
tế người bán có điều kiện hơn để thực hiện công việc này Nếu người bán xếp hàng thì người bán làm việc đó với rủi ro và chi phí do người mua chịu Trường hợp người bán có điều kiện hơn trong việc xếp hàng thì điều kiện FCA, theo đó người bán xếp hàng và chịu tất cả rủi ro và chi phí, sẽ thích hợp hơn
- Một người mua mua từ một người bán theo điều kiện EXW để xuất khẩu cần biết rằng người bán chỉ có nghĩa vụ hỗ trợ người mua khi người mua yêu cầu để thực hiện xuất khẩu chứ người bán không có nghĩa vụ làm thủ tục hải quan Do đó, người mua không nên sử dụng điều kiện EXW nếu họ không trực tiếp hoặc gián tiếp làm thủ tục thông quan xuất khẩu
- Người mua có nghĩa vụ rất hạn chế trong việc cung cấp thông tin cho người bán liên quan đến xuất khẩu hàng hóa Tuy vậy, người bán có thể cần một số thông tin, chẳng hạn như để tính thuế hoặc báo cáo5
3.1.2 FCA (Free Carrier) - Giao cho người chuyên chở
Điều kiện này có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải và có thể sử dụng khi có phương thức vận tải tham gia
“Giao cho người chuyên chở” có nghĩa là người bán giao hàng cho người chuyên chở hoặc một người khác do người mua chỉ định, tại cơ sở của người bán hoặc tại địa chỉ chỉ định khác
Các bên cần phải quy định rõ địa điểm tại nơi được chọn để giao hàng, vì rủi ro được chuyển cho người mua tại địa điểm đó
Nếu các bên định giao hàng tại cơ sở của người bán thì nên quy định địa chỉ cơ sở của người bán tại nơi gia hàng Nếu các bên có ý định giao hàng tại một địa điểm khác thì các bên phải chỉ ra địa điểm giao hàng khác đó
Điều kiện FCA đòi hỏi người bán phải thông quan xuất khẩu, nếu có Tuy nhiên, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả thuế nhập khẩu hoặc trả chi phí làm thủ tục thông quan nhập khẩu6
5 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
6 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
Trang 2619
3.1.3 CPT (Cariage paid to) - Cước phí trả tới
Điều kiện này có thể sử dụng nhiều cho mọi phương thức vận tải và có thể sử dụng khi cónhiều phương thức vận tải tham gia
“Cước phí trả tới” có nghĩa là người bán giao hàng cho người chuyên chở hoặc một người khác do người bán chỉ định tại một nơi thỏa thuận (nếu điểm đó đã được các bên thỏa thuận) và người bán phải ký hợp đồng và chi phí vận tải cần thiết để đưa hàng hóa tới địa điểm đến được chỉ định
Khi sử dụng các điều kiện CPT, CIP, CFR hay CIF, người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi người bán giao hàng cho người vận tải chứ không phải khi giao hàng đến địa điểm đích
Điều kiện này có hai điểm tới hạn, vì rủi ro và chi phí được chuyển giao tại hai điểm khác nhau Các bên nên quy định càng rõ càng tốt trong hợp đồng về địa điểm giao hàng tại đó rủi ro được chuyển cho người mua, và địa điểm đến được chỉ định mà người bán phải thuê phương tiện vận tải để chở hàng đến Nếu nhiều người chuyên chở tham gia vận tải hàng hóa đến nơi quy định và các bên không có thỏa thuận về điểm giao hàng
cụ thể, thì rủi ro được chuyển khi hàng hóa đã được giao cho người chuyên chở đầu tiên tại địa điểm hoàn toàn do người bán lựa chọn và qua địa điểm đó người mua không có quyền kiểm soát Nếu các bên muốn rủi ro được chuyển tại một thời điểm muộn hơn (ví
dụ như tại cảng biển hoặc tại sân bay), thì họ phải quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán
Các bên cũng nên quy định rõ ràng càng tốt địa điểm tại nơi đến được chỉ định, vì các chi phí đến điểm đó là do người bán chịu Người bán phải ký hợp đồng vận tải phù hợp với địa điểm này Nếu người người bán phải trả thêm chi phí theo hợp đồng vận tải liên quan đến việc dỡ hàng tại điểm đến quy định, thì người bán sẽ không có quyền đòi người mua bồi hoàn những chi phí đó trừ khi có thỏa thuận khác giữa hai bên
Điều kiện CPT yêu cầu người bán phải thông quan xuất khẩu, nếu có Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan xuất khẩu, trả bất kỳ khoản thuế nhập khẩu hoặc thực hiện bất kỳ thủ tục thông quan nhập khẩu nào7
3.1.4 CIP (Carriage insurance Paid to) - Cước phí và bảo hiểm trả tới
Điều kiện này có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải và có thể sử dụng khi có nhiều phương thức vận tải tham gia
Điều kiện “Cước phí và bảo hiểm trả tới” có nghĩa là người bán giao hàng hóa cho người chuyên chở hoặc người khác do người bán chỉ định tại địa điểm thỏa thuận (nếu địa điểm đã được thỏa thuận giữa các bên), ngoài ra người bán phải chi trả vận tải cần thiết để đưa hàng hóa tới nơi đến quy định
Người bán cũng phải kí hợp đồng bảo hiểm cho những rủi ro của người mua về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa trong quá trình vận tải Người mua cần lưu ý rằng trong điều kiện CIP người bán chỉ phải mua bảo hiểm với phạm vi tối thiểu Nếu người mua
7 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
Trang 27Điều kiện này có 2 điểm tới hạn: rủi ro và chi phí được chuyển giao tại hai địa điểm khác nhau
Các bên sẽ phải xác định rõ điểm giao hàng, nơi rủi ro được chuyển sang cho người mua và điểm đến quy định, nơi người bán phải kí hợp đồng vận tải Nếu nhiều người vận tải được sử dụng cho việc vận chuyển hàng hóa đến nơi quy định và các bên không có thỏa thuận về điểm giao hàng cụ thể, thì rủi ro được chuyển khi hàng hóa đã được chuyển giao cho người chuyên chở đầu tiên tại địa điểm hoàn toàn do người bán lựa chọn và người mua không có quyền gì về việc này Nếu các bên muốn rủi ro được chuyển tại một thời điểm sau đó (tại cảng biển hoặc tại sân bay), thì họ phải quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán
Các bên cần xác định chính xác địa điểm đến tại nơi đến đã thỏa thuận, vì các chi phí đến địa điểm đó do người bán chịu Người bán phải kí hợp đồng vận tải đến đúng địa điểm này Nếu người bán phải trả thêm chi phí theo hợp đồng vận tải liên quan đến việc
dỡ hàng tại nơi đến quy định, thì người bán sẽ không có quyền đòi người mua bồi hoàn những chi phí đó trừ khi hai bên có thỏa thuận khác
Điều kiện CIP yêu cầu người bán phải thông quan xuất khẩu, nếu có quy định Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả bất kì khoản thuế nhập khẩu hoặc thực hiện bất kì thủ tục thông quan nhập khẩu nào8
3.1.5 DAT (Delivered at terminal) – Giao tại bến
Điều kiện này có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải và có thể sử dụng khi có nhiều phương thức vận tải tham gia
“Giao hàng tại bến” (Delivered at terminal) có nghĩa là người bán giao hàng, khi hàng hóa sau khi đã dỡ khỏi phương tiện vận tải, được đặt dưới sự định đoạt của người mua tại bến chỉ định, tại cảng hoặc tại nơi chỉ định “Bến” (terminal) bao gồm bất kì nơi nào, dù có mái che hay không có mái che, như cầu cảng, kho, bãi container hoặc ga đường bộ, đường sắt hoặc hàng không Người bán chịu mọi chi phí và rủi ro liên quan đến đưa hàng hóa đến và dỡ hàng tại bến ở cảng hoặc nơi đến chỉ định
Các bên nên quy định càng rõ càng tốt về bến và, nếu có thể, một điểm cụ thể tại bến hoặc tại cảng hoặc nơi đến thỏa thuận vì người bán chịu rủi ro đưa hàng hóa đến địa điểm đó Người bán được khuyên nên ký hợp đồng vận tải đến đúng địa điểm đó
Hơn nữa, nếu các bên muốn người bán chịu mọi rủi ro và chi phí vận chuyển và dỡ hàng từ bến đến một địa điểm khác thì nên sử dụng điều kiện DAP hoặc DDP
8 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
Trang 2821
Điều kiện DAT yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu hàng hóa, nếu cần Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ làm thủ tục nhập khẩu, trả bất kỳ khoản thuế nhập khẩu nào hay tiến hành các thủ tục thông quan nhập khẩu9
3.1.6 DAP (Delivered at place) – Giao tại nơi đến
Điều kiện này có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải và có thể sử dụng khi có nhiều phương thức vận tải tham gia
“Giao hàng tại nơi đến" có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải, sẵn sàng để dỡ tại nơi đến chỉ định Người bán chịu mọi rủi ro liên quan để đưa hàng hóa đến nơi đến chỉ định
Các bên nên quy định càng rõ càng tốt về địa điểm cụ thể tại nơi đến thỏa thuận vì người bán chịu mọi rủi ro tới địa điểm đó Người bán được khuyên nên ký hợp đồng vận tải đến đúng địa điểm đó Nếu người bán, theo hợp đồng vận tải phải trả chi phí dỡ hàng
ở nơi đến thì người bán không có quyền đòi lại khoản phí này từ người mua, trừ khi có thỏa thuận khác giữa hai bên
Điều kiện DAP yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khấu, nếu có Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ làm thủ tục thông quan nhập khẩu, trả thuế nhập khẩu hoặc làm các thủ tục thông quan nhập khẩu Nếu các bên muốn người bán làm thủ tục thông quan nhập khẩu, trả thuế và chi phí liên quan đến nhập khẩu thì nên sử dụng điều kiện DDP10
3.1.7 DDP (Delivered duty paid) – Giao hàng đã thông quan nhập khẩu
Điều kiện này có thể sử dụng cho mọi phương thức vận tải và có thể sử dụng khi có nhiều phương thức vận tải tham gia
“Giao hàng đã thông quan nhập khẩu” có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua, đã thông quan nhập khẩu, trên phương tiện vận tải chở đến và đã sẵn sàng để dỡ hàng tại nơi đến quy định Người bán chịu mọi chi phí và rủi ro liên quan để đưa hàng hóa tới nơi đến và có nghĩa vụ thông quan cho hàng hóa, không chỉ thông quan xuất khẩu mà còn thông quan nhập khẩu, trả các khoản thuế, phí và thực hiện các thủ tục cho thông quan xuất khẩu và thông quan nhập khẩu
Điều kiện DDP thể hiện nghĩa vụ tối đa của người bán
Các bên nên quy định rõ ràng càng tốt về địa điểm giao hàng cụ thể tại nơi đến thỏa thuận vì người bán chịu mọi chi phí và rủi ro đưa hàng hóa tới địa điểm đó Ngươi bán được khuyên nên ký hợp đồng vận tải đến dúng địa điểm đó Nếu người bán, theo quy định của hợp đồng vận tải, phải trả chi phí dỡ hàng ở nơi đến thì người bán không được đòi lại khoản phí này từ người mua, trừ khi có các thỏa thuận khác giữa hai bên
Các bên không nên sử dụng điều kiện DDP nếu người bán không thể trực tiếp hay gián tiếp làm thủ tục nhập khẩu
9 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
10 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
Trang 2922
Nếu các bên muốn người mua chịu mọi rủi ro và chi phí thông quan nhập khẩu thì nên sử dụng điều kiện DDP Mọi khoản thuế giá trị gia tăng (VAT) hay các loại thuế khác phải nộp khi nhập khẩu do người bán chịu, trừ khi có thỏa thuận khác một cách rõ ràng trong hợp đồng mua bán11
3.1.8 FAS (Free alongside ship) - Giao dọc mạn tàu
Điều kiện này chỉ áp dụng với vận tải biển hoặc vận tải thủy nội địa
"Giao dọc mạn tàu" có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dọc mạn con tàu do người mua chỉ định (ví dụ đặt trên cầu cảng hoặc trên xà lan) tại cảng giao hàng chỉ định
Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng hóa đang ở dọc mạn tàu, và người mua chịu mọi chi phí kể từ thời điểm này trở đi
Các bên nên quy định càng rõ càng tốt về địa điểm xếp hàng tại cảng giao hàng chỉ định, vì mọi chi phí và rủi ro về hàng hóa tới địa điểm đó do người bán chịu và các chi phí này và chi phí làm hàng có thể thay đổi tùy tập quán của từng cảng
Người bán, hoặc phải đặt hàng hóa dọc mạn tàu hoặc mua sẵn hàng hóa đã được giao như vậy Từ "mua sẵn" ở đây áp dụng cho việc bán hàng nhiều lần trong quá trình vận chuyển (bán hàng theo lô) rất phổ biến trong mua bán hàng nguyên liệu
Khi hàng được đóng trong Container, thông thường người bán phải giao hàng cho người chuyên chở tại bến, chứ không giao dọc mạn tàu Trong trường hợp này, điều kiện FAS là không phù hợp, mà nên sử dụng điều kiện FCA
Điều kiện FAS yêu cầu người bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu (nếu có) Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trừ các khoản thuế nhập khẩu hoặc làm thủ tục thông quan nhập khẩu12
3.1.9 FOB (Free on board) - Giao hàng trên tàu
Điều kiện này chỉ áp dụng với vận tải biển hoặc vận tải thủy nội địa
"Giao hàng trên tàu" có nghĩa là người bán giao hàng lên con tàu do người mua chỉ định tại cảng xếp hàng chỉ định hoặc mua được hàng hóa đã sẵn sàng để giao như vậy Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng hóa được xếp lên tàu,
và người mua chịu mọi chi phí kể từ thời điểm này trở đi
Người bán phải giao hàng lên tàu hoặc mua sẵn hàng hóa đã được giao như vậy Việc dẫn chiếu đến từ "mua sẵn” ở đây áp dụng cho việc bán hàng nhiều lần trong quá trình vận chuyển (bán hàng theo lô) rất phổ biến trong mua bán hàng nguyên liệu
Điều kiện FOB có thể không phù hợp khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở trước khi được xếp lên tàu, ví dụ hàng hóa trong Container, thường được giao tại các bến bãi (terminal)
Trong trường hợp này nên sử dụng điều kiện FCA
11 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
12 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
Trang 3023
Điều kiện FOB yêu cầu, người bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu (nếu có) Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả các khoản thuế nhập khẩu hoặc làm thủ tục thông quan nhập khẩu13
3.1.10 CFR (Cost and Freight) - Tiền hàng và cước phí
Điều kiện này chỉ áp dụng với vận tải biển hoặc vận tải thủy nội địa
“Tiền hàng và cước phí" có nghĩa là người bán phải giao hàng lên tàu hoặc mua hàng để giao hàng như vậy Rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng được giao lên tàu Người bán phải ký hợp đồng và trả các chi phí và cước phí cần thiết để đưa hàng hóa đến cảng đến quy định
Khi sử dụng các điều kiện CPT, CFR và CIF, người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi người bán giao hàng cho người chuyên chở theo cách thức được quy định cụ thể trong mỗi điều kiện, chứ không phải khi hàng tới nơi đến
Điều kiện này có hai điểm tới hạn, vì rủi ro di chuyển và chi phí được phân chia ở các nơi khác nhau Trong khi hợp đồng luôn chỉ rõ cảng đến thì nó có thể lại không chỉ rõ cảng xếp hàng - là nơi mà rủi ro di chuyển sang người mua Nếu cảng gửi hàng có ý nghĩa đặc biệt đối với người mua thì các bên nên quy định trong hợp đồng càng cụ thể càng tốt
Các bên nên xác định càng cụ thể càng tốt địa điểm tại cảng đến đã thỏa thuận, vì chi phí cho đến địa điểm đó do người bán chịu Người bán nên ký các hợp đồng vận tải đến đúng địa điểm này Nếu theo hợp đồng vận tải, người bán phải trả các chi phí liên quan đến việc dỡ hàng tại địa điểm chỉ định ở cảng đến, thì người bán không có quyền đòi lại các chi phí đó từ người mua trừ khi hai bên có thỏa thuận khác
Người bán phải, hoặc giao hàng lên tàu hoặc mua hàng đã giao để gửi đến cảng đến Ngoài ra, người bán phải ký hợp đồng vận chuyển hàng hóa hoặc “mua” một hợp đồng như vậy Từ “mua” ở đây áp dụng cho việc bán hàng nhiều lần trong quá trình vận chuyển (bán hàng theo lô) rất phổ biến trong mua bán hàng nguyên liệu
CFR không phù hợp khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở trước khi hàng được giao lên tàu, ví dụ hàng đóng trong Container, mà thường là giao hàng tại bến, bãi Trong trường hợp này nên sử dụng điều kiện CPT
CFR đòi hỏi người bán thông quan xuất khẩu cho hàng hóa (nếu có) Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, hoặc trả bất kỳ loại thuế nhập khẩu nào hay làm bất kỳ thủ tục hải quan nhập khẩu nào14
3.1.11 CIF (Cost - Insurance - Freight) - Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Điều kiện này chỉ áp dụng với vận tải biển hoặc vận tải thủy nội địa “Tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí” có nghĩa là người bán phải giao hàng lên tàu hoặc mua hàng
đã giao như vậy Rủi ro về mất mát hay hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng được giao lên tàu Người bán phải ký hợp đồng và trả các chi phí và cước phí cần thiết để đưa hàng hóa đến cảng đến quy định
13 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
14 https://phucgia.com.vn/noi-dung-day-du-incoterms-2010.html
Trang 3124
Người bán cũng ký hợp đồng bảo hiểm để bảo hiểm những rủi ro của người mua về mất mát hoặc thiệt hại của hàng hóa trong quá trình vận chuyển Người mua nên lưu ý rằng theo điều kiện CIF, người bán chỉ phải mua bảo hiểm theo điều kiện tối thiểu Nếu người mua muốn được bảo hiểm ở mức độ cao hơn, thì người mua phải thỏa thuận rõ ràng với người bán hoặc tự mua bảo hiểm bổ sung
Khi sử dụng các điều kiện CPT, CIP, CFR và CIF, người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi người bán giao hàng cho người chuyên chở theo cách thức được quy định
cụ thể trong mỗi điều kiện, chứ không phải khi hàng tới nơi đến
Điều kiện này có hai điểm tới hạn, vì rủi ro di chuyển và chi phí được phân chia ở các địa điểm khác nhau Trong khi hợp đồng luôn chỉ rõ cảng đến thì nó có thể lại không chỉ rõ cảng xếp hàng là nơi mà rủi ro di chuyển sang người mua Nếu cảng gửi hàng có ý nghĩa đặc biệt đối với người mua, thì các bên nên quy định trong hợp đồng càng cụ thể càng tốt
Các bên nên xác định càng cụ thể càng tốt địa điểm tại cảng đến đã thỏa thuận, vì các chi phí cho đến địa điểm đó do người bán chịu Người bán nên ký các hợp đồng vận tải đến đúng địa điểm này Nếu theo hợp đồng chuyên chở, người bán phải trả các chi phí liên quan đến việc dỡ hàng tại địa điểm chỉ định ở cảng đến, thì người bán không có quyền đòi lại các chi phí đó từ người mua trừ khi hai bên có thỏa thuận khác
Người bán phải, hoặc giao hàng lên tàu hoặc mua hàng đã giao để vận chuyển hàng đến cảng đến Ngoài ra, người bán phải ký hợp đồng vận chuyển hàng hóa hoặc ‘'mua” một hợp đồng như vậy Từ “mua” ở đây áp dụng cho việc bán hàng nhiều lần trong quá trình vận chuyển (bán hàng theo lô) rất phổ biến trong mua bán hàng nguyên liệu
CIF không phù hợp khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở trước khi hàng được giao lên tàu, ví dụ hàng đóng trong Container, mà thường là giao hàng tại bến bãi Trong trường hợp này, nên sử dụng điều kiện CIP
CIF đòi hỏi người bán thông quan xuất khẩu cho hàng hóa (nếu có) Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả bất kỳ loại thuế nhập khẩu nào hay tiến hành bất kỳ một thủ tục hải quan nhập khẩu nào15
3.2 KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
3.2.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các
sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không
pháp luật quy định hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực thì phải tuân thủ